Khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp hoàn thiện chính sách Đầu tư công của Việt Nam giới thiệu về cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về chính sách đầu tư công; thực trạng chính sách đầu tư công của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013; giải pháp hoàn thiện chính sách đầu tư công của Việt Nam.
Trang 1i
BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ HỌC VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ PHÁT TRIỂN
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ
CÔNG CỦA VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : PGS TS Phạm Quý Thọ Sinh viên thực hiện : Đỗ Tiến Trung
Chuyên ngành : Chính sách công
HÀ NỘI – NĂM 2014
Trang 2ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là Khóa luận tốt nghiệp của riêng tôi, được hoàn thành trong
kỳ học thứ hai, năm thứ tư tại Học viện Chính sách và Phát triển Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong báo cáo có nguồn gốc rõ ràng, trung thực; kết cấu báo cáo tuân theo đúng hướng dẫn của Khoa Chính sách công, Học viện Chính sách và Phát triển
Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Đỗ Tiến Trung
Trang 3iii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Quý Thọ - Trưởng khoa Chính sách công - Học viện Chính sách và Phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư và ThS Đỗ Thu Trang – Nghiên cứu viên, Ban Tổng hợp - Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các thầy cô tại Học viện, các anh chị tại Ban Tổng hợp đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập cũng như hoàn thành khóa luận này
Ngoài ra, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình tôi – nơi làm chỗ dựa và hỗ trợ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận, và các anh chị em, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
Sinh viên
Đỗ Tiến Trung
Trang 4iv
Trang 51
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ CÔNG 8
1.1 Khái niệm cơ bản 8
1.1.1 Đầu tư 8
1.1.2 Đầu tư công 9
1.2 Vai trò và tác động của đầu tư công đối với phát triển KTXH 12
1.2.1 Vai trò của đầu tư công đối với phát triển KT – XH 12
1.2.2 Tác động của đầu tư công đối với phát triển KT – XH 14
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về Chính sách đầu tư công 22
1.3.1 Về kế hoạch đầu tư và quy hoạch phát triển 22
1.3.2 Về tổ chức quản lý đầu tư công 23
1.3.3 Bài học dành cho Việt Nam 25
TÓM TẮT NỘI DUNG 26
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ CÔNG CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 - 2013 27
2.1 Bối cảnh ra đời và nội dung chính sách đầu tư công 27
2.1.1 Giai đoạn 2006 – 2010 27
2.1.2 Giai đoạn 2011 – 2013 43
2.2 Tình hình thực thi chính sách ðầu tý công 51
2.2.1 Giai ðoạn 2006 – 2010 51
2.2.2 Giai đoạn 2011 – 2013 57
TÓM TẮT NỘI DUNG 62
CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ CÔNG CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 63
3.1 Quan điểm về hoàn thiện chính sách đầu tư công ở Việt Nam 63
3.1.1 Cần xác định rõ vai trò của Nhà nước trong quản lý đầu tư phát triển 63
3.1.2 Quán triệt quan điểm hiệu quả là mục tiêu hàng đầu trong hoàn thiện chính sách đầu tư công 63
Trang 62
3.1.3 Hoàn thiện chính sách đầu tư công theo hướng đảm bảo tương thích với
mô hình tăng trưởng mới, phục vụ tăng trưởng cao và bền vững .64
3.1.4 Gắn chặt trách nhiệm của cá nhân, tổ chức đã được giao nhiệm vụ với kết quả và hiệu quả của đầu tư công 64
3.1.5 Đảm bảo công khai – minh bạch và trách nhiệm giải trình 65
3.2 Một số giải pháp, kiến nghị hoàn thiện chính sách đầu tư công 65
TÓM TẮT NỘI DUNG 71
KẾT LUẬN 72
Danh mục tài liệu tham khảo Error! Bookmark not defined
Trang 8Hình 2.2: Tốc độ tăng vốn đầu tƣ của các thành phần
kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2005-2012 (%)
Trang 56
Trang 94
BẢNG
Bảng 1.1: Vốn đầu tƣ phát triển toàn xã hội phân theo thành
phần kinh tế giai đoạn 1995 - 2012
Trang 10tư công bằng khoảng 17 – 20% GDP, trong khi đó tại các quốc gia khác trong khu vực, con số này chỉ dưới 5% như Trung Quốc là 3,5%, Indonesia là 1,6%, … Đó là một xu thế
đi ngược lại với yêu cầu giảm đầu tư công vào nền kinh tế, tăng đầu tư phát triển từ các nguồn vốn xã hội khác
Tuy nhiên, điều đáng nói là bên cạnh những thành công và đóng góp tích cực vào quá trình phát triển đất nước của đầu tư công trong thời gian qua, đầu tư công của Việt Nam còn nhiều hạn chế, nhất là về hiệu quả đầu tư Tình trạng lãng phí, thất thoát đầu tư công xảy ra với mức độ ngày càng nặng nề Chẳng hạn như Tập đoàn Kinh tế nhà nước Vinashin bỏ 1.000 tỉ đồng để mua tàu vận tải biển tuyến Bắc - Nam, nhưng chỉ chạy mấy chuyến rồi dừng, hay đầu tư cảng biển dọc 600km ở bờ biển miền Trung quá dày đặc (cứ khoảng 30 - 40km lại có 1 cảng), nhưng các cảng biển này lại không hoạt động hết công suất…
Đầu tư công và quản lý đầu tư công kém hiệu quả không chỉ làm giảm chất lượng đầu tư xã hội mà còn gia tăng nhiều hệ quả tiêu cực và kéo dài khác, như: tăng sức ép lạm phát trong nước; mất cân đối vĩ mô, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối và tích lũy - tiêu dùng cũng như làm hạn chế sức cạnh tranh và chất lượng phát triển của nền kinh tế trong hội nhập Đặc biệt, đầu tư công kém hiệu quả làm tăng gánh nặng và tác động tiêu cực của chiếc bẫy nợ công lên đất nước Về tổng thể, mô hình tăng trưởng theo chiều rộng của Việt Nam nhờ gia tăng đầu tư công đã lên tới đỉnh
Trang 116
Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do thiếu những chính sách quản lý đầu tư công hiệu quả Hệ thống chính sách vừa thiếu lại vừa yếu khiến cho việc chấn chỉnh các hoạt động đầu tư công gặp nhiều cản trở Vì vậy, em quyết định thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “Giải pháp hoàn thiện chính sách đầu tư công ở Việt Nam” với các nội dung nghiên cứu vừa có tính thời sự, vừa có tính thiết thực, bám sát thực tiễn của các chính sách quản lý nhà nước nhằm đề xuất một số giải pháp cải thiện chất lượng chính sách đầu
tư công của Việt Nam hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: vận dụng các kiến thức, lý luận về chính sách và phân tích chính sách đã học để đánh giá thực trạng của chính sách đầu tư công ở Việt Nam trong thời gian qua Từ đó, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách đầu tư công, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động đầu tư vốn đang có chất lượng rất thấp
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Khái quát hệ thống lý luận và kinh nghiệm của một số quốc gia có đã ban hành các chính sách để quản lý đầu tư công đạt hiệu quả cao;
+ Phân tích thực trạng chính sách quản lý đầu tư công ở Việt Nam để làm rõ những tồn tại của các chính sách này;
+ Kiến nghị các quan điểm, hệ thống giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trên;
3 Đối tượng – Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài mang đến cái nhìn tổng quan về chính sách Đầu tư công của Việt Nam, vai trò và vị trí của chính sách này đối với nền kinh tế Việt Nam cũng như những hạn chế còn tồn tại
Trang 127
Đề tài đã áp dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu: áp dụng khi phân tích các báo cáo, số liệu liên quan đến các chính sách đầu tư công ở Việt Nam
