Cùng với sự phát triển ấy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra một cách mạnh mẽ, hệ quả là sự hình thành và phát triển của các khu công nghiệp, khu chế xuất, các khu đô thị…S
Trang 1BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thế Vinh Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Linh
Chuyên ngành : Quy hoạch phát triển
HÀ NỘI – NĂM 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp“ Đánh giá và đề xuất các giải pháp nâng cao
thực hiện từ tháng 1/2014 – 5/2014 Trong khóa luận này, tác giả sử dụng các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin này được trích dẫn rõ nguồn gốc, có một số thông tin được thu thập từ việc điều tra thực tế ở địa phương, trong khóa luận này, tác giả cũng sử dụng một phần thông tin từ
nghiên cứu đã được công bố
Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Linh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ quý báu của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài Học viện Chính sách và Phát triển
Trước hết, tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện cùng các thầy cô trong Học viện và Khoa Quy hoạch phát triển đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập ở Học viện
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS Nguyễn Thế Vinh – người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND tỉnh
Hà Nam, Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Hà Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thu thập thông tin để hoàn thành khóa luận
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Linh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của khóa luận 4
6 Lịch sử nghiên cứu 5
7 Cấu trúc của khóa luận 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP VÀ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Khái quát về khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp 8
1.1.1.1 Quan niệm về khu công nghiệp 8
1.1.1.2 Đặc điểm của khu công nghiệp của Việt Nam 10
1.1.1.3 Vai trò của các khu công nghiệp ở Việt Nam 11
1.1.2 Chất lượng lao động tại các khu công nghiệp theo quan điểm phát triển bền vững 13
1.1.2.1 Quan điểm phát triển bền vững các khu công nghiệp 13
1.1.2.2 Chất lượng lao động tại các khu công nghiệp theo quan điểm phát triển bền vững 15
1.1.2.3 Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thu hút lao động tại các khu công nghiệ 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Kinh nghiệm thế giới về phát triển khu công nghiệp 20
1.2.1.1 Kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp của Hàn Quốc 20
1.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp của Trung Quốc 21
Trang 51.2.2 Lịch sử phát triển KCN của Việt Nam 22
1.2.3 Tình hình lao động tại các khu công nghiệp của Việt Nam 25
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH HÀ NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2003 -2013 30
2.1 Khái quát tình hình phát triển các khu công nghiệp của tỉnh Hà Nam giai đoạn 2003 - 2013 30
2.1.1 Khái quát điều kiện hình thành và phát triển các khu công nghiệp của tỉnh Hà Nam 30
2.1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 30
2.1.1.2 Dân cư và nguồn lao động 31
2.1.1.3 Cơ chế chính sách 32
2.1.2 Tình hình phát triển các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam 33
2.2.3 Tình hình thu hút lao động tại các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam 39 2.2 Chất lượng lao động tại các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam 40
2.2.1 Theo các tiêu chí định lượng 40
2.2.1.1 Khả năng thu hút lao động thực tế vào các KCN tỉnh Hà Nam 40
2.2.1.2 Đóng góp của KCN trong việc giải quyết việc làm toàn tỉnh 43
2.2.1.3 Đóng góp của KCN trong giải quyết vấn đề lao động địa phương 45
2.2.1.4 Năng suất lao động tại các KCN tỉnh Hà Nam 48
2.2.1.5 Hiệu quả lao động KCN so với lao động nông nghiệp 50
2.2.2 Theo các chỉ tiêu định tính 51
2.2.2.1 Cơ cấu lao động trong các khu công nghiệp của tỉnh Hà Nam 51
2.2.2.2 Ảnh hưởng của KCN đến chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh Hà Nam 54
2.2.2.3 Thu nhập và mức sống của người lao động 56
Trang 62.2.2.4 Lao động các KCN tỉnh Hà Nam với vấn đề phát triển con
người 58
2.3 Đánh giá hiệu quả thu hút lao động tại các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam 63
2.3.1 Thành tựu đạt được 63
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 65
2.3.2.1 Đối với 4 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động 65
2.3.2.2 Đối với 4 khu công nghiệp chưa đi vào hoạt động 67
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚTLAO ĐỘNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH HÀ NAM 69
3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 69
3.1.1 Mục tiêu và quan điểm của tỉnh Hà Nam về phát triển KCN 69
3.1.2 Định hướng xây dựng, phát triển các KCN của tỉnh Hà Nam 71
3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút lao động tại các KCN tỉnh Hà Nam 71
3.2.1 Các giải pháp đối với chính quyền địa phương 72
3.2.1.1 Đào tạo lao động, nâng cao chất lượng nguồn lao động 72
3.2.1.2 Đào tạo chuyển đổi ngành nghề, tạo việc làm sau giải phóng mặt bằng 74
3.2.1.3 Hỗ trợ doanh nghiệp các vấn đề về lao động trong giai đoạn khủng hoảng 77
3.2.1.4 Giải pháp về thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng và hiệu quả của dự án đầu tư 77
3.2.1.5 Chính sách về nhà ở cho người lao động 79
3.2.2 Các giải pháp đối với doanh nghiệp 80 3.2.2.1 Đào tạo nhân lực và dạy nghề gắn với nhu cầu doanh nghiệp 80
Trang 73.2.2.2 Chủ động liên kết lao động với các tỉnh, thành phố khác để tạo
nguồn cung lao động cho doanh nghiệp 82
3.2.2.3 Có chính sách lương phù hợp 82
3.2.3 Các giải pháp từ phía người lao động – người dân 84
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐGTSX : Mức đóng góp vào quy mô GTSX của KCN
Đt : Mức đóng góp vào gia tăng GTSX của KCN
ĐT : Mức đóng góp vào tốc độ tăng trưởng GTSX của KCN GTGT : Giá trị gia tăng
GTSX : Giá trị sản xuất
GTSXCN : Giá trị sản xuất công nghiệp
GTXK : Giá trị xuất khẩu
NGTK : Niên giám thống kê
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
Bảng 2.1: Thực trạng nguồn nhân lực tỉnh Hà Nam 32 Bảng 2.2: Các khu công nghiệp của Hà Nam tính đến năm 2013 34 Bảng 2.3: Đóng góp của các KCN vào gia tăng quy mô GTSX của toàn tỉnh, giai đoạn 2006 -2013 (tính theo giá so sánh 2010) 35 Bảng 2.4: Đóng góp vào giá trị xuất khẩu của các KCN Hà Nam giai đoạn 2007-2012 37 Bảng 2.5: Phân tích SWOT trong phát triển KCN của Hà Nam 38 Bảng 2.6: Mức độ thu hút lao động thực tế vào các KCN của Hà Nam 41 Bảng 2.7: Đóng góp của KCN vào việc giải quyết việc làm cho lao động của toàn tỉnh giai đoạn 2006-2013 43 Bảng 2.8: Mức độ sử dụng lao động địa phương tại các KCN tỉnh Hà Nam 46 Bảng 2.9: Năng suất lao động tại các KCN và Năng suất lao động toàn tỉnh
Hà Nam giai đoạn 2006 -2013 48 Bảng 2.10: Tổng hợp các chỉ tiêu đo lường đánh giá hiệu quả thu hút lao động trong các KCN Hà Nam 60 Bảng 2.11: Tổng hợp đánh giá chất lượng lao động KCN tỉnh Hà Nam giai đoạn 2003 -2013 61
Trang 10II DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Số lượng và diện tích các KCN cả nước tính đến năm 2010 24 Hình 1.2: Số lượng KCN của các vùng kinh tế năm 2013 25 Hình 1.3: Cơ cấu lao động khu công nghiệp cả nước theo giới tính và quốc tịch năm 2012 26 Hình 1.4: Tổng số lao động/ha đất công nghiệp đã cho thuê phân theo vùng kinh tế tính đến năm 2013 27 Hình 2.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo nhóm ngành của Hà Nam 36 Hình 2.2: Số lượng lao động tại các KCN tỉnh Hà Nam 40 Hình 2.3.: Xu hướng tăng năng suất lao động KCN và năng suất lao động tỉnh
