LỜI CAM ĐOAN Đề tài nghiên cứu "Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam" là đề tài được nghiên cứu, tìm hiểu trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp c
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu "Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam" là đề tài được nghiên cứu, tìm hiểu trong quá trình thực hiện khóa luận
tốt nghiệp của tôi từ tháng 4/ 2014 đến tháng 5/ 2014; đề tài cũng đã có sự chuẩn bị
và tìm hiểu trong quá trình thực tập tại UBND xã Hữu Hoà trước đó Trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ của Thạc sĩ Phạm Ngọc Trụ, cùng các Thầy, Cô giáo trong Học viện Chính sách và Phát triển
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do tôi nghiên cứu trên các số liệu, tài liệu và thông tin thu thập được trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp Đề tài không sao chép lại các đề đã nghiên cứu trước đó
Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những việc mình làm
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Đỗ Quang Việt Vũ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy cô giáo đang giảng dạy và công tác tại trường Học viện Chính sách và Phát triển, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Quy hoạch Phát triển đã nhiệt tình giảng dạy,
và giúp đỡ tôi trong những năm vừa qua Tôi cũng xin chân thành cảm ơn thầy
giáo Th.S Phạm Ngọc Trụ đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và
làm luận văn tốt nghiệp Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị đang công tác tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập số liệu để làm đề tài này
Sau cùng tôi xin kính chúc quý Thầy cô trong trường Học viện Chính sách
và Phát triển nói chung cũng như các quý Thầy cô trong khoa Quy hoạch và
Phát triển nói riêng, thầy giáo Th.S Phạm Ngọc Trụ cũng như các cô chú, anh
chị đang công tác tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Nam thật dồi dào sức khỏe, niềm vui và thành công trong công việc và cuộc sống
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 04 tháng 05 năm 2014
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC HÌNH VẼ BẢNG BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của khóa luận 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄNVỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP 5
1.1 Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ công nghiệp 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Đặc điểm của tổ chức lãnh thổ công nghiệp 6
1.1.3 Các nguồn lực chính ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp 6
1.2 Cơ sở thục tiễn về tổ chức lãnh thổ công nghiệp 10
1.2.1 Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên thế giới 10
1.2.2 Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Việt Nam 13
CHƯƠNG 2 CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM 18
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam 18
2.1.1 Vị trí địa lý 18
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 19
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 24
2.2 Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Hà Nam 36
2.2.1 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp theo ngành 36
2.2.2 Tổ chức công nghiệp theo lãnh thổ 43
Trang 4CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM 56
3.1 Định hướng TCLTCN tỉnh Hà Nam đến năm 2020 56
3.1.1 Định hướng chung 56
3.1.2 Mục tiêu tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Hà Nam đến năm 2020 57 3.2 Các giải pháp phát triển TCLTCN tỉnh Hà Nam 60
3.2.1 Giải pháp về vốn và thu hút đầu tư 60
3.2.2 Giải pháp về cơ chế chính sách, cải các hành chính và phối hợp 61
3.2.3 Xây dựng quy trình sản xuất và sản phẩm thương hiệu 63
3.2.4 Giải pháp về thị trường và phát triển kinh tế nhiều thành phần 63
3.2.5 Giải pháp về khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường 64
3.2.6 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 67
3.2.7 Giải pháp về tổ chức quản lý 68
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ BẢNG BIỂU
1 Danh mục hình vẽ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Hà Nam năm 2009 và năm 2012 23 Biểu đồ 2.2: Tương quan giữa số lao động công nghiệp và mật độ lao động công nghiệp phân theo các đơn vị hành chính tỉnh Hà Nam năm 2012 27 Biểu đồ 2.3: Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh Hà Nam phân theo nhóm ngành công nghiệp chủ yếu năm 2009 và năm 2012 37 Biểu đồ 3.1: Biểu đồ định hướng cơ cấu ngành công nghiệp tỉnh Hà Nam phân theo thành phần kinh tế năm 2020 (%) 58
2 Danh mục bảng biểu
Bảng 2.1: Số cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo các đơn vị hành chính tỉnh
Hà Nam năm 2012 30 Bảng 2.2: Các sản phẩm công nghiệp chủ yếu tỉnh Hà Nam giai đoạn 2000 -
2012 41 Bảng 2.3: Tình hình hoạt động các cụm công nghiệp tỉnh Hà Nam năm 2012 48 Bảng 2.4: Tổng quan tình hình đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp tỉnh Hà Nam đến hết năm 2012 53 Bảng 3.1: Định hướng cơ cấu ngành công nghiệp Hà Nam đến năm 2020 (%) 57 Bảng 3.2: Các dự án ưu tiên phát triển công nghiệp Hà Nam đến năm 2020 59 Bảng 3.3: Tổng hợp dự báo cơ cấu vốn có khả năng huy động tỉnh Hà Nam đến năm 2020 60
Bảng 3.4: Quy hoạch các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam đến năm 2020 65
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp là một trong những hình thức tổ chức của nền sản xuất xã hội theo lãnh thổ Nó có vai trò to lớn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nghiên cứu về các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp có ý nghĩa thực tiễn lớn lao Nắm được đặc điểm, bản chất của các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp là cơ sở để bố trí hợp lý không gian công nghiệp phù hợp với các điều kiện phát triển của từng khu vực, từng quốc gia, từng miền, từng vùng nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất thông qua sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động cũng như tiết kiệm chi phí trong hoạt động sản xuất
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, vấn đề tổ chức lãnh thổ công nghiệp đã và đang được quan tâm một cách rộng rãi Nó được xem như một giải pháp phát triển công nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế - xã hội nói chung Các nhà khoa học đã đưa ra một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp cơ bản Nhiều quốc gia đã áp dụng thành công và mang lại hiệu quả kinh tế rất cao, tạo động lực thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế - xã hội phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaixia
Hà Nam là một tỉnh có diện tích nhỏ thứ hai cả nước (đứng thứ 62/63 tỉnh
và thành phố) Trong những năm qua ngành công nghiệp Hà Nam phát triển với tốc độ còn chậm so với cả nước và các tỉnh lân cận Điều đó biểu hiện ở chỗ giá trị sản lượng của ngành còn thấp, tỉ trọng của ngành công nghiệp trong cơ cấu kinh tế chưa cao Bởi vậy, cùng với xu hướng phát triển chung của đất nước, hiện nay Hà Nam đã có những định hướng cụ thể cho phát triển công nghiệp với tầm nhìn chiến lược lâu dài Với lợi thế về vị trí địa lí thuận lợi, nguồn khoáng sản vật liệu xây dựng, nguồn lao động dồi dào, giao thông vận tải đường bộ phát triển… Hà Nam có nhiều điều kiện để hình thành một
Trang 8tổ chức không gian công nghiệp hợp lý, toàn diện, nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa và tương tác, đảm bảo lợi ích cộng đồng và đạt hiệu quả kinh tế -
xã hội cao
Phương hướng phát triển công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng là công nghiệp làm động lực chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế của vùng theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Hà Nam là một trong những tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp, đến nay tỉnh Hà Nam có 8 KCN với tổng diện tích là 1.772 ha đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận
Tiếp cận các nội dung của tổ chức không gian công nghiệp sẽ góp phần hoàn thiện sự phát triển và phân bố hợp lí công nghiệp của tỉnh Hà Nam, làm
cơ sở cho việc quy hoạch phát triển công nghiệp trong những năm tiếp theo, nhằm đem lại hiệu quả tối đa về các mặt của lãnh thổ công nghiệp
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tác giả đã chọn đề tài “Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp
2 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong những năm gần đây
2.2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích các nguồn lực sẵn có, mục đích chủ yếu của đề tài
là nghiên cứu TCLTCN của tỉnh Hà Nam dưới góc độ địa lí kinh tế - xã hội
để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả TCLTCN trên địa bàn tỉnh
3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào phân tích các nguồn lực đối với TCLT công nghiệp
và thực trạng phát triển các hình thức TCLTCN trên địa bàn tỉnh Hà Nam đồng thời đề xuất một số giải pháp phát huy hiệu quả các hình thức TCLTCN này giai đoạn đến năm 2020
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu
Để có được những thông tin và tài liệu cần thiết, tôi đã đi thu thập các thông tin, số liệu từ Sở Công Thương tỉnh Hà Nam, các báo chí Hà Nam, Niên giám thống kê Hà Nam qua các năm, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam, Thư viện tỉnh Hà Nam, công cụ tìm kiếm Google… và các tài liệu có liên quan đến công nghiệp và tổ chức lãnh thổ ở các thư viện, trong đó
có thư viện trường Đại học sư phạm Hà Nội và thư viện khoa Địa lí
4.2 Phương pháp xử lí và phân tích tài liệu
Dựa vào những thông tin, tài liệu thu thập được, tôi đã xử lí các thông tin và các tài liệu đó để đưa vào bài viết của mình dưới nhiều hình thức khác nhau, với các chức năng khác nhau Có thể là một giả thiết hoặc có thể là một dẫn chứng và phân tích nó theo yêu cầu cụ thể
4.3 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Trong nghiên cứu tác giả đã sử dụng các kiến thức được học về bản đồ, ứng dụng công nghệ GIS, thành lập bản đồ hành chính tỉnh Hà Nam, bản đồ tài nguyên để phát triển công nghiệp tỉnh Hà Nam, bản đồ hiện trạng công nghiệp tỉnh Hà Nam, bản đồ tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Hà Nam và bản đồ định hướng phát triển tổ chức lãnh thổ công nghiệp tỉnh Hà Nam Đồng thời sử dụng phần mềm Excel để tạo các biểu đồ minh họa cho các nội dung nghiên cứu
4.4 Phương pháp số liệu thống kê
Đề tài đã sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu, tạo các bảng số, các biểu đồ nhằm so sánh, phân tích, chứng minh và đánh giá các vấn đề đưa ra
4.5 Phương pháp hệ thống thông tin địa lí
Để thực hiện được đề tài nghiên cứu, tôi đã sử dụng các chương trình phần mềm Microsoft Word, Microsoft Excel, Map Info 10.0, cũng như khai thác thông tin từ các trang Web trên mạng Internet
Trang 105 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Phần nội dung đề tài gồm 3 chương, được kết cấu như sau:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ công nghiệp
- Chương 2: Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên địa bàn
tỉnh Hà Nam
- Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của các hình
thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Trang 11Trải qua quá trình lâu dài, được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, thuật ngữ
“tổ chức lãnh thổ công nghiệp” được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu khoa
học và thực tiễn Theo A.T.Khơrusov (1979) đã cho rằng: “Tổ chức lãnh thổ công nghiệp là hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ khác nhau trên cơ sở sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động cũng như tiết kiệm chi phí để khắc phục sự không phù hợp trong lịch sử về phân bố các nguồn nguyên nhiên liệu, năng lượng, nơi sản xuất và nơi tiêu thụ sản phẩm, góp phần đạt hiệu quả kinh
tế cao”
Tổ chức lãnh thổ công nghiệp không phải là hiện tượng bất biến, so với nông nghiệp, TCLTCN có thể thay đổi trong một thời gian khá ngắn Điều này chủ yếu do bản chất của ngành công nghiệp cũng như sự phát triển rất nhanh của các tiến bộ khoa học và công nghệ trên thế giới Thị trường cùng với sự thay đổi nhu cầu thường xuyên cũng kéo theo sự phát triển của các tổ chức lãnh thổ công nghiệp thông qua sự linh động của sản xuất Đây là vấn đề quan trọng để duy trì sự tồn tại cũng như sự phát triển của các tổ chức lãnh thổ công nghiệp trong xu thế hiện nay
Ở nước ta, hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất là: “Tổ chức lãnh thổ công nghiệp là việc bố trí hợp lý các cơ sở sản xuất công nghiệp, các cơ
sở phục vụ cho hoạt động công nghiệp, các điểm dân cư cùng kết cấu hạ tầng trên phạm vị một lãnh thổ nhất định nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài của lãnh thổ đó”
Trang 121.1.2 Đặc điểm của tổ chức lãnh thổ công nghiệp
- Trong TCLTCN có sự gắn bó giữa khía cạnh ngành và khía cạnh lãnh thổ Bởi vì, trong TCLTCN, ngành và lãnh thổ có mối quan hệ mật thiết với nhau
Với mỗi ngành công nghiệp lại được xem xét dưới hai góc độ: xuyên qua lăng kính của tất cả các ngành công nghiệp và sự kết hợp của các ngành khác nhau trên cùng một lãnh thổ
- TCLTCN phù hợp với trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội
- Dấu hiệu cấu trúc có ý nghĩa quan trọng đối với việc TCLTCN Nó phản ánh sự cân đối và mối liên hệ bên trong của ngành công nghiệp và của các kết hợp sản xuất lãnh thổ
- Tiêu chuẩn tối ưu của TCLTCN là việc giảm chi phí tới mức thấp nhất trong sản xuất nhằm đạt hiệu quả cao nhất về mặt kinh tế, xã hội và môi trường
1.1.3 Các nguồn lực chính ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp
1.1.3.1 Nguồn lực bên trong
a) Vị trí địa lí
Tạo điều kiện thuận lợi hay khó khăn trong việc trao đổi, tiếp cận hay cùng phát triển giữa các tiểu vùng trong một tỉnh, giữa các tỉnh trong một vùng cũng như giữa các vùng trong một quốc gia và giữa các quốc gia với nhau Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, vị trí địa lí là một nguồn lực góp phần định hướng phát triển, tạo lợi thế so sánh trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng
b) Nguồn lực tự nhiên
Tài nguyên thiên nhiên được coi là cơ sở quan trọng trong việc phát triển công nghiệp, nhất là khi công nghiệp mới phát triển ở giai đoạn đầu Chúng ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành công nghiệp để sản xuất, tình hình phát triển cũng như việc tổ chức lãnh thổ của ngành
Trang 13* Khoáng sản là một trong những nguồn lực hàng đầu ảnh hưởng đến việc
TCLTCN Số lượng, trữ lượng, chất lượng và sự kết hợp các loại khoáng sản theo lãnh thổ sẽ chi phối quy mô, cơ cấu và tổ chức các xí nghiệp công nghiệp trên lãnh thổ đó
* Tài nguyên nước có vai trò to lớn đối với TCLTCN Do tính chất của
ngành sản xuất nên sử dụng nước trong công nghiệp có những đòi hỏi riêng
về số lượng và chất lượng nước Nước là nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp như thuỷ điện, nhiệt điện, nhà máy giấy, dệt Mức độ thuận lợi hay khó khăn về nguồn cung cấp và thoát nước là điều kiện quan trọng để định vị các xí nghiệp công nghiệp Những vùng có mạng lưới sông ngòi dày đặc, chảy trên địa hình khác nhau tạo nên tiềm năng cho công nghiệp thuỷ điện, hay sự phân bố các nguồn nước khoáng tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến nước khoáng phân bố trên lãnh thổ… Tuy nhiên, sự phân bố không đều của nguồn nước theo thời gian và không gian đã gây nên tình trạng mất cân đối giữa nguồn cung cấp và nhu cầu về nước để phát triển công nghiệp
* Khí hậu là nhân tố có ảnh hưởng nhất định đến TCLTCN Trong một số
trường hợp, nó chi phối việc lựa chọn kỹ thuật và công nghệ sản xuất, đặc biệt
đối với vùng ven biển dễ bị nhiễm mặn do độ ẩm không khí Hơn nữa, sự đa
dạng, phức tạp của khí hậu theo không gian và theo mùa tạo điều kiện cho việc đa dạng hoá tập đoàn cây trồng, vật nuôi; là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông sản Các hiện tượng thời tiết xấu như bão, lũ có ảnh hưởng nhất định đến việc định vị các xí nghiệp hợp lý theo lãnh thổ cũng
như đến thời gian hoạt động của chúng
c) Nguồn lực kinh tế - xã hội
* Dân cư - lao động
Công nghiệp là ngành sản xuất đòi hỏi phải có đội ngũ lao động có trình
độ chuyên môn, tay nghề cao Dân cư với những tập quán sản xuất, tiêu dùng
và nguồn lao động chất lượng có vai trò lớn trong việc TCLTCN ở hai góc độ: sản xuất và tiêu dùng
Trang 14- Về mặt sản xuất: Dân cư, nguồn lao động là lực lượng sản xuất chủ yếu trong công nghiệp Nơi có nguồn lao động dồi dào, rẻ thì nơi đó có khả năng để phân bố và phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động: công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm Nơi có đội ngũ lao động với chất lượng cao thì cho phép phát triển các ngành có hàm lượng kĩ thuật cao như điện tử, chế tạo máy, hóa chất Những nơi có nguồn lao động có nhiều ngành truyền thống thì có thể phát triển các nghề thu hút lao động và tạo sản phẩm độc đáo mang bản sắc dân tộc như các làng nghề gốm sứ, mây tre đan
- Về mặt tiêu dùng: Dân cư, nguồn lao động vừa là người sản xuất đồng thời cũng là người tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp, vì thế thị trường tiêu thụ gắn với số dân có thể coi là một nguồn lực quan trọng Tập quán tiêu dùng của dân cư có thể thay đổi và kéo theo sự thay đổi trong quy mô, hướng chuyên môn hoá của các ngành cũng như các xí nghiệp công nghiệp, từ đó dẫn tới sự mở rộng hay thu hẹp không gian TCLTCN
* Mạng lưới đô thị, cửa khẩu, cảng biển là nhân tố thu hút đối với hoạt
động SXCN nói chung, sự hình thành các hình thức TCLTCN nói riêng
* Cơ sở vật chất - kĩ thuật của ngành công nghiệp cũng có giá trị nhất
định đối với việc TCLTCN
* Cơ sở hạ tầng phục vụ ngành công nghiệp bao gồm hệ thống giao
thông vận tải, thông tin liên lạc, cung cấp điện, nước có vai trò ngày càng quan trọng trong phân bố công nghiệp Sự tập trung cơ sở hạ tầng trên một lãnh thổ đã làm thay đổi vai trò của nhiều nhân tố phân bố công nghiệp, đem
lại nhiều yếu tố mới trong bức tranh TCLTCN
* Chiến lược và đường lối phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia đối với việc phát triển công nghiệp có thể thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển công nghiệp nói chung, TCLTCN nói riêng Vì thế, chúng phải dựa trên những điều kiện cụ thể và phù hợp với nhu cầu thị trường Ở Việt Nam, đường lối công nghiệp hoá - hiện đại hoá đã phát huy tính tích cực, thúc đẩy
Trang 15sự phát triển công nghiệp trên phạm vi cả nước và thúc đẩy sự ra đời của các hình thức TCLTCN
* Nguồn vốn, ngân sách đầu tư cho công nghiệp cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến việc TCLTCN, đặc biệt là những nước đang phát triển Vì vậy, những khu vực huy động được nhiều vốn đầu tư để phát triển công nghiệp sẽ
có điều kiện đẩy mạnh TCLTCN đa dạng, hợp lí
Ngoài ra, sự phát triển của các ngành kinh tế khác như nông nghiệp và dịch vụ cũng tác động đến sự phân bố và tổ chức công nghiệp Ở nước ta, sự phát triển của hai vùng nông nghiệp trọng điểm là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng loạt các ngành công nghiệp đi kèm như: công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp cơ khí sửa chữa, công nghiệp hoá chất phân bón Đồng thời sự phát triển của công nghiệp lại thúc đẩy nhanh hơn các quá trình công nghiệp hoá trong nông nghiệp như cơ giới hoá, hoá học hoá, thủy lợi hóa, điện khí hóa
1.1.3.2 Nguồn lực bên ngoài
Nguồn lực bên ngoài được hiểu là các yếu tố ảnh hưởng với tư cách là nguồn lực bên ngoài của lãnh thổ, bao gồm:
a) Thị trường bên ngoài
Có tác động mạnh mẽ đến việc lựa chọn xí nghiệp, hướng chuyên môn hoá, ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ Ở trong nước, các đô thị lớn ngoài chức năng trung tâm - hạt nhân công nghiệp còn là thị trường quan trọng, khuyến khích sự phát triển của sản xuất Thị trường quốc tế cũng rất quan trọng, vì sản phẩm công nghiệp trong nước luôn nhằm thỏa mãn thị trường trong nước
và hội nhập với thị trường quốc tế
b) Các xu thế kinh tế quốc tế, các mối quan hệ hợp tác liên vùng, quốc tế
Có tác dụng thúc đẩy quá trình tổ chức lãnh thổ nhanh hay chậm Ngày nay trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thế giới, vấn đề hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu đem lại lợi ích cho các bên đối tác Các lĩnh vực
Trang 16hợp tác chủ yếu là: Sự hỗ trợ vốn đầu tư, chuyển giao kĩ thuật và công nghệ, chuyển giao kinh nghiệm tổ chức quản lý
c) Sự hỗ trợ về năng lượng, nguyên vật liệu, vốn, kĩ thuật từ bên ngoài
Có tác động thúc đẩy nhanh hơn quá trình TCLTCN Đối với vùng thiếu năng lượng, nguyên liệu thì sự hỗ trợ từ bên ngoài là không thể thiếu được, đảm bảo được sự tồn tại lâu dài, thúc đẩy sự hình thành các hình thức TCLTCN mới
Tóm lại: TCLTCN chịu ảnh hưởng của nhiều nguồn lực, chúng không tác động riêng lẻ mà tác động tổng hợp, đồng thời Tuy nhiên, thường ở một lãnh thổ cụ thể có một hay một vài nhân tố chủ đạo, đóng vai trò quyết định TCLTCN chịu ảnh hưởng của cả nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài Trong đó, yếu tố quyết định đến sự hình thành và tổ chức lãnh thổ phải kể đến
là các nguồn lực bên trong Các nguồn lực bên ngoài có vai trò bổ trợ, thúc đẩy nhanh hơn quá trình này Tuy nhiên trong một số trường hợp cụ thể, nguồn lực bên ngoài chi phối mạnh mẽ, thậm chí có thể có ý nghĩa quyết định đến TCLTCN
1.2 Cơ sở thục tiễn về tổ chức lãnh thổ công nghiệp
1.2.1 Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên thế giới
1.2.1.1 Các hình thức TCLTCN của trường phái địa lí Xô Viết
* Điểm công nghiệp
Theo X.Xlaver (1977): “Điểm công nghiệp” là lãnh thổ trên đó có một điểm dân cư với một xí nghiệp, có thể là một nhóm các xí nghiệp (không lớn) nằm trong điểm dân cư (thị trấn, thị tứ)
Như vậy, điểm công nghiệp là hình thức đồng nhất với điểm dân cư có
xí nghiệp công nghiệp, có quá trình phát sinh, phát triển và cấu trúc sản xuất riêng
Trang 17* Cụm công nghiệp
Theo A.T.Khorutsov (1979): “Cụm công nghiệp” là một kết hợp sản xuất - lãnh thổ mang tính chất tổng hợp Do nằm gần nhau các xí nghiệp thống nhất với nhau bằng việc có chung vị trí địa lí, giao thông, hệ thống kết cấu hạ tầng và các điểm dân cư nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động, vật chất sẵn có trên lãnh thổ
* Khu công nghiệp
Cũng giống như những hình thức trên, khu công nghiệp chưa có sự thống nhất về nội dung và những đặc trưng chủ yếu
- Theo quan điểm của các nhà khoa học trường Đại học Tổng hợp Matxcơva: “Khu công nghiệp” là sự kết hợp theo lãnh thổ của những điểm công nghiệp ở gần nhau được quy tụ về một hay một vài trung tâm công nghiệp và bị chi phối bởi các nhân tố phân bố công nghiệp đồng nhất
- Quan niệm của một số nhà khoa học hàn lâm Liên Xô trước đây: Khu công nghiệp bao gồm một nhóm trung tâm công nghiệp phân bố gần nhau và kết hợp với nhau bằng việc cùng chung chuyên môn hoá, mạng lưới giao thông vận tải và những mối liên hệ sản xuất chặt chẽ
* Trung tâm công nghiệp
Được hiểu là hình thức TCLTCN gắn với đô thị vừa và lớn Mỗi trung tâm có thể bao gồm một số hình thức TCLTCN ở các cấp thấp hơn
Về lí thuyết, mỗi trung tâm công nghiệp có một hoặc một số ngành được coi là hạt nhân Hướng chuyên môn hoá của trung tâm thường do các ngành hạt nhân đó quyết định Những ngành này được hình thành dựa trên những lợi thế so sánh về vị trí địa lí, về nguồn lực tự nhiên, lao động, thị trường tiêu thụ sản phẩm… Một trong những đặc điểm nổi bật là các xí nghiệp phân bố trong trung tâm công nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
về kĩ thuật sản xuất, quy trình công nghệ hay về mặt kinh tế nhằm đạt hiệu quả cao nhất Bên cạnh các xí nghiệp chuyên môn hoá còn có hàng loạt xí nghiệp bổ trợ phục vụ cho việc cung cấp nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, sửa
Trang 18chữa máy móc thiết bị, đảm bảo lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng cho dân cư
* Thể tổng hợp công nghiệp
Theo A.T.Khorutsov: Thể tổng hợp công nghiệp là sự kết hợp qua lại của các xí nghiệp có liên quan mật thiết với nhau trên một lãnh thổ nhất định, phù hợp với đặc điểm về tài nguyên thiên nhiên, kinh tế và vị trí địa lí giao thông vận tải, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
* Vùng công nghiệp
Là hình thức TCLTCN cao nhất, xuất hiện sớm trong trường phái địa lí
Xô Viết Theo các nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (1987), vùng công nghiệp bao gồm một lãnh thổ rộng lớn tập trung các xí nghiệp công nghiệp trên cơ sở các thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, nguyên liệu, động lực Đặc trưng cơ bản của vùng công nghiệp là có không gian rộng lớn bao gồm nhiều điểm, cụm, khu, trung tâm công nghiệp
có mối liên hệ sản xuất và có những nét tương đồng trong quá trình hình thành vùng công nghiệp
1.2.1.2 Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở phương Tây
Khác với trường phái địa lí Xô Viết, các nhà khoa học phương Tây không đưa ra những định nghĩa có tính chất hàn lâm, mà đi thẳng vào một số hình thức TCLTCN gắn với thực tiễn và nhấn mạnh nhiều đến quan niệm, nội dung cũng như quá trình hình thành khu công nghiệp
Khu công nghiệp đã ra đời và phát triển ở các nước tư bản vào những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX Các nhà khoa học phương Tây quan niệm rằng: KCN tập trung là một khu vực đất đai có ranh giới nhất định và quyền sở hữu rõ ràng nhằm trước hết xây dựng kết cấu hạ tầng, rồi sau đó xây dựng các xí nghiệp để bán
Ngoài ra còn có khái niệm quận công nghiệp - là một khu vực có ranh giới khép kín trong một đơn vị hành chính cấp thấp
Trang 191.2.2 Các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở Việt Nam
Trước thập kỉ 90 của thế kỉ XX hầu như chưa có các công trình nghiên cứu về các hình thức TCLTCN ở Việt Nam Năm 1994, Viện Chiến lược phát triển trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra 6 hình thức TCLTCN ở Việt Nam
* Điểm công nghiệp
Điểm công nghiệp là hình thức TCLTCN cấp thấp nhất, thường là một hay hai xí nghiệp phân bố riêng biệt, có kết cấu hạ tầng riêng, gần nguồn nguyên liệu hoặc tiêu thụ và có thể là hạt nhân để phát triển thành cụm hay khu công nghiệp
Ví dụ: Các nhà máy sản xuất xi măng Bút Sơn (Thanh Sơn - Kim Bảng), Hòa Phát (Thanh Thủy - Thanh Liêm) lấy nguyên liệu từ đá vôi nên phân bố gần nguồn nguyên liệu Như vậy 1 nhà máy là một điểm công nghiệp
Điểm công nghiệp có những mặt tích cực, tương đối thuận lợi cho việc thay đổi mặt hàng trong quá trình sản xuất kinh doanh, có tính cơ động, dễ ứng phó với các sự cố Tuy nhiên, điểm công nghiệp cũng có những hạn chế như việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, kỹ thuật khá tốn kém
* Cụm công nghiệp
Cụm công nghiệp là một kết hợp sản xuất lãnh thổ mang tính tổng hợp, bao gồm một số xí nghiệp công nghiệp và được phân bố trên một khu vực nhỏ, không có ranh giới rõ ràng và không có ban quản lý riêng Trong cụm công nghiệp, các xí nghiệp do nằm gần nhau, thống nhất và quan hệ với nhau
Do đó có thể sử dụng hiệu quả hệ thống cơ sở vật chất - kĩ thuật, tài nguyên, nhân lực trên lãnh thổ nhằm đem lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và môi trường
Ở nước ta, cụm công nghiệp có quy mô, hình thức phát triển kết cấu hạ tầng, đầu mối quản lý, cơ chế tài chính, chính sách hỗ trợ phát triển rất đa dạng
Trang 20* Khu công nghiệp
So với khái niệm của khoa học địa lí Xô Viết, khu công nghiệp ở Việt Nam là một hình thức TCLTCN hoàn toàn khác Theo Nghị định 192/CP ngày 25/12/1994 của Chính phủ: “KCN ở nước ta là khu công nghiệp tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lí xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống”
KCN ở nước ta có các đặc điểm chính sau:
- Tập trung nhiều xí nghiệp công nghiệp trên một khu vực có ranh giới
rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng
- Các xí nghiệp nằm trong KCN được hưởng quy chế ưu đãi riêng
- Có Ban quản lý thống nhất để thực hiện quy chế quản lý
- Có sự phân cấp về quản lý và tổ chức sản xuất
Phân loại:
- Theo vị trí địa lí: có thể phân ra KCN nằm ở trung du hay miền núi, KCN nằm ở vùng ven biển, KCN nằm dọc theo quốc lộ hay các KCN nằm trong các thành phố lớn
- Theo tính chất chuyên môn hoá, cơ cấu và đặc điểm sản xuất: có thể chia ra các KCN chuyên môn hoá, các KCN tổng hợp, các khu chế xuất
- Theo quy mô: có thể chia ra KCN có quy mô lớn (diện tích trên 300 ha), KCN có quy mô vừa (diện tích từ 150 - 300 ha), KCN có quy mô nhỏ (diện tích dưới 150 ha)
- Theo trình độ công nghệ: chia ra có KCN kỹ thuật cao, có KCN chỉ có các xí nghiệp với trình độ kĩ thuật và công nghệ trung bình hay các xí nghiệp thủ công
- Theo phương diện tổ chức lãnh thổ chia khu công nghiệp thành: KCN được hình thành trên cơ sở một xí nghiệp liên hợp, KCN được hình thành trên cơ sở các xí nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ về kĩ thuật và công nghệ theo chu trình năng lượng sản xuất nhất định, KCN hình thành trên cơ sở các xí nghiệp chỉ
Trang 21sử dụng chung kết cấu hạ tầng mà không có mối liên hệ về công nghệ, KCN được hình thành trên cơ sở chuyên môn hoá khai thác khoáng sản và các xí nghiệp phục vụ có liên quan với việc sử dụng chung kết cấu hạ tầng và ban quản lý thống nhất
- Khu công nghiệp được hình thành do sự tập hợp ngẫu nhiên của các
xí nghiệp hầu như không có mối liên hệ sản xuất, không sử dụng chung kết cấu hạ tầng và trên một lãnh thổ không có ranh giới rõ rệt
* Trung tâm công nghiệp
Là khu vực tập trung công nghiệp gắn liền với các đô thị vừa và lớn Mỗi trung tâm công nghiệp thường gồm một số KCN, cụm công nghiệp với những xí nghiệp hạt nhân có sức hút các lãnh thổ lân cận Việc phân loại các trung tâm công nghiệp ở nước ta rất đa dạng, dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau:
- Dựa vào vai trò của trung tâm công nghiệp trong sự phân công lao động theo lãnh thổ, có các trung tâm công nghiệp có ý nghĩa quốc gia, các trung tâm có ý nghĩa vùng, các trung tâm có ý nghĩa địa phương
- Dựa vào giá trị sản xuất công nghiệp, có trung tâm công nghiệp lớn, trung tâm công nghiệp trung bình, trung tâm công nghiệp nhỏ
- Dựa vào tính chất chuyên môn hóa và đặc điểm sản xuất, có trung tâm công nghiệp tổng hợp, có trung tâm công nghiệp chuyên môn hóa
* Dải công nghiệp
Là một hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp của Việt Nam Dải công nghiệp là sự đan xen và kéo dài dọc theo các trục đường giao thông quan trọng của các điểm công nghiệp, cụm công nghiệp và cả các khu công nghiệp Dải công nghiệp thường xuất hiện từ các đô thị lớn và lan tỏa theo các hướng
có nhiều thuận lợi về giao thông vận tải, nguyên nhiên liệu, lao động
Các dải công nghiệp ở nước ta không nhiều, chủ yếu tập trung xung quanh các thành phố, trung tâm công nghiệp hàng đầu của cả nước như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận Sự phát triển các dải công
Trang 22nghiệp phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển công nghiệp của lãnh thổ và các yếu tố hỗ trợ thuận lợi khác
* Vùng công nghiệp
Là hình thức TCLTCN cao nhất và đặc thù của Việt Nam Vùng công nghiệp là một kết hợp sản xuất theo lãnh thổ, ra đời trên cơ sở kết hợp các vùng, ngành trên một lãnh thổ rộng lớn, với hướng chuyên môn hóa và cấu trúc sản xuất rõ rệt, có khả năng thúc đẩy và kéo theo sự phát triển kinh tế của
cả vùng Vùng công nghiệp trọng điểm của nước ta có một số đặc điểm sau:
- Là bộ phận lãnh thổ lớn nhất trong số các hình thức TCLTCN, nhưng ranh giới chỉ mang tính ước lệ, không rõ ràng về mặt pháp lý
- Có thể bao gồm tất cả các hình thức TCLTCN từ thấp đến cao, hoặc cũng có thể chỉ chứa đựng một vài hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp nào đó
- Không có bộ máy quản lý riêng để chỉ đạo phát triển công nghiệp của
+ Vùng 3, vùng công nghiệp Duyên hải miền Trung, gồm 10 tỉnh, thành
từ Quảng Bình đến Ninh Thuận
+ Vùng 4, vùng công nghiệp Tây Nguyên, gồm 4 tỉnh Tây Nguyên (trừ Lâm Đồng)
+ Vùng 5, vùng công nghiệp Đông Nam Bộ, gồm 8 tỉnh thành của Đông Nam Bộ và Lâm Đồng, Bình Thuận
Trang 23+ Vùng 6, vùng công nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, gồm 13 tỉnh thành của đồng bằng sông Cửu Long
Nhƣ vậy, trong số các hình thức TCLTCN ở Việt Nam, KCN là một trong những hình thức quan trọng hàng đầu, tuy là hình thức khá mới mẻ nhƣng đầy tiềm năng ở Việt Nam, đã và đang có đóng góp tích cực cho công cuộc CNH-HĐH
Trang 24CHƯƠNG 2
CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Với vị trí này Hà Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế quan trọng đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và vùng đồng bằng sông Hồng Hà Nội được mở rộng, tỉnh Hà Nam trở thành cửa ngõ phía Nam của thủ đô đồng thời nằm trên trục giao thông huyết mạch là quốc lộ 1A và đường cao tốc Cầu Giẽ
- Ninh Bình Trong dọc tuyến hành lang giao thông xuyên Á (TP Hồ Chí Minh - Hà Nội - Mộc Châu) thì Hà Nam là một vị trí trên tuyến Do đó, Hà Nam sẽ giữ một vai trò tích cực trong việc hỗ trợ cùng với Hà Nội trở thành
những đầu mút quan trọng của các tuyến giao thông trên
Về diện tích, Hà Nam là tỉnh có diện tích tự nhiên 860,2 km2, đứng thứ 62/63 tỉnh, thành phố chiếm 0,26% diện tích Việt Nam
Trang 25Vị trí địa lí được coi như một nguồn lực đặc biệt đối với TCLTCN tỉnh
Hà Nam Vị trí địa lí đã tạo ra những lợi thế cơ bản để Hà Nam hình thành các cụm công nghiệp, các KCN tập trung ven tuyến đường quốc lộ 1A
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi rõ nét, vị trí địa lí cũng gây ra những khó khăn trong TCLTCN của tỉnh, đặc biệt là trong TCLTCN theo ngành khi mà tỉnh Hà Nam nằm trong ô chiêm trũng Hà Nam Ninh với các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tương đối giống nhau giữa các tỉnh Bởi vậy, việc lựa chọn cơ cấu ngành không mang lại ưu thế nổi bật cho tỉnh Một
số ngành quan trọng của tỉnh như ngành sản xuất vật liệu xây dựng thì đồng thời cũng là ngành quan trọng của các tỉnh lân cận Điều này làm tăng thêm tính cạnh tranh đối với các sản phẩm công nghiệp
Vị trí địa lí của Hà Nam, nhìn chung có thể coi là một nguồn lực quan trọng Với vị trí này, công nghiệp Hà Nam có điều kiện hội nhập với thị trường trong nước và quốc tế trên cơ sở khai thác có hiệu quả các thế mạnh vốn có
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.1 Tài nguyên khoáng sản
Nguồn khoáng sản ở Hà Nam tuy không giàu có nhưng có tiềm năng lớn về nguyên liệu khoáng sản để sản xuất các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng như: đá vôi cho sản xuất xi măng, cho xây dựng, giao thông và thủy lợi; đất sét (sét xi măng, sét gạch ngói); cát (cát kết, cát san nền xây trát); than bùn
* Đá vôi: Theo số liệu điều tra của ngành địa chất tổng trữ lượng đá vôi
trên 7,4 tỷ m3 Trong đó trữ lượng đá vôi có thể khai thác được khoảng 5,5 tỷ tấn Trữ lượng đá vôi được phân ra thành: đá vôi xi măng 4,193 tỷ tấn; đá vôi hóa chất 320,6 triệu tấn; đá vôi xây dựng 1,038 tỷ tấn
Đá vôi Hà Nam phân bố tập trung ở hai huyện phía tây và tây nam là Kim Bảng và Thanh Liêm Đá vôi Hà Nam là một nguồn tài nguyên quý có chất lượng tốt, hàm lượng CaO phần lớn ở các mỏ từ 52,5 - 54,7%, hàm
Trang 26lượng MgO từ 0,4 - 1,5% có khả năng sử dụng để sản xuất xi măng và làm nguyên liệu cho ngành hóa chất với điều kiện khai thác dễ dàng, chất lượng tốt Trong các năm tới đủ phục vụ cho nhà máy sản xuất xi măng, hiện nay trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã thu hút được 06/09 nhà đầu tư sản xuất xi măng đã được đưa vào quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 theo Quyết định số 108/2005/QĐ-TTg, bao gồm: xi măng Hòa Phát công suất 0,91 triệu tấn/năm; xi măng Xuân Thành công suất 0,91 triệu tấn/năm; xi măng Tân Tạo công suất 0,91 triệu tấn/năm; xi măng Hoàng Long công suất 0,35 triệu tấn/năm; xi măng Bút Sơn dây chuyền II công suất 1,6 triệu tấn/năm; xi măng Thanh Liêm công suất 0,45 triệu tấn/năm Công suất của 6 nhà máy mới này là 5,13 triệu tấn xi măng/năm, đưa tổng công suất sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh lên 6,72 triệu tấn/năm
* Đá đolomit: được khảo sát, đánh giá với trữ lượng tổng cộng khoảng 1,393 tỷ m3
trên diện lộ 33 km2, tập trung ở một số khu vực lớn sau:
- Khu Tân Sơn (Kim Bảng): 111 triệu m3
- Khu Ba Sao (Kim Bảng): 450 triệu m3
- Khu Bút Sơn (Kim Bảng): 14,6 triệu m3
- Khu Đồng Ao (Thanh Liêm): 424 triệu m3
- Khu Nam Công (Thanh Liêm): 301,8 triệu m3
- Khu Diêm Diêm (Thanh Liêm): 69,2 triệu m3
- Khu Doi Đãi (Thanh Liêm): 22,33 triệu m3
* Đất sét:
- Sét xi măng: với trữ lượng đánh giá khoảng 537,6 triệu tấn, đang và
sẽ là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy xi măng trong tỉnh Các
mỏ chính:
+ Khả Phong (Kim Bảng): 21,453 triệu tấn
+ Đồng Ao (Thanh Liêm): 4,406 triệu tấn
Trang 27+ Thanh Tân (Thanh Liêm): 2,224 triệu tấn
+ Bồng Lạng (Thanh Liêm): 10 triệu tấn
- Sét làm phụ gia cho sản xuất xi măng với tổng trữ lượng khoảng 47,8 triệu tấn phân bố chủ yếu ở Kim Bảng, Thanh Liêm
- Sét gạch ngói: phân bố chủ yếu ở một số huyện như Kim Bảng, Duy Tiên, Lý Nhân và Bình Lục với khoảng 42 triệu m3, dùng để sản xuất gạch
* Cát:
- Cát kết phụ gia điều chỉnh silic với tổng trữ lượng khoảng 145,9 triệu tấn Trong đó mỏ cát kết Khe Non (Thanh Liêm) có trữ lượng 19,22 triệu tấn,
có hàm lượng SiO2 trong đá từ 66,48 đến 87,72% sử dụng làm phụ gia điều
chỉnh silic cho sản xuất xi măng ở Hà Nam
- Cát san nền, xây trát: chủ yếu tập trung ở các xã ven sông Hồng thuộc huyện Lý Nhân và Duy Tiên với trữ lượng có thể khai thác vài trăm nghìn m3
* Than bùn: với 2 mỏ than bùn có thể làm nhiên liệu cho sản xuất vật
liệu xây dựng ở địa phương với trữ lượng khoảng 7,558 triệu tấn, tập trung ở huyện Kim Bảng (Ba Sao, Liên Sơn)
Nguồn tài nguyên khoáng sản tuy không phong phú nhưng với khoáng sản có trữ lượng lớn như đá vôi, đá xây dựng tạo tiền đề cho sự ra đời các ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Những cơ sở sản xuất công nghiệp đặt tại các địa phương có nguồn khoáng sản này sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội của địa phương đó phát triển
2.1.2.2 Tài nguyên nước
* Nguồn nước mặt với điều kiện lượng mưa bình quân hàng năm lớn từ
1.630 - 1.930 mm, nên nguồn nước mặt dồi dào với tổng trữ lượng nước rơi vào khoảng 1,602 tỷ m3
Hệ thống sông suối dày đặc, mật độ lưới sông 0,25 km/km2
Các sông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ cùng hệ thống kênh mương máng
Trang 28góp phần cung cấp nước tưới cho các vùng sản xuất nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
* Nguồn nước ngầm ở Hà Nam có trong nhiều tầng chứa nước và nhìn chung nước có chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của con người Lãnh thổ Hà Nam hình thành do sự bồi đắp trầm tích qua nhiều thời kì địa chất, từ trầm tích cacbonat dưới dạng đá vôi phân lớp dày đến trầm tích lục nguyên được bồi đắp bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Các lớp trầm tích đó phần lớn là cát, cát sỏi, sạn, cát sạn xen với các tầng sét dày ít thấm nước nên bao chứa trong đó những thấu kính nước và những tầng chứa nước Như vậy nguồn nước ngầm được đánh giá là khá dồi dào tại những vùng dự kiến bố trí phát triển, phân bố công nghiệp
Với nguồn nước tương đối dồi dào đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất của ngành công nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho việc bố trí các cơ sở sản xuất công nghiệp trên lãnh thổ Hà Nam Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần phải
có phương hướng sử dụng hợp lí, bảo vệ nguồn nước một cách lâu dài và bền vững
2.1.2.3 Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên khác
* Địa hình
Hà Nam là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng nhưng địa hình lại có những nét độc đáo của một tỉnh bán sơn địa Địa hình vừa mang đặc điểm chung của vùng đồng bằng châu thổ với nền địa hình chủ yếu là đồng bằng Bên cạnh đó, địa hình của Hà Nam lại mang những đặc điểm địa hình của một tỉnh đồng bằng giáp núi
Phía Đông là vùng đồng bằng chiếm khoảng 85 - 90% diện tích của tỉnh, chủ yếu là đất phù sa màu mỡ, có nhiều vùng trũng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thủy sản, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
Phía Tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa, chiếm khoảng 10 – 15% diện tích của tỉnh, chạy dọc theo ranh giới giáp với tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, tập trung ở huyện Thanh Liêm và huyện Kim Bảng Độ cao trung bình của
Trang 29vùng núi vào khoảng 200 – 300 m so với mực nước biển Đây là vùng có nhiều tài nguyên khoáng sản (đặc biệt là đá vôi và sét) là cơ sở để đẩy mạnh phát triển công nghiệp, nổi bật là công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng
* Tài nguyên đất
Hà Nam có thổ nhưỡng khá đa dạng với tám nhóm đất chính: nhóm đất phù sa, nhóm đất glây, nhóm đất biến đổi, nhóm đất cát, nhóm đất than bùn, nhóm đất xám, nhóm đất đỏ và nhóm đất tầng mỏng Sự đa dạng đó là kết quả tác động tổng hợp của các nhân tố tự nhiên và hoạt động sản xuất của con người
Vùng đồng bằng thuận lợi cho canh tác lúa nước, rau màu và các loại cây công nghiệp ngắn ngày như mía, dâu, đỗ tương, lạc và một số loại cây ăn quả cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm
Vùng đất đồi núi được hình thành do quá trình phong hóa trên các loại
đá, nhìn chung thành phần N, P và tỷ lệ mùn thấp, độ chua cao Tuy độ dốc không lớn nhưng tầng đất mỏng và có lẫn nhiều sỏi sạn Đất vùng đồi núi thích hợp cho việc phát triển của nhiều loại cây trồng thuộc vùng núi và trung
du như: các cây công nghiệp (chè, lạc, mía…), rừng (thông, mỡ, bạch đàn…), cây lương thực (sắn, khoai…), các cây ăn quả, làm thuốc
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Hà Nam năm 2009 và năm 2012
(Nguồn: Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Hà Nam) Đất nông nghiệp khó có khả năng mở rộng, lại đang có xu hướng mất
dần đi do nhu cầu mở rộng đất chuyên dùng và thổ cư Đất lâm nghiệp có xu hướng giảm và không đảm bảo an toàn sinh thái và cản trở sự phát triển kinh
Trang 30tế Đất chuyên dùng và thổ cư đang được mở rộng trong quá trình công nghiệp hóa và sức ép của dân cư Như vậy đất nông nghiệp và đất chuyên dùng lớn, có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi mục
đích sử dụng đất
Như vậy khai thác mọi thế mạnh về đất đai là nguồn lực quan trọng cho
sự phát triển kinh tế, đặc biệt là công nghiệp của tỉnh, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm cũng như các sản phẩm từ nông nghiệp
* Khí hậu
Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, Hà Nam có khí hậu nhiệt đới
ẩm gió mùa có mùa đông lạnh, rất thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp sinh thái đa dạng với nhiều loài động thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới Mùa hạ nắng và mưa nhiều, có nhiệt độ và độ ẩm cao thích hợp với các cây trồng vật nuôi nhiệt đới Mùa đông lại thích hợp với các loại cây vụ đông có giá trị hàng hóa và xuất khẩu cao như cà chua, dưa chuột Đó cũng là điều kiện thuận lợi cho phát triển các ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp Tuy nhiên, độ ẩm không khí cao cũng làm cho dịch bệnh dễ phát sinh
và lan tràn Hơn nữa, mưa lớn, tập trung theo mùa trong điều kiện có nhiều vũng trũng khó thoát nước nên dễ gây ngập úng
Như vậy, có thể thấy tính mùa của khí hậu đã ảnh hưởng đến tính mùa
vụ của sản xuất công nghiệp, nhất là đối với công nghiệp chế biến, thời tiết bất
ổn gây trở ngại cho hoạt động khai thác Chế độ nhiệt ẩm phức tạp gây khó khăn cho việc bảo quản nguyên vật liệu cũng như bảo dưỡng máy móc thiết bị Mưa bão ảnh hưởng không nhỏ đến SXCN đặc biệt công nghiệp khai khoáng
2.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội
2.1.3.1 Dân cư và nguồn lao động
* Dân cư
Hà Nam có quy mô dân số nhỏ và khá ổn định Đến năm 2012 dân số
Hà Nam 785.057 người, chiếm 0,91% dân số cả nước và chiếm 4,2% dân số
Trang 31của vùng đồng bằng sông Hồng Như vậy, với quy mô dân số vừa phải, có xu hướng giảm phù hợp với sự phát triển kinh tế của tỉnh, thuận lợi cho việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động, là động lực góp phần thúc đẩy kinh tế Hà Nam ngày càng phát triển
Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của Hà Nam đang có xu hướng giảm theo thời gian do ở đây thực hiện tốt các chính sách dân số Tỷ lệ gia tăng tự nhiên giảm từ 1,17% (năm 2000) xuống còn 0,80% (năm 2012) Với tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên như trên, Hà Nam đã có mức tăng dân số thấp hơn mức tăng trung bình cả nước và của vùng đồng bằng sông Hồng Các huyện có mức giảm tốc độ tăng dân số khá nhất là huyện Thanh Liêm, huyện Duy Tiên, thành phố Phủ Lý và đó cũng là nơi có tỷ lệ gia tăng dân số thấp Đại bộ phận dân số là dân tộc Kinh với trình độ thâm canh lúa nước cao
Cơ cấu dân số Hà Nam có những biến đổi tích cực Mặc dù cơ cấu dân
số theo giới tính vẫn có sự mất cân đối nhưng đang có xu hướng biến đổi với
tỉ trọng nam trong tổng dân số có xu hướng tăng lên từ 48,4% năm 2000 lên 49,0% năm 2012 Tuy nhiên, xu hướng biến động là rất chậm Phần lớn dân
số của Hà Nam sống ở nông thôn với 89,0% dân số năm 2012 Dân số thành thị đang có xu hướng tăng lên từ 8,9% năm 2000 lên 11,0% năm 2012 Nếu
so sánh chỉ tiêu này với đồng bằng sông Hồng, rõ ràng Hà Nam đang có tỉ lệ dân thành thị rất thấp, phản ánh mức độ đô thị hóa khá chậm
Mật độ dân số của Hà Nam năm 2012 là 969 người/km2, cao gấp 3,5 lần mật độ dân số cả nước nhưng lại thấp hơn mật độ dân số trung bình của vùng đồng bằng sông Hồng (có mật độ dân số là 1235 người/km2, cao gấp 1,4 lần mật độ dân số của Hà Nam) Tuy nhiên, dân số lại phân bố không đều theo lãnh thổ, có sự chênh lệch về mật độ giữa các huyện, thành phố; giữa thành thị và nông thôn Thành phố Phủ Lý có mật độ dân số cao nhất với 2.542 người/km2, tiếp đến là huyện Lý Nhân với 1.046 người/km2, huyện có mật độ dân số thấp nhất là huyện Kim Bảng với 672 người/km2
* Nguồn lao động
Trang 32Về nguồn lao động, do tỉ lệ sinh cao trong những năm trước đây nguồn lao động của tỉnh có quy mô lớn và tốc độ tăng nhanh Nếu năm 2000, tổng số lao động đang làm việc là 388.903 người, chiếm 48,2% tổng dân số thì đến năm 2012, tổng số lao động đang làm việc đã tăng lên 452.230 người, chiếm
57,6% tổng dân số của tỉnh
Về cơ cấu sử dụng lao động, Hà Nam là tỉnh thuần nông, nên lao động làm việc trong khu vực nông - lâm - thủy sản chiếm tỉ lệ cao nhất trong cơ cấu lao động phân theo các ngành kinh tế, nhưng đang có xu hướng giảm (từ 78,0% năm 2000 đã giảm xuống còn 59,5% năm 2012), tương đương với các tỉnh của vùng đồng bằng sông Hồng Trong khi đó, lao động có việc làm trong ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ có xu hướng tăng nhanh, năm
2012 so với năm 2000 lao động trong ngành công nghiệp – xây dựng đã tăng thêm 45,6 nghìn người và chiếm 20,2% tổng số lao động có việc làm, còn ngành dịch vụ chiếm 20,3% tổng số lao động có việc làm, tuy nhiên còn chiếm tỉ lệ thấp so với trung bình cả nước Số lượng lao động trong độ tuổi có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm còn trên 10.500 người (chiếm gần 2,3% lực lượng lao động trong độ tuổi có khả năng lao động)
Năng suất lao động tăng nhanh trong thời gian vừa qua, đặc biệt năng suất lao động trong ngành công nghiệp – xây dựng cao nhất và cũng có xu hướng tăng nhanh, năm 2012 đạt 54,6 triệu đồng/lao động/năm, gấp 2,9 lần so với năm 2000 Mặc dù là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất về số lao động có việc làm nhưng ngành nông - lâm - thủy sản lại có năng suất lao động thấp nhất với 9,4 triệu đồng/lao động/năm
Đối với các lãnh thổ nói chung, Hà Nam nói riêng, tương quan giữa tổng số lao động công nghiệp và mật độ lao động công nghiệp phân bố/1km2diện tích là một trong những chỉ tiêu quan trọng thúc đẩy TCLTCN phát triển Mối tương quan này ở Hà Nam được thể hiện như sau:
Trang 33Biểu đồ 2.2: Tương quan giữa số lao động công nghiệp và mật độ lao động công nghiệp phân theo các đơn vị hành chính tỉnh Hà Nam năm 2012
Phần đông lao động có trình độ văn hóa, có khả năng tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ Trình độ của người lao động ngày càng được nâng cao với tỷ lệ lao động được đào tạo tăng nhanh từ 35% năm
2009 đã tăng lên 54% năm 2012 Có trên 13.000 người có trình độ từ cao đẳng, đại học và trên đại học (chiếm khoảng 2,9% tổng lực lượng lao động)
Về trình độ dân trí, Hà Nam đã được công nhận là tỉnh phổ cập giáo dục trung học cơ sở, bình quân số năm đến trường của một lao động là 8,1 năm
Bên cạnh trình độ của người lao động ngày càng được nâng cao, một trong những đặc điểm nổi trội dân cư và nguồn lao động Hà Nam là truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, có truyền thống sản xuất trong một số ngành nghề như khai thác, chế biến đá
Các làng nghề thủ công truyền thống như: làng nghề mây tre đan Ngọc Động (huyện Duy Tiên), là một làng nghề truyền thống có lịch sử hàng trăm năm; Đọi Tam (huyện Duy Tiên), làng trống ngàn tuổi Bên cạnh đó phải kể
Trang 34đến làng thêu ren Thanh Hà (huyện Thanh Liêm), làng nghề sừng Đô Hai (huyện Bình Lục)…Đó là cơ sở để đẩy mạnh phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp
Hà Nam có nguồn nhân lực dồi dào với đặc thù nhân văn là cần cù, hiếu học, thông minh, nghiêm túc trong lao động và trình độ văn hóa đang được nâng lên, đó là kết qủa của truyền thống giáo dục và đào tạo trước đây; tạo điều kiện để hình thành một đội ngũ công nhân công nghiệp và cán bộ quản lí, cán bộ kĩ thuật trong phát triển công nghiệp
Một hạn chế cơ bản về lao động công nghiệp ở Hà Nam là thiếu lực lượng lao động kĩ thuật và cán bộ quản lí công nghiệp, các chuyên gia đầu ngành Tuy nhiên, hiện nay đã có những chính sách thu hút lao động trình độ chuyên môn cao và lực lượng trẻ mới ra trường sẽ tạo thêm nguồn lao động
có chất xám cho ngành công nghiệp
2.1.3.2 Hệ thống các trung tâm kinh tế, đô thị trong tỉnh
Các trung tâm kinh tế và mạng lưới đô thị luôn có những điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp Bởi
lẽ nơi đây thường hội tụ những thế mạnh về kết cấu hạ tầng, nguồn lao động
có chất lượng cao, thị trường tiêu thụ rộng lớn do dân đông và thị hiếu tiêu dùng cũng đa dạng
Hà Nam hiện có một thành phố (Phủ Lý), mỗi huyện đều có ít nhất một thị trấn và nhiều xã đã hình thành các thị tứ Hệ thống đô thị này tuy không lớn nhưng có ý nghĩa đối với việc hình thành, phát triển TCLTCN
Các ngành công nghiệp Hà Nam chủ yếu tập trung ở quanh khu vực các
đô thị (các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp), còn các điểm công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng chủ yếu ở phía Tây tỉnh Việc phát triển công nghiệp sẽ tạo nên sự chuyển biến chức năng đô thị, tăng chức năng công nghiệp là động lực của sự phát triển Việc quy hoạch các khu, cụm công nghiệp thường gắn với việc quy hoạch phát triển đô thị Sự phát triển của
Trang 35thành phố Phủ Lý đã tạo cơ sở vật chất kĩ thuật, lao động, thị trường, cũng như sức hút đầu tư cho sự ra đời của khu công nghiệp Châu Sơn Bên cạnh
đó, sự ra đời các cụm công nghiệp đã tạo điều kiện cho các nhà máy được hình thành từ lâu trong thành phố được tập kết tại một khu vực nhằm đảm bảo được môi trường đô thị và tận dụng được những lợi thế trong kết hợp sản xuất lãnh thổ Hầu hết các đô thị trên địa bàn tỉnh Hà Nam đều là các khu nhân để hình thành các điểm, cụm, khu công nghiệp bởi chính các lực hút của nó
Tuy nhiên, có thể thấy quá trình đô thị hóa của Hà Nam còn chậm chạp, tỉ
lệ dân đô thị thấp (11% năm 2012) Đây là một trở ngại đối với TCLTCN Hà Nam Phát triển đô thị vừa là yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội, vừa là một trong những yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển theo hướng CNH - HĐH đất nước
Vì vậy, hệ thống đô thị Hà Nam đang từng bước được nâng cấp, hoàn thiện và đồng bộ hóa kết cấu hạ tầng kĩ thuật từ thành phố Phủ Lý đến các thị trấn, thị tứ Xây dựng nhiều đô thị loại nhỏ ở nông thôn Từng bước công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, gắn hoạt động sản xuất và dịch vụ ở nông thôn với thành thị Mở rộng quy mô thành phố Phủ Lý, đẩy mạnh tốc độ
đô thị hóa ở các đô thị Đồng Văn, Hòa Mạc, Quế, Bình Mỹ, Vĩnh Trụ Đẩy mạnh phát triển các hình thức TCLTCN gắn với tổ chức lãnh thổ thương mại,
du lịch nâng tỉ lệ dân thành thị lên 30 - 40% năm 2020
Như vậy, mạng lưới đô thị của tỉnh là hệ thống hạt nhân hội tụ các thế mạnh về kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật, khoa học công nghệ, nguồn lao động có trình độ tay nghề cao và thị trường tiêu thụ đông đảo với thị hiếu
đa dạng, làm động lực cho sự phát triển các KCN tập trung, các cụm công nghiệp trên địa bàn
Trang 36Bảng 2.1: Số cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo các đơn vị hành chính
- Về đường bộ:
Hà Nam hiện có khoảng 14.500 km đường bộ với mật độ đường là 0,62 km/km2, cao hơn mật độ trung bình của đồng bằng sông Hồng và gấp 3 lần so với trung bình cả nước Mật độ tỷ lệ đường bộ so với dân số là 18,5 km/1000 dân Các tuyến đường quan trọng có thể kể tới như: đường quốc lộ 1A với đoạn chạy qua Hà Nam chạy từ thôn Ngọc Thị xã Duy Minh (huyện Duy Tiên) chạy qua xã Thanh Hải thuộc huyện Thanh Liêm; Quốc lộ 21A chạy từ tỉnh Nam Định qua Cầu Họ (huyện Bình Lục), Hồng Phú (thành phố Phủ Lý)
đi Chi Nê tỉnh Hòa Bình với tổng chiều dài 73 km, đây là con đường có vị trí
Trang 37quan trọng trong vận chuyển, trao đổi hàng hóa từ các vùng đồng bằng phía Đông – Nam châu thổ sông Hồng đến vùng núi phía Tây của Hà Nam, Hòa Bình và ngược lại đi thành phố Nam Định trên tuyến đường nối với cảng Hải Phòng Quốc lộ 38 chạy từ chợ Dầu qua cống Nhật Tựu (huyện Kim Bảng) ra Đồng Văn, qua Hòa Mạc, cầu Yên Lệnh đi Hưng Yên nối vùng hữu ngạn với
tả ngạn sông Hồng, hình thành vành đai số 5 của thủ đô Hà Nội…
Hệ thống giao thông vận tải đường bộ đang được đầu tư nâng cấp bằng nhiều nguồn vốn (vốn ngân sách, vốn ODA, vốn nhân dân đóng góp…) đã trải nhựa, bê tông hóa khoảng 2.807 km Số đường rải nhựa cấp phối, đường đất còn khoảng 1.870 km, đã và đang được tiếp tục triển khai nâng cấp
Toàn tỉnh có 61 cây cầu với tổng chiều dài 1.459,3 km được xây dựng vĩnh cửu bê tông cốt thép, bê tông cốt thép tự ứng lực có chất lượng tốt Trong thời gian qua đã hoàn thành nhiều cây cầu lớn như: cầu Phủ Lý nối khu
đô thị phía Tây với quốc lộ 1A, cầu Ba Đa, cầu Bồng Lạng, cầu Kiện Khê, cầu Nhật Tựu
Các cảng xếp dỡ hàng hóa chính như: cảng xi măng Bút Sơn (công suất 310.000 tấn/năm); cảng X77 (công suất 100.000 tấn/năm); cảng nội thương (công suất 50.000 tấn/năm); cảng Bồng Lạng (công suất 100.000 tấn/năm)
- Đường sắt: Hà Nam có khoảng 44 km đường sắt trong đó có 34 km đường sắt thuộc tuyến đường sắt Bắc-Nam chạy qua Hà Nam và 10 km đường chuyên dùng Tuyến đường sắt Bắc-Nam đoạn chạy qua Hà Nam bắt đầu từ cầu Giẽ (huyện Duy Tiên) qua thành phố Phủ Lý đến huyện Bình Lục (giáp Nam Định) với 3 ga chính đặt ở trung tâm thành phố Phủ Lý, thị trấn Đồng Văn và Bình Mỹ rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa, hành khách đi, đến các tỉnh thành trong cả nước Đoạn đường sắt chuyên dùng đi vào khu vật liệu xây dựng của tỉnh phục vụ trực tiếp việc cung ứng nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm đá, xi măng clanh ke, vôi, bột nhẹ… Tỉnh đang xúc tiến phát triển thêm đường sắt chuyên dùng ra cảng Yên Lệnh, góp phần khai thác thế mạnh về công nghiệp xi măng của tỉnh, phục vụ nhu cầu của các tỉnh phía Nam Như
Trang 38vậy, việc tận dụng khai thác thế mạnh hệ thống giao thông đường thủy, kết hợp với hệ thống đường sắt sẽ đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực
- Đường sông: Hà Nam có khoảng 300 km đường sông với các con sông lớn như: sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ Hệ thống giao thông vận tải đường sông giữ vị trí quan trọng trong việc vận tải, cung ứng vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất trong tỉnh và vận chuyển sản phẩm sản xuất trong tỉnh
đi các tỉnh khác trong cả nước và các cảng biển để xuất khẩu Giao thông đường thủy còn rất giàu tiềm năng, nếu được khai thác tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế Hà Nam nhanh chóng hội nhập với nền kinh tế trong nước
và quốc tế
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện nay đang thực hiện dự án Tắc Giang khai thông dòng chảy nối sông Châu với sông Hồng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải đường thủy (tàu có trọng tải ≤ 200 tấn) đi lại thuận tiện rút ngắn quãng đường đi từ Hà Nam đến Hà Nội và các cảng biển gần
100 km, đồng thời còn đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp và giải quyết tình trạng ô nhiễm trên địa bàn Hà Nam cũng đang tiến hành xây dựng và phát triển cụm cảng Yên Lệnh (sông Hồng) và cụm cảng đường sông Lai Xá trên sông Đáy với công suất trên 800 nghìn tấn/năm Đây là bước đột phá quan trọng đưa giao thông thủy Hà Nam ngày càng phát triển
Mặc dù chưa hình thành được ngành công nghiệp cơ khí phục vụ ngành vận tải đường độ, đường sông hoàn chỉnh nhưng Hà Nam đã có các xưởng sửa chữa lắp ráp nhỏ của tư nhân dọc trên các tuyến giao thông đường bộ và 4 xưởng cơ khí thủy nằm dọc sông Đáy, chủ yếu là sửa chữa máy móc bảo dưỡng tàu thuyền hoặc đóng mới các phương tiện tải trọng nhỏ Với sự phát triển đó, ngành giao thông vận tải đã phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế - xã hội hiện tại cũng như trong tương lai
* Mạng lưới điện nước
Điện lực là cơ sở hạ tầng quan trọng đối với phát triển nền kinh tế - xã hội nói chung cũng như đối với phát triển sản xuất và nâng cao đời sống nhân
Trang 39dân trong tỉnh Cho đến nay mạng lưới truyền tải điện, phân phối điện đã được xây dựng, mở rộng đến hầu hết các thôn xã Nguồn điện của Hà Nam sử dụng chủ yếu từ nguồn điện quốc gia qua lưới điện 110 KV với 5 trạm: Trạm Thạch Tổ (E32); Trạm 110 KV Phủ Lý (E35); Trạm 110 KV Lý Nhân (E24.2); Trạm 110 KV xi măng Bút Sơn Với 5 nguồn trạm 110 KV có tổng công suất 215 MVA, nhìn chung đáp ứng cơ bản nguồn điện hiện tại của tỉnh vào khoảng 95 MW Tuy nhiên với sự phát triển nhanh của các KCN thì nhu cầu điện năng sẽ tăng lên nhanh chóng, vì thế cần phải nâng cao công suất các trạm 110 KV hiện có, đồng thời lắp đặt thêm các trạm biến áp 110 KV tại các KCN, khu đô thị… mới mong đáp ứng được nhu cầu sử dụng điện
Ngoài ra, trên địa bàn Hà Nam còn có lưới điện trung thế, hạ thế trung gian 35/10/6/ KV gồm 18 trạm với 52 máy biến áp có dung lượng 85.900 KVA Nhìn chung, lưới điện Hà Nam bao gồm các cấp điện áp 35, 22, 10, 6
KV, trong đó lưới 10 KV có khoảng 468,8 km Các trạm biến áp có mạng tải hợp lý do hàng năm ngành điện đã đầu tư xây dựng các trạm biến áp mới, chống quá tải cho lưới điện trung áp và có kế hoạch thay thế máy biến áp quá tải bằng các máy có công suất lớn hơn, các máy non tải bằng các máy có công suất nhỏ hơn Sản lượng điện tăng lên nhanh chóng với sản lượng khoảng 500 triệu kwh/năm, 100% xã phường trên địa bàn toàn tỉnh được sử dụng lưới điện quốc gia Công suất đủ tải, giờ cao điểm không bị sụt áp, tổn thất điện năng giảm xuống còn dưới 10%, giá điện nông thôn khá ổn định Tốc độ tăng bình quân điện thương phẩm đạt trung bình 15%/năm đã chứng tỏ mức độ điện khí hóa ở Hà Nam ngày càng tăng trưởng mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu của sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của dân cư Hiện tại và trong thời gian tới, Hà Nam đang tiếp tục cải tạo, nâng cấp mạng lưới điện đạt tiêu chuẩn quốc gia và xây dựng một số hệ thống các công trình mới đáp ứng nhu cầu điện cho CNH
Tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch trên địa bàn tỉnh (cả khu vực nông thôn và thành thị) là khá cao Tuy nhiên, hiện nay do nhu cầu phát triển nhanh các cụm, khu công nghiệp đặc biệt ở khu vực Phủ Lý, Duy Tiên, Thanh Liêm và do nguồn nước của một số sông bị ô nhiễm nặng nên vấn đề cung