CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, nó tham gia vào quá trình sản xuấ
Trang 1BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
Trí Tuệ Và Phát Triển
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
RAU, MÀU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC,
HÀ NỘI – NĂM 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong Khóa luận này là hoàn toàn trung thực và khách quan Các thông tin tài liệu trích dẫn trong Khóa luận đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Nhƣ Ngọc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Chính sách và Phát triển, Phòng Quản lý Đào tạo và các Thầy Cô giáo Khoa Quy hoạch và Phát triển đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ts Lê Kim Chi đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện Khóa luận này
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới Gia đình của tôi, Gia đình đã thực sự là nguồn động viên lớn lao và là những người truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành Khóa luận
Sinh viên
Nguyễn Như Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
6.1 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 3
6.2 Phương pháp bản đồ và hệ thống GIS 3
6.3 Phương pháp khảo sát thực địa 3
6.4 Phương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân 3
7 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 5
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 5
1.1.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp 5
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất nông nghiệp 7
1.1.3 Sử dụng đất nông nghiệp 8
1.1.4 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 9
1.1.5 Các quan điểm về sản xuất hàng hóa 16
1.1.6 Xu hướng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 18
1.2 MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM VÀ THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA 21
1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 21
1.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phục vụ sản xuất hàng hóa 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT CHUYÊN RAU MÀU PHỤC VỤ SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 27
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN HOÀI ĐỨC 27
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
Trang 52.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
2.2 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CHUYÊN RAU MÀU CHUYÊN PHỤC VỤ SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC 33
2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất 33
2.2.2 Các loại hình sử dụng đất và các kiểu sử dụng đất trên địa bàn huyện 34
2.2.3 Hiệu quả kinh tế của sử dụng đất chuyên rau, màu phục vụ sản xuất hàng hoá 37
2.2.4 Hiệu quả xã hội sử dụng đất chuyên rau, màu phục vụ sản xuất hàng hoá 46
2.2.5 Hiệu quả môi trường sử dụng đất chuyên rau, màu phục vụ sản xuất hàng hoá 53
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT CHUYÊN RAU MÀU PHỤC VỤ SẢN XUẤT HÀNG HOÁ HUYỆN HOÀI ĐỨC ĐẾN NĂM 2020 62
3.1 Định hướng phát triển nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp huyện Hoài Đức đến năm 2020 62
3.2 Đề xuất hướng sử dụng đất canh tác và giải pháp tăng cường hiệu quả cho các loại hình sử dụng đất chuyên rau màu theo hướng sản xuất hàng hóa huyện Hoài Đức đến năm 2020 62
3.3 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất rau màu trên địa bàn huyện Hoài Đức 66
3.3.1 Giải pháp về quy hoạch, kế hoạch 66
3.3.2 Giải pháp về khoa học kỹ thuật 68
3.3.3 Giải pháp thu hút vốn 69
3.3.4 Giải pháp về cơ chế, chính sách 70
3.3.5 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 71
3.3.6 Giải pháp thị trường 72
3.3.7 Giải pháp về môi trường 73
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
1 Kết luận 74
2 Kiến nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất canh tác huyện Hoài Đức 34
Bảng 2.2 Hiệu quả kinh tế bình quân của các loại hình sử dụng đất vùng bãi 38
Bảng 2.3: Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất vùng bãi 39
Bảng 2.4 Hiệu quả kinh tế bình quân của các loại hình sử dụng đất vùng nội đồng 42
Bảng 2.5 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất vùng nội đồng 43
Bảng 2.6: Hiệu quả xã hội bình quân của các loại hình sử dụng đất vùng bãi 47
Bảng 2.7: Chỉ tiêu cụ thể đánh giá hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất vùng bãi 48
Bảng 2.8: Hiệu quả xã hội bình quân của các loại hình sử dụng đất vùng bãi 50
Bảng 2.9 Chỉ tiêu cụ thể đánh giá hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất vùng nội đồng 52
Bảng 2.10 So sánh mức đầu tư phân bón của nông hộ với tiêu chuẩn phân cân đối và hợp lý 55
Bảng 2.11 So sánh lượng thuốc BVTV thực tế và khuyến cáo trên cây trồng 57
Bảng 3.1 Đề xuất hướng sử dụng đất canh tác huyện Hoài Đức 63
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu sử dụng đất năm 2012 huyện Hoài Đức(%) 33
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu các LUT canh tác huyện Hoài Đức 36
Biểu đồ 2.3 TNHH (nghìn đồng/ha) của các 38
Biểu đồ 2.4 Tỷ suất đồng vốn của các LUT vùng bãi 38
Biểu đồ 2.5 TNHH (nghìn đồng/ha) của các LUT vùng nội đồng 42
Biểu đồ 2.6 Tỷ suất đồng vốn của các LUT vùng nội đồng 42
Biểu đồ 2.7 Số lao động của các LUT vùng bãi 47
Biểu đồ 2.8 Giá trị ngày công lao động của các LUT vùng bãi 48
Biểu đồ 2.9 Số lao động của các LUT vùng bãi 51
Biểu đồ 2.10 Giá trị ngày công lao động của các LUT vùng bãi 51
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 2.1 Cảnh quan ruộng trồng cây dưa chuột ở Hoài Đức 45
Hình 2.2 Cảnh quan ruộng trồng cây cà tím ở Hoài Đức 45
Hình 2.3 Cảnh quan ruộng trồng cây đậu đũa ở Hoài Đức 46
Hình 2.4 Cảnh quan ruộng trồng cây ngô ở Hoài Đức 46
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Sử dụng đất nông nghiệp như thế nào để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu cùng với sức ép của sự gia tăng dân số, của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang trở thành một vấn đề vấn đề bức thiết của các nước đang phát triển Đối với Việt Nam, việc tổ chức sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đảm bảo cho nền nông nghiệp phát triển bền vững Cùng với tiến trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, diện tích đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm dần do chuyển sang các mục đích sử dụng khác, trong khi dân số ngày càng tăng Vì thế để đáp ứng được yêu cầu về lương thực thực phẩm trong nước, đồng thời cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu cần phải có nền nông nghiệp vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao vừa sử dụng đất bền vững
Hoài Đức là một trong những cửa ngõ quan trọng của thủ đô Hà Nội với nhiều huyết mạch giao thông quan trọng và các khu đô thị Huyện Hoài Đức lấy kinh tế nông nghiệp là chủ đạo với gần 50% tổng dân số làm trong ngành nông nghiệp (số liệu năm 2013) Trong những năm vừa qua, với những thuận lợi khó khăn đan xen tốc độ đô thị hóa nhanh theo quy hoạch kinh tế - xã hội của thủ đô Hà Nội đến năm 2020 quá nửa huyện Hoài Đức trở thành đô thị
Cơ cấu sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp nhanh chóng do tác động của quá trình đô thị hóa Sự thay đổi này có những mặt thuận lợi song cũng có những mặt khó khăn vì nó tác động trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội và tập quán của nhân dân
Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp của huyện đang trong quá trình chuyển dịch mạnh từ sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa với những sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu thụ nội huyện và đặc biệt là thị trường thành phố Hà Nội, vì vậy, việc sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp trên địa bàn huyện đang là vấn đề bức thiết hiện nay
Trang 10nhằm hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa, hiệu quả và bền vững trên địa bàn huyện Hoài Đức
Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất chuyên rau, màu phục vụ sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” làm đề tài Khóa luận của mình nhằm luận giải những vấn đề hiện trạng hiệu quả sử dụng đất sản xuất rau màu, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử đụng đất nông nghiệp của huyện Hoài Đức
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng sử dụng đất chuyên rau màu huyện Hoài Đức trong giai đoạn vừa qua, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất đất chuyên rau màu phục vụ sản xuất hàng hóa tại huyện Hoài Đức – thành phố Hà Nội
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đối tượng là hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường của việc sử dụng đất chuyên rau màu phục vụ sản xuất hàng hóa ở huyện Hoài Đức
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu : tập trung nghiên cứu thực trạng của việc sử dụng đất rau, màu trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội
Về không gian nghiên cứu : địa bàn huyện Hoài Đức – thành phố Hà Nội, bao gồm 19 xã: Đức Thượng, Minh Khai, Dương Liễu, Di Trạch, Đức Giang, Cát Quế, Kim Chung, Yên Sở, Sơn Đồng, Vân Canh, Đắc Sở, Lại Yên, Tiền Yên, Song Phương, An Khánh, An Thượng, Vân Côn, La Phù, Đông La
Về thời gian nghiên cứu : đề tài nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất rau màu trên địa bàn huyện Hoài Đức giai đoạn 2005 – 2020
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đất nông nghiệp phục vụ sản xuất hàng hóa;
Trang 11Phân tích hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường của đất chuyên rau màu phục vụ sản xuất hàng hóa tại huyện Hoài Đức;
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất chuyên rau màu phục vụ sản xuất hàng hóa tại huyện Hoài Đức
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Các tài liệu, số liệu thống kê về thực trạng sử dụng đất rau màu trong thời gian qua rất nhiều và dàn trải, nên việc chọn lọc, tính toán và xử lý số liệu để thấy những số liệu cần thiết giúp cho việc nghiên cứu đề tài thêm sức thuyết phục là rất quan trọng
Từ các số liệu đã thu thập được từ thống kê tiến hành tổng hợp, phân tích theo nhiều nội dung khác nhau bằng chương trình ứng dụng Excel với độ chính xác cao để tính toán xử lý số liệu, xây dựng các bảng biểu trong báo cáo
6.2 Phương pháp bản đồ và hệ thống GIS
Đây là phương pháp sử dụng hệ thống các bản đồ hành chính huyện để chuẩn bị cho việc nghiên cứu, thu thập thông tin, đọc bản đồ, phân tích và so sánh để thấy được thực trạng, mối liên hệ giữa chúng giúp cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất rau màu trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và bản đồ máy tính Sử dụng phối kết hợp các phần mềm : Mapinfo, Access, Excel, Word… trong việc phân tích và
xử lý số liệu thu thập được
6.3 Phương pháp khảo sát thực địa
Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường trong thực trạng sử dụng đất rau, màu trên địa bàn huyện Hoài Đức; hiện trạng hạ tầng cơ sở phục
vụ sản xuất rau, màu; chụp ảnh …việc đi khảo sát thực địa huyện Hoài Đức sẽ
có cái nhìn chính xác và tổng thể về thực trạng hiệu quả sử dụng đất rau, màu
ở đây và phục vụ tốt hơn cho đề tài nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng đất rau, màu trên địa bàn huyện
6.4 Phương pháp điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân
Phương pháp này được thực hiện thông qua việc phỏng vấn các thành
Trang 12viên của các hộ gia đình trong vùng đại diện Nội dung điều tra hộ bao gồm: điều tra về lao động, loại cây trồng, mức độ thích hợp cây trồng với đất đai …
Từ các kết quả nghiên cứu, đề tài có tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia, cán bộ phòng Nông nghiệp, phòng Tài nguyên và Môi trường
Các phần mềm Excel, Word … được sử dụng để xử lý số liệu, tài liệu thu thập được và từ đó xây dựng các bảng biểu
7 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và hệ thống các bảng biểu đi kèm, cấu trúc
đề tài khóa luận gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp
Chương 2: Thực trạng sử dụng đất chuyên rau màu phục vụ sản xuất
hàng hóa trên địa bàn huyện Hoài Đức
Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất
chuyên rau màu phục vụ sản xuất hàng hóa huyện Hoài Đức đến năm 2020
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ
Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, nó tham gia vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm cần thiết nuôi sống con người;
Theo Điều 13 Luật Đất đai Việt Nam năm 2003, đất đai được chia thành 3 nhóm lớn là: nhóm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng;
Trong nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm hay đất canh tác, đất trồng cây lâu năm), đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [11]
1.1.1.2 Phân loại đất nông nghiệp
a Đất sản xuất nông nghiệp (SXN):
Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm
- Đất trồng cây hàng năm (CHN): Là đất chuyên trồng các loại cây có
thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một (01) năm, kể cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên có cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi Loại này bao gồm đất trồng
lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác
+ Đất trồng lúa (LUA): là ruộng, nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên
Trang 14hoặc trồng lúa kết hợp với sử dụng vào các mục đích khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính; bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại, đất trồng lúa nương
+ Đất cỏ dùng vào chăn nuôi (COC): là đất trồng cỏ hoặc đồng cỏ, đồi
cỏ tự nhiên có cải tạo để chăn nuôi gia súc; bao gồm đất trồng cỏ và đất cỏ tự nhiên có cải tạo
+ Đất trồng cây hàng năm khác (HNK): là đất trồng cây hàng năm không phải đất trồng lúa và đất cỏ dùng vào chăn nuôi gồm chủ yếu để trồng màu, hoa, cây thuốc, mía, đay, gai, cói, sả, dâu tầm, cỏ không để chăn nuôi….; gồm đất bằng trồng cây hàng năm khác và đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác
- Đất trồng cây lâu năm (CLN): Là đất trồng các loại cây có thời gian
sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như Thanh long, Chuối, Dứa, Nho, v.v.; bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác
b Đất lâm nghiệp (LNP):
Là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã có rừng bị khai thác, chặt phá, hoả hoạn nay được đầu tư để phục hồi rừng), đất để trồng rừng mới (đất
có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng hoặc đất đã giao để trồng rừng mới); bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
c Đất nuôi trồng thuỷ sản (NTS):
Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thuỷ sản; bao gồm đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt
d Đất nông nghiệp khác (NKH):
Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực
Trang 15tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân
để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp [11]
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động - thực vật và con người trên trái đất Đất đai là điều kiện rất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể đất đai có vị trí khác nhau
Trong nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, đất đai có
vị trí đặc biệt Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Đặc biệt vì đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Đất đai là đối tượng lao động vì đất đai chịu sự tác động của con người trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới, để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển Đất đai là tư liệu lao động vì đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động Con người sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp Với sinh vật, đất đai không chỉ là môi trường sống, mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Năng suất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai Diện tích, chất lượng của đất đai quy định lợi thế so sánh của mỗi vùng cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại và của cả vùng Vì vậy, việc quản lý, sử dụng đất đai nói chung cũng như đất nông nghiệp nói riêng một cách đúng hướng, có hiệu quả, sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội
Bên cạnh đó, một bộ phận lớn đất ngập nước: các đầm lầy, sông ngòi, kênh rạch, rừng ngập mặn, các vũng, vịnh ven biển, hồ nước nhân tạo,… còn
có nhiều vai trò quan trọng khác Đây là nơi cung cấp nhiên liệu, thức ăn, là
Trang 16nơi diễn ra các hoạt động giải trí, nuôi trồng thủy sản, lưu trữ các nguồn gien quý hiếm Ngoài ra, đất nông nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lọc nước thải, điều hoà dòng chảy (giảm lũ lụt và hạn hán), điều hòa khí hậu địa phương, chống xói lở ở bờ biển, ổn định mạch nước ngầm cho nguồn sản xuất nông nghiệp, tích lũy nước ngầm, là nơi cư trú của các loài chim, phát triển du lịch,
Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác
và hiệu quả sản xuất Chỉ có thông qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến hầu hết các cây trồng, vật nuôi Vì vậy, muốn làm tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ đất đai để đảm bảo cả lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài, cần sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả, cần coi việc bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia
1.1.3 Sử dụng đất nông nghiệp
1.1.3.1 Quan niệm về sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Quy luật phát triển kinh tế - xã hội cùng với yêu cầu bền vững về mặt môi trường cũng như hệ sinh thái quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với vai trò là nhân tố cơ bản của sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất
Trang 17- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất
- Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai một cách kinh tế, tập trung, thâm canh [5]
1.1.3.2 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp cần được sử dụng đầy đủ và hợp lý
Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp có nghĩa là đất nông nghiệp cần được sử dụng hết và mọi diện tích đất nông nghiệp đều được bố trí sử dụng phù hợp với đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng loại đất để vừa nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi vừa duy trì được độ phì nhiêu của đất
- Đất nông nghiệp cần được sử dụng có hiệu quả kinh tế cao
Đây là kết quả của nguyên tắc thứ nhất trong sử dụng đất nông nghiệp Nguyên tắc chung là đầu tư vào đất nông nghiệp đến khi mức sản phẩm thu thêm trên một đơn vị diện tích bằng mức chi phí tăng thêm trên một đơn vị diện tích đó
- Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững
Sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp có nghĩa là cả số lượng và chất lượng đất nông nghiệp phải được bảo tồn không những để đáp ứng mục đích trước mắt của thế hệ hiện tại mà còn phải đáp ứng được cả nhu cầu ngày càng tăng của các thế hệ mai sau Sự bền vững của đất nông nghiệp gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường
Vì vậy, cần áp dụng các phương thức sử dụng đất nông nghiệp kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài [4]
1.1.4 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.4.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng đất
Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả là một Sau này, khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả Theo trung tâm từ điển ngôn ngữ hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm
Trang 18mang lại [14] Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà người ta phải xem xét kết quả được tạo
ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu; có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá hiệu quả
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của cả nhà nông – những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp [25]
Ngày nay các nhà nghiên cứu cho rằng: việc xác định đúng khái niệm, bản chất của hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những lý luận của lý thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 khía cạnh: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [24]
*) Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hóa và với tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác
Nó phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn nhân lực sẵn có phục vụ lợi ích của con người [24]
Hiệu quả kinh tế là tiêu chí được quan tâm hàng đầu, là khâu trung tâm
để đạt được các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hóa bằng các chỉ tiêu kinh tế, tài chính [23]
*) Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, có tác động tới hiệu quả kinh tế [6] Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất hiện nay là phải thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp
Trang 19phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về ăn, mặc và nhu cầu sống khác
Sử dụng đất phù hợp với tập quán, nền văn hóa của địa phương thì việc sử dụng đất đó bền vững hơn, được sự ủng hộ nhiều hơn của người dân
Theo ông Nguyễn Duy Tính [16] hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp
*) Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường đảm bảo tính bền vững cho hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Hiệu quả môi trường đang là vấn đề được cả nhân loại quan tâm và được phản ánh bằng các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ mầu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hóa đất, bảo vệ môi trường sinh thái, độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%), đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh )
1.1.4.2 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
*) Sử dụng đất bền vững
Ngày nay, sử dụng đất nông nghiệp bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả trở thành chiến lược quan trọng có tính toàn cầu Nó đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại [24]
Khái niệm bền vững được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước nêu ra hướng vào 3 yêu cầu:
- Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh kế cao, được thị trường chấp nhận;
- Bền vững về môi trường: Loại sử dụng đất phải bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hóa đất, bảo vệ được môi trường tự nhiên;
- Bền vững về xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội Điều hóa giữa áp lực tăng dân số và tăng trưởng về kinh tế nhằm đáp
Trang 20ứng yêu cầu sử dụng đất bền vững Quản lý hệ thống nông nghiệp nhằm đảm bảo có sản phẩm tối đa về lâu dài, đồng thời duy trì độ phì nhiêu đất Bảo đảm phát triển tài nguyên rừng nhằm thỏa mãn nhu cầu về thương mại, chất đốt, xây dựng và dân dụng mà không làm mất đi nguồn nước và thoái hóa đất Sử dụng đất trên cơ sở quy hoạch bảo đảm lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của người sử dụng đất và cộng đồng [24]
*) Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Từ xa xưa ta đã thấy được tầm quan trọng của tài nguyên đất nói chung
và đất nông nghiệp nói riêng, nhưng do tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước mà đất nông nghiệp ngày nay càng có xu hướng giảm do chuyển sang mục đích phi nông nghiệp Vì thế, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai Do đó đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc: “đầy đủ và hợp lý” Mặt khác, phải có những quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế xã hội cao
*) Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp: Về kinh tế: đảm bảo được hiệu quả cao và lâu bền; Về xã hội: không tạo khoảng cách lớn giữa giàu nghèo, không làm bần cùng hóa nông dân và gây ra những tệ nạn xã hội nghiêm trọng; Về tài nguyên môi trường: không làm cạn kiệt tài nguyên, không làm suy thoái và hủy hoại môi trường; Về văn hóa: quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy bản sắc nền văn hóa dân tộc [12]
Theo tổ chức nông lương thế giới, FAO (1989, 1991), hệ thống nông
Trang 21nghiệp bền vững là hệ thống quản lý thành công các nguồn lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, để thỏa mãn những nhu cầu của con người, trong khi duy trì hoặc nâng cao chất lượng môi trường và bảo vệ các nguồn lợi thiên nhiên Hệ thống đó bao gồm sự quản lý, bảo vệ các nguồn lợi thiên nhiên một cách hợp lý và phải có phương hướng thay đổi công nghệ và thể chế để đảm bảo duy trì và thoải mãn liên tục những nhu cầu của con người ở hiện tại và trong tương lai Sự phát triển như vậy phải gắn liền với việc bảo vệ đất, nước, các nguồn gen cây trồng, vật nuôi và đảm bảo lợi ích kinh tế và sự chấp nhận
xã hội [26]
Eckngert và Breitchuh (1994) cho rằng, nông nghiệp bền vững là sự quản lý và sử dụng hệ sinh thái nông nghiệp bằng cách duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh và hoạt động của nó, để nó có thể hoàn thành những chức năng kinh tế, xã hội và sinh thái ở hiện tại và tương lại trên phạm vi địa phương, quốc gia và toàn cầu mà không làm tổn hại đến các hệ sinh thái khác [26]
Các quan điểm trên có nhiều cách biểu thị khác nhau, song về nội dung thường bao gồm 3 thành phần cơ bản:
- Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thống nông nghiệp phù hợp điều kiện sinh thái và không tổn hại môi trường;
- Bền vững về tổ chức quản lý, hệ thống nông nghiệp phù hợp trong mối quan hệ con người hiện tại và cả cho đời sau;
- Bền vững thể hiện ở tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp hợp lý [7]
Quan điểm sử dụng đất [24]:
- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học, kỹ thuật, đất đai, lao động, để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hóa cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu;
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện “đa dạng hóa” hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hóa
Trang 22cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái bảo vệ môi trường;
- Trên quan điểm phát triển hệ thống, thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hóa, sản xuất hàng hóa theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục; [2]
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; [19]
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển dịch
cơ cấu sử dụng sử dụng đất nông nghiệp và quá trình tích tụ ruộng đất [14]
1.1.4.3 Một số tiêu chí cơ bản đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Tiêu chí cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả [25]
- Đối với nông nghiệp, tiêu chí để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thỏa mãn nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững;
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên 1 đơn vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra ít nhất, ảnh hưởng ít nhất tới môi trường;
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đến hệ thống môi trường, đến những người lao động ngành nông nghiệp;
**) Hiệu quả kinh tế:
+ Giá trị sản xuất (GTSX): Là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong
kỳ sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng và có thể tính cho
cả công thức luân canh hay hệ thống sử dụng đất);
+ Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ sản
Trang 23xuất quy ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…);
+ Giá trị gia tăng (GTGT): Là giá trị sản phẩm vật chất mới tạo ra trong quá trình sản xuất, trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất, được xác định bằng giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian
**) Hiệu quả xã hội:
Hiệu quả xã hội chính là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra Trong phạm vi nghiên cứu
đề tài, tôi xin phép chỉ đề cập đến các nội dung sau:
+ Mức độ thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm (công/ha); + Tổng thu nhập cho sản xuất nông hộ (tiền/ha);
+ Khả năng, mức độ ổn định thu nhập hàng tháng
**) Hiệu quả môi trường:
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài Vì vậy, đề tài của tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá:
+ Khả năng tận dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai về số lượng, chất lượng;
Trang 24+ Ảnh hưởng của hoá chất trong sản xuất (phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật ) đến môi trường đất và nước;
+ Ảnh hưởng của quá trình thâm canh, luân canh cây trồng đến môi trường đất và nước
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cần kết hợp chặt chẽ giữa 3 hệ thống chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong một thể thống nhất Tuy nhiên, tùy từng điều kiện cụ thể mà ta có thể nhấn mạnh từng hệ thống chỉ tiêu ở mức độ khác nhau
1.1.5 Các quan điểm về sản xuất hàng hóa
Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản phẩm được sản xuất ra không phải để thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người sản xuất mà là để trao đổi trên thị trường thì được gọi là sản phẩm hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm đem bán để thu về giá trị của
nó trong đó có phần thặng dư để tái sản xuất và mở rộng quy mô [22]
Sản xuất hàng hóa là quy luật khách quan của mọi hình thái kinh tế xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển sản xuất của xã hội đó Sản xuất hàng hóa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố kinh tế, xã hội, tự nhiên, môi trường, do đó khả năng rủi ro trong sản xuất hàng hóa là không thể tránh khỏi