Hà Nam trong 2 năm tiếp theo 49 Hình 2.4: Cơ cấu lao động theo trình độ học vấn tại các KCN Hà Nam 51 Hình 2.5: Cơ cấu lao động theo giới tính tại các KCN tỉnh Hà Nam và cả nước năm 2013 52 Hình 2.6: Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo của Hà Nam 54 Hình 2.7: Tỷ lệ lao động trong các KCN Hà Nam được tham gia BHXH 59
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 30 năm Đổi mới, Việt Nam đã có nhiều bước chuyển mình quan trọng, trở thành một “điểm sáng Đổi mới” trong khu vực và trên thế giới Đất nước thoát khỏi giai đoạn khủng hoảng, kinh tế tăng trưởng nhanh, đời sống của nhân dân dần được cải thiện và nâng cao Cùng với sự phát triển
ấy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra một cách mạnh mẽ, hệ quả là sự hình thành và phát triển của các khu công nghiệp, khu chế xuất, các khu đô thị…Sự phát triển của các khu công nghiệp đã thu hút hàng triệu lao động, góp phần giải quyết công ăn việc làm và thu nhập cho một
bộ phận không nhỏ dân cư Có thể khẳng định rằng sự phát triển các khu công nghiệp là một xu thế tất yếu và hoàn toàn đúng đắn trong bối cảnh của Việt Nam
Là cửa ngõ phía Nam của thủ đô Hà Nội, tỉnh Hà Nam vừa có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, song bên cạnh đó cũng tồn tại không ít thách thức Với chủ trương phát triển kinh tế dựa trên thế mạnh của tỉnh về vị trí địa lý, kinh tế - xã hội, tài nguyên nhân văn…trong thời gian qua tỉnh Hà Nam đã phát triển mạnh mẽ các khu công nghiệp và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần không nhỏ làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của tỉnh Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương và lao động từ các tỉnh lân cận Hiệu quả về
sử dụng lao động tại các khu công nghiệp Hà Nam là rất rõ, tuy nhiên chất lượng lao động tại các khu công nghiệp của Hà Nam lại chưa có những nghiên cứu đánh giá cụ thể Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề
này, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá và đề xuất các
giải pháp nâng cao chất lượng lao động tại các khu công nghiệp của tỉnh Hà Nam” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 122 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng lao động tại các khu công nghiệp thuộc tỉnh Hà Nam; trên cơ sở đó khuyến nghị một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam theo hướng hiệu quả và bền vững
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài thực hiện 03 nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tổng quan một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng
lao động tại các khu công nghiệp;
Thứ hai, đánh giá thực trạng phát triển các khu công nghiệpvà chất
lượng lao động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam dựa trên một số tiếu chí;
Thứ ba, khuyến nghị một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất
lượng lao động tại các khu công nghiệp của tỉnh Hà Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu chất lượng lao động tại các KCN của tỉnh Hà Nam thông qua các tiêu chí cụ thể; trên cơ sở sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng lao động tại các KCN trên địa bàn tỉnh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Về mặt không gian
Địa bàn nghiên cứu của đề tài là toàn bộ các khu công nghiệp của Hà Nam, bao gồm: KCN Đồng Văn I, Đồng Văn II, KCN Hòa Mạc, KCN Châu Sơn, KCN Liêm Phong, KCN Itahan, KCN Liêm Cần – Thanh Bình, KCN Kim Bảng Trong nghiên cứu này, tác giả tập chung chủ yếu vào 4 KCN đã được thành lập và đi vào hoạt động gồm: KCN Đồng Văn I (đến nay tỷ lệ lấp đầy đạt 100%), KCN Đồng Văn II, KCN Hoà Mạc, KCN Châu Sơn 4 KCN
Trang 13còn lại bao gồm: KCN Liêm Phong, KCN Itahan, KCN Liêm Cần – Thanh Bình và KCN Kim Bảng đang trong giai đoạn xây dựng và giải phóng mặt bằng, do vậy, đề tài chỉ nghiên cứu định hướng về ngành nghề thu hút đầu tư liên quan đến sử dụng lao động đối với các ngành nghề đó
3.2.2 Về mặt thời gian
Đề tài nghiên cứu các số liệu giai đoạn 2003 -2013, trong đó tập trung chủ yếu giai đoạn 2006 – 2013 khi Hà Nam có khu công nghiệp đầu tiên được thành lập và chính thức đi vào hoạt động
3.2.3 Về mặt nôi dung
Đề tài giới hạn trong nghiên cứu chất lượng lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam thông qua một số tiêu chí định lượng và định tính Trên cơ sở đánh giá chất lượng lao động tại các khu công nghiệp trong thời gian qua, đề tài khuyến nghị một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng lao động tại các khu công nghiệp của Hà Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu làm đề tài Các tài liệu được tác giả thu thập từ nhiều nguồn như các giáo trình, số liệu thống kê, các công trình nghiên cứu có nội dung liên quan Ngoài ra tác giả còn thu thập thêm thông tin từ báo chí, Internet…để phục vụ cho đề tài
Các tài liệu sau khi thu thập sẽ được xử lí qua các bước như phân tích, tổng hợp, so sánh…để trở thành những tài liệu, dẫn chứng phục vụ tốt cho mục đích của tác giả trong đề tài
4.2 Phương pháp bản đồ (GIS)
GIS là hệ thống thông tin gồm phần cứng, phần mềm và bộ phận khớp nối để thu thập, quản lý, phân tích, tính toán và biểu thị tất cả các dạng thông tin địa lý liên quan, phục vụ cuộc sống con người
Trang 14Bằng phương pháp này có thể xác định được tạo độ địa lý như phạm vi, ranh giới của khu vực tiến hành nghiên cứu Trong nghiên cứu này, tác giả ứng dụng GIS để xây dựng bàn đồ hành chính của tỉnh Hà Nam
4.3 Phương pháp duy vật biện chứng
Phương pháp duy vật biện chứng là phương pháp nhìn nhận thế giới như một chỉnh thể thống nhất, mọi sự vật và hiện tượng có mối liên hệ hữu cơ, ảnh hưởng, ràng buộc nhau, chúng vận động, biến đổi không ngừng trong khuynh hướng chung là sự phát triển
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một thể tổng hợp bao gồm các thành phần tự nhiên và kinh tế - xã hội Các thành phần đó có quan hệ chặt chẽ và luôn tác động qua lại với nhau vì vậy việc vận dụng phương pháp này có ý nghĩa rất quan trọng
4.4 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia là phương pháp dựa trên cơ sở đánh giá tổng kết kinh nghiệm của các chuyên gia giỏi và xử lý thống kê các câu trả lời một cách khoa học
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp chuyên gia trong việc kế thừa các đánh giá, nhận xét của các tác giả về đối tượng mà đề đề tài nghiên cứu; từ đó đưa ra những phân tích và đánh giá riêng
5 Đóng góp của khóa luận
Nôi dung nghiên cứu trong khóa luận này sẽ có những đóng góp đối với
sự phát triển kinh tế và góp phần trong việc giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến sự phát triển khu công nghiệp, cụ thể là vấn đề lao động
Một là, khóa luận đã xây dựng được một bộ chỉ tiêu đánh giá chất lượng
lao động tại các KCN theo quan điểm phát triển bền vững; qua đó góp phần giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý địa phương và các doanh nghiệp thấy được thực trạng chất lượng lao động tại các KCN địa phương, từ đó có những giải pháp và những hỗ trợ thích hợp nhằm nâng cao chất lượng lao động tại các KCN theo hướng hiệu quả và bền vững;
Trang 15Hai là, đề tài gợi ý cho các cấp chính quyền địa phương và người dân
tỉnh Hà Nam những giải pháp nhằm ổn định và nâng cao đời sống kinh tế - hội ở địa phương, qua đó góp phần vào thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh;
Ba là, đề tài góp phần bổ sung hệ thống lý luận và thực tiễn về KCN và
chất lượng lao động tại các KCN theo quan điểm hiệu quả và bền vững
6 Lịch sử nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, khu công nghiệp được hiểu theo quy định tại Nghị định 29/2008/NĐ - CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ: khu công nghiệp là là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ
Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định 29/2008/NĐ-CP
Theo quy chế quản lý cụm công nghiệp ban hành kèm theo Quyết định
số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ, cụm công nghiệp có quy mô diện tích nhỏ hơn khu công nghiệp; chủ yếu dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ; được thành lập căn cứ vào quy hoạch phát triển cụm công nghiệp của tỉnh được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt trong khi khu công nghiệp được thành lập vào căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp của cả nước được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Cụm công nghiệp do ngành Công thương quản lý còn khu công nghiệp do các ban quản lý các khu công nghiệp cấp tỉnh quản lý
Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ xem xét các KCN là đối tượng quản lý của các ban quản lý các KCN cấp tỉnh và được nêu trong quy
Trang 16hoạch tổng thể phát triển các KCN; không xem xét các cụm công nghiệp, các khu công nghiệp và khu chế xuất nằm trong các khu kinh tế
Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về vấn
đề phát triển khu công nghiệp như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Sinh Cúc (2008) “Phát triển khu công nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng và vấn đề nông dân mất đất nông nghiệp”, nghiên cứu của tác giả Việt Đức (2010) “Quy hoạch khu công nghiệp ở Việt Nam – Bất cập và giải pháp”, nghiên cứu “Khu công nghiệp Việt Nam liệu có phát triển bền vững” của tác giả Trần Văn Sử… Tuy nhiên, những nghiên cứu về KCN chủ yếu là trên phạm vi cả nước hoặc một vùng, những nghiên cứu về KCN cụ thể của một địa phương chưa có nhiều Các nghiên cứu đề cập đến vấn đề lao động trong các KCN cũng có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả, như “Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình xây dựng, phát triển các khu công nghiệp ở các vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung hiện nay” của Trương Minh Dục (2010), “Một số bất cập về việc làm, thu nhập của người lao động ở nước ta hiện nay” của tác giả Lê Thanh Hà (2008); nghiên cứu của Trần Hồng Kỳ (2002) về “ Lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và vấn đề di dời lao động”; Yến Tuyết (2006) “Giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp”…Tuy nhiên, các nghiên cứu này đề cập đến vấn đề lao động KCN ở khía cạnh xã hội, chưa có những đánh giá định lượng về chất lượng lao động theo quan điểm hiệu quả và bền vững
Ở Hà Nam, các KCN mới được hình thành từ năm 2003 và KCN đầu tiên chính thức đi vào hoạt động năm 2006, nên các công trình nghiên cứu
về KCN trên địa bàn tỉnh không nhiều.Trong các quy hoạch phát triển kinh
tế - xã hội của Hà Nam, KCN cũng được đề cập đến, tuy nhiên, đây là những định hướng phát triển mà chưa có những đánh giá cụ thể trên thực
tế Trong phạm vi tìm hiểu của tác giả, cho đến nay cũng chưa có công trình nghiên cứu nào của các tác giả về vấn đề lao động tại các KCN của tỉnh Hà Nam
Trang 17Nghiên cứu này cũng đề cập đến sự hình thành và phát triển của các khu công nghiệp nhưng dưới góc độ đánh giá chất lượng lao động tại các khu công nghiệp của Hà Nam thông qua các tiêu chí được xây dựng
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khóa luận được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về khu công nghiệp và chất lượng
lao động tại các khu công nghiệp
Chương 2: Đánh giá chất lượng lao động tại các khu công nghiệp trên
địa bàn tỉnh Hà Nam theo quan điểm phát triển bền vững
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng lao động tại các khu
công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
VÀ CHẤT LƯỢNG LAO 0ĐỘNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái quát về khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp
1.1.1.1 Quan niệm về khu công nghiệp
Lịch sử phát triển khu công nghiệp đã có từ lâu trên thế giới, ngay từ cuối thế kỷ XIX, những KCN đầu tiên đã được hình thành tại một số nước tư bản phát triển KCN đầu tiên được hình thành vào năm 1896 tại Traffort Part của thành phố Manchester (Anh) Tiếp sau đó các KCN lần lượt được ra đời ở
Mỹ năm 1899, Italia năm 1904; đến những năm 50 của thế kỷ XX, sự phát triển các khu công nghiệp đã trở nên phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và khẳng định những tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia
Khu công nghiệp đã ra đời và phát triển ở các nước tư bản vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Với lí thuyết về “khu vị luận công nghiệp”, Weber (1909) cho rằng việc phân bố và hình thành khu công nghiệp phải dựa trên nguyên tắc cực đại hoá lợi nhuận, cực tiểu hoá chi phí Sự tập trung các xí nghiệp vào một khu vực phụ thuộc 3 yếu tố: chi phí vận tải thấp nhất, giá lao động rẻ nhất, và có xí nghiệp sử dụng phế liệu Nhìn chung các nước tư bản muốn thông qua việc xây dựng các khu công nghiệp để tăng cường xuất khẩu cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, đồng thời khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của các nước
Ở các nước châu Á nói chung và khu vực nói riêng, KCN ra đời và phát triển vào nửa sau thế kỷ XX Hơn 40 năm qua, một số quốc gia đã có nhiều thành tựu trong việc xây dựng các khu chế xuất, khu thương mại tự do, khu công nghiệp… tạo ra những tiền đề quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các quốc gia này
Trang 19Tuy nhiên, tùy thuộc vào quan điểm và bối cảnh của từng quốc gia, khái niệm về KCN có nhiều sự khác biệt giữa các nước
Theo quan điểm của các nhà khoa học trường Đại học Tổng hợp
Matxcơva: “Khu công nghiệp là sự kết hợp theo lãnh thổ của những điểm
công nghiệp ở gần nhau được quy tụ về một hay một vài trung công nghiệp và
bị chi phối bởi các nhân tố phân bố công nghiệp đồng nhất”.[8]
Theo Xêmênov (1981) thì “Khu công nghiệp là một đối tượng sản xuất
phức tạp kết hợp hàng loạt nhân tố kinh tế, xã hội, tự nhiên có quan hệ với nhau, nhưng khác nhau về loại hình và mục đích”.[8]
Đến năm 1981, một số nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên
Xô trước đây đã đưa ra khái niệm khu công nghiệp tương đối rõ hơn: “Khu
công nghiệp bao gồm một nhóm các trung tâm công nghiệp phân bố gần nhau
và kết hợp với nhau bằng việc cùng chung chuyên môn hoá, mạng lưới vận tải thống nhất và những mối liên hệ sản xuất chặt chẽ”.[8]
Nhìn chung những quan niệm trên về KCN vẫn chưa thật rõ ràng về nội dung và những đặc trưng chủ yếu Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới
World Bank (WB) thì KCN được định nghĩa: “Khu công nghiệp là một khu
vực riêng biệt được tách ra khỏi khu đô thị và dân cư đông đúc; được phân chia thành các khu vực tập trung các cơ sở công nghiệp Khu công nghiệp được hỗ trợ về cơ sở hạ tầng thích hợp như đường giao thông, hệ thống điện
và cấp thoát nước cũng như các dịch vụ tiện ích”.[17]
Ở nước ta định nghĩa về KCN có nhiều nét tương đồng theo cách định nghĩa của WB và được quy định cụ thể trong Nghị định số 36/CP ngày 24-04-
1997, trong đó ghi rõ: “Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp
chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập”
Qua tóm lược trên có thể thấy rất nhiều quan niệm khác nhau về KCN của các tác giả dựa trên các quan điểm và vị trí nghiên cứu Tác giả cho rằng:
Trang 20“Khu công nghiệp là một khu vực độc lập, tập trung nhiều cơ sở sản xuất
công nghiệp, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và cùng sử dụng chung hệ thống kết cấu hạ tầng”
Sự hình thành và phát triển KCN có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và thường gắn liền với quá trình công nghiệp hóa Hiện nay, phần lớn các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam ưu tiên phát triển hình thức tổ chức lãnh thổ này, đây là cơ sở, nền tảng để mỗi quốc gia thu hút đầu tư, giải quyết công ăn việc làm từ đó tạo đà trong phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1.2 Đặc điểm của khu công nghiệp của Việt Nam
Dựa trên cách định nghĩa về KCN, có thể xác định KCN ở Việt Nam gồm có 4 đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất, về mặt không gian, KCN là khu vực có ranh giới địa lý rõ
ràng, phân biệt với các lãnh thổ khác và không có dân cư sinh sống
KCN có quy mô đất đai đủ lớn, với vị trí địa lý thuận lợi như gần sân bay, bến cảng, đường sắt…được xác định ranh giới cụ thể bằng hệ thống hàng rào KCN Mọi hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh đều diễn ra bên trong hàng rào đó, không chỉ được điều chỉnh bởi quy định của pháp luật hiện hành
mà còn phải tuân thủ quy chế pháp lý riêng và được hưởng rất nhiều ưu đãi Toàn bộ hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp được xây dựng phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch vụ phục vụ công nghiệp, không phục vụ mục đích sinh sống dân cư
Thứ hai, về chức năng hoạt động: KCN là khu vực chuyên sản xuất hàng
công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp Khu công nghiệp là một quần thể liên hoàn các xí nghiệp công nghiệp xây dựng trên một vùng có điều kiện thuận lợi về các yếu tố tự nhiên, về kết cấu hạ tầng xã hội … để thu hút vốn đầu tư và hoạt động theo một cơ cấu hợp lí các doanh nghiệp công nghiệp và các doanh nghiệp dịch vụ nhằm đạt kết quả cao trong sản xuất công nghiệp và kinh doanh Trong khu vực KCN không có các hoạt
Trang 21động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp cũng như các dịch vụ phục vụ cho loại hình sản xuất này
Thứ ba, KCN không phải là khu vực được thành lập tự phát mà được
thành lập theo quy định của Chính phủ, trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt Các KCN có Ban quản lý thống nhất để thực hiện quy chế quản lý; có phân cấp quản lý và tổ chức sản xuất Ở nước ta, Ban quản lý KCN do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với KCN, quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch
vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư
và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong KCN
Thứ tư, trong KCN có khu vực hoặc doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng
hóa xuất khẩu (được gọi là khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất) Phụ thuộc vào quy hoạch tổng thể phát triển KCN đã được phê duyệt và dự án đầu tư, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, trong phạm vi khu công nghiệp
có thể thành lập khu vực riêng bao gồm: các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và các dịch vụ thu ngoại tệ hoặc cũng có thể chỉ thành lập doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu (doanh nghiệp chế xuất)
1.1.1.3 Vai trò của các khu công nghiệp ở Việt Nam
Đối với các nước đang phát triển, trong quá trình công nghiệp hóa với chiến lược hướng về xuất khẩu, các khu công nghiệp, khu chế xuất được hình thành nhằm thu hút vốn đầu tư, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của các nước phát triển
Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu về tính bền vững của các KCN
trong dự án “Hỗ trợ xây dựng và thực hiện chương trình Nghị sự 21 quốc gia
của Việt Nam”: Các KCN, thực tế đã trở thành “Vườn ươm” hay là nơi thử
nghiệm các cơ chế, chính sách mới, tiên tiến như: cơ chế “một cửa tại chỗ”, hay cơ chế “tự đảm bảo tài chính”; nhiều chính sách khác về hoàn thiện thủ tục hải quan, phát triển hoạt động tài chính - ngân hàng trong các KCN có sự
Trang 22phối hợp của Ban quản lý KCN, đã tạo cho môi trường đầu tư tại các KCN trở nên hấp dẫn hơn.[2]
Ở Việt Nam sự hình thành các KCN gắn liền với chính sách mở cửa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực tế phát triển các KCN trong thời gian vừa qua đã khẳng định vai trò to lớn của các KCN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Các chính sách ưu đãi đầu tư, thu hút vốn cũng như công tác quản lý của Nhà nước ngày càng thông thoáng hơn đã góp phần thu hút một lượng lớn các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước tham gia xây dựng và vận hành các KCN, điều này đã tạo ra một sự đa dạng hóa trong các thành phần kinh tế, mặt khác cũng là cơ hội phát triển cho chính các doanh nghiệp trong KCN
Việc phát triển KCN đòi hỏi ngày càng cao việc ứng dụng khoa học công nghệ, tăng năng suất lao động, KCN tạo điều kiện cho việc tiếp thu nhận chuyển giao những thành tựu khoa học mới, những kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ các quốc gia trên thế giới Với một quốc gia còn đang ở giai đoạn tiến hành CNH, HĐH như Việt Nam thì đây chính là cơ hội để đón bắt những lợi thế của người đi sau, tranh thủ cơ hội để xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng, trang thiết bị tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển sau này
Đối với các nước đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa như Việt Nam thì phát triển các KCN giữ vai trò quan trọng trong đô thị hóa nông thôn, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh
tế mới theo hướng công nghiệp hóa Việc đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng trong KCN đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở mỗi địa phương, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa thành thị với nông thôn, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, điều này có thể dễ dàng nhận thấy tại những khu vực có KCN phát triển như Biên Hòa (Đồng Nai), Tiên Sơn (Bắc Ninh),…Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển KCN là các chính sách thu hút đầu tư đặc biệt là FDI cùng với việc ngày càng hoàn thiện cơ sở hạ tầng đã thúc đẩy kinh tế địa phương, nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế
Trang 23Trong quá trình phát triển, do nhu cầu mở rộng quy mô để tăng cường năng lực sản xuất, hoàn thiện cơ sở hạ tầng hay di chuyển ra khỏi khu vực đông dân cư đã tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề về ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường đô thị, giải quyết những bất ổn về xã hội, tái tạo và hình thành những quỹ đất mới phục vụ cho những mục đích khác như KCN Tân Tạo (Tp Hồ Chí Minh), Việt Hương (Bình Dương)… Bên cạnh đó việc phát triển các KCN còn là cơ sở để tạo ra các mối quan
hệ liên vùng, việc hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, các khu đô thị
vệ tinh… cũng như các công trình xã hội phục vụ đời sống người lao động và dân cư trong khu vực như: nhà ở, trường học, bệnh viện…từ đó góp phần hoàn thiện bản đồ quy hoạch quốc gia
Sự phát triển các KCN ở Việt Nam trong thời gian qua đã khẳng định sự đúng đắn trong đường lối phát triển của Đảng Các KCN không chỉ tạo ra việc làm cho lao động nhàn rỗi, nâng cao thu nhập, từng bước ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động mà còn đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nâng cao trình độ và hiện đại hóa công nghệ, nâng cao năng lực quản lý từ đó tăng cường năng lực cạnh tranh cho nền kinh
tế trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Các KCN còn góp phần hoàn thiện cơ sở hạ tầng, là điều kiện nền tảng cho giai đoạn phát triển mới về sau, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới, hạn chế, khắc phục những yếu kém, nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động KCN cho các cấp ngành quản lý của Việt Nam
1.1.2 Chất lượng lao động tại các khu công nghiệp theo quan điểm phát
triển bền vững
1.1.2.1 Quan điểm phát triển bền vững các khu công nghiệp
Hiện nay, trên thế giới việc kiểm định sự thành công của KCN được thực hiện chủ yếu thông qua sự đánh giá trực tiếp của các doanh nghiệp hoạt động trong KCN theo các bộ tiêu chí phát triển bền vững khá chặt chẽ và chúng tương đối tương đồng với nhau Tuy nhiên, ở nước ta, do quá trình hình thành
Trang 24và phát triển các KCN chưa lâu, mục tiêu chủ yếu tập trung vào việc thu hút đầu tư, cơ chế chính sách và các định chế quản lý các KCN chưa nhất quán và thiếu đồng bộ, chưa có chuẩn quy định và chuẩn đánh giá về KCN, việc điều hành công tác quản lý KCN còn nhiều bất cập, các điều kiện hình thành các KCN là khác nhau nên chúng có thuận lợi và khó khăn khác nhau Do vậy, việc đánh giá sự thành công của các khu công nghiệp Việt Nam cũng có nhiều điểm khác biệt
Thứ nhất, đánh giá các doanh nghiệp trong KCN theo một bộ tiêu chí
thống nhất, là một công cụ tham chiếu quan trọng về tính bền vững trong quá trình phát triển của KCN Việt Nam cũng cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá doanh nghiệp trên cơ sở tham khảo các bộ tiêu chí đang được áp dụng phổ biến trên thế giới như Bộ tiêu chí Phát triển bền vững Dow Jones và Bộ tiêu chí của Tổ chức Sáng kiến toàn cầu GRI.[23] Bên cạnh việc đánh giá từng doanh nghiệp theo bộ tiêu chí thống nhất, hệ thống đánh giá phát triển bền vững KCN ở Việt Nam, cũng cần thể hiện được các yếu tố phát triển bền vững của các doanh nghiệp trong KCN
Thứ hai, sự phát triển bền vững của một KCN không chỉ phản ánh thông
qua những kết quả đạt được theo các tiêu chuẩn bền vững nội tại của KCN,
mà còn phải được thể hiện ở vai trò tạo ra các tác động lan tỏa tích cực đối với các các nhóm lợi ích liên quan (các doanh nghiệp đối tác, địa phương, khu vực có KCN) Tác động lan tỏa (spillover effect), còn được gọi là hiệu ứng lan tỏa, được các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới đề cập từ cuối những năm 70 của thế kỷ 20, khi bàn về ảnh hưởng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và của các công ty đa quốc gia tới các nước tiếp nhận đầu tư, mà thường là các nước kém phát triển hơn, nhưng có nguồn lao động rẻ và một
số lợi thế về thị trường tiêu thụ Khái niệm tác động lan tỏa được sử dụng trước hết để đề cập đến những ảnh hưởng tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đối với nền kinh tế của các nước tiếp nhận đầu tư
Trang 25Tác động lan tỏa của các KCN được thể hiện trên ba khía cạnh khác nhau đối với doanh nghiệp trong nước, cả trong và ngoài KCN: (1) Vai trò của FDI tại các KCN trong việc chuyển giao công nghệ và phương pháp quản
lý tiên tiến cho các doanh nghiệp liên kết trong nước; (2) FDI thúc đẩy việc nâng cao trình độ của nguồn nhân lực trong nước để tiếp nhận và áp dụng hiệu quả các công nghệ sản xuất và kinh nghiệm quản lý; (3) Vai trò của KCN thúc đẩy mối liên kết ngược (backward linkage) giữa các doanh nghiệp FDI với các nhà cung ứng trong nước Mối liên kết này thường được thể hiện ở hai dạng: nguyên liệu đầu vào tại địa phương và nguồn cung cấp linh kiện, phụ tùng trong nước từ các doanh nghiệp của ngành công nghiệp phụ trợ Việc hình thành và phát triển mối liên kết ngược này phụ thuộc rất nhiều vào phạm
vi và trình độ của các ngành công nghiệp trong nước
Trên thực tế, tác động lan toả của KCN được thể hiện trên các mặt: tạo
sự chuyển biến tích cực trong cơ cấu ngành kinh tế theo định hướng xuất khẩu; hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và xã hội cho khu vực
có KCN; góp phần giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề xã hội, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động, hạn chế ô nhiễm và cải thiện môi trường trong quá trình phát triển KCN
Như vậy, từ các phân tích trên đây, phát triển bền vững KCN ở Việt nam phải được xem xét trên hai mặt: (1) Mức độ bền vững trong hoạt động của KCN thông qua hiệu quả kinh doanh cao của các doanh nghiệp trong KCN,
và (2) Tác động lan toả tích cực của KCN đến hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường của các doanh nghiệp, ngành, địa phương, khu vực có KCN
1.1.2.2 Chất lượng lao động tại các khu công nghiệp theo quan điểm phát
triển bền vững
Chính sách phát triển của mọi quốc gia trên thế giới hiện nay đều hướng đến sự phát triển bền vững nhằm góp phần đánh giá một cách toàn diện hơn khía cạnh phát triển bền vững trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp
Trang 26Ở nước ta, phát triển các KCN gắn liền với việc hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, các trung tâm đô thị lớn, thu hút lao động và tạo việc làm cho người lao động ngày càng chứng tỏ được tính hiệu quả và đúng đắn Sự phát triển các KCN đã mở ra một không gian kinh tế rộng lớn, một kênh mới rất có tiềm năng để thu hút lao động, giải quyết việc làm Theo Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, đến nay các doanh nghiệp trong khu công nghiệp thu hút khoảng hơn 100 nghìn lao động trực tiếp Nếu tính độ lan tỏa của nó (hiệu ứng tràn) thì khả năng thu hút lao động còn lớn hơn nhiều Nếu so sánh 1 ha đất nông nghiệp chỉ tạo việc làm tối đa cho 10 - 15 lao động nông nghiệp với giá trị thấp nhưng nếu chuyển sang xây dựng khu công nghiệp sẽ tạo việc làm cho hàng trăm lao động công nghiệp với giá trị cao Theo tính toán của các nhà kinh tế, 1 khu công nghiệp, khu chế xuất, bình quân diện tích từ 100 - 150 ha khi lấp đầy sẽ sử dụng 15.000- 18.000 lao động Lợi ích về kinh tế và sử dụng lao động là rất rõ Tuy nhiên, để đánh giá sự phát triển bền vững của một khu công nghiệp, bên cạnh việc tạo ra việc làm cho nhiều lao động thì chất lượng lao động cũng là một tiêu chí hết sức quan trọng
Chất lượng lao động tại các KCN theo quan điểm hiệu quả và bền vững được hiểu ở hai góc độ:
Thứ nhất, số lượng lao động thu hút được vào các khu công nghiệp
Một trong số mục tiêu quan trong hàng đầu cho sự hình thành và phát triển các KCN là giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động mà trước hết là lao động của chính địa phương đó Cùng với sự phát triển các KCN là quá trình chuyển giao đất sản xuất nông nghiệp thành đất công nghiệp, hệ quả
là một bộ phận người nông dân mất đi tư liệu sản xuất, nếu không có giải pháp hỗ trợ thích hợp sẽ dấn tới tình trạng thất nghiệp một phần hoặc toàn phần Sự hình thành các KCN phải đảm bảo trước hết là giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương, biểu hiện ở quy mô và tỷ lệ lao động địa phương so với tổng số lao động làm việc trong KCN Bên cạnh đó, sự chậm trễ trong quá trình giải phóng mặt bằng, khó khăn trong việc thu hút các nhà đầu tư thứ cấp…khiến cho có sự chênh lệch giữa khả năng thu hút lao động thực tế so với số lao động theo dự án, do vậy, hiệu quả thu hút lao động tại các KCN còn được xem xét ở khả năng thu hút lao động thực tế của các KCN
Trang 27Thứ hai, hiệu quả thu hút lao động tại các KCN được biểu hiện ở chất
lượng lao động thu hút được
Chất lượng lao động thu hút được vào các khu công nghiệp được biểu hiện ở cơ cấu lao động , bao gồm: năng suất lao động, cơ cấu lao động theo trình độ, cơ cấu lao động theo độ tuổi, cơ cấu lao động theo giới tính, theo khu vực hoạt động kinh tế…
Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động để sản xuất ra nó Năng suất lao động phản ánh yếu tố chất lượng người lao động - yếu tố cốt lõi của sự phát triển
Hiện nay, phần lớn lao động tại các KCN là lao động nữ, mất cân bằng giới tính tại các KCN ngày càng lớn nhất là các KCN chuyên sản xuất hàng may mặc, điện tử, da giày…Mặt khác, lao động tại các KCN cũng chủ yếu là lao động phổ thông, trình độ thấp, trong tương lai khi nguồn lao động giá rẻ mất đi lợi thế, thì thu hút lao động có trình độ là yêu cầu quan trọng đối với mỗi khu công nghiệp
Bên cạnh đó, hiệu quả thu hút lao động tại các KCN còn gắn với sự phát triển con người: tỷ lệ lao động được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong các khu công nghiệp, môi trường và điều kiện làm việc của công nhân trong các KCN…
1.1.2.3 Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thu hút lao động tại các khu
công nghiệp
a Các chỉ tiêu đánh giá định lượng
Chỉ tiêu 1: Khả năng thu hút lao động thực tế so với lao động theo dự án
(1) ĐLĐTT = 100%
Trong đó:
ĐLĐTT là khả năng thu hút LĐ thực tế của KCN so với LĐ theo dự án
LĐTT là số lao động thu hút được của KCN
LĐDA là số lao động theo dự án
Trang 28Chỉ tiêu 2: Đóng góp của KCN trong việc giải quyết việc làm cho lao
động toàn tỉnh
(2) ĐVL = 100 (%)
Trong đó:
ĐVL là mức đóng góp quy mô số lao động đang làm việc của KCN: Đ VL
cho biết các KCN đã tạo ra bao nhiêu % việc làm trong tổng số 100% tổng lao động của toàn tỉnh
VLKCN là quy mô số lao động đang làm việc trong các KCN
VLTỉnh là quy mô số lao động đang làm việc của toàn tỉnh
(3) ĐTVL = 100 (%)
Trong đó:
ĐTVL là mức đóng góp vào giải quyết số việc làm mới của KCN Đ TVL
cho biết các KCN đã đóng góp bao nhiêu % vào việc gia tăng quy mô số việc làm mới trong toàn tỉnh
∆VLKCN là gia tăng quy mô số lao động đang làm việc của KCN
∆VLTỉnh là gia tăng quy mô số lao động đang làm việc trong toàn tỉnh
Chỉ tiêu 3: Đóng góp của KCN trong giải quyết lao động địa phương
(4) ĐLĐP = 100%
Trong đó:
ĐLĐP là mức đóng góp của KCN trong giải quyết lao động địa phương
Đ LĐP cho biết các KCN đã tạo ra bao nhiêu % việc làm cho lao động địa phương trong tổng số 100% số lao động làm việc trong các KCN
LĐĐP là số lao động địa phương đang làm việc trong các KCN
LĐKCN là số lao động đang làm việc trong các KCN
(5) ĐTLĐP = 100%
Trang 29Trong đó:
ĐTLĐP là mức đóng góp vào giải quyết số việc làm mới cho LĐ địa
phương của KCN Đ TLĐP cho biết có bao nhiêu % lao động địa phương tăng thêm trong quy mô lao động tăng thêm hàng năm
∆LĐĐP là gia tăng quy mô số LĐ địa phương đang làm việc của KCN ∆LĐKCN là gia tăng quy mô số lao động đang làm việc trong KCN
Chỉ tiêu 4: Năng suất lao động trong các KCN
(6) NSLĐKCN = (triệu đồng/người/năm)
Trong đó:
NSLĐKCN là năng suất lao động trong các KCN
GTSXKCN là giá trị sản xuất trong các KCN trong 1 năm (triệu đồng)
LĐKCN là số lao động làm việc trong các KCN trong 1 năm
b Các chỉ tiêu định tính
Ngoài các chỉ tiêu có thể được đánh giá định lượng trên, nghiên cứu còn đánh giá hiệu quả thu hút lao động của các KCN thông qua qua một số chỉ tiêu định tính như: cơ cấu lao động trong các KCN theo trình độ, theo độ tuổi, theo giới tính
Cơ cấu lao động theo trình độ biểu hiện ở khả năng thu hút lao động có trình độ đại học, cao đẳng, lao động đã qua đào tạo vào các KCN, biểu hiện ở
sự tương quan giữa lao động phổ thông với lao động có trình độ
Cơ cấu lao động theo độ tuổi và giới tính phản ánh độ tuổi lao động bình quân và tỷ lệ lao động nam/nữ làm việc trong các khu công nghiệp, phân tích
để thấy được lợi thế và những hệ quả chủ yếu, từ đó có những giải pháp và hỗ trợ thích hợp
Hiệu quả thu hút lao động tại các KCN còn được phản ánh ở tác động lan tỏa đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động của chính địa phương đó Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp sẽ có những tác động đến cơ cấu lao động của địa phương theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực Sự tác động ấy,
Trang 30có thể xuất phát từ chính nội bộ lao động địa phương hoặc do các lao động nhập cư mang lại
Mặt khác, trong nghiên cứu này các yếu tố về phát triển con người thông qua sự đánh giá về tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, điều kiện và môi trường làm việc…cũng được xem xét là tiêu chí đánh giá chất lượng lao động tại các khu công nghiệp
1.2 Thực tiễn phát triển khu công nghiệp
1.2.1 Kinh nghiệm thế giới về phát triển khu công nghiệp
Khu công nghiệp đã ra đời và phát triển ở các nước tư bản vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Nhìn chung các nước tư bản muốn thông qua việc xây dựng các khu công nghiệp để tăng cường xuất khẩu cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, đồng thời khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động của các nước
Ở Châu Á nói chung và khu vực nói riêng, KCN ra đời và phát triển vào nửa sau thế kỷ XX Trải qua hơn 40 năm phát triển, các KCN đã cho thấy vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế của các quốc gia phát triển và giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân Kinh nghiệm của một số nước láng giềng cho thấy phát triển bền vững các KCN là một nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam, trong đó tiêu biểu như Hàn Quốc, Trung Quốc…
1.2.1.1 Kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp của Hàn Quốc
Những năm 1960, Hàn Quốc bắt đầu phát triển các KCN hay các tổ hợp công nghiệp theo kế hoạch phát triển kinh tế quốc gia nằm trong chính sách công nghiệp hóa Phần lớn các KCN của Hà Quốc đều nằm ở vành đai công nghiệp như Ulsan (tỉnh Ulasan) và Changwon (tỉnh Gyeongsangam) Đến nay, Hàn Quốc có khoảng hơn 500 khu chế xuất – khu công nghiệp – cụm công nghiệp trong đó có khoảng 34 khu có quy mô lớn chiếm tới hai phần ba diện tích của tất cả các khu
Trang 31Hàn Quốc có nhiều kinh nghiệm về việc để cho cộng đồng dân cư địa phương cung cấp dịch vụ cho thuê nhà ở cho công nhân nước ngoài ở KCN Làn sóng công nhân nước ngoài nhập cư vào Hàn Quốc bắt đầu từ cuối những năm 1980 và số lượng đó tăng lên nhanh chóng, đến cuối năm 2002, số lượng công nhân nước ngoài nhập cư vào Hàn Quốc đã lên tới 0.4 triệu và tiếp tục gia tăng vào những năm tiếp theo Những công nhân nhập cư chủ yếu tập trung sống tại các khu vực gần KCN, khu chế xuất Điều này đã gây ảnh hưởng tới khu vực dân cư nới họ đến sinh sống và làm việc
Một nghiên cứu của Park và Ahn (2003) [18] tại Wongok ở Ansan – một thành phố công ngiệp điển hình của Hàn Quốc Với sự gia tăng mạnh mẽ của dòng công nhân nhập cư tới KCN, sự gia tăng nhanh chóng dân cư trong khu vực buộc Wongok phải mở rộng khu dân cư như Wongok 1, Wongok 2 Đáng lưu ý rằng sự mở rộng đó không phải do chiến lược phát triển kinh tế của địa phương hay do những yếu tố của bản thân xã hội Hàn Quốc mà do làn song công nhân nhập cư vào Hàn Quốc Theo thống kê của thành phố Ansan, số lượng nhà trong khu vực tăng lên từ năm 1999, chất lượng tiêu chuẩn của các khu nhà cũng được cải thiện, nhà ở được cung cấp rất đa dạng từ diện tích nhỏ, trung bình đến diện tích lớn
Tỷ lệ công nhân nhập cư tăng lến dẫn đến những thay đổi hạ tầng dịch
vụ nhằm đáp ứng nhu cầu mới Doanh nghiệp địa phương mở nhiều hàng ăn, cửa hiệu tập trung vào những đặc trưng của công nhân nhập cư phục vụ nhu cầu và thị hiếu của riêng họ Dịch vụ môi giới và cho thuê nhà cũng trở nên phát triển hơn
1.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp của Trung Quốc
Theo Cục Quản lý Đất đai Quốc gia, cuối năm 1991, Trung Quốc chỉ có khoảng 117 KCN, tuy nhiên con số này đã lên đến 2.700 vào cuối năm 1992
và các khu này được phê duyệt từ các cấp khác nhau, từ cấp chính quyền trung ương, cấp tỉnh, thành phố, thị trấn cho đến cấp quận và nhiều khu thậm chí được xây dựng mà không có cấp chính quyền nào phê chuẩn Làn sóng
Trang 32xuất hiện các KCN lắng dịu vào giữa những năm 1990, tuy nhiên khi có sáng kiến của Chính phủ nhằm phát triển kinh tế tại các vùng thì các KCN lại tiếp tục được hình thành
Mặc dù, việc hình thành những khu công ngiệp mang lại cho các vùng một diện mạo mới Với dáng dấp công ngiệp hóa và hiện đại hóa hơn nhưng vấn đề sử dụng đất một cách lãng phí, đặc biệt là đất nông nghiệp và việc sử dụng các KCN không có quy hoạch đã làm đảo lộn cuộc sống của người dân tại các vùng này Hậu quả là, nhiều người dân bị mất đất nông nghiệp để phục
vụ cho việc xây dựng các KCN, các con đường giao thông, các đường cấp điện để thu hút các nhà đầu tư vào vùng Mặt khác, trong tổng số quỹ đất nông ngiệp bị thu hồi thì một phần lớn diện tích đất vẫn bị bỏ hoang do cung vượt quá cầu hoặc diện tích đất đó được phát triển thành khu dân cư, khu thương mại – hoàn toàn khác hẳn so với mục đích xây dựng dự kiến ban đầu Các KCN là nguyên nhân dẫn đến hình thái kiến trúc nhà ở trong vùng trở nên méo mó, với các căn phòng được xây dựng kém chất lượng Gia tăng
số các KCN kèm theo sự gia tăng số lao động di cư từ các nơi khác đến vùng tìm kiếm việc làm trong khi bản thân các doanh nghiệp trong các KCN cũng như các đơn vị kinh doanh cho thuê nhà trong vùng lại không thể cung cấp đủ
số phòng ở cho lao động ngoại tỉnh thuê cho nên đã dẫn đến tình trạng một số
hộ dân trong vùng đã sử dụng diện tích đất dư thừa trong nhà xây dựng nhiều căn phòng với chất lượng kém để cho thuê, một số nhà cho thuê thậm chí không có cả phòng tắm và khu bếp riêng.[15]
1.2.2 Lịch sử phát triển KCN của Việt Nam
Ngay từ năm 1986, Việt Nam đã đặc biệt quan tâm tới việc phát triển KCN, Chính phủ Việt Nam đã có Nghị định số 36/CP ngày 24-4-1997 về phát triển KCN tập trung, khu chế xuất trên lãnh thổ Việt Nam Ngày 8/6/1995, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 519/TTg về phát triển KCN
và kết cấu hạ tầng, trong đó đã xác định đến năm 2000 trên phạm vi cả nước
Trang 33sẽ phát triển 33 KCN, khu chế xuất Từ đó đến nay sự phát triển các KCN trở nên mạnh mẽ và đem lại hiệu quả khá tốt
Kể từ sau khi Đổi mới, Việt Nam bắt đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua nhiều kênh, một trong số ấy là thành lập các KCN, theo
đó các doanh nghiệp được hưởng nhiều ưu đãi về kết cấu hạ tầng cũng như tài chính Khu chế xuất Tân Thuận là KCN đầu tiên được thành lập ở Việt Nam vào 11/1991, tiếp theo đó là KCN Linh Trung I vào năm 1992 Cả hai khu này đều ở thành phố Hồ Chí Minh để khai thác lợi thế nguồn nhân lực và kết cấu
hạ tầng giao thông (đường giao thông, sân bay, cảng)
Giai đoạn 1991 - 1994 có thể gọi là giai đoạn thí điểm phát triển các khu công nghiệp bởi vì trong giai đoạn này không có cơ sở pháp lý nào hậu thuẫn việc phát triển các khu công nghiệp, cũng không có quy định minh bạch nào
về thế nào là một khu công nghiệp Cả giai đoạn này chỉ có 2 khu chế xuất nói trên và 5 khu công nghiệp được thành lập, trong đó hai khu ở Hà Nội (Nội Bài
và Thăng Long), một khu ở Hải Phòng (Nomura - Hải Phòng), một khu ở Đà Nằng (khu công nghiệp Đà Nằng), và một khu ở Đồng Nai (Amarta) Lúc đó,
để phân biệt các khu công nghiệp này với những khu công nghiệp đã hình thành từ những năm 1960, Nhà nước gọi những khu mới là các KCN tập trung, về sau, để thuận tiện, chỉ gọi là các KCN, còn các KCN cũ và những khu có đặc điểm tương tự được gọi chung là cụm công nghiệp
Tháng 12/1994, Chính phủ ra Nghị quyết số 192/NQ-CP ban hành quy chế KCN Từ đó, các KCN được thành lập nhiều hơn Trong khi chính phủ phê duyệt danh sách các KCN ưu tiên thành lập đến năm 2000 mà toàn bộ các khu trong danh sách đó chỉ tập trung ở Hà Nội hay Tp HCM, thì 1 số tỉnh thành cũng đã xúc tiến phát triển các KCN ở địa phương mình Sau đó, theo
đề nghị của các tỉnh, Chính phủ đã bổ sung thêm vào danh sách nói trên
Trang 34Hình 1.1: Số lượng và diện tích các KCN cả nước tính đến năm 2010
Tính đến hết năm 2013, cả nước có 289 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 81.000 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt hơn 52.800 ha, chiếm khoảng 66% tổng diện tích đất tự nhiên Trong
đó, 191 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 54.060 ha và
98 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 27.008 ha Tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê của các KCN đạt gần 24.000 ha, tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 45%, riêng các KCN đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt trên 63%.[16]
Các KCN được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành trên cả nước trên cơ sở phát huy tiềm năng lợi thế của mỗi vùng kinh tế, đồng thời phân bố ở mức độ hợp lý 1 số KCN ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hơn nhằm tạo ngành mũi nhọn thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng
Khu
Trang 35Hình 1.2: Số lượng KCN của các vùng kinh tế năm 2013
Đông Nam Bộ dẫn đầu cả nước về số lượng KCN, tính đến hết năm
2013, Đông Nam Bộ có 98 KCN chiếm tới 34% tổng số KCN của cả nước Tiếp theo là Đồng bằng sông Hồng có 73 KCN đã được thành lập chiếm 25% Tây Nguyên và Trung du miền núi phía Bắc có số lượng KCN ít nhất cả nước, chỉ chiếm 2% và 8% trong tổng số KCN của cả nước
1.2.3 Tình hình lao động tại các khu công nghiệp của Việt Nam
Sự hình thành và phát triển các KCN hệ quả là tạo ra nhiều việc làm
trong dân cư thông qua 3 hình thức: thứ nhất, tạo ra việc làm trực tiếp cho cả
lao động phổ thông và lao động có kỹ năng, cả lao động địa phương và lao
động nhập cư; thứ hai, KCN tạo ra việc làm gián tiếp và thứ ba, các KCN tạo
ra việc làm cho nhiều lao động nữ
Việc làm trực tiếp được tạo ra khi các doanh nghiệp trực tiếp thuê mướn lao động Những lao động phổ thông trong vùng hay những nông dân trong
độ tuổi lao động nhượng đất nông nghiệp cho việc xây dựng thì sự xuất hiện của các KCN tất yếu tạo ra cho họ nhiều cơ hội làm công nhân trong các KCN Tính đến 6/2013, các KCN trong cả nước tạo việc làm cho hơn 2,1 triệu lao động, trong đó xét cơ cấu lao động theo giới thì lao động nữ là 1,17 triệu người (chiếm 69%), lao động nam là 0,6 triệu người (bằng 31%); xét theo
Trang 36quốc tịch thì lao động Việt Nam là 2,07 triệu người (chiếm 98,5%), lao động nước ngoài là 32,7 nghìn người (chiếm tỷ lệ 1,5%)
Nhìn chung, các KCN tạo ra nhiều việc làm cho lao động là nữ giới Tỷ
lệ lao động nữ trong các KCN cao hơn đáng kể so với tỷ lệ lao động tham gia vào hoạt động sản xuất bên ngoài các KCN, do đặc thù các KCN của Việt Nam phát triển nhiều ngành ngề dệt may, da giày, lắp giáp linh kiện điện tử…đòi hỏi sự khéo léo, do vậy, nhiều doanh nghiệp trong KCN trong một thời gian dài chỉ tuyển lao động là nữ Điều này dẫn đến áp lực về mất cân bằng giới tính trong các KCN, cũng như giải quyết vấn đề nhà ở và đời sống hôn nhân cho các lao động là nữ giới trong các KCN
Cơ cấu lao động theo giới Cơ cấu lao động theo quốc tịch
Hình 1.3: Cơ cấu lao động Khu công nghiệp cả nước theo giới tính và
Trên phạm vi cả nước, các KCN ở Đông Nam Bộ có tổng số lao động/ha đất CN đã cho thuê lớn nhất cả nước 101 người/ha, tiếp theo là các KCN
Trang 37thuộc Đồng bằng sông Hồng 96 người/ha, Tây Nguyên và Trung du miền núi phía Bắc thu hút được ít lao động nhất cả nước, do ở đây tập trung ít các KCN
và điều kiện phát triển cũng gặp nhiều khó khăn Bình quân cả nước, các KCN tạo ra 86 việc làm trên một ha đất công nghiệp đã cho thuê
Hình 1.4: Tổng số lao động/ha đất công nghiệp đã cho thuê phân theo vùng
kinh tế tính đến năm 2013
Bên cạnh đó, nhu cầu đối với các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ bổ sung
cho hoạt động của các KCN cũng tạo ra nhiều việc làm gián tiếp Thứ nhất, dịch
vụ cho công nhân KCN thuê nhà trọ Thứ hai, cùng với đó là buôn bán nhỏ bao
gồm kinh doanh hoặc làm đầu, các dịch vụ giải trí khác…phục vụ công nhân
KCN và các hộ gia đình có thu nhập tăng lên Thứ ba, các đơn vị sản xuất công
nghiệp trong vùng cũng được hưởng lợi và nhận được việc làm từ các khu công nghiệp như: cung cấp thợ sửa chữa động cơ, nung sắt thép, một số công việc bán thời gian khác như lau dọn, vệ sinh…Nhìn chung, sự phát triển các KCN đã mang lại tác động lan tỏa tích cực, không chỉ mang lại việc làm cho những lao động trực tiếp làm việc trong các KCN mà còn có đóng góp không nhỏ trong việc tạo ra việc làm cho dân cư khu vực xung quanh các KCN
KCN cũng là nơi sử dụng nhiều lao động có chuyên môn kỹ thuật phù hợp với công nghệ mới áp dụng vào sản xuất đạt trình độ khu vực và quốc tế
Do đó, KCN đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho Việt Nam để hình
Trang 38thành đội ngũ lao động của nền công nghiệp hiện đại Đến nay, nhiều trường cao đẳng hoặc cơ sở dạy đào tạo công nhân làm việc trong KCN đã được xây dựng Đặc biệt đã hình thành mô hình liên kết đào tạo và sử dụng nhân lực giữa các KCN và nhà trường, góp phần quan trọng giải quyết tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật hiện nay
Tuy nhiên, do quy hoạch và xây dựng các KCN không gắn với quy hoạch đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm cho nông dân nên hậu quả về mặt xã hội cũng rất lớn, người nông dân mất việc làm trong nông nghiệp và có nguy cơ thất nghiệp toàn phần Bình quân mỗi ha đất nông nghiệp thu hút 10-13 lao động [15] Diện tích một KCN tính bình quân cả nước khoảng 274 ha, như vậy, có nghĩa là lấy đất nông nghiệp xây mỗi khu công nghiệp sẽ làm khoảng 2700 – 3500 người mất việc làm nông nghiệp Mặc dù việc thu hút lao động vào các KCN của Việt Nam tăng hàng năm nhưng một số không được tuyển dụng vào các KCN vì chậm tiến độ hoặc không mua được đất để tiếp tục sản xuất nông nghiệp, những người quá độ tuổi lao động, không có kĩ năng hay những người không thể hoặc không chịu làm việc liên quan gián tiếp đến KCN, họ có thể rơi vào tình trạng không có việc làm, xu hướng kéo ra thành phố để tìm kiếm việc làm với mức lương cao hơn đã dẫn đến hiện tượng di dân cơ học từ nông thôn ra thành thị làm cho tỷ
lệ đô thị hóa tăng lên
Từ năm 1990 các đô thị Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới
có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hoá vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con số này lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị Tính đến nay, cả nước có khoảng 700 đô thị, tỷ lệ đô thị hóa là 30%, trong 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng dân cư đô thị là 3,4% Tuy nhiên, tình trạng không có việc làm này phần lớn chỉ là tạm thời, qua điều tra một số nông dân không thừa nhận việc chạy xe ôm, bán đồ giải khát…là việc làm, họ chỉ coi nghề làm ruộng mà họ
đã quen thuộc là việc làm Mặt khác, một số nông dân mất đất nông nghiệp lại không thể vào làm trong các KCN do nằm ngoài độ tuổi lao động, trên thực tế
Trang 39họ vẫn có thể làm việc trên các cánh đồng nhưng ở độ tuổi trên 55-60 tuổi ở các nghề nghiệp khác họ có thể được nghỉ hưu theo quy định
Bên cạnh đó, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn rất hạn chế, việc đào tạo nghề cho lao động mất đất còn chưa được chú trọng, do đó khó đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động dẫn tới công việc mới của người bị thu hồi đất thường không có tính ổn định cao Nguyên nhân của thực trạng này một phần bắt nguồn từ chính người dân Khi chuyển giao đất nông nghiệp sang đất cho KCN, theo cơ chế đền bù giải phóng mặt bằng hiện nay của Việt Nam, sẽ
có một phần kinh phí hỗ trợ cho người dân trong việc đào tạo nghề chuyển đổi nghề nghiệp Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều người dân ở các địa phương không sử dụng khoản kinh phí này theo đúng mục địch, chính vì vậy, đây là một mâu thuẫn và là vấn đề xã hội phát sinh khá gay gắt hiện nay, dẫn đến những điểm "nóng" về mặt xã hội cần phải giải quyết
Tiểu kết chương 1:
Ở nước ta KCN đầu tiên được xây dựng vào năm 1991, cho đến nay đã
có 289 KCN được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và đã khẳng định được vai
trò đối với sự phát kinh tế - xã hội của đất nước
KCN được thành lập và phát triển, hệ quả là giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, tạo thu nhập cho người dân Hiệu quả về sử dụng lao động của các KCN là rất rõ, tuy nhiên, vấn đề chất lượng lao động tại các KCN này lại chưa có những nghiên cứu và đánh giá đầy đủ Nghiên cứu này xây dựng một bộ tiêu chí nhằm đánh giá chất lượng lao động tại các KCN
theo hướng hiệu quả và bền vững
Trang 40CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH HÀ NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2003 -2013
2.1 Khái quát tình hình phát triển các khu công nghiệp của tỉnh Hà
Nam giai đoạn 2003 - 2013
2.1.1 Khái quát điều kiện hình thành và phát triển các khu công nghiệp
của tỉnh Hà Nam
2.1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Hà Nam là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, giáp với thủ đô Hà Nội ở phía Bắc và Tây Bắc, phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp tỉnh Nam Định, phía Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình và phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình Thành phố Phủ Lý – tỉnh lỵ của Hà Nam nằm trong vành đai của Vùng đô thị Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội khoảng 60km, với việc hình thành tuyến cao tốc Bắc – Nam là yếu tố thuận lợi để Hà Nam phát triển, là điều kiện quan trọng tạo lợi thế so sánh cho Hà Nam trong việc mở rộng hợp tác, giao lưu kinh tế với các địa phương khác trong cả nước, nhất là với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh Đồng bằng sông Hồng cũng như các tỉnh dọc tuyến trục giao thông Bắc Nam
Nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc - Nam, trên địa bàn tỉnh
Hà Nam có Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam chạy qua vùng với các tuyến đường giao thông quan trọng khác như: Quốc lộ 21, Quốc lộ 21B, Quốc lộ 38 Hơn 4.000 km đường bộ bao gồm các đường quốc lộ, tỉnh lộ cùng các tuyến giao thông liên huyện, liên xã, thị trấn đã được rải nhựa hoặc bê tông hóa Hơn 200 km đường thủy có luồng lạch đi lại thuận tiện với 42 cầu đường đã được xây dựng kiên cố và hàng nghìn km đường giao thông nông thôn tạo thành một mạng lưới giao thông khép kín, tạo điều kiện thuận lợi về đi lại và vận chuyển hàng hóa cho các phương tiện cơ giới tới các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng một cách nhanh chóng và thuận tiện Hệ thống sông ngòi chính chảy trên địa bàn gồm: sông Hồng, sông Ðáy, sông Châu thuận tiện cho giao thông thủy