- Phương pháp so sánh: áp dung trong quá trình phân tích, đối chiếu so sánh với kinh nghiệm của các quốc gia khác trong xây dựng và thực hiện các chính sách đầu tư công;
5 Kết cấu chuyên đề
Để làm rõ các nội dung nghiên cứu, chuyên đề được kết cầu thành 03 chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về chính sách đầu tư công;
Chương II: Thực trạng chính sách đầu tư công của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013; Chương III: Giải pháp hoàn thiện chính sách đầu tư công của Việt Nam
Trang 138
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH
SÁCH ĐẦU TƯ CÔNG 1.1 Khái niệm cơ bản
1.1.1 Đầu tư
Theo cách hiểu thông thường trong xã hội, “đầu tư” được hiểu là hoạt động bỏ vốn
ra bằng các tài sản hữu hình (tiền, nhà, xường ) hoặc vô hình (phát minh sáng chế, thương hiệu ) để kinh doanh nhằm đạt được lợi ích nào đó Lợi ích thu lại có giá trị lớn hơn vốn bỏ ra được coi là đầu tư có lãi
Theo kinh tế học vĩ mô, “đầu tư” được hiểu là tăng vốn (tư bản) nhằm tăng
cường năng lực sản xuất trong tương lai Đầu tư vì thế cũng được gọi là hình thức hình
thành tư bản hoặc tích lũy tư bản, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính là đầu tư, còn tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản không được tính vào phạm trù “đầu tư” Trong hai lĩnh vực này, việc các cá nhân bỏ vốn, mua bán bất động sản hay các giấy tờ có giá trên thị trường tài chính có thể giúp cá nhân thu về một lượng tài sản lớn hơn số vốn họ bỏ ra nhưng khoản chênh lệch
đó được tạo ra từ sự thay đổi giá trị của tài sản, không phải từ hoạt động sản xuất nên không thuộc phạm trù “đầu tư”
Giá trị của đầu tư (hay tổng tích lũy tài sản cố định) tính bằng giá trị tài sản cố định trên thị trường (vào thời điểm tài sản được hoàn thành và chuyển giao cho chủ sở hữu) Như vậy giá trị của đầu tư phải bao gồm tất cả các giá trị làm nên tài sản đó, từ chi phí sản xuất, chi phí giao dịch, thuế giao dịch Thực tế quá trình xác định giá trị đầu tư, đặc biệt là đầu tư công ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt với quốc tế Thống kê của Việt Nam tồn tại hai thuật ngữ “vốn đầu tư” và “tổng tích lũy tài sản” có nội hàm không giống nhau Trong khi “tổng tích lũy tài sản” được tính theo quy ước quốc tế thì “vốn đầu tư” lại tính thêm một số chi phí như chi phí đền bù đất đai, tài sản, … Những chi phí này
hỗ trợ việc chuyển đổi mục đích, đối tượng sử dụng của tài sản, không hỗ trợ hoạt động sản xuất nhưng do thuật ngữ “vốn đầu tư” của Việt Nam phản ánh lượng tiền bỏ ra để
Trang 149
tăng cường năng lực sản xuất (tiến hành đầu tư) nên chi phí này được tính vào giá trị đầu
tư Sự khác biệt giữa hai thuật ngữ này không chỉ làm quá trình xác định giá trị của đầu
tư thêm phức tạp mà còn giảm hiệu quả của đầu tư, cụ thể là làm tăng tổng giá trị của đầu
tư và chỉ số ICOR
1.1.2 Đầu tư công
1.1.2.1 Khái niệm đầu tư công trên thế giới
Tuy giữ một vị trí khá quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, cách hiểu về đầu tư công tại các quốc gia, các tổ chức kinh tế cũng như các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước còn khá nhiều điểm chưa được thống nhất
Xem xét theo mục đích đầu tư, E.Anderson và các cộng sự (2006) cho rằng “đầu
tư công là phần chi tiêu công làm gia tăng tích lũy tài sản, bao gồm xây dựng đường sá, trường học, bệnh viện, không tính đến đầu tư cho giáo dục và y tế” cho dù thực tế là chi tiêu cho những lĩnh vực này cũng là đầu tư Khái niệm đầu tư công này bám rất sát khái niệm đầu tư theo kinh tế học vĩ mô đã trình bày ở phần trước Tuy nhiên, việc không tính đầu tư cho giáo dục, y tế vào đầu tư công là bất hợp lý bởi việc sức khỏe và trình độ nguồn nhân lực được cải thiện sẽ trực tiếp làm tăng năng suất lao động, gia tăng tích lũy tài sản quốc gia Như vậy, các khoản chi của chính phủ cho y tế và giáo dục phải được coi là đầu tư công
Mặc dù vậy, quan điểm không đưa các khoản đầu tư cho giáo dục, y tế vào phạm
vi của khái niệm “đầu tư công” nhận được nhiều sự ủng hộ Thống kê ngân sách theo thông lệ quốc tế quy định các nội dung của chi đầu tư công bao gồm chi đầu tư tài sản cố định; chi đầu tư tài sản cố định mới; chi đầu tư tài sản tài chính, chi chuyển giao và chi trả nợ Những khoản chi này không đề cập đến chi cho giáo dục hay y tế Cùng quan điểm đó, năm 2011, Bộ Tài chính Đan Mạch cũng cho rằng đầu tư của nhà nước vào vốn vật chất (đường sá, văn phòng, công trình thủy lợi, …) là bộ phận chính của đầu tư công, không nhắc tới đầu tư cho giáo dục và y tế
Trang 1510
Khắc phục hạn chế của các khái niệm trên, Viện Chính sách kinh tế của Hoa Kỳ
(2011) đưa ra khái niệm đầu tư công là tất cả các khoản chi tiêu của ngân sách cho các
đối tượng khác nhau trong nền kinh tế mà những khoản chi tiêu này có tác dụng thúc đẩy chi tiêu của mọi thành phần kinh tế Theo khái niệm này, chi tiêu của nhà nước cho giáo
dục và y tế đã được tính vào chi đầu tư công (chính phủ đầu tư nâng cao chất lượng, hiệu quả dịch vụ giáo dục, y tế, người dân sẽ phải tăng chi tiêu cho các dịch vụ chất lượng cao hơn)
Xét theo góc độ sở hữu, giáo sư Robert Ducan (Đại học Missouri, Hoa Kỳ, 2011)
đã tóm tắt quan điểm của mình rằng “đầu tư công có nghĩa là sở hữu công” Nói cách khác, bất kỳ chi tiêu nào sử dụng các nguồn lực do nhà nước sở hữu đều bao hàm trong khái niệm đầu tư công và như vậy đầu tư công gần như đồng nhất với khái niệm chi tiêu công Khái niệm này không thật sự chuẩn xác bởi nhiều khoản chi của chính phủ không
vì mục đích đầu tư
Bên cạnh các tranh luận về khái niệm “đầu tư công”, một đối tượng khác cần xem xét trong quá trình nghiên cứu đầu tư công là chính phủ và vai trò của chính phủ trong hoạt động đầu tư công E.Anderson (2006) quan niệm về vấn đề này như sau:
Thứ nhất, nguyên nhân của các chính phủ chi tiêu vào tài sản công là do các dạng
thất bại của thị trường (do tư nhân cung cấp hang hóa công không hiệu quả hay do địa tô độc quyền quá lớn cho tư nhân) Điều này đã được đề cập trong các bộ môn kinh tế học
cơ bản như kinh tế công cộng Chính phủ đầu tư vào tài sản công, cung cấp hang hóa công cộng đối với những hàng hóa tư nhân không muốn hoặc cung cấp không hiệu quả
để đảm bảo lợi ích chung của người dân
Thức hai, vai trò của Chính phủ trong đầu tư công không chỉ giới hạn ở vai trò chi
tiêu ngân sách của riêng Chính phủ Quá tập trung vào chi tiêu Chính phủ sẽ là một cách tiếp cận rất hẹp khi xem xét bức tranh quy mô đầu tư công và quan trọng hơn, làm giảm vai trò tiềm năng của các chính phủ ở khía cạnh cung cấp kết cấu hạ tầng công cộng Rõ ràng nhất là trong hợp tác công tư (PPP), hầu hết chi đầu tư thực hiện bởi khu vực tư nhân Mục đích của các hoạt động đầu tư này là nhằm cung cấp hàng hóa, dịch vụ công
Trang 1611
Bên cạnh đó, vai trò của Chính phủ trong dự án PPP – về mặt giám sát, quản lý, gánh chịu rủi ro và là người mua tài sản cuối cùng (có thể là rất lâu trong tương lai nhưng đó cũng là một phần cam kết trong hợp đồng) sẽ vẫn là phổ biến
Những tranh luận còn bỏ ngỏ và chưa đi đến những quan niệm thống nhất về các vấn đề nêu trên khiến khái niệm đầu tư công của thế giới vẫn trong quá trình tiếp tục hoàn thiện
1.1.2.2 Khái niệm đầu tư công ở Việt Nam
Thuật ngữ “đầu tư công” được sử dụng ở Việt Nam từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, bên cạnh các thuật ngữ “ đầu tư của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh” và “đầu
tư trực tiếp nước ngoài” Các khái niệm “đầu tư công” và “đầu tư của Nhà nước (hay Chính phủ)” được sử dụng với ý nghĩa giống như nhau
Giống với nhiều quốc gia trên thế giới, tại Việt Nam, khái niệm đầu tư công chưa được thống nhất và còn tranh cãi khá nhiều Các nhà nghiên cứu trong nước đã đưa ra các quan điểm khác nhau về “đầu tư công” Theo Nguyễn Đăng Bình (2012), đầu tư công được hiểu là đầu tư vào hàng hóa công cộng hoặc là đầu tư của Nhà nước vào cơ sở hạn tầng kinh tế - xã hội, sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, cải thiện môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và đảo bảo an ninh quốc phòng Quan điểm này liệt kê khá cụ thể các nội dung của đầu tư công song chưa có tính khái quát cao, chưa bao hàm hết các nội hàm của đầu tư công Tuy nhiên, quan niệm trên một lần nữa được chia sẻ trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành và Đinh Tuấn Minh (2011): Đầu tư công (thuần) được hiểu như là phần chi tiêu công được thêm vào lượng vốn vật chất để tạo ra các dịch vụ xã hội, chẳng hạn xây dựng đường sá, cầu cảng, trường học, bệnh viện, vv … Nguồn vốn đầu tư công thường bao gồm ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ hoặc viện trợ phát triển của nước ngoài Tùy theo quan điểm của từng quốc gia mà đầu tư công cũng có thể bao gồm các dự án cho các mục đích kinh doanh (qua khu vục DNNN) hoặc các dự án chỉ thuần mục đích công ích
Trang 1712
Hiện nay, quan niệm về đầu tư công nhận được sự chấp nhận rộng rãi trong xã hội đang được trình bày trong Dự thảo Luật Đầu tư công do Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo1, khái niệm đầu tư công đã được nêu ra rất cụ thể tại điều 4, cụ thể là:
-Đầu tư công là hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự án xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (KTXH);
-Vốn đầu tư công bao gồm các nguồn vốn của Nhà nước: ngân sách nhà nước, công trái quốc gia, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, nguồn vốn
hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng không đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay của ngân sách địa phương để đầu tư
1.2 Vai trò và tác động của đầu tư công đối với phát triển KTXH
1.2.1 Vai trò của đầu tư công đối với phát triển KT – XH
Trong một thập kỷ gần đây, vai trò của đầu tư công đối với phát triển là một trong những chủ đề nhận được sự quan tâm lớn của Chính phủ cũng như các nhà nghiên cứu
Sự quan tâm này có thể xuất phát từ mong muốn tìm hiểu sự thành công trong đầu tư của các quốc gia Đông Á giúp họ liên tục tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao trong nhiều năm hay đơn giản là từ nhu cầu thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, đạt
và vượt chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Chính phủ đề ra Đặc biệt, từ khi khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra, vai trò của đầu tư công với tư cách là công cụ chính sách vực dậy nền kinh tế đang suy thoái, tạo việc làm và đặt nền móng cho sự tăng trưởng cao
và bền vững thời kỳ tới ngày càng được củng cố
1
Dự kiến đưa ra thảo luận tại kỳ họp quốc hội thứ 6 và thong qua tại kỳ họp thứ 7 – khóa XIII
Trang 18Kinh tế ngoài nhà nước
Khu vực
có vốn đầu
tư nước ngoài
Kinh tế nhà nước
Kinh tế ngoài nhà nước
Khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài
Tại Việt Nam, đầu tư công đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tổng đầu tư toàn
xã hội Từ năm 1995 đến nay, đầu tư công luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng đầu tư
Trang 1914
toàn xã hội với tỷ lệ 40 – 60% Trong những năm 1998 – 2001, đầu tư công luôn chiếm tỷ trọng 60% trong tổng đầu tư toàn xã hội, tăng đều 20 nghìn tỷ đồng mỗi năm Duy nhất năm 2008, do tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, con số này giảm xuống còn 33,8% nhưng vẫn cao so với các khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI
Tăng trưởng của Việt Nam cũng có đóng góp không nhỏ của đầu tư công Theo tính toán của Tổng cục Thống kê dựa trên bảng I – O năm 2005, trong giai đoạn 2000 –
2005, Việt Nam tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn (64,63%), đóng góp của lao động vào tăng trưởng là 19,25% và đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp TFP chỉ là 16,12% Theo thống kê của ADB công bố năm 2009, Việt Nam có tỷ lệ tổng tích lũy tài sản trong nước so với GDP ở mức khá cao, đạt 41,1% gần tương đương với Trung Quốc và có xu hương tăng trong khi các quốc gia khác được nghiên cứu lại có xu hướng giảm hoặc giữ nguyên Xu hướng này thể hiện sự phụ thuộc rất nhiều của tăng trưởng vào đầu tư công ở Việt Nam Trong những năm gần đây, mặc dù Chính phủ đã thắt chặt, kiểm soát hoạt động đầu tư công chặt chẽ hơn, giảm đáng kể các dự án song vai trò của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế vẫn rất rõ nét
1.2.2 Tác động của đầu tư công đối với phát triển KT – XH
Đầu tư công có thể đem lại tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với nền kinh tế Khi đầu tư công đem lại tác động tiêu cực tới phát triển kinh tế thì cần phải tái cấu trúc đầu tư công Theo lý thuyết, hoạt động đầu tư đem đến một số tác động sau đối với phát triển kinh tế
1.2.2.1 Gia tăng tổng cầu
Trong các mô hình của trường phái Keynes, đầu tư công ảnh hưởng tới quy mô thu nhập quốc gia thông qua tác động tới tổng cầu Các mô hình này giả định rằng, do tiền lương và giá tương đối cứng nhắc, các nền kinh tế thường hoạt động dưới mức toàn dụng lao động Khi đó việc gia tăng đầu tư công sẽ lập tức có tác động tích cực tới quy
mô thu nhập quốc gia kéo theo đó là các tác động dương nhỏ hơn trong một số năm tiếp
Trang 20Ngược lại, giảm đầu tư công và cụ thể là giảm đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng
sẽ thu hẹp tổng cầu và suy giảm tăng trưởng Calderson, Easterly và Serven (2003b) ước tính rằng giảm đầu tư vào hạ tầng trong những thập niên 1990 đã làm giảm tăng trưởng dài hạn khoảng 3 điểm % phần trăm một năm ở Achentina, Bolivia và Brazil, khoảng 1,5 -2 điểm phần trăm một năm ở Chile, Mexico và Peru
1.2.2.2 Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế
Như đã biết, đầu tư là một bộ phận của tổng cầu và khi tổng cầu tăng lên sẽ có tác động đến tăng trưởng kinh tế Tác động này đã được chứng minh trong một số nghiên cứu thực nghiệm Trong ngắn hạn và trung hạn, các nước có tỷ lệ đầu tư công cao hơn sẽ
có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn (các nhân tố khác không đổi) Nhận định này đã được củng cố bằng một số bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu của Barro (1991), Easterly và Rebelo (1993), Milbourne và các cộng sự (2003) và rút ra kết luận cho thấy
Trang 21mô đầu tư công; Tích lũy ban đầu về đầu tư công ban đầu và thực trạng nền kinh tế Ví
dụ, đầu tư công vào đường bộ có thể có tác động yếu hay mạnh đến tăng trưởng kinh tế
và năng suất phụ thuộc vào việc mạng lưới đường bộ ban đầu vốn đã tốt hay quá kém đang gây cản trở nghiêm trọng tới vận hành của nền kinh tế
1.2.2.3 Tác động kích thích hay chèn lấn đầu tư tư nhân
Tác động kích thích hay chèn lấn đầu tư tư nhân của đầu tư công được phân tích với giả thiết tỷ lệ tiết kiệm tư nhân có tính linh hoạt và điều chỉnh theo những thay đổi trong tỉ suất sinh lợi của đầu tư tư nhân Khi tích lũy tài sản công và tích lũy tài sản tư nhân có tính bổ sung cho nhau, đầu tư công làm tăng năng suất cận biên của tích lũy tài sản tư nhân, do đó, làm tăng tỷ suất sinh lợi của đầu tư tư nhân và kết quả là kích thích gia tăng đầu tư tư nhân của nền kinh tế, đến lượt nó gia tăng đầu tư tư nhân sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đây được coi là hiệu ứng kích thích (crowding in effect) đầu tư tư nhân
Tuy đầu tư công gần như chắc chắn có gây ra hiệu ứng kích thích đầu tư tư nhân khi quy mô đầu tư công còn ở mức thấp, hiệu ứng tích cực như vậy là không chắc chắn đối với tất cả các quy mô đầu tư công Đó là vì đầu tư công có tác động tích cực tới tỷ suất sinh lợi của đầu tư tư nhân nhưng tác động này là khá nhỏ trong khi đó các khoản thu thuế để tài trợ cho đầu tư công thường tạo ra tác động tiêu cực khá lớn lên đầu tư tư nhân Do đó, đến một giai đoạn nhất định, việc gia tăng đầu tư công sẽ tạo ra hiệu ứng chèn lấn đầu tư tư nhân, làm giảm tăng trưởng kinh tế Mô hình của Barro năm 1990 đã chỉ ra ba giai đoạn mà theo đó quy mô đầu tư công sẽ có tác động kích thích hay chèn lấn đầu tư tư nhân Cụ thể là: (i)Trong giai đoạn mà quy mô của đầu tư công tăng đến điểm
A, đầu tư công sẽ làm tăng tỷ suất sinh lợi của đầu tư tư nhân, tăng tỷ lệ tiết kiệm tư nhân
và thúc đẩy đầu tư tư nhân hơn nữa dẫn đến tăng trưởng kinh tế Đây được gọi là giai
Trang 2217
đoạn “kích thích” (ii)Sau điểm A, ảnh hưởng tiêu cực của thu thuế cao hơn (làm giảm tỷ suất sinh lợi của đầu tư tư nhân) dần lấn át ảnh hưởng tích cực của đầu tư công, vì thế, càng tăng đầu tư công thì càng giảm tỷ suất sinh lợi của đầu tư tư nhân Tuy nhiên, ở giai đoạn giữa điểm A và điểm B, gia tăng đầu tư công vẫn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế do đầu tư công vẫn có hiệu quả tương đối cao Đây được gọi là giai đoạn “chèn lấn hiệu quả” (efficient crowding-out) (iii) Đến giai đoạn sau điểm B, đầu tư công kém hiệu quả hơn và càng tăng đầu tư công càng làm giảm tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư tư nhân, do đó càng làm giảm tăng trưởng kinh tế Đây được gọi là giai đoạn “chèn lấn phi hiệu quả” Quy mô tối ưu của đầu tư công, đo bằng tỷ trọng trong GDP, là điểm B
Trang 23H nh 1 1: Quy mô đầu tư công tăng trưởng và đầu tư tư nhân
Nguồn: Barro, R (1990) “Chi tiêu của chính phủ trong mô hình nội sinh”, Tạp chí kinh tế chính trị 98 (5): S103-125
Mô hình của Barro (1990) giả định rằng đầu tư công được tài trợ thông qua thu ngân sách từ thuế Khi nguồn vốn cho đầu tư công tới từ vay nợ, tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế phức tạp hơn Khi đầu tư công dựa vào viện trợ, một số mô hình đã dự báo dạng tác động hình chữ U ngược tác động của đầu tư công đối với đầu tư
tư nhân và tăng trưởng (ví dụ nghiên cứu của Lensink và White, 2001)
Trang 2419
1.2.2.4 Thúc đẩy hội nhập và mở rộng thị trường
Trong các mô hình “địa lý kinh tế mới” (ví dụ Fujita và các cộng sự, 2001) đã chỉ
ra rằng cải thiện mạng lưới giao thông và thông tin liên lạc sẽ có tác động đến thúc đẩy hội nhập thị trường và dẫn đến tăng trưởng cao hơn Hai nguyên nhân cơ bản dẫn tới tác động này là:
Thứ nhất là, cải thiện kết cấu hạ tầng giao thông, thông tin liên lạc làm giảm chi phí vận tải cũng như các loại chi phí liên lạc khác, tạo thuận lợi cho giao lưu, trao đổi hàng hóa, lưu thông cả nguồn lực đầu vào lẫn đầu ra, làm gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp dẫn tới gia tăng thu nhập của nền kinh tế;
Thứ hai là, tập trung lao động và các nguồn lực khác vào một số các vùng/thành phố trọng điểm có năng suất lao động cao hơn sẽ tăng tốc tăng trưởng của cả quốc gia trong nhiều năm nếu không nói là nhiều thập kỷ
Một số nghiên cứu thực nghiệm của Easterly và Rebelo (1993), Milbourne và các cộng sự (2003) đã cho thấy đầu tư công vào giao thông và thông tin liên lạc có ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng kinh tế, đã ủng hộ mạnh mẽ cho những nhận định ở trên
1.2.2.5 Gia tăng tiết kiệm quốc gia
Đầu tư công cũng có khả năng thúc đẩy tăng trưởng thông qua tác động tích cực tới tiết kiệm quốc gia Trong một số trường hợp,chính phủ có thể đánh thuế tiêu dùng,một mặt khuyến khích người dân tiết kiệm và mặt khác là sử dụng nguồn thu từ thuế để tài trợ cho đầu tư công Để xảy ra hiệu ứng này, tỷ lệ tiết kiệm tư nhân phải không được giảm mạnh khi đầu tư công làm giảm tỷ suất sinh lợi của đầu tư tư nhân
Tuy nhiên, liệu Chính phủ có thể gia tăng tiết kiệm quốc gia thông qua chính sách như vậy hay không vẫn còn nhiều tranh luận Trong đó nổi bật nhất là lập luận định lý Ricardo về tính tương đương và kết quả nghiên cứu của Barro (1974) cho rằng các thế hệ hiện tại sẽ phản ứng với việc tăng (hay giảm) thuế bằng cách điều chỉnh tiết kiệm của họ giảm (hay tăng) thay vì cắt giảm tiêu dùng, do đó mà tỷ lệ tiết kiệm quốc gia không đổi
1.2.2.6 Tác động đến ổn định kinh tế vĩ mô
Trang 25Khi đầu tư công được tài trợ bằng cách vay trong nước mà không có hiện tượng tiền tệ hóa, gia tăng đầu tư công sẽ có xu hướng làm tăng lãi suất trong nước và giống như trường hợp đầu tư công được tài trợ bằng thu thuế, sẽ dẫn đến hiệu ứng chèn lấn đầu
tư tư nhân (Nhưng cũng phải nhắc lại rằng, không phải mọi quy mô đầu tư công đều tạo
ra hiệu ứng chèn lấn và thậm chí một mức độ chèn lấn nhất định có thể vẫn hiệu quả, xét
từ góc độ tối đa hóa tăng trưởng kinh tế như đã chỉ ra ở trên)
Khi đầu tư công được tài trợ trực tiếp bởi Ngân hàng trung ương (ví dụ, Ngân hàng trung ương cho Chính phủ vay trực tiếp hay thông qua việc nắm giữ các trái phiếu Chính phủ) thì việc làm này tương đương với tài trợ đầu tư công bằng tiền tệ hóa (in tiền)
mà kết quả cuối cùng sẽ là lạm phát cao và mất ổn định kinh tế vĩ mô Cũng cùng ý nghĩa tương tự nhưng là cách thức tài trợ gián tiếp của Ngân hàng trung ương cho đầu tư công khi các Ngân hàng thương mại mua trái phiếu Chính phủ và đem chiết khấu lại ở Ngân hàng trung ương để vay tiền Cách tài trợ như vậy cho đầu tư công cũng sẽ có nguy cơ dẫn tới lạm phát cao
Khi tài trợ đầu tư công bằng cách vay nước ngoài thì mức độ đầu tư công được tài trợ bằng cách vay nợ nước ngoài hay viện trợ sẽ có xu hướng làm tăng tỷ giá hối đoái thực tế và giảm sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩu (hiện tượng “căn bệnh Hà Lan”) Tác động tiêu cực tới khu vực xuất khẩu có xu hướng làm giảm tăng trưởng do khu vực xuất khẩu về cơ bản là đầu tàu tăng trưởng năng suất của nền kinh tế Vay nợ nước ngoài
Trang 2621
quá mức làm gia tăng gánh nặng nợ nước ngoài, nếu kết hợp với đầu tư công kém hiệu quả, sẽ là nguồn gốc của khủng hoảng nợ trong tương lai
1.2.2.7 Tác động của đầu tư công đến cơ cấu kinh tế
Những tác động chủ yếu của cơ cấu đầu tư công đến cơ cấu ngành kinh tế thể hiện
ở các nội dung sau:
- Thứ nhất, Nhà nước tăng/giảm số tuyệt đối hoặc tỷ trọng vốn đầu tư công trong mỗi ngành sẽ làm thay đổi năng lực sản xuất và do đó làm thay đổi sản lượng của ngành
đó dẫn đến làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế Mức tác động của thay đổi cơ cấu đầu tư công đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuỳ thuộc vào động thái tăng trưởng sản lượng và mức độ phát triển hợp lý của mỗi ngành
- Thứ hai, tốc độ tăng trưởng kinh tế của mỗi ngành không chỉ phụ thuộc vào khối lượng gia tăng vốn đầu tư, bao hàm cả vốn đầu tư công mà còn phụ thuộc vào hiệu quả
sử dụng nguồn vốn đó Nghĩa là vốn đầu tư được sử dụng phải phù hợp với các nguồn đầu vào khác như lao động, tài nguyên và công nghệ, phải cho phép phát huy được các lợi thế của ngành Tức là mức độ ảnh hưởng của cơ cấu vốn đầu tư công đến cơ cấu kinh
tế tuỳ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công trong nội bộ mỗi ngành
-Thứ ba, do đầu tư là một quá trình có độ trễ về thời gian và độ dài của thời gian trễ thường khác nhau giữa các ngành, hiệu quả tác động của cơ cấu vốn đầu tư đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế chỉ có thể diễn ra khi vốn đầu tư được phát huy hiệu quả trong sản xuất xã hội Sự tác động của cơ cấu vốn đầu tư công đối với cơ cấu tổng cung và cơ cấu tổng cầu của nền kinh tế là không cùng thời điểm
Từ hai nhận xét trên cho thấy cơ cấu vốn đầu tư nói chung, cơ cấu vốn đầu tư công nói riêng và cơ cấu kinh tế có mối quan hệ độc lập tương đối Vì vậy, khi bố trí cơ cấu vốn đầu tư công cần phải không chỉ xem xét sự tác động trực tiếp, trước mắt của cơ cấu vốn tới cơ cấu kinh tế, mà phải có cái nhìn chiến lược lâu dài, có như vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mục tiêu định hướng mới được thực hiện một cách có hiệu quả
Trang 2722
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư công sẽ có tác dụng giải quyết những mất cân đối về trình độ phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo; phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế kinh tế, chính trị, của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển (ví dụ Nhà nước tập trung đầu tư phát triển mạnh các vùng kinh tế động lực, làm bàn đạp thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển) Như vậy, chính sách đầu tư có tính chất quyết định chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia, các vùng, các địa phương nhằm đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về Chính sách đầu tư công
Đầu tư công là động lực chủ chốt cho sự tăng trưởng và phát triển của quốc gia, dựng nên cơ sở hạ tầng xã hội, hỗ trợ hoạt động của tất cả các thành phần kinh tế Là một trong những chi tiêu quan trọng nhất của Chính phủ, với mục đích tạo ra lợi ích trong tương lai, đầu tư công thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng đầu tư, chi tiêu của xã hội Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, với mức độ phát triển và thể chế khác nhau, vai trò, lĩnh vực đầu tư công cũng như chính sách đầu tư công có những đặc điểm riêng biệt
1.3.1 Về kế hoạch đầu tư và quy hoạch phát triển
1.3.1.1 Trung Quốc
Chính phủ chủ trương đầu tư theo quy hoạch Tất cả các dự án đầu tư công phải nằm trong quy hoạch đã được duyệt mới được chuẩn bị đầu tư Để thực hiện chủ trương này, Trung Quốc đã có Luật Quy hoạch điều chỉnh cùng với quy định các cơ quan trong
bộ máy hành chính nhà nước chịu trách nhiệm liên quan đến các hoạt động đầu tư công khá chặt chẽ: Ủy ban Phát triển và Cải cách nhà nước Trung Quốc là cơ quan đầu mối tổ chức thẩm định, tổng hợp, lập báo cáo thẩm định về các quy hoạch phát triển, trình Quốc
Vụ viện (Chính phủ) phê duyệt; kiểm tra, tổng hợp kết quả thực hiện các quy hoạch đã được duyệt Các Bộ, ngành, địa phương căn cứ vào các quy hoạch phát triển đã được duyệt để đề xuất, xây dựng kế hoạch đầu tư và danh mục các dự án đầu tư (bằng vốn của ngân sách nhà nước và vốn đầu tư của xã hội) Bên cạnh đó, Trung Quốc rất coi trọng khâu chủ trương đầu tư dự án Tất cả các dự án đầu tư công đều phải lập Báo cáo đề xuất
Trang 28Chính phủ chú trọng công tác quản lý hệ thống ngân sách thông qua việc lập, quản
lý và thực hiện các kế hoạch ngân sách cũng như các chương trình, dự án đầu tư công Hệ thống ngân sách được thực hiện và quản lý tập trung; trong đó, Bộ Chiến lược và Tài chính giữ vai trò chủ đạo trong việc lập kế hoạch ngân sách cũng như chuẩn bị và thực hiện các chương trình, dự án đầu tư công Thông thường, các quyết định liên quan tới ngân sách sẽ được đưa ra sau khi có thỏa thuận giữa cơ quan có thẩm quyền và cơ quan
Bộ có nhu cầu sử dụng vốn Chính phủ ban hành Khung chỉ tiêu trung hạn cùng với chính sách ngân sách từ trên xuống Việc phân bổ năm ngân sách bắt đầu bằng việc thảo luận
về kế hoạch ngân sách đầu tư cho 5 năm
1.3.2 Về tổ chức quản lý đầu tư công
1.3.2.1 Trung Quốc và Nhật Bản
Không chỉ siết chặt hoạt động đầu tư công từ khâu lập dự án, công tác quản lý đầu
tư công cũng được quy định khá rõ ràng Quản lý đầu tư công được phân quyền theo 04 cấp ngân sách: cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp thành phố và cấp huyện, trấn Đây là cách phân cấp quản lý khá cơ bản Tại Nhật Bản, các cơ quan quản lý và điều hành đầu tư công ngoài Chính phủ và các tập đoàn công cộng, cơ quan chính quyền quận, thành phố còn có sự tham gia của các tổ chức hợp tác đầu tư giữa nhà nước và tư nhân Cấp có thẩm quyền của từng Đối với các dự án đầu tư sử dụng vốn hỗ trợ từ ngân sách cấp trên phải lấy ý kiến thẩm định của các cơ quan liên quan của ngân sách cấp trên trước khi phê duyệt chủ trương đầu tư dự án Việc thẩm định các dự án đầu tư ở tất cả các bước (chủ trương đầu tư, báo cáo khả thi, thiết kế kỹ thuật và tổng khái toán, thiết kế thi công và tổng dự toán, đấu thầu…) đều thông qua Hội đồng thẩm định của từng cấp và lấy ý kiến thẩm định của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cùng cấp và cấp trên nếu có sử dụng vốn hỗ trợ của ngân sách cấp trên
Trang 2924
Hội đồng thẩm định của từng cấp do cơ quan được giao kế hoạch vốn đầu tư thành lập (Cơ quan quản lý chuyên ngành) Thành viên Hội đồng thẩm định bao gồm các chuyên gia có chuyên môn sâu thuộc lĩnh vực dự án yêu cầu, được lựa chọn theo hình thức rút thăm từ danh sách các chuyên gia được lập, quản lý ở từng cấp theo từng phân ngành Các chuyên gia này được xác định là có trình độ chuyên môn thích hợp, đáp ứng yêu cầu thẩm định của từng dự án cụ thể
Trung Quốc có phân loại dự án quan trọng quốc gia trên cơ sở các tiêu chí về quy
mô tổng mức đầu tư, quy mô tác động kinh tế - xã hội, môi trường của dự án và quy mô
sử dụng các nguồn tài nguyên, khoáng sản của quốc gia Ví dụ, Quốc vụ viện Trung Quốc phê duyệt các dự án đầu tư có sử dụng vốn ngân sách nhà nước và có tổng mức đầu
tư từ 5 tỷ nhân dân tệ trở lên (tương đương khoảng 10.000 tỷ đồng)
1.3.2.2 Hàn Quốc
Để hoạt động quản lý đầu tư công có được hiệu quả, Hàn Quốc đã xây dựng Khung quản lý đầu tư công từ năm 1999 với điểm nhấn là “Kế hoạch toàn diện để tăng cường hiệu quả đầu tư công” do liên bộ: “Chiến lược và Tài chính” và “Đất đai, Giao thông và Hàng hải” của Hàn Quốc xây dựng vào tháng 7 năm 1999 Kế hoạch này đã vấp phải sự phản đối của các bộ chủ quản các dự án bởi Kế hoạch đưa ra việc đánh giá nghiên cứu tiền khả thi (PFS), trong đó Bộ Chiến lược và Tài chính sẽ tiếp quản các nghiên cứu khả thi của các dự án được đề xuất bởi các bộ chủ quản; cùng với đó, Bộ Đất đai, Giao thông và Hàng hải sẽ thực hiện đánh giá tính khả thi trước và sau dự án (thiết kế, kỹ thuật, tài chính) bằng việc cắt giảm chi phí thông qua những nghiên cứu nhằm tích hợp các chức năng thành phần của công trình/dự án Việc đánh giá PFS đã làm tỷ lệ dự án được duyệt chỉ còn 60% so với đề xuất của các bộ chủ quản, Bộ Chiến lược và Tài chính
sẽ cắt giảm hoặc tăng ngân sách cho dự án trên cơ sở đánh giá PFS Điều này giúp Chính phủ Hàn Quốc tránh được việc khởi công, thực hiện các dự án chưa thực sự cấp bách hoặc không cần thiết
Bên cạnh đó, Bộ Chiến lược và Tài chính còn xây dựng một hệ thống quản lý tổng thể chi phí dự án (TPCM) nhằm theo dõi chi đầu tư công để nắm được chi phí phát sinh
Trang 3025
trong suốt chu kỳ dự án từ lập kế hoạch đến hoàn thành xây dựng Hệ thống này được xây dựng theo nguyên tắc “không được phép tăng quy mô xây dựng thông qua việc sửa đổi thiết kế ngoại trừ các trường hợp không thể tránh khỏi; bộ chủ quản phải tham khảo ý kiến của Bộ Chiến lược và Tài chính về việc điều chỉnh chi phí dự án” Việc làm này đã giúp thay đổi đáng kể số lượng đề nghị điều chỉnh chi phí dự án của các cơ quan chủ quản (kiến nghị tăng tổng thể chi phí dự án chiếm tỷ lệ từ 26,4% giai đoạn 1996 - 1999
đã giảm xuống còn 4,4% giai đoạn 2000 - 2003)
1.3.3 Bài học dành cho Việt Nam
Trong số những kinh nghiệm của Trung Quốc hay Hàn Quốc kể trên, một số kinh nghiệm về phân cấp quản lý đầu tư công hay xây dựng dự án theo quy hoạch đã được áp dụng tại Việt Nam Tuy nhiên, hiệu quả của những phương pháp này chưa cao do cơ chế quản lý còn lỏng lẻo, nhiều kẽ hở và cả sự thiếu đồng bộ, liên kết giữa các địa phương, các cơ quan trong công tác quản lý dự án Một số bài học mà theo em, Việt Nam có thể rút ra từ những kinh nghiệm nêu trên:
- Cần có Luật Quy hoạch: Luật được ban hành không chỉ quy định nhiệm vụ, trách nhiệm của cơ quan soạn thảo, xây dựng quy hoạch mà còn quy định, điều chỉnh quá trình thực hiện, quản lý và đánh giá hiệu quả của các dự án nằm trong quy hoạch Ngoài ra cần xây dựng cơ chế để các tổ chức tư nhân có thêm tham gia vào công tác quản lý các dự án thuộc quy hoạch
- Thành viên hội đồng thẩm định dự án phải được kiểm tra nghiêm túc, chặt chẽ để đảm bảo họ là những chuyên gia có chuyên môn, kinh nghiệm thực sự, đủ trình độ để đánh giá, thẩm định dự án
- Thí điểm mô hình đánh giá nghiên cứu tiền khả thi của dự án để giảm số lượng dự
án cũng như chi phí đầu tư của nhà nước
Trang 3126
TÓM TẮT CHƯƠNG I
Chương I đã trình bày một số nội dung cơ bản về cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về chính sách đầu tư công Các khái niệm, lý thuyết được đưa ra góp phần làm rõ các khái niệm “đầu tư”, “đầu tư công” và vai trò cũng như tác động của đầu tư công tới
sự phát triển kinh kế xã hội Cụ thể:
1 “Đầu tư” được hiểu là tăng vốn (tư bản) nhằm tăng cường năng lực sản xuất trong tương lai Chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính là đầu tư, còn tăng tư bản trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản không được tính vào phạm trù “đầu tư”
2 Đầu tư công là hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (KTXH).Vốn đầu tư công bao gồm các nguồn vốn của Nhà nước: ngân sách nhà nước, công trái quốc gia, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng không đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay của ngân sách địa phương để đầu tư
3 Đầu tư công tác động đến nền kinh tế: tăng tổng cầu; ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế; kích thích hoặc chèn lấn đầu tư tư nhân; thúc đẩy hội nhập và mở rộng thị
trường; gia tăng tiết kiệm quốc gia và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô
4 Một số kinh nghiệm và bài học từ Trung Quốc và Hàn Quốc về công tác lập kế hoạch, quy hoạch; tổ chức thực hiện, quản lý các dự án đầu tư công
Trang 3227
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ CÔNG CỦA VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2006 - 2013 2.1 Bối cảnh ra đời và nội dung chắnh sách đầu tư công
2.1.1 Giai đoạn 2006 Ờ 2010
2.1.1.1 Bối cảnh ra đời
Sau gần 30 năm Đổi mới, mở cửa và hội nhập toàn diện vào nền kinh tế toàn cầu, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Trong quá trình này, việc huy động và sử dụng vốn đầu tư công để xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật cho đất nước đóng vai trò to lớn Quy mô đầu tư công của nước ta rất lớn và liên tục tăng trong giai đoạn 2006 Ờ 2010 Cụ thể, trong giai đoạn 2006 Ờ 2010, đầu tư công đạt trên 739 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 24% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Quy mô đầu tư công rất lớn như trên đã tạo ra sự thay đổi rõ rệt về diện mạo hạ tầng kỹ thuật và xã hội của đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ đầu tư công kém hiệu quả, lãng phắ, thất thoát, thậm chắ gây bất ổn kinh tế vĩ mô và gây bức xúc trong dư luận xã hội Các vấn đề nổi cộm trong quản lý đầu tư công giai đoạn đó là:
- Đối với các Chương trình hỗ trợ có mục tiêu và Chương trình mục tiêu quốc gia, mặc dù việc thực hiện đã đem lại những thành công nhất định về mặt ý nghĩa kinh tế-xã hội nhýng điểm hạn chế lớn nhất hiện nay là cõ chế quản lý còn lỏng lẻo do phần vốn nhà nýớc cho các chýõng trình này đang đýợc cân đối ngoài ngân sách dài hạn, các quy định chi tiêu phức tạp nhýng thiếu đồng bộ, cụ thể và minh bạch trong khi không nhất thiết phải tuân thủ các quy tắc và tiêu chuẩn chi tiêu theo Luật ngân sách nhà nýớc Hệ thống quy định nhý vậy khiến cho các quyết định của cõ quan quản lý đầu tý công liên quan đến các chýõng trình mục tiêu có thể trở nên khó tiên đoán, khó phân định đúng sai và có thể mang nặng tắnh chủ quan
- Đối với nguồn vốn trái phiếu chắnh phủ, điểm hạn chế lớn nhất hiện nay là cõ chế phân bổ chýa đýợc thể chế hóa một cách hợp lý Trên bình diện quốc gia, cả nýớc thiếu
Trang 3328
một kế hoạch đầu tý công có tầm nhìn dài hạn, trong khi đó, ở cấp ngành và địa phýõng,
cõ chế quản lý cho phép các cấp này có quyền tự quyết định tổng mức đầu tý trýớc rồi báo cáo lên Chắnh phủ để Chắnh phủ lo nguồn vốn Kết quả tất yếu là không thể kiểm soát đýợc tổng mức đầu tý công và nhý Báo cáo của Bộ Kế hoạch đầu tý nãm 2010 đã chỉ
ra, thực tế vốn huy động từ trái phiếu Chắnh phủ trong giai đoạn 2003-2010 đã tãng gấp đôi so với kế hoạch ban đầu (lên tới 558.654 tỷ đồng so với 246.447 tỷ đồng kế hoạch)
- Kết quả thực hiện phân cấp mạnh về quản lý đầu tý công cho các ngành, địa phýõng nhýng lại không đi kèm với tãng cýờng hệ thống quy định về giám sát, đánh giá quản lý đầu tý công có hiệu quả, hiệu lực và cũng không có một cõ quan có đủ thẩm quyền chịu trách nhiệm rõ ràng về giám sát, đánh giá toàn diện hiệu quả đầu tý công trên bình diện quốc gia, nên dýờng nhý những mặt trái, mặt tiêu cực của phân cấp đã và đang lấn át những mặt tắch cực Hiệu quả đầu tý công thấp do tình trạng đầu tý dàn trải, chồng chéo, công trình thi công chậm, thiếu đồng bộ, sản phẩm dở dang nhiều ở các ngành, địa phýõng không những không giảm mà còn có xu hýớng gia tãng Chắnh vì vậy, nghịch lý đang tồn tại là nền kinh tế nýớc ta có quy mô GDP chỉ hõn 100 tỷ đô la nhýng theo quy hoạch đang có đến 266 cảng biển các loại, 22 sân bay, 15 khu kinh tế, 28 khu kinh tế cửa khẩu, 260 khu công nghiệp và 650 cụm công nghiệp với công suất hoạt động rất thấp
- Một trong những nguyên nhân của tình trạng quản lý đầu tƣ công trở nên lỏng lẻo, thiếu hiệu quả trong thời gian qua là do thiếu những khuôn khổ pháp lỹ rõ ràng, đầy
đủ điều chỉnh hoạt động đầu tƣ công Số lƣợng văn bản pháp quy điều chỉnh đầu tƣ công nhiều nhƣng còn phân tán và chắp vá Những văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động đầu
tƣ công giai đoạn này đa phần chỉ đề cập đến một hoặc một vài yếu tố của hoạt động đầu
tƣ công, chƣa bao quát hết đƣợc phạm vi và nội dung của hoạt động này Có thể kể đến một số văn bản pháp quy nhƣ Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009, số 83/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 về quản lý dự án đầu tý xây dựng công trình; Quyết định số 135/2009/QĐ-TTg ngày 04/11/2009 của Thủ týớng Chắnh phủ về ban hành Quy chế quản lý, điều hành thực hiện các Chýõng triÌnh mục tiêu quốc gia, Ầ
Trang 3429
- Hoạt động đầu tý công ở khắa cạnh này hay khắa cạnh khác cũng lại chịu sự điều chỉnh của nhiều luật khác nhau nhý Luật Ngân sách nhà nýớc, Luật Đầu tý, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nýớc, v.vẦNhững luật đó do có tắnh chất và phạm vi điều chỉnh khác biệt rất lớn đối với tắnh chất và phạm
vi điều chỉnh của một luật quản lý đầu tý công nên rõ ràng là những luật này không thể chứa đựng đầy đủ các nội dung cần thiết để điều chỉnh toàn diện hoạt động đầu tý công,
vắ dụ: Luật Xây dựng nãm 2003 đýợc ban hành để quản lý hoạt động xây dựng đối với các dự án đầu tý có các công trình xây dựng Vì thế, Luật Xây dựng không (và không thể) bao gồm các nội dung quan trọng về quản lý đầu tý công nhý: Chiến lýợc, quy hoạch và
kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội gắn với kế hoạch đầu tý công; phân bổ nguồn lực đầu
tý công; tổ chức quản lý quá trình đầu tý công
Về hoạt động chi phân bổ vốn đầu tư từ ngân sách quốc gia, Chắnh phủ ban
hành Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg ngày 12 tháng 9 năm 2006 để điều chỉnh Quyết định này xác lập các nguyên tắc, tiêu chắ và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2007 Ờ 2010 Đây là cơ sở để xây dựng dự toán chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chắnh phủ, các cơ quan khác ở trung ương; dự toán chi đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Theo đó, nguồn vốn đầu tư phát triển của nhà nước được dành cho ba đối tượng là các công trình, dự án được Thủ tướng Chắnh phủ giao cho các Bộ, ngành phân bổ vốn; các dự án đầu tư phát triển nằm trong cân đối ngân sách của địa phương và các dự án được phân bổ vốn bổ sung có mục tiêu Mỗi đối tượng trên có các nguyên tắc phân bổ vốn khác nhau:
Trang 3530
(1) Đối với các công trình, dự án được chính phủ giao cho các Bộ, ngành phân
bổ vốn, hoạt động phân bổ phải thực hiện theo các nguyên tắc:
- Thực hiện đúng theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước Vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước chỉ bố trí cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng hoàn vốn trực tiếp;
- Các công trình dự án phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của ngành đề ra;
- Các công trình, dự án được bố trí vốn phải nằm trong quy hoạch đã được phê duyệt; có đủ các thủ tục đầu tư theo các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng;
- Bố trí vốn tập trung, bảo đảm hiệu quả đầu tư Ưu tiên bố trí cho các dự án quan trọng quốc gia và các dự án lớn khác, các công trình, dự án hoàn thành trong kỳ kế hoạch, vốn đối ứng cho các dự án ODA; đảm bảo thời gian từ khi khởi công đến khi hoàn thành các dự án nhóm B không quá 4 năm, dự án nhóm C không quá 2 năm; không bố trí vốn cho các dự án khi chưa xác định được rõ nguồn vốn;
- Phải dành đủ vốn để thanh toán các khoản nợ và ứng trước năm kế hoạch;
- Bảo đảm tính công khai, minh bạch, công bằng trong phân bổ vốn đầu tư phát triển
(2) Đối với các dự án đầu tư phát triển nằm trong cân đối ngân sách của địa phương, các nguyên tắc phải tuân thủ bao gồm:
- Thực hiện theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước, cân đối ngân sách nhà nước các tiêu chí và định mức chi đầu tư phát triển được xây dựng cho năm 2007, là
cơ sở để xác định tỷ lệ điều tiết và số bổ sung cân đối của ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương, được ổn định trong 4 năm của giai đoạn 2007 - 2010;
- Bảo đảm tương quan hợp lý giữa việc phục vụ các mục tiêu phát triển các trung tâm chính trị, kinh tế của cả nước, các vùng kinh tế trọng điểm, với việc ưu tiên hỗ trợ các vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc và các vùng khó khăn khác
để góp phần thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, thu nhập và mức sống của dân cư giữa các vùng miền trong cả nước;
Trang 3631
- Bảo đảm sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư của ngân sách nhà nước, tạo điều kiện
để thu hút các nguồn vốn khác, bảo đảm mục tiêu huy động cao nhất các nguồn vốn cho đầu tư phát triển;
- Bảo đảm tính công khai, minh bạch, công bằng trong việc phân bổ vốn đầu tư phát triển;
- Mức vốn đầu tư phát triển trong cân đối của từng địa phương không thấp hơn số
dự toán năm 2006 Thủ tướng Chính phủ đã giao
(3) Đối với các dự án được phân bổ vốn bổ sung có mục tiêu, các dự án này thuộc nhiều chương trình khác nhau như các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình phát triển kinh tế vùng, … Tùy theo nội dung chương trình sẽ có các
nguyên tắc riêng, ví dụ đối với dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, nguyên tắc cân đối vốn:
- Dự án được phê duyệt, đang thực hiện, theo quy định hiện hành;
- Theo quy hoạch diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng đã được phê duyệt;
- Theo quy hoạch diện tích đất trống để trồng rừng đã được phê duyệt;
- Theo quy hoạch diện tích rừng được quy hoạch cần khoanh nuôi bảo vệ đã được phê duyệt;
- Ưu tiên các tỉnh vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và duyên hải miền Trung do khu vực này các địa phương có nhiều diện tích đất trống đồi núi trọc phải trồng rừng, hoặc cần nhiều rừng bảo vệ
Nguồn vốn đầu tư phát triển phân bổ cho các dự án không chỉ tuân theo các nguyên tắc mà còn phải phù hợp với các tiêu chí đặt ra Mỗi đối tượng trên có các tiêu chí phân bổ khác nhau tùy thuộc vào loại hình dự án Các tiêu chí này sẽ được đánh giá trên những thang điểm cụ thể, từ đó làm căn cứ để phân bổ vốn Ví dụ, tiêu chí phân bổ vốn đầu tư trong cân đối cho các địa phương gồm có:
- Tiêu chí dân số gồm 2 tiêu chí: số dân của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và số người dân tộc thiểu số;
Trang 3732
- Tiêu chắ về trình độ phát triển gồm 3 tiêu chắ: tỷ lệ hộ nghèo, thu nội địa (không bao gồm khoản thu về đất) và tỷ lệ điều tiết về ngân sách trung ương;
- Tiêu chắ diện tắch tự nhiên của các tỉnh, thành phố;
- Tiêu chắ về đơn vị hành chắnh: bao gồm 4 tiêu chắ số đơn vị hành chắnh cấp huyện; số huyện miền núi; vùng cao, hải đảo và biên giới của từng tỉnh, thành phố;
- Các tiêu chắ bổ sung, bao gồm:
+ Tiêu chắ thành phố đặc biệt: Hà Nội và thành phố Hồ Chắ Minh;
+ Tiêu chắ các thành phố trực thuộc Trung ương: Hải phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ;
+ Tiêu chắ thành phố loại I thuộc tỉnh: thành phố Huế (Thừa Thiên Huế);
+ Tiêu chắ các tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm, các trung tâm phát triển của vùng và tiểu vùng
Về quản lý sử dụng nguồn vốn ODA, nội dung quản lý hoạt động sử dụng nguồn
vốn ODA cũng nhý các dự án đầu tý của Nhà nýớc sử dụng nguồn vốn này đýợc quy định tại điều 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45 của Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chắnh phủ về Quy chế quản lý sử dụng nguồn vốn ODA Trýớc đó, tại các điều 2 và 3 của cùng nghị định, các nguyên tắc cõ bản trong quản lý và sử dụng ODA cũng nhý các lĩnh vực ýu tiên sử dụng ODA đã đýợc quy định Cụ thể:
ODA đýợc ýu tiên sử dụng cho các chýõng trình, dự án thuộc các lĩnh vực sau: Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm nông nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp, thủy sản) kết hợp xoá đói, giảm nghèo; xây dựng hạ tầng kinh tế đồng bộ theo hướng hiện đại; xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục đào tạo, dân số và phát triển và một số lĩnh vực khác); bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên; tăng cường năng lực thể chế và phát triển nguồn nhân lực; chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và triển khai và một số lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng Chắnh phủ Quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA phải tuân thủ theo 5 nguyên tắc, bao gồm:
Trang 38- Thu hút ODA đi đôi với việc nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo đảm khả năng trả
nợ nước ngoài, phù hợp với năng lực tiếp nhận và sử dụng ODA của các Bộ, ngành, địa phương và các đơn vị thực hiện
- Bảo đảm tính đồng bộ và nhất quán của các quy định về quản lý và sử dụng ODA; bảo đảm sự tham gia rộng rãi của các bên có liên quan; hài hoà quy trình thủ tục giữa Chính phủ và nhà tài trợ
- Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế về ODA mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Trong trường hợp điều ước quốc tế
về ODA mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với các quy định của pháp luật Việt Nam thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế đó Nội dung quản lý hoạt động sử dụng vốn ODA gồm các nội dung: quyết ðịnh chiến lýợc, chính sách, quy hoạch, ðịnh hýớng thu hút và sử dụng ODA cho từng thời kỳ; ủy quyền cho Thủ týớng Chính phủ phê duyệt Danh mục yêu cầu tài trợ ODA và những sửa ðổi, bổ sung (nếu có) của Danh mục; Ban hành các vãn bản quy phạm pháp luật về quản lý
và sử dụng ODA theo thẩm quyền và Ðiều hành vĩ mô công tác quản lý và sử dụng ODA được quy định ở điều 38 của nghị định Các cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện việc quản lý, sử dụng vốn ODA cho các dự án được quy định gồm có Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Bộ Tài chính, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Văn phòng Chính phủ và một số Bộ, ngành liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh Các cơ quan này có nhiệm vụ riêng trong công tác quản lý Riêng hai Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Bộ Tài chính đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ nhất đối với hoạt động này Ví dụ, điều 39 của nghị định quy định như sau về nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư:
Trang 3934
- Là cõ quan đầu mối trong việc thu hút, điều phối, quản lý ODA; chủ trì soạn thảo chiến lýợc, chắnh sách, quy hoạch thu hút và sử dụng ODA; hýớng dẫn cõ quan chủ quản xây dựng danh mục chýõng trình, dự án yêu cầu tài trợ ODA của từng cõ quan để tổng hợp thành Danh mục yêu cầu tài trợ ODA trình Thủ týớng Chắnh phủ phê duyệt;
- Chủ trì soạn thảo, trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các vãn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng ODA;
- Chủ trì việc chuẩn bị nội dung, tổ chức vận động và điều phối các nguồn ODA theo thẩm quyền;
- Chủ trì, phối hợp với cõ quan có liên quan trình Chắnh phủ về việc ký kết, tiến hành đàm phán, ký điều ýớc quốc tế khung về ODA; trình Chắnh phủ về việc ký kết điều ýớc quốc tế cụ thể về ODA cho chýõng trình, dự án quy định tại khoản 2 Điều 21 Quy chế này;
- Hýớng dẫn các đõn vị, tổ chức liên quan chuẩn bị chýõng trình, dự án; chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chắnh xác định cõ chế tài chắnh trong nýớc sử dụng vốn ODA;
- Hỗ trợ các cõ quan liên quan chuẩn bị nội dung và theo dõi quá trình đàm phán điều ýớc quốc tế cụ thể về ODA với nhà tài trợ;
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chắnh tổng hợp và lập kế hoạch giải ngân vốn ODA,
bố trắ đầy đủ và kịp thời vốn chuẩn bị chýõng trình, dự án, vốn đối ứng chuẩn bị thực hiện và thực hiện đối với các chýõng trình, dự án thuộc diện cấp phát từ ngân sách nhà nýớc trong kế hoạch vốn hàng nãm
Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chắnh xử lý các nhu cầu đột xuất về vốn đối ứng và nhu cầu vốn ứng trýớc cho chýõng trình, dự án theo quy định tại khoản 5, Điều 26 và Điều 27 Quy chế này
Trang 40có hiệu quả hệ thống này
- Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA; báo cáo tổng hợp theo định
kỳ (6 tháng, một nãm), đột xuất và theo yêu cầu đặc biệt của Đảng và Nhà nýớc về tình hình quản lý, thực hiện các chýõng trình, dự án và hiệu quả thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA
- Làm đầu mối xử lý các vấn đề liên quan đến nhiều Bộ, ngành; kiến nghị Thủ týớng Chắnh phủ quyết định biện pháp xử lý các vấn đề về ODA thuộc thẩm quyền của Thủ týớng Chắnh phủ
- Biên soạn và phổ biến các tài liệu hýớng dẫn nghiệp vụ về vận động, chuẩn bị, thẩm định, quản lý thực hiện, theo dõi, đánh giá chýõng trình, dự án có tắnh đến yêu cầu hài hoà thủ tục với các nhà tài trợ; hỗ trợ công tác đào tạo quản lý chýõng trình, dự án theo hýớng chuyên nghiệp và bền vững
- Chủ trì tổ chức thực hiện các biện pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
và sử dụng nguồn vốn ODA
Không chỉ tiếp cận, điều chỉnh đầu tý công dýới góc độ nguồn vốn đầu tý, Chắnh phủ tiến hành điều chỉnh trực tiếp nhiều đối týợng nhận vốn đầu tý công, trong đó nổi bật nhất là các dự án, công trình xây dựng và các chýõng trình mục tiêu quốc gia Để quản lý việc thực hiện các chýõng trình mục tiêu quốc gia, Chắnh phủ đã ban hành Quyết định số 135/2009/QĐ-TTg ban hành ngày 4 tháng 11 nãm 2009 Đối với các dự án, công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nýớc, hiện tại có rất nhiều vãn bản điều chỉnh đối týợng này thuộc nhiều Bộ, cõ quan khác nhau Nhiều vãn bản không quy định rõ thời gian hết hiệu lực nên việc xác định vãn bản quy phạm pháp luật chắnh điều chỉnh đối týợng này khá phức tạp Trong giai đoạn 2006 - 2010, em trình bày về Nghị định số