Đối với hệ thống trồng trọt, nếu mức hàng hóa sản xuất được bán ra trên thị trường dưới 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại một phần, nếu trên 50% thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hóa (sản xuất theo hướng hàng hóa) [3]
Đối với hộ nông dân, những sản phẩm được đưa ra bán thì gọi là sản phẩm hàng hóa [22]
*) Vai trò của sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường:
Hệ thống kinh tế nông nghiệp theo định hướng XHCN mà chúng ta nhằm xây dựng ở Việt Nam là một hệ thống kinh tế mang tính hỗn hợp, đa dạng và đan xen nhiều hình thức sở hữu, nhiều khu vực sản xuất và dịch vụ, nhiều thành phần kinh tế cùng bình đẳng tồn tại và phát triển trong mối quan
Trang 25hệ hợp tác, liên kết và cạnh tranh phù hợp với pháp luật Nhà nước, được pháp luật bảo vệ, trong đó sở hữu Nhà nước, thành phần kinh tế Nhà nước là lực lượng định hướng XHCN chủ yếu của hệ thống Dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, hệ thống kinh tế nông nghiệp nhiều thành phần phát triển trong sự chi phối ngày càng hoàn hảo của cơ chế thị trường Thị trường và các quan hệ thị trường ngày càng đóng vai trò quyết định trong việc phân phối các tài nguyên quốc gia vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp nhằm thúc đẩy sự hài hòa giữa sản xuất và nhu cầu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản [9]
Sản xuất hàng hóa là một tất yếu khách quan, một thuộc tính bên trong lâu dài của chính sự phát triển nền nông nghiệp nước ta theo định hướng XHCN Phát triển sản xuất hàng hóa, mở rộng quan hệ hàng hóa – tiền tệ trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa to lớn về kinh tế xã hội:
- Sản xuất hàng hóa thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp, góp phần chuyển nền nông nghiệp từ độc canh lương thực sang phát triển toàn diện trên cơ sở chuyên môn hóa kết hợp với kinh doanh tổng hợp, tạo ra những vùng chuyên môn hóa tập trung, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn hợp lý;
- Tạo tiền đề trong việc nâng cao phúc lợi, cải thiện đời sống nông dân
và bộ mặt nông thôn;
- Thông qua quan hệ cạnh tranh và hợp tác, quan hệ trao đổi bình đẳng giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh, giữa các ngành, các vùng trong nước và nước ngoài mà làm cho trình độ xã hội hóa ngày càng được mở rộng;
- Thúc đẩy việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng và lợi thế của từng vùng, từng địa phương, từng chủ thể kinh doanh để tạo ra nhiều nông sản trao đổi trên thị trường, thu lợi nhuận cao;
- Kích thích các đơn vị sản xuất kinh doanh áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, đầu tư vốn và lao động hợp lý, tiết kiệm để đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất trong việc sản xuất ra các loại nông sản hàng hóa;
Trang 26- Góp phần tạo ra tiền đề vật chất khách quan và cơ sở kinh tế cho nông nghiệp đáp ứng được yêu cầu nhiều mặt của xã hội; [9]
- Phát triển kinh tế nông nghiệp có sự điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, đảm bảo vận hành nền nông nghiệp theo nguyên tắc thị trường kết hợp với các kế hoạch định hướng và các chính sách vĩ mô của Nhà nước sẽ giảm thiểu được những rủi ro đáng tiếc trong quá trình phát triển kinh
- Thái Lan: phát huy thế mạnh sẵn có, phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, giảm bớt rủi
ro thị trường và tăng cường đầu tư công nghệ chế biến
- Malaixia: tập trung sản xuất hàng hóa có lợi thế cạnh tranh cao để xuất khẩu, phát triển nông nghiệp thành một lĩnh vực hiện đại và thương mại hóa cao Tăng cường phát triển ngành chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp dựa vào tài nguyên của từng địa phương
- Inđônêxia: hướng mạnh vào sản xuất hàng hóa các mặt hàng có lợi như: hạt tiêu, hoa quả, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tôm đông lạnh và cá ngừ
- Philipin: phát huy thế mạnh sẵn có xây dựng các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến, hệ thống thông tin, ứng dụng và tiếp thị Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu chuyển giao, áp dụng công nghệ và khuyến nông Thay đổi chiến lược chính sách nông nghiệp từ bảo trợ sản xuất sang tăng cường cạnh tranh
Trang 271.1.6.2 Ở Việt Nam
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “ Định hướng phát triển ngành kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp và kinh tế nông thôn là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo hướng đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu của thị trường và điều kiện sinh thái trên từng vùng”
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X cũng nêu rõ: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hóa hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao”
Định hướng phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng: “Phát triển nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, cùng với lương thực đưa vụ đông thành một thế mạnh, hình thành các vùng chuyên canh rau, cây ăn quả, chăn nuôi lấy thịt … ”
Phan Sỹ Mẫn và Nguyễn Việt Anh (2001) [1] đã đưa ra định hướng và
tổ chức phát triển nền nông nghiệp hàng hóa như sau:
+ Phát triển mạnh sản xuất kinh doanh hàng hóa theo chiều sâu trên cơ
sở đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, khai thác lợi thế so sánh của từng vùng, gắn với bảo vệ và tái tạo tài nguyên môi trường sinh thái Đảm bảo an ninh lương thực đáp ứng nhu cầu hàng nông sản và nguyên liệu cho thị trường trong nước đồng thời chuyển mạnh nền nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa xuất khẩu;
+ Tiếp tục đổi mới thể chế chính sách và có các giải pháp đồng bộ về việc tổ chức, quản lý quá trình phát triển
*) Trong điều kiện hội nhập quốc tế và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, quá trình tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế quốc dân đòi hỏi việc tái cơ cấu nền nông nghiệp phải đạt tiến độ nhanh hơn, mạnh hơn theo hướng phát triển nông nghiệp toàn diện, hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn trên
Trang 28cơ sở tái cơ cấu ngành, cơ cấu sản phẩm hàng hóa nông nghiệp là vấn đề then chốt Do đó ta có thể thấy xu hướng phát triển hiện nay của nông nghiệp là chuyển từ nông nghiệp tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa với xu hướng hình thành các vùng chuyên canh, sản xuất tập trung, quy mô lớn Việc này cần tiến hành từ cấp tổng thể toàn quốc tới từng tỉnh, huyện Quy hoạch tổng thể, liên vùng, liên tỉnh phải đúng tầm, bảo đảm sự tương tác, hỗ trợ, khai thác
và phát huy cao độ nguồn lực của đất nước để đẩy mạnh phát triển các vùng kinh tế trọng điểm tạo động lực cho nền kinh tế, đồng thời hỗ trợ phát triển các vùng còn nhiều khó khăn Trong đó:
Vùng đồng bằng coi trọng phát triển công nghệ cao; hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung; quy hoạch các vùng chuyên canh lúa hàng hóa lớn, chất lượng cao (như vựa lúa, vựa tôm, cá vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa vùng Đồng bằng sông Hồng), hiện đại hóa công nghiệp bảo quản, chế biến; đồng thời phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ phục vụ nông nghiệp, đặc biệt là phát triển các khu công nghiệp, các cụm, nhóm sản phẩm công nghiệp và dịch vụ công nghệ cao gắn với các đô thị lớn để hình thành các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, có tầm cỡ khu vực, có vai trò dẫn dắt và tác động lan tỏa đến sự phát triển các vùng khác
Vùng trung du, miền núi phát triển mạnh sản xuất lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và chăn nuôi đại gia súc, tạo thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, trước hết là cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu… Nông dân sẽ làm giàu từ rừng, đất rừng, bảo
vệ và phát triển rừng, sử dụng, khai thác hiệu quả đất rừng trong điều kiện tổ chức sản xuất lớn
Vùng biển, ven biển và hải đảo đặc biệt chú trọng phát triển mạnh kinh
tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của nước ta, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, đóng tàu, chế biến thủy sản chất
Trang 29lượng cao, du lịch sinh thái… Phát triển nhanh đô thị hóa gắn với xây dựng nông thôn mới, tạo thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, tạo thế tiến ra biển
để ngư dân đẩy mạnh đánh bắt hải sản xa bờ với ứng dụng công nghệ cao trong các khâu tìm kiếm ngư trường, đánh bắt và chế biến sản phẩm tại các cơ
sở công nghiệp hiện đại Kinh tế biển phải bảo đảm sự gắn kết với phát triển
đa dạng các ngành dịch vụ, nhất là các ngành có giá trị gia tăng cao, như dịch
vụ xuất nhập khẩu, du lịch, thủy hải sản, dịch vụ dầu khí, vận tải, dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…
Nội dung then chốt trong công tác quy hoạch là chất lượng quy hoạch
sử dụng đất - tư liệu sản xuất quan trọng nhất Trên cơ sở quy hoạch, xác định
cụ thể phương thức sử dụng phù hợp thực tế và tín hiệu thị trường, đem lại giá trị cao đối với từng loại đất, như: đất (bao gồm cả mặt nước nuôi trồng thủy, hải sản) tại các vùng chuyên canh tuy có thể sử dụng linh hoạt để đạt giá trị tối đa theo tín hiệu thị trường, nhưng phải quy hoạch theo quy mô lớn, lâu dài; duy trì quỹ đất trồng lúa (có thể sử dụng linh hoạt trong sản xuất, nhưng không làm mất đi những điều kiện cơ bản để trồng lúa về lâu dài); đất giáp ranh đô thị thì quy hoạch sử dụng quy mô nhỏ, ngắn hạn tương ứng với xu hướng đô thị hóa và thông thường để trồng rau, hoa quả, cây cảnh, một số loại hoa màu và chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản… Căn cứ quy hoạch sử dụng đất, xác định nhu cầu lao động tương ứng và xây dựng quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực để cơ cấu lại lao động trong nông nghiệp và nông thôn
1.2 MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP CỦA VIỆT NAM VÀ THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA
1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Theo số liệu kiểm kê đất đai toàn quốc năm 2012, tổng diện tích tự nhiên của cả nước là 33.095.351 ha Tính riêng diện tích đất nông nghiệp là 26.280.449 ha (chiếm 75% tổng diện tích đất tự nhiên); Trong đó diện tích đất trồng cây hàng năm có diện tích là 6.401.338 ha, diện tích đất trồng cây lâu năm là 3.749.747 ha Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người của
Trang 30cả nước thuộc loại thấp là 0,29 ha/người, tại ĐBSH bình quân đạt 0,04 ha/người, tại ĐBSCL đạt khoảng 0,15 ha/người [17]
Theo Luật đất đai 2003 thì trong đất nông nghiệp còn được chia thành 5 nhóm đất chính: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [11] Tính trong cả nước thì diện tích đất sản xuất nông nghiệp tại Tây Nguyên là lớn nhất với 4060,4 nghìn ha, vùng có diện tích đất sản xuất nông nghiệp nhỏ nhất là Tây Bắc với 501,6 nghìn ha
Thực tế những năm trở lại đây, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp lại Điều dễ nhận thấy là diện tích đất trồng lúa ngày càng bị “cắt xén” để chuyển sang xây dựng các khu đô thị và các khu công nghiệp [18]
Mất đất, đồng nghĩa với giảm lương thực Kinh nghiệm của các nước châu Á vốn lấy cây lúa nước là cây lương thực chính cho thấy, mấy chục năm qua trong tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, tỷ lệ mất đất canh tác hằng năm vào khoảng 0,5 - 2%/năm Ví dụ trong thập niên 1980-1990 tỷ lệ mất đất canh tác hằng năm của Trung Quốc là 0,5%, Hàn Quốc là 1,4%, Nhật Bản là 1,6% Đất canh tác bị mất phần nhiều lại là đất canh tác loại tốt, vì hầu hết các khu đô thị, khu công nghiệp tập trung ở vùng đồng bằng châu thổ Tỷ lệ mất đất canh tác ở Việt Nam thời gian qua vào khoảng 0,4%, nhưng riêng đất trồng lúa có tỷ lệ mất cao hơn, vào khoảng trên 1% Tuy nhiên, với tốc độ công nghiệp hóa ngày càng tăng, thì tỷ lệ mất đất sẽ không dừng ở mức độ trên [15]
Theo số liệu thống kê của Bộ NN&PTNT, bình quân mỗi năm có 73,3 nghìn ha đất nông nghiệp bị thu hồi, làm ảnh hưởng đến khoảng 2,5 triệu người Hai vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc là nơi bị thu hồi đất nhiều nhất Trong đó, đồng bằng sông Hồng là nơi có tỷ lệ bị thu hồi nhiều nhất với 4,4%, tiếp đến là Đông Nam bộ (2,1%) [15]
Hậu quả của giảm diện tích đất canh tác, nhất là giảm diện tích đất trồng lúa đã ảnh hưởng như thế nào đến sản xuất nông nghiệp của các con rồng, con
Trang 31hổ châu Á? Nông nghiệp các nước này chỉ còn chiếm dưới 10% GDP Hàn Quốc chỉ còn 3,2%, Đài Loan còn 4% GDP, Malaysia chỉ tự túc được 65% nhu cầu lương thực Với lợi nhuận thu được từ công nghiệp, các nước này nhập khẩu lương thực Nhật Bản hằng năm nhập 23,7 tỉ USD, Hàn Quốc nhập 4,6 tỉ USD, Malaysia nhập 1,3 tỉ USD (FAO) Các nước này đã phải sử dụng nhiều phân hóa học để thâm canh diện tích còn lại, nhưng việc sử dụng quá mức phân hóa học đã gây hậu quả xấu về môi trường [15]
Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, diện tích đất nông nghiệp tăng từ 9.363.063 ha (năm 2010) lên 26.732.000 ha (năm 2020) Tuy nhiên, dân số nước ta cũng tăng từ khoảng 87 triệu người năm 2010 lên hơn 97 triệu người năm 2020 Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người của cả nước có xu hướng tăng từ 0,108 ha (2010) lên 0,274 ha (2020) Tuy nhiên tình trạng suy giảm chất lượng đất nông nghiệp do rửa trôi, xói mòn, khô hạn và sa mạc hóa, phèn hóa, chua hóa, thoái hóa lý hóa học đất, ô nhiễm Suy thoái chất lượng đất dẫn tới việc giảm khả năng sản xuất, giảm đa dạng sinh học và nhiều hậu quả khác Những tác động tiêu cực trên ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 50% diện tích đã và đang sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là thách thức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta
1.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phục vụ sản xuất hàng hóa
1.2.2.1 Nông nghiệp ven đô thị
Trong lịch sử, nông nghiệp thường gắn với vùng nông thôn rộng lớn Nói đến nông nghiệp là nói đến nông thôn và ngược lại Các đô thị ra đời đã kéo theo sự hình thành loại hình nông nghiệp của nhân loại mới – nông nghiệp đô thị Các đô thị ở nhiều quốc gia trên thế giới đã chú ý đến nông nghiệp đô thị rất sớm và họ cũng đạt được nhiều thành công trong việc phát triển loại hình nông nghiệp mới này
Trong các thập niên 60, 70 Việt Nam cũng đã đạt được một số thành
Trang 32tựu trong phát triển nông nghiệp tại các khu vực ngoại thị Nhưng khi bước sang thập kỷ 80 và những năm đầu của thập kỷ 90, nông nghiệp ở các đô thị phát triển khá ồ ạt Tuy đã góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm thực phẩm lúc bấy giờ và tăng thu nhập cho một số người làm công ăn lương ở thành phố, nhưng do phát triển tự phát, không có quy hoạch nên đã gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, làm mất cảnh quan đô thị, thậm chí đã tạo nên tâm lý không muốn phát triển nông nghiệp đô thị
Vận dụng quan niệm về nông nghiệp đô thị của FAO (1996) vào điều kiện cụ thể của Việt Nam có thể hiểu: nông nghiệp đô thị là một ngành sản xuất ở trung tâm, ngoại ô và vùng lân cận đô thị có chức năng trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và phân phối các loại thực phẩm, lương thực và các sản phẩm khác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên và nhân văn, các sản phẩm cùng các dịch vụ ở đô thị và vùng lân cận đô thị để cung cấp trở lại cho đô thị các sản phẩm, dịch vụ cao cấp Nông nghiệp đô thị bao gồm nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thành với các hoạt động chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản [20]
Nông nghiệp ngoại thị là bộ phận quan trọng nhất của nông nghiệp đô thị Việt Nam hiện nay Chúng có lãnh thổ rộng, được quy hoạch rõ ràng, hình thành các vùng chuyên canh, các vành đai nông nghiệp nhưng lãnh thổ biến động mạnh do sự phát triển của không gian đô thị Thành phố Hải Phòng có vành đai phát triển rau, hoa, cây cảnh tập trung chủ yếu tại quận Hải An, huyện An Dương, quận Lê Chân và huyện Thủy Nguyên; vành đai phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm tập trung tại quận Hải An, huyện An Dương, huyện Thủy Nguyên và huyện Kiến Thụy; vành đai phát triển sản xuất lương thực, chăn nuôi tập trung chủ yếu chăn nuôi lớn thịt, gia cầm và bò sữa nhằm đáp ứng nhu cầu của Hải Phòng, Quảng Ninh và xuất khẩu; vành đai phát triển sản xuất lương thực, cây ăn quả tập trung tại các huyện An Dương, Thủy Nguyên và Kiến Thụy
Thành phố Hồ Chí Minh đã hình thành các vùng: cây hoa cảnh, vùng
Trang 33cây ăn quả ở rải rác và xen các vườn hoa đặc chủng (ngâu, nhài, phong lan…), vùng cây ăn quả tập trung kinh doanh đa dạng, vùng rau thực phẩm các loại và vùng chăn nuôi cung cấp thịt, sữa, thủy sản… Riêng diện tích hoa, cây cảnh khoảng 2.848 ha năm 2012
Hà Nội cũ có vùng hoa tập trung ở Tây Tựu (Từ Liêm), vùng rau an toàn Yên Mỹ; Duyên Hà (Thanh Trì); Đặng Xá, Văn Đức (Gia Lâm) … vùng nuôi bò chất lượng cao ở Sóc Sơn, Gia Lâm, vùng nuôi trồng thủy sản tập trung ở vùng trũng thuộc Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh
Khu vực giáp ranh các đô thị, sản xuất nông nghiệp cũng đang chuyển dần theo hướng nông nghiệp đô thị Theo khảo sát của một số tác giả, các lãnh thổ nông nghiệp cận kề Hà Nội cũ thuộc các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Nguyên, Bắc Giang đang có những chuyển dịch theo hướng sản xuất thực phẩm chất lượng cao, trồng hoa, cây cảnh cung cấp cho Hà Nội [21]
1.2.2.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp ven đô
Đô thị hóa là xu thế tất yếu của mọi quốc gia trên con đường phát triển Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, ở các mức độ khác nhau và với những sắc thái khác nhau, làn sóng đô thị hóa tiếp tục lan rộng như là một quá trình kinh tế, xã hội toàn thế giới – quá trình mở rộng thành phố, tập trung dân
cư, thay đổi các mối quan hệ xã hội; quá trình đẩy mạnh và đa dạng hóa những chức năng phi nông nghiệp, mở rộng giao dịch, phát triển lối sống và văn hóa đô thị Bên cạnh những mặt tích mà đô thị hóa đã mang lại thì nó cũng để lại nhiều mặt bất cập, đang phát sinh những vấn đề bức xúc liên quan đến nông nghiệp, nông thôn
Hàng chục vạn ha “đất cấu tượng”, đất “bờ xôi, ruộng mật” – bao đời nay là tư liệu sản xuất quan trọng và quý giá nhất của người nông dân, nền tảng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia – đã bị sử dụng phí phạm, tác động mạnh đến công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của hàng vạn chục hộ gia đình nông thôn với hàng triệu lao động nông nghiệp [13]
Trang 34Quy mô thành phố ngày càng lớn, dân số ngày càng đông, mật độ dân
số ngày càng cao và trình độ kinh tế – văn hóa ngày càng phát triển một mặt làm cho đất đai nông nghiệp ven đô bị thu hẹp nhiều, môi trường bị ô nhiễm trầm trọng, hiệu ứng về cuộc sống tù túng trong 4 bức tường bê tông cốt thép tăng lên [8]
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT CHUYÊN RAU MÀU PHỤC VỤ SẢN XUẤT HÀNG HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN HOÀI ĐỨC
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lí
Hoài Đức là huyện đồng bằng thuộc trung tâm thủ đô Hà Nội
+ Phía Bắc giáp huyện Đan Phượng, huyện Phúc Thọ;
+ Phía Đông giáp huyện Từ Liêm;
+ Phía Nam giáp quận Hà Đông, huyện Chương Mỹ;
+ Phía Tây giáp huyện Quốc Oai
Hoài Đức có các quốc lộ lớn chạy qua : QL 32, đường cao tốc Láng - Hoà Lạc, tỉnh lộ 423 (tỉnh lộ 72 cũ), tỉnh lộ 422 (tỉnh lộ 79 cũ), tỉnh lộ 70 Đây là những tuyến giao thông quan trọng nối liền huyện với nội thành Hà Nội và các địa phương khác trong vùng
Diện tích: Tổng diện tích tự nhiên là 8.246,77 ha Toàn huyện có 19 xã,
01 thị trấn trong đó vùng đồng gồm 09 xã và 01 thị trấn, vùng bãi sông Đáy gồm 10 xã Huyện có dạng địa hình đồng bằng, dốc từ Tây Bắc sang Đông Nam và chia thành 2 vùng là vùng bãi và vùng đồng
2.1.1.2 Khí hậu
Huyện nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa; có 2 mùa rõ rệt: Mùa hè nóng ẩm và mùa đông khô lạnh Lượng mưa trung bình từ 1.600 - 1.800 mm Mưa lớn thường tập trung vào tháng 6, 7, 8 chiếm 80 - 86% lượng mưa cả năm; cho nên bão úng thường xảy ra từ tháng 5 đến tháng 8 trong năm
2.1.1.3 Thủy văn
Là 1 phân lưu của sông Hồng, lưu vực đoạn sông chạy qua huyện có tổng chiều dài khoảng 23 km và khoảng cách từ lòng sông vào đê trung bình là
Trang 361,8 km Chế độ dòng chảy sông Đáy: Từ năm 1971 đến nay chưa có lũ phân về; vì vậy vào mùa kiệt đoạn chảy qua huyện Hoài Đức dòng chảy rất nhỏ, lưu lượng xấp sỉ bằng 0, nên nước bị ô nhiễm và không đủ để bơm tưới
2.1.1.4 Các nguồn tài nguyên
a Tài nguyên đất
Diện tích đất tự nhiên cả huyện khoảng 82,47 km2 (8.246,77ha), nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng nên đất được bồi lắng phù sa Do vậy, phân loại đất ở đây được xác định là đất phù sa không được bồi hoặc ít được bồi hàng năm, đất có phản ứng ít chua, có độ phì cao, tầng đất dày nên có thể bố trí trồng nhiều loại cây ngắn ngày, dài ngày, cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả Việc nâng cao hiệu quả của hệ thống thuỷ nông sẽ tạo khả năng tăng năng suất, thâm canh tăng vụ Đất trong vùng được phân thành 2 tiểu vùng:
- Vùng bãi ngoài đê Sông Đáy thuộc nhóm đất phù sa bồi đắp có tổng diện tích 2.076 ha chiếm 31,9% tổng diện tích đất nông nghiệp toàn huyện; được phân bố trên địa bàn thuộc các xã Minh Khai, Dương Liễu, Cát Quế, Đắc Sở, Yên Sở, Tiền Yên, Song Phương, Vân Côn, Đông La, An Thượng
Nhóm đất này được hình thành do phù sa cổ hệ thống Sông Hồng, đất mới hình thành có màu nâu đỏ, phân lớp theo thành phần cơ giới, đất tơi xốp, thành phần dinh dưỡng khá cân đối Nhìn chung đây là loại đất thích nghi với nhiều loại cây trồng khác nhau đặc biệt là cây ăn quả Tuy nhiên khi thâm canh cây trồng nhiều vụ trong năm vẫn cần phải bón thêm phân chuồng và phân vô cơ để đảm bảo cân bằng dinh dưỡng trong đất
- Vùng trong đồng gồm một phần hoặc toàn bộ diện tích 20 xã và thị trấn (trừ Vân Côn) chủ yếu được tưới bằng nước Sông Hồng nên được bổ sung phù sa hàng năm, thành phần cơ giới đất thịt trung bình
b Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: Ngoài nguồn nước mưa hàng năm thì Hoài Đức còn được sông Hồng ở phía Bắc cung cấp qua hệ thống thuỷ nông Đan Hoài, sông
Trang 37Đáy chạy dọc theo vùng bãi từ Minh Khai đến Đông La cùng với hệ thống ao
hồ với diện tích khoảng 56 ha Nhìn chung nguồn nước mặt cung cấp đáp ứng
cơ bản nhu cầu tưới cho cây vùng đồng; còn vùng bãi ven sông Đáy về mùa khô thường gặp khó khăn trong việc tưới cho cây trồng
Nguồn nước ngầm: Nằm trong vùng trầm tích châu thổ sông Hồng nên
về mặt địa chất thuỷ văn mang rõ nét tính chất của vùng châu thổ sông Hồng Nguồn nước cung cấp cho tầng chứa là nước mặt và có liên quan đến mực nước của sông Hồng
c Tài nguyên du lịch
Huyện có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng trong các ngành dệt, chế biến thực phẩm, đồ gỗ, … có điều kiện thu hút khách du lịch đến thăm quan, tìm hiểu và mua sắm Với tiềm năng cảnh quan và di tích lịch sử văn hoá, vị trí địa lý liền kề trung tâm Hà Nội và tam giác du lịch Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long, có hệ thống giao thông đường bộ phát triển nên Hoài Đức
có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành du lịch
d Tài nguyên nhân văn
Hoài Đức là vùng đất ngàn năm văn hiến, giàu bản sắc văn hóa Hiện nay, trên địa bàn huyện có 115 di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 80 di tích lịch sử đã được xếp hạng; nhiều di tích lịch sử văn hoá gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước; nhiều hoạt động lễ hội truyền thống và nhiều thể loại văn hoá dân gian (bơi Đăm, rước Giá, hội Chùa Thày)
2.1.1.5 Cảnh quan môi trường
Tình trạng ô nhiễm môi trường ở một số khu vực làng nghề chế biến nông lâm sản, thực phẩm đang ở trong tình trạng báo động Tại các xã Minh Khai, Dương Liễu, Cát Quế có nhiều khu vực bị ô nhiễm từ các làng nghề chế biến nông sản như làm bánh, bún, bột sắn, dong giềng và chế biến gỗ Nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm là do các chất thải (bã củ dong giềng, sắn, nước thải ) không được xử lý, đổ quanh khu vực dân cư, tồn đọng lâu ngày sinh ra nhiều khí độc hại, phát sinh các ổ dịch bệnh
Trang 382.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
a Tăng trưởng kinh tế
Từ khi sáp nhập vào Thủ đô Hà Nội, Hoài Đức đã không ngừng cố gắng vượt khó, vươn lên Từ chỗ lấy kinh tế nông nghiệp làm chủ đạo, hơn 5 năm qua, kinh tế huyện Hoài Đức đã có bước phát triển vượt bậc Năm 2010 giá trị sản xuất đạt 3050 tỷ đồng đến năm 2012 tổng giá trị sản xuất thực hiện đạt 3520 tỷ đồng Về giá trị tăng thêm (GDP), luôn có sự tăng trưởng khá từ 1260 tỷ đồng năm 2008 tăng lên 1643 tỷ đồng năm 2010 và 1.955
tỷ đồng vào năm 2012 Thu nhập bình quân đầu người đến nay đạt 32,1 triệu đồng/người/năm, gấp 3,2 lần năm 2010 Tỷ lệ hộ nghèo năm 2013 giảm còn 2,47%
b Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Theo giá trị sản xuất: Cơ cấu kinh tế của huyện Hoài Đức tính theo giá trị sản xuất đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực; giảm mạnh tỷ trọng của ngành nông lâm thủy sản từ 12.3% năm 2010 xuống còn 7,2% năm 2013; đồng thời tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp - xây dựng từ 52,2% năm 2010 lên 57,1% vào năm 2013; dịch vụ tăng nhẹ từ 35,6% năm 2010 lên 35,8% năm 2013
c Khu vực kinh tế nông nghiệp
+ Nông nghiệp:
Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện giai đoạn 2010 - 2012 nhìn chung tăng Năm 2010 giá trị sản xuất nông nghiệp (theo giá so sánh 1994) đạt 289 tỷ đồng, năm 2012 là 294 tỷ đồng
Trang 39Công tác khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật hàng năm được thực hiện khá tốt Cây công nghiệp chủ yếu của huyện là cây lạc, cây đỗ tương, cây mía Trong giai đoạn 2006 - 2010 tổng diện tích gieo trồng một số cây công nghiệp chủ yếu có xu hướng giảm từ 318 ha năm 2006 xuống còn 207,2 ha
*) Một số mặt hạn chế và khó khăn trong ngành trồng trọt của huyện
đó là:
- Việc thực hiện công tác dồn điền, đổi thửa gặp nhiều khó khăn do giá trị sử dụng đất tăng nhanh, nhiều người dân không muốn chuyển đổi ruộng đất, dẫn đến công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng tuy đang được chỉ đạo thực hiện nhưng vẫn còn chậm Quy mô sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ còn chưa tạo ra được những vùng sản xuất hàng hóa tập trung
- Sản xuất rau an toàn là xu hướng phát triển của nền nông nghiệp ven
đô tuy nhiên khả năng phát triển trên địa bàn của huyện còn chậm, mặc dù đã
có một số mô hình sản xuất rau an toàn được sản xuất ở Song Phương, Vân Côn, nhưng diện tích còn ít, sản phẩm chưa đa dạng, chưa tạo được uy tín trên thị trường
- Là huyện có tốc độ đô thị và công nghiệp tăng nhanh; quy hoạch sử dụng đất luôn có sự biến động do có nhiều dự án quy hoạch được đưa vào trên địa bàn
+ Chăn nuôi:
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi phát triển mạnh; tăng nhanh về số lượng, đa dạng về sản phẩm, ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong sản xuất nông nghiệp Năm 2012 giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi đạt 880 tỷ đồng
Trên địa bàn huyện đã xuất hiện nhiều hộ chăn nuôi theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp, với quy mô lớn nên đã trở thành hộ giàu từ sản xuất chăn nuôi Tuy nhiên chăn nuôi chủ yếu tập trung chủ yếu ở trong khu
Trang 40dân cư; chưa có các khu chăn nuôi tập trung riêng biệt
+ Nuôi trồng thuỷ sản:
Giá trị sản xuất thuỷ sản năm 2012 (theo giá so sánh năm 1994) đạt 1.072 triệu đồng, chiếm khoảng 0,36% tổng giá trị sản xuất của khối ngành nông ngư nghiệp, sản lượng đạt 134 tấn
d Khu vực kinh tế công nghiệp
Ngành nghề sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá
đa dạng - tập trung vào các mặt hàng nông sản thực phẩm, bánh kẹo, dệt len,
đồ gỗ tạc tượng, sản xuất kim khí… Hàng hóa của các làng nghề đã được tiêu thụ trên nhiều tỉnh, thành trong cả nước, một số mặt hàng đã được xuất khẩu sang nước ngoài… Những năm gần đây, thu nhập từ sản phẩm nông nghiệp giảm dần, và tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ không ngừng tăng lên
e Khu vực kinh tế dịch vụ
Giá trị xuất khẩu trên địa bàn năm 2012 đạt 7,9 triệu USD, tốc độ tăng trưởng thời kỳ 2006 - 2012 là 35,9% Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của huyện như hàng dệt len, thủ công mỹ nghệ, mây tre đan, bún khô, phở khô Hiện nay trên địa bàn huyện Hoài Đức có 21 chợ với tổng diện tích khoảng 6.4781 m2 Toàn huyện có trên 5.300 hộ sản xuất kinh doanh, tăng 96,8% so với năm 2010
2.1.2.2 Thực trạng phát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng
Cùng với xây dựng nông thôn mới, công tác đầu tư xây dựng cơ bản, xây dựng đô thị cũng được huyện Hoài Đức đẩy mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển của huyện Trong giai đoạn 2008 - 2013, huyện đã triển khai xây dựng nhiều công trình trường học, nhà văn hóa, đường giao thông… Riêng hai năm 2012 và 2013 có 18 trường học được thành phố công nhận đạt chuẩn quốc gia, nhiều công trình văn hóa thể thao được cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới