Mục tiêu của nghiên cứu Đề tài tập trung làm rõ cơ sở lý luận về kế hoạch hóa của các doanh nghiệp trong ngành Dệt May và sự cần thiết phải đổi mới công tác lập KH sản xuất kinh doanh t
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Giải pháp hoàn thiện công tác lập
kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu”
là nghiên cứu của tôi Những phần tham khảo trong khóa luận đã đƣợc nêu rõ trong danh mục tài liệu tham khảo Các số liệu, kết quả trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung thực, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và chịu mọi kỷ luật của
Khoa và Học viện
Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Trần Văn Thản
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG, HÌNH vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lí do lựa chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ HOẠCH, LẬP KẾ HOẠCH TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH 4
1.1 Kế hoạch hóa sản xuất kinh doanh 4
1.1.1 Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp 4
1.1.2 Kế hoạch sản xuất kinh doanh trong hoạt động của doanh nghiệp 9
1.2 Nội dung của công tác kế hoạch hóa sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 11
1.2.1 Nội dung của kế hoạch sản xuất kinh doanh 11
1.2.2 Phương pháp kế hoạch sản xuất kinh doanh 15
1.2.3 Quy trình kế hoạch hóa sản xuất kinh doanh 20
1.2.4 Tổ chức công tác kế hoạch hóa trong doanh nghiệp 22
1.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động lập kế hoạch 23
1.3.1 Quan điểm của các nhà lập kế hoạch 23
1.3.2 Các cấp quản lý trong doanh nghiệp 23
1.3.3 Chu kì kinh doanh của doanh nghiệp 24
1.3.4 Hệ thống các mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp 26
1.3.5 Sự hạn chế của các nguồn lực 26
1.3.6 Hệ thống thông tin trong doanh nghiệp 27
1.3.7 Hệ thống kiểm tra đảm bảo cho quá trình lập kế hoạch đạt hiệu quả cao 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỜI TRANG QUỐC TẾ TAKE Á CHÂU 28
2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu 28
Trang 32.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần thời trang quốc
tế Take Á Châu 28 2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty 29 2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty 29 2.1.4 Công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty cổ phần thời trang quốc tế
Take Á Châu 33 2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á
Châu những năm gần đây 35 2.3 Thực trạng công tác kế hoạch hóa sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu 36 2.3.1 Hệ thống kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu 36 2.3.2 Nội dung bản kế hoạch hàng năm của Công ty cổ phần thời trang quốc
tế Take Á Châu 40 2.3.3 Quy trình kế hoạch hóa sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu 42 2.3.4 Tổ chức bộ máy kế hoạch của Công ty cổ phần thời trang quốc tế
Take Á Châu 44 2.4 Đánh giá chung về công tác kế hoạch hóa sản xuất kinh doanh của Công ty cổ
phần thời trang quốc tế Take Á Châu 45 2.4.1 Những kết quả đạt được của Công ty 45 2.4.2 Những hạn chế còn tồn tại của Công ty 45 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỜI TRANG QUỐC TẾ TAKE Á CHÂU 48 3.1 Căn cứ để hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu 48 3.1.1 Định hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới 48 3.1.2 Phương hướng hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
của Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu 49 3.1.3 Những nội dung của công tác kế hoạch sản xuất kinh doanh cần được
hoàn thiện 52
Trang 43.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công
ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu 52
3.2.1 Về nội dung và phương pháp của kế hoạch 52
3.2.2 Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác lập kế hoạch 54
3.2.3 Hoàn thiện công tác phân tích và đánh giá thực trạng lập kế hoạch 54
3.2.4 Hoàn thiện quy trình kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty 55
3.2.5 Đẩy mạnh nghiên cứu thị trường 58
3.2.6 Tăng cường hoạt động thu thập và xử lý thông tin 59
3.2.7 Tăng cường sự phối hợp giữa các Phòng, Ban trong Công ty 60
3.2.8 Đánh giá kết quả việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh và rút ra bài học kinh nghiệm 61
3.3 Một số kiến nghị với Công ty 62
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
FOB (Free on board) Giao lên tàu
TTTM và GTSP Trung tâm thương mại và giới thiệu sản phẩm
Trang 6DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh 2011-2013 35
Hình 1.1: Quy trình kế hoạch hóa sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 20
Hình 1.2: Các cấp quản lý trong một doanh nghiệp 24
Hình 1.3: Chu kì kinh doanh của doanh nghiệp 25
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy tổng quát của Công ty 30
Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của Công ty 33
Hình 2.3: Các bước lập kế hoạch 42
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Công tác kế hoạch hóa là một vấn đề cực kì quan trọng trong việc xây dựng
và phát triển kinh tế xã hội Nó được xem là nền tảng cho sự phát triển của một quốc gia, là sự chuẩn bị tốt nhất cho việc biến các mong muốn trở thành hiện thực Công tác kế hoạch hóa không chỉ liên quan đến những vấn đề mang tính vĩ mô, rộng lớn mà còn len lỏi vào trong tất cả các mảng kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, địa phương Do đó, việc áp dụng kế hoạch vào các hoạt động kinh tế là điều cực kì cần thiết Hiện nay, theo nhiều bài phân tích, công tác kế hoạch hóa ở các doanh nghiệp còn rất nhiều điểm cần phải khắc phục và hoàn thiện hơn Ở các doanh nghiệp lớn hoặc các doanh nghiệp nhà nước, công tác kế hoạch hóa tương đối được chú trọng Nhưng ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay, công tác này chỉ được xem là khâu thứ yếu, lí thuyết Thực tế cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới từ cuối năm 2007 đến năm 2009 vừa qua cho thấy hàng loạt các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam đã tuyên bố phá sản, số còn lại sản xuất cầm chừng vì không thể cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Nhưng cũng có không ít những doanh nghiệp đã chuẩn bị rất tốt cho sự biến động đó của thị trường, đã vượt qua được khủng hoảng để tồn tại và kinh doanh có lãi, thậm chí rất thành công Phải chăng chính sự thành công của công tác kế hoạch hóa là bí quyết để làm nên sự khác biệt giữa những doanh nghiệp?
Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu là một doanh nghiệp lớn, một Công ty cổ phần có tiếng trong giới kinh doanh Hàng năm, công tác kế hoạch hóa của Công ty không ngừng được đánh giá và hoàn thiện Tuy nhiên, với nền kinh
tế thị trường biến động không ngừng, với sự mở cửa để hội nhập của nền kinh tế, rất nhiều lĩnh vực kinh doanh mới sẽ xuất hiện và trở thành thách thức cũng như những
cơ hội cho Công ty Để nắm bắt được cơ hội, vượt qua khó khăn thì công tác lập kế hoạch của Công ty cần phải được chuẩn bị tốt hơn nữa
Nhận thức được tầm quan trọng của việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu nên tôi đã chọn đề tài để làm khóa luận tốt nghiệp là:
“Giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công
ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu”
Trang 8Dựa trên sự phát triển của Công ty, với mục đích là có thể đóng góp những suy nghĩ, quan điểm cũng như những nghiên cứu của mình cho việc đổi mới công tác lập và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu Từ đó, đưa ra một số giải pháp giúp cho việc thực hiện các bản kế hoạch thực sự có thể đi vào cuộc sống
Tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn PGS.TS Lê Quang Cảnh
- Đại học Kinh tế Quốc dân và các anh chị trong Phòng Kế hoạch của Công ty
cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu, đặc biệt là Giám đốc Đặng Minh Tâm, người đã rất nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập và đã chỉ bảo nhiều kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian thực tập tại Công ty và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
2 Mục tiêu của nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ cơ sở lý luận về kế hoạch hóa của các doanh nghiệp trong ngành Dệt May và sự cần thiết phải đổi mới công tác lập KH sản xuất kinh doanh tại các Công ty may mặc trong nền kinh tế thị trường Trên cơ sở đó, đề tài đi sâu tìm hiểu tình hình thực hiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công
ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu hiện nay Đồng thời chỉ ra những thành công và hạn chế trong việc thực hiện công tác lập kế hoạch tại Công ty Từ đó, đề
xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại
Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu nói riêng và các Công ty trong ngành Dệt May nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tương nghiên cứu:
Đề tài sẽ tập trung phân tích công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu Vấn đề trọng tâm bao gồm: phân tích, đánh giá nội dung kế hoạch hàng năm, phương pháp kế hoạch, quy trình lập kế hoạch và bộ máy kế hoạch tại Công ty Từ đó đề xuất những kiến nghị, giải pháp để thực hiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty
Phạm vi nghiên cứu:
• Về nội dung: phân tích, đánh giá nội dung kế hoạch hàng năm, phương pháp kế hoạch, quy trình lập kế hoạch và bộ máy kế hoạch tại Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu
Trang 9• Phạm vi không gian: Nghiên cứu công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu
• Phạm vi thời gian: Tiến hành nghiên cứu tình hình thực hiện công tác lập
kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu giai đoạn 2000- 2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu có sẵn là các kiến thức
từ các giáo trình chuyên ngành, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, một số
đề tài đã được nghiên cứu, công bố về lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội Từ những tài liệu đó, tác giả sử dụng phương pháp đọc hiểu, phân tích các số liệu, bảng biểu,
phân tích các trường hợp có thể xảy ra trong quá trình nghiên cứu
Khóa luận sử dụng lý luận và phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, kết hợp lịch sử với logic, kết hợp các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích
và tổng hợp báo cáo và sử dụng các nguồn học liệu mở trên Internet nhằm giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 3 chương sau:
Chương 1: Lý luận chung về kế hoạch, lập kế hoạch trong sản xuất kinh doanh Chương 2: Thực trạng công tác lập kế hoạch tại Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu
Trang 10CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ HOẠCH, LẬP KẾ HOẠCH
TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH
1.1 Kế hoạch hóa sản xuất kinh doanh
1.1.1 Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
Kế hoạch hóa từ lâu đã được coi như là một công cụ để thiết lập cũng như thực hiện các quyết định chiến lược Tuy nhiên, vai trò này không phải lúc nào cũng được thừa nhận một cách nhất quán, nó có thể là công cụ quản lý không thể thiếu được đối với đối tượng này, nhưng lại là thủ phạm của sự cứng nhắc đối với đối tượng khác Kế hoạch hóa có nhiều ý nghĩa khác nhau và đã từng là chủ
đề của nhiều ý kiến trái ngược, cho dù liên quan đến doanh nghiệp hay là nền kinh tế quốc dân
Hiểu một cách tổng quát nhất, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 2 (2002)
thì: “Kế hoạch hóa là phương thức quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân của nhà nước theo mục tiêu, là hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật xã hội và tự nhiên, đặc biệt là quy luật kinh tế để tổ chức quản lý các đơn vị kinh tế, các ngành, các lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo những mục tiêu thống nhất; dự kiến trước phương hướng, cơ cấu, tốc độ phát triển và có những biện pháp tương ứng bảo đảm thực hiện, nhằm đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao” Khái niệm mang tính bản chất trên cho thấy kế hoạch hóa là một phương thức
quản lý bằng mục tiêu, theo góc độ quy trình thực hiện, nó bao gồm 3 hoạt động: soạn lập kế hoạch, lãnh đạo tổ chức thực hiện kế hoạch và theo dõi kiểm tra, đánh giá thực hiện, điều chỉnh kế hoạch
Tuy nhiên, khái niệm kế hoạch hóa trên được hiểu ở nhiều quy mô và phạm
vi khác nhau như kế hoạch hóa kinh tế quốc dân, kế hoạch hóa theo vùng, địa phương, kế hoạch hóa ngành, lĩnh vực, kế hoạch hóa doanh nghiệp Vậy kế hoạch hóa hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp là gì?
Theo Bùi Đức Tuân (2005) cho rằng: “Kế hoạch hóa hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp (gọi tắt là kế hoạch hóa doanh nghiệp) được xác định là một phương thức quản lý doanh nghiệp theo mục tiêu, nó bao gồm toàn bộ các hành vi can thiệp một cách có chủ định của các nhà lãnh đạo và quản lý doanh
Trang 11nghiệp vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của đơn vị mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra”
Hay nói cách khác, kế hoạch hóa doanh nghiệp là một quy trình ra quyết định cho phép xây dựng một hình ảnh mong muốn về trạng thái tương lai của doanh nghiệp và quá trình tổ chức triển khai thực hiện mong muốn đó
Như vậy, kế hoạch hóa trong doanh nghiệp thể hiện được kĩ năng dự báo các
xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, mục tiêu mà doanh nghiệp cần đạt được, và tổ chức triển khai các hành động để đạt được mục tiêu đã đề ra
1.1.1.2 Vai trò của kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
Kế hoạch hóa trong doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng, nhưng trong
những cơ chế kinh tế khác nhau thì nó thể hiện những vai trò rất khác nhau
a)Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung
Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung là một nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, kế hoạch hóa là mệnh lệnh trực tiếp phát ra từ trung ương tới các thành phần trong xã hội Theo đó, hình thức giao dịch chủ yếu là sự giao nhận từ trung ương tới các đơn vị sản xuất Các doanh nghiệp không được tự chủ trong việc sản xuất Chỉ tiêu kế hoạch trong thời kì này là chỉ tiêu pháp lệnh toàn diện, các kế hoạch tiến độ, kế hoạch điều độ sản xuất đều do cơ quan trung ương quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, vai trò lớn nhất của kế hoạch hóa trong thời kì này là tạo ra tiết kiệm và tích lũy lớn, thực hiện các cân đối trong nền kinh tế nhờ đó tạo ra tăng trưởng nhanh, hướng nguồn lực vào
những mục tiêu ưu tiên
Nhưng bên cạnh đó, cơ chế này cũng có rất nhiều hạn chế Đó là, nó làm giảm tính chủ động, sáng tạo trong sản xuất, không gắn trách nhiệm sản xuất với người lao động, vì vậy hiệu quả sản xuất thấp Nó làm thui chột động lực phát triển của thị trường, các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh Việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất trong cơ chế này không được tiến hành Và sau cùng, cơ chế này thể hiện một nền sản xuất ngày càng trở nên lạc hậu, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao
b)Trong nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường khắc phục một cách hiệu quả những hạn chế của cơ chế
kế hoạch hóa tập trung Công tác kế hoạch hóa vì vậy mà phát huy được vai trò to lớn
Trang 12của mình Nó hướng sự chú ý của các hoạt động trong doanh nghiệp vào các mục tiêu,
tổ chức triển khai để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đó Trong một nền kinh tế thị trường đầy những biến động bất ngờ, nó giúp doanh nghiệp dự báo được những cơ hội, thách thức sẽ đến, từ đó xác định những giải pháp để tận dụng cơ hội, đẩy lùi khó khăn, thách thức nhằm kinh doanh hiệu quả trong bất kì hoàn cảnh nào Công tác kế hoạch hóa cũng tạo ra khả năng tác nghiệp vô cùng hiệu quả trong doanh nghiệp, thể hiện ở
sự tham gia của mọi đối tượng vào công tác kế hoạch và sự liên quan chặt chẽ giữa các
kế hoạch chức năng với kế hoạch tổng thể toàn doanh nghiệp
1.1.1.3 Chức năng của kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
b) Chức năng giao tiếp
Kế hoạch hóa tạo điều kiện cho việc giao tiếp giữa các thành viên của Ban Lãnh đạo, giữa bộ phận kế hoạch với các bộ phận nghiệp vụ khác Các thành viên của Ban Lãnh đạo phối hợp với nhau để giải quyết các vấn đề trong dài hạn Sự phối hợp giữa các bộ phận nghiệp vụ và bộ phận kế hoạch sẽ xử lý được các vấn đề trung hạn và chuyển tiếp tới các bộ phận khác Đồng thời, kế hoạch hóa cũng liên kết Ban Lãnh đạo và các bộ phận chức năng để cùng thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp
Bản kế hoạch với tư cách là một tài liệu không chỉ chứa đựng các chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong tương lai mà trong đó còn chứa đựng các kế hoạch hành động của các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp như: kế hoạch sản
Trang 13xuất dự trữ, kế hoạch marketing, kế hoạch nhân sự, kế hoạch tài chính, kế hoạch nghiên cứu và phát triển,… cũng như kế hoạch tổng thể của doanh nghiệp Vì vậy, bản kế hoạch sẽ đóng vai trò như một kênh thông tin từ Ban Lãnh đạo xuống các Phòng, Ban chức năng cũng như tới từng nhân viên trong doanh nghiệp, để huy động nguồn lực giúp thực hiện các mục tiêu đề ra, đồng thời phản hồi những thông tin từ dưới lên tới Ban Lãnh đạo về quá trình thực hiện kế hoạch Từ thông tin phản hồi đó, Ban Lãnh đạo có thể kiểm tra, đánh giá được công tác tổ chức, thực hiện kế hoạch và kịp thời điều chỉnh nếu có những sai lệch
Kế hoạch không chỉ đóng vai trò là kênh thông tin dọc mà còn có chức năng
là kênh thông tin ngang giữa các Phòng, Ban chức năng Vì các kế hoạch chức năng
có mối quan hệ với nhau một cách mật thiết nên việc trao đổi thông tin với nhau giữa các Phòng, Ban là rất quan trọng Kế hoạch hóa sẽ giúp cho các bộ phận nắm được tiến độ của các bộ phận khác và có những điều chỉnh để kế hoạch bộ phận
cũng như kế hoạch tổng thể đi đúng tiến độ
c) Chức năng quyền lực
Khi một bản kế hoạch được xây dựng hoàn chỉnh, phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài doanh nghiệp thì bản kế hoạch đó như là một tuyên bố của Ban Lãnh đạo tới các bộ phận và các nhân viên trong doanh nghiệp về chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, trong đó sẽ ghi rõ những mục tiêu cần đạt được trong thời gian tới Với những mục tiêu nhiệm vụ được đặt ra trong bản kế hoạch thì Ban Lãnh đạo doanh nghiệp đã khẳng định quyền lực lãnh đạo của
họ trong doanh nghiệp cũng như với các nhân viên Nhờ có kế hoạch mà các hoạt động trong doanh nghiệp được quản lý một cách chặt chẽ, hợp lý và từ đó sẽ giúp cho mọi người đều có thể tham gia đóng góp ý kiến vào bản kế hoạch
1.1.1.4 Các nguyên tắc kế hoạch hóa doanh nghiệp
a) Nguyên tắc thống nhất
Doanh nghiệp được cấu thành từ nhiều bộ phận khác nhau, mỗi bộ phận có hoạt động chức năng riêng lẻ khác nhau Do đó, trong công tác quản lý cần có sự thống nhất để đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp có các mối quan hệ dọc và mối quan hệ ngang Mối quan hệ dọc thể hiện quan hệ từ trên xuống giữa Ban Lãnh đạo doanh nghiệp và các
Trang 14Phòng, Ban chức năng cũng như các thành viên trong doanh nghiệp Mối quan hệ này thể hiện quyền lực lãnh đạo của nhà quản lý tới các nhân viên Còn mối quan hệ ngang là mối quan hệ giữa các Phòng, Ban chức năng với nhau Nó thể hiện quan hệ tác nghiệp, trao đổi thông tin với nhau giữa các bộ phận trong doanh nghiệp Nhờ
có mối quan hệ này mà các bộ phận trong doanh nghiệp có thể nắm bắt hoạt động của nhau và giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình thực hiện
Bên cạnh đó, trong doanh nghiệp cũng tồn tại nhiều quá trình kế hoạch hóa riêng biệt Các kế hoạch bộ phận giải quyết những mảng công việc mang tính chức năng, đặc thù riêng với mục tiêu và tổ chức thực hiện khác biệt Do đó, doanh nghiệp sẽ có sự phân định chức năng, nhiệm vụ rõ ràng Tuy nhiên, tất cả các kế hoạch bộ phận đó đều phải hướng tới mục tiêu phát triển chung của toàn doanh nghiệp, phải căn cứ vào chiến lược chung và phải có liên quan chặt chẽ với nhau Như vậy, tính thống nhất trong công tác kế hoạch hóa doanh nghiệp không chỉ vì sự phát triển của từng bộ phận chức năng mà còn đồng thời hướng các hoạt động tới mục đích chung của doanh nghiệp
b) Nguyên tắc tham gia
Nguyên tắc tham gia có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc thống nhất, nó cho phép mọi thành viên trong doanh nghiệp đều có thể tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng kế hoạch Nhờ đó, bản kế hoạch sẽ thể hiện đầy đủ ý chí và nguyện vọng của mọi thành viên trong doanh nghiệp chứ không chỉ của riêng Ban Lãnh đạo Nó thể hiện sự thống nhất giữa các thành viên trong doanh nghiệp Nếu nguyên tắc này được thực hiện một cách đầy đủ thì nó sẽ đem lại những lợi ích sau:
- Các thành viên trong doanh nghiệp có thể trao đổi thông tin cho nhau, nhờ
đó họ sẽ có được những hiểu biết sâu sắc hơn về doanh nghiệp và hoạt động của các
bộ phận chức năng Như vậy, bản kế hoạch sẽ nhận được đầy đủ thông tin từ mọi phía, phản ánh chính xác tình hình bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
- Nhờ có sự tham gia của các thành viên trong doanh nghiệp mà bản kế hoạch sẽ không còn là của riêng cá nhân nào mà sẽ là sản phẩm của tất cả mọi thành viên trong doanh nghiệp Các thành viên khi đó sẽ cảm thấy có trách nhiệm hơn với bản kế hoạch và cố gắng thực hiện một cách tốt nhất bổn phận, trách nhiệm của mình làm cho kế hoạch được thực hiện có hiệu quả hơn
- Cho phép mọi người tham gia vào công tác kế hoạch sẽ giúp phát huy được tính chủ động sáng tạo của họ, tạo động lực để họ lao động có hiệu quả hơn
Trang 15Để thu hút sự tham gia của mọi người vào công tác kế hoạch hóa thì Ban Lãnh đạo doanh nghiệp cần có những chính sách, mô hình khuyến khích cụ thể
c) Nguyên tắc linh hoạt
Nền kinh tế thị trường với rất nhiều biến động diễn ra từng ngày, từng giờ làm cho công tác kế hoạch hóa không thể cứng nhắc, mà đòi hỏi phải luôn linh hoạt, chủ động để có thể đối phó được với những thay đổi bất thường đó Kế hoạch được xây dựng càng linh hoạt, mềm dẻo thì càng giảm thiểu được những rủi ro do thay đổi của thị trường gây ra Do đó, công tác kế hoạch cần tuân thủ nguyên tắc linh hoạt và nguyên tắc này được thể hiện chủ yếu qua những nội dung sau:
- Trước hết, cần phải xây dựng nhiều phương án kế hoạch để ứng phó với các điều kiện khác nhau có thể hình thành trong tương lai Mỗi phương án là một kịch bản mô phỏng tương ứng với từng điều kiện thị trường và cách huy động nguồn lực cụ thể
- Bên cạnh kế hoạch chính cũng cần phải có những kế hoạch dự phòng để tạo khả năng thay đổi phương hướng hành động khi có sự kiện bất thường xảy ra
- Sau đó, phải thường xuyên giám sát, đánh giá thực hiện kế hoạch và có những điều chỉnh đúng đắn, đây là công tác thiết yếu để hướng kế hoạch đến mục tiêu Các mục tiêu đặt ra trong tương lai là thứ xa vời, khó nắm bắt, do đó các kế hoạch cần phải thường xuyên được xem xét, kiểm tra, đánh giá để phát hiện những thay đổi trong quá trình thực hiện, tìm ra những nguyên nhân của những phát sinh
đó và có điều chỉnh phù hợp, giải quyết sai lệch đảm bảo kế hoạch đi đúng hướng
Nhờ có tính linh hoạt trong xây dựng và thực hiện kế hoạch mà các nhà kế hoạch không bị ràng buộc và bị kế hoạch chi phối Ngược lại, họ sẽ thấy mình là người chủ động để xây dựng, thực hiện kế hoạch một cách hiệu quả nhất
1.1.2 Kế hoạch sản xuất kinh doanh trong hoạt động của doanh nghiệp
1.1.2.1 Hoạt động sản xuất kinh doanh
Hoạt động kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên
thị trường nhằm mục đích sinh lợi
Như vậy, hoạt động kinh doanh không chỉ bao gồm các hoạt động thương mại (theo cách hiểu truyền thống) mà còn có nội dung rất rộng, bao gồm: đầu tư,
Trang 16sản xuất, chế biến, các hoạt động thương mại gắn liền với sản xuất và chế biến, các
hoạt động thương mại thuần túy và các hoạt động cung cấp dịch vụ
1.1.2.2 Kế hoạch sản xuất kinh doanh
Trong thực tế sản xuất kinh doanh luôn cần sự cân nhắc, đánh giá giữa năng lực sản xuất của doanh nghiệp với nhu cầu sản phẩm trên thị trường Do đó, kế hoạch sản xuất kinh doanh được xây dựng để doanh nghiệp có khả năng điều chỉnh linh hoạt và thích ứng với mọi sự biến đổi của môi trường kinh doanh Như vậy, kế hoạch sản xuất kinh doanh là một trong những nội dung quan trọng nhất của hoạt động quản lý sản xuất nhằm tối ưu hóa việc sử dụng các yếu tố sản xuất sẵn có để
có thể sản xuất một hoặc nhiều sản phẩm đã định
Theo góc độ thời gian, kế hoạch sản xuất kinh doanh được chia làm những loại chính sau đây:
a) Kế hoạch dài hạn
Kế hoạch dài hạn thường được áp dụng với những doanh nghiệp lớn, quy mô sản xuất lớn và nhiều lao động, xây dựng cho nhóm sản phẩm hoặc họ sản phẩm, nhằm xác định một định hướng cho sự phát triển sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp theo đuổi trong khoảng thời gian tương đối dài (từ 3 đến 5 năm) Việc xây dựng kế hoạch dài hạn thường được xuất phát từ khả năng thực tế của doanh
nghiệp, điều kiện bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
b) Kế hoạch trung hạn
Kế hoạch trung hạn là những quyết định có tính chiến thuật nhằm điều tiết trung hạn (từ 1 đến 3 năm) quá trình sản xuất, là cầu nối giữa những quyết định chiến lược có tính dài hạn và những quyết định mang tính ngắn hạn Kế hoạch trung hạn đề cập đến sản phẩm mà doanh nghiệp sẽ sản xuất trong trung hạn để đáp ứng nhu cầu thị trường, giúp doanh nghiệp phối hợp, sử dụng hợp lí các nguồn lực vào quá trình sản xuất để cực tiểu hóa chi phí phát sinh và giảm tới mức thấp nhất biến đổi lao động và mức tồn kho trong toàn bộ quá trình sản xuất
c) Kế hoạch ngắn hạn
Kế hoạch ngắn hạn thường được xây dựng trong thời gian ngắn (kế hoạch ngày, tuần, tháng, một vài tháng đến một năm), là toàn bộ các hoạt động xây dựng lịch trình sản xuất, điều phối, phân giao các công việc cho từng người, nhóm người, từng máy và sắp xếp thứ tự các công việc ở từng nơi làm việc nhằm đảm bảo hoàn
Trang 17thành đúng tiến độ đã xác định trong lịch trình sản xuất trên cơ sở sử dụng có hiệu quả khả năng sản xuất hiện có của doanh nghiệp
Mục tiêu cần đạt được của một bản kế hoạch ngắn hạn bao gồm:
- Giảm thiểu thời gian chờ đợi của khách hàng
- Giảm thiểu thời gian sản xuất
- Giảm thiểu lượng dự trữ
- Giảm thiểu thời gian chờ đợi vô ích của lao động và máy móc thiết bị
- Sử dụng có hiệu quả nguồn lực hiện có của doanh nghiệp
Khi đứng trên góc độ nội dung, tính chất hay cấp độ để phân loại hệ thống kế hoạch trong doanh nghiệp thì ta có hai bộ phận kế hoạch cụ thể là kế hoạch chiến lược và kế hoạch tác nghiệp
d) Kế hoạch chiến lược
Đây là những những định hướng lớn cho phép doanh nghiệp thay đổi, cải thiện, củng cố vị thế cạnh tranh của mình và thường được soạn thảo cho thời gian dài Trong kế hoạch chiến lược cũng đưa ra những phương pháp cơ bản để đạt được mục tiêu đã lựa chọn Soạn lập mục tiêu cho kế hoạch chiến lược phải căn cứ vào khả năng thực tế của doanh nghiệp chứ không phải xuất phát từ những kì vọng muốn đạt đến của nhà quản lý
e) Kế hoạch tác nghiệp
Kế hoạch tác nghiệp là công cụ cho phép chuyển các định hướng chiến lược thành các chương trình áp dụng cho các bộ phận của doanh nghiệp trong khuôn khổ các hoạt động nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu của kế hoạch chiến lược Kế hoạch tác nghiệp bao gồm các bộ phận kế hoạch tách biệt trong tổng thể hoạt động sản xuất kinh doanh như: kế hoạch sản xuất, kế hoạch marketing, kế hoạch nhân sự,
kế hoạch tài chính
1.2 Nội dung của công tác kế hoạch hóa sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
1.2.1 Nội dung của kế hoạch sản xuất kinh doanh
1.2.1.1 Nội dung các bộ phận kế hoạch phân theo góc độ thời gian
a) Kế hoạch dài hạn
Kế hoạch dài hạn được xây dựng nhằm cụ thể hóa chiến lược phát triển mà doanh nghiệp đã lựa chọn và nó được thể hiện thông qua các nội dung chủ yếu như sau:
Trang 18- Xây dựng con đường và chính sách phát triển của doanh nghiệp
- Xây dựng phương hướng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới
- Xác định nhu cầu thị trường và xây dựng giải pháp đầu tư trong một giai đoạn kéo dài nhiều năm
b) Kế hoạch trung hạn
Kế hoạch trung hạn được xây dựng nhằm cụ thể hóa kế hoạch dài hạn Nó là cầu nối giữa kế hoạch dài hạn và kế hoạch ngắn hạn trong doanh nghiệp Những nội
dung chính mà kế hoạch này thể hiện được bao gồm:
- Hoạch định tổng hợp về mức dự trữ và sản xuất cho từng loại sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu thị trường sao cho tổng chi phí dự trữ và các chi phí sản xuất là
nhỏ nhất
- Phân bổ mức dự trữ và mức sản xuất cho từng loại sản phẩm
- Huy động tổng hợp các nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực để đáp ứng
nhu cầu thị trường
c) Kế hoạch ngắn hạn
Kế hoạch ngắn hạn thường là kế hoạch hàng năm, kế hoạch tiến độ,… nó bao gồm các phương pháp cụ thể sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp để đạt mục tiêu trong kế hoạch trung và dài hạn Kế hoạch ngắn hạn phải thể hiện được những nội dung sau:
Một là, xây dựng lịch trình sản xuất, bao gồm các công việc chủ yếu như sau:
+ Xác định số lượng và khối lượng các công việc
+ Tổng thời gian phải hoàn thành tất cả các công việc
+ Thời điểm bắt đầu và kết thúc của từng công việc
+ Thứ tự thực hiện các công việc
Hai là, dự tính số lượng máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và lao động cần
thiết để hoàn thành khối lượng sản phẩm hoặc các công việc đã đưa ra trong lịch trình sản xuất
Ba là, xây dựng kế hoạch điều phối, phân giao công việc và khoảng thời gian
nhất định để hoàn thành cho từng bộ phận, từng người, từng máy
Bốn là, xây dựng kế hoạch sắp xếp thứ tự các công việc trên các máy và nơi
làm việc nhằm giảm thiểu thời gian ngừng máy và chờ đợi trong quá trình sản xuất
Trang 191.2.1.2 Nội dung các bộ phận kế hoạch phân theo góc độ nội dung, tính chất hay cấp độ kế hoạch
Theo cách phân loại này thì ta có hai bộ phận kế hoạch là kế hoạch chiến lược và kế hoạch tác nghiệp
a) Kế hoạch chiến lược
Kế hoạch chiến lược trong doanh nghiệp có nội dung chính là định hướng tương lai cho doanh nghiệp và đưa ra những giải pháp, biện pháp hành động để doanh nghiệp đi đến tương lai mong muốn đó
b) Kế hoạch tác nghiệp
Bao gồm nhiều kế hoạch chức năng cụ thể, các kế hoạch chức năng này tuy tách biệt nhưng lại có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau, trong đó kế hoạch marketing giữ vai trò trung tâm và là kế hoạch chủ đạo Sau đây là những nội dung chính cụ thể của từng kế hoạch tác nghiệp:
Một là, kế hoạch sản xuất và dự trữ Các nội dung chính cần phải xác định
trong kế hoạch sản xuất và dự trữ bao gồm:
- Khối lượng sản xuất cho mỗi sản phẩm
- Các sản phẩm khác nhau được sản xuất tại mỗi đơn vị sản xuất (nhà máy,
phân xưởng, dây chuyền,…)
- Lượng dự trữ cần thiết đối với thành phẩm và bán thành phẩm
- Việc sử dụng các yếu tố sản xuất
- Cung ứng nguyên vật liệu và bán thành phẩm
- Các kế hoạch thuê ngoài (gia công)
Việc xác định các yếu tố này phải thỏa mãn các ràng buộc chặt chẽ về mặt kĩ thuật, các mục tiêu của doanh nghiệp và khả năng nguồn lực của các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp, đặc biệt là các ràng buộc về mục tiêu bán hàng, khả năng
cung ứng nhân sự và các mục tiêu hiệu quả tài chính
Kế hoạch sản xuất và dự trữ bao gồm các kế hoạch cụ thể là: kế hoạch năng lực sản xuất, kế hoạch sản xuất tổng thể, kế hoạch chỉ đạo sản xuất, kế hoạch nhu cầu sản xuất, kế hoạch tiến độ sản xuất, kế hoạch dự trữ sản phẩm, kế hoạch dự trữ
và cung ứng nguyên vật liệu
Trang 20Hai là, kế hoạch marketing Đây là một chương trình hành động trong đó bao
gồm các nội dung sau:
- Một bảng phân tích chi tiết về các khả năng của thị trường và của toàn doanh nghiệp
- Một phần diễn giải về những giả thiết phát triển, các khả năng lựa chọn, những chiến lược lựa chọn và lý do lựa chọn
- Các mục tiêu thương mại trên cơ sở các số liệu dự báo và phản ánh một sự cam kết phấn đấu của doanh nghiệp
- Một kế hoạch phối hợp các phương tiện và hành động cho phép đạt những mục tiêu kể trên
- Các chỉ tiêu và ngân sách dành cho các hoạt động trên, và là công cụ để tổng hợp, phối hợp và kiểm tra
Hàng năm, doanh nghiệp xây dựng các kế hoạch hành động marketing (hay còn gọi là kế hoạch marketing tác nghiệp) để cụ thể hóa việc triển khai chiến lược của doanh nghiệp trên các thị trường mục tiêu Các kế hoạch marketing hàng năm bao gồm: kế hoạch bán hàng, kế hoạch hành động phân phối, kế hoạch quảng cáo,
kế hoạch khuyến mại, kế hoạch lực lượng bán hàng,…
Ba là, kế hoạch tài chính Đây là một thành phần quan trọng của hệ thống kế
hoạch trong doanh nghiệp, là quá trình soạn thảo các kế hoạch và các chỉ tiêu quan trọng, các định mức tài chính nhằm đảm bảo nguồn lực tài chính cần thiết cho sự phát triển và là cơ sở quan trọng để soạn thảo và điều chỉnh chiến lược chung của
doanh nghiệp
Nội dung của kế hoạch tài chính là: xác định các nhu cầu sử dụng nguồn lực tài chính, xác định các nguồn vốn cơ bản và cơ cấu nguồn vốn, đưa ra quyết định về việc thu hút nguồn tài chính từ bên ngoài, thiết lập cơ chế phân bổ nguồn lực tài chính một cách hợp lý cho các nhu cầu trong doanh nghiệp đồng thời xác định các mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước, ngân hàng và các
tổ chức tín dụng khác
Kế hoạch tài chính bao gồm các kế hoạch bộ phận là kế hoạch trả nợ, kế
hoạch tài trợ và kế hoạch ngân sách
Bốn là, kế hoạch nhân sự Trong doanh nghiệp, công tác quản lý nhân sự là
một công tác rất quan trọng và phức tạp, kế hoạch nhân sự do đó là một phần không
Trang 21thể thiếu của kế hoạch kinh doanh tổng thể, góp phần quan trọng cho việc thực hiện các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp Nội dung kế hoạch nhân sự thường hướng vào việc trả lời cho các câu hỏi như sau:
- Chúng ta cần những con người như thế nào và với số lượng là bao nhiêu?
1.2.2 Phương pháp kế hoạch sản xuất kinh doanh
1.2.2.1 Những yêu cầu đối với công tác lập kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp
Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần quán triệt các yêu cầu sau:
- Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp cần quán triệt yêu cầu hiệu quả Các doanh nghiệp hoạt động đều nhằm mục đích hướng tới mục tiêu hiệu quả, nó là tiêu chuẩn hàng đầu cho việc xây dựng, lựa chọn và quyết định các phương án kế hoạch của doanh nghiệp
- Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu hệ thống đồng bộ Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống thống nhất, gồm nhiều phân hệ là các doanh nghiệp Thực hiện yêu cầu này, trong các khâu của công tác lập kế hoạch phải đảm bảo cho mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp đồng hướng
và góp phần thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu bao trùm của cả hệ thống
- Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu “vừa tham vọng vừa khả thi” Trong nền kinh tế thị trường đối với các doanh nghiệp thì mục tiêu lợi nhuận là tối cao Do vậy, để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch để thực hiện các phương án
đó Tuy nhiên, các kế hoạch được đề ra phải có khả năng thực thi
Trang 22- Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu “kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu tình thế” Tức là, hệ thống mục tiêu kế hoạch phải được xây dựng và điều chỉnh linh hoạt theo yêu cầu thay đổi của môi trường và điều kiện kinh doanh
- Công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp phải quán triệt yêu cầu kết hợp đúng đắn các loại lợi ích kinh tế trong doanh nghiệp kể cả lợi ích xã hội Đây chính là động lực của sự phát triển và là cơ sở cho việc thực hiện có hiệu quả các phương án sản xuất kinh doanh
1.2.2.2 Các căn cứ để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
a) Căn cứ vào chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước
Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế quốc dân, nên các kế hoạch sản xuất kinh doanh do doanh nghiệp đề ra phải phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước Nếu hoạt động của doanh nghiệp mà đi ngược lại xu thế phát triển, vi phạm những lợi ích chung của nền kinh tế nó sẽ bị đào thải, ngược lại nếu nhận thức và hoà mình vào xu thế phát triển chung thì doanh nghiệp sẽ phát triển ổn định và bền vững
b) Căn cứ vào kết quả điều tra nghiên cứu thị trường
Thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các doanh nghiệp lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả Kết quả điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường phải phản ánh được qui mô, cơ cấu đối với từng sản phẩm
và dịch vụ của doanh nghiệp, có tính đến tác động của các nhân tố làm tăng hoặc giảm cầu để đáp ứng yêu cầu của công tác lập kế hoạch Những kết quả điều tra nghiên cứu này có thể tập hợp theo mức giá để xác định mục tiêu kinh doanh phù hợp với phân đoạn thị trường hoặc theo khách hàng để đảm bảo sự gắn bó giữa sản xuất với kinh doanh Căn cứ vào số lượng các đối thủ cạnh tranh, sự biến động giá
cả trên thị trường để lập kế hoạch thì hiệu quả của phương án kế hoạch sẽ được nâng cao
Đối với các doanh nghiệp trong ngành may mặc thì việc nghiên cứu thị trường để lập kế hoạch là rất quan trọng vì nhu cầu về thời trang luôn thay đổi từng ngày, mỗi mùa lại có những sản phẩm khác nhau
Trang 23c) Căn cứ vào kết quả phân tích và dự báo về tình hình sản xuất kinh doanh
Doanh nghiệp căn cứ vào kết quả phân tích hoạt động kinh doanh thời kì trước và dự báo khả năng tương lai ứng với các nguồn lực có thể khai thác được, đặc biệt là dựa vào những lợi thế vượt trội của doanh nghiệp về các mặt chất lượng sản phẩm, kênh tiêu thụ hợp tác liên doanh, khoa học công nghệ so với đối thủ cạnh tranh sẽ góp phần làm tăng tính khả thi của các phương án kế hoạch Các chỉ tiêu chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải được chú trọng tập trung phân tích
1.2.2.3 Phương pháp lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
Trong thực tế doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phương pháp để lập kế hoạch, tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu mà doanh nghiệp sử dụng các phương pháp khác nhau
a) Phương pháp cân đối
Phương pháp này gồm các bước sau:
Bước 1: Xác định khả năng của doanh nghiệp, bao gồm khả năng sẵn có và khả năng chắc chắn có trong tương lai của doanh nghiệp và các yếu tố sản xuất
Bước 2: Cân đối giữa nhu cầu của thị trường và khả năng về các yếu tố để sản xuất
Trong nền kinh tế thị trường, phương pháp cân đối được xác định bởi những yêu cầu sau:
- Cân đối được thực hiện phải là cân đối động Cân đối để lựa chọn phương án tối ưu chứ không phải là cân đối theo phương án đã được chỉ định Các yếu tố để cân đối là những yếu tố biến đổi theo môi trường kinh doanh, đó là nhu cầu của thị trường
và khả năng có thể khai thác các nguồn lực của doanh nghiệp trong kì kế hoạch
- Thực hiện cân đối liên hoàn, nghĩa là tiến hành nhiều cân đối kế tiếp nhau
để bổ sung và điều chỉnh phương án cho phù hợp với những thay đổi của môi trường kinh doanh
- Trước khi tiến hành cân đối tổng thể các yếu tố thì phải thực hiện cân đối trong những yếu tố trước Kết quả cân đối tổng hợp phải là căn cứ để xác định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở để xác định hoặc điều chỉnh các phương án kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 24b) Phương pháp tỷ lệ cố định
Nội dung của phương pháp này là tính toán một số chỉ tiêu của năm kế hoạch theo một tỷ lệ đã được xác định trong năm báo cáo trước đó Theo phương pháp này doanh nghiệp sẽ coi tình hình của năm lập kế hoạch giống như tình hình của năm báo cáo đối với một số chỉ tiêu nào đó Phương pháp này cho thấy kết quả nhanh nhưng thiếu chính xác, vì thế chỉ nên sử dụng trong trường hợp không đòi hỏi độ chính xác cao và thời gian thực hiện kế hoạch không kéo dài
c) Phương pháp lập kế hoạch từ việc phân tích các nhân tố tác động
Đây là một phương pháp lập kế hoạch có tính chất truyền thống và vẫn được
sử dụng rộng rãi Việc áp dụng phương pháp này đòi hỏi các nhà quản lý phải có cách xem xét, phân tích hệ thống và tổng thể nhiều vấn đề Phải biết đặt tình trạng của doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế của các yếu tố ngoại lai Cần xem xét các yếu tố sau:
- Các yếu tố kinh tế như: tổng sản phẩm quốc dân, mức cung ứng tiền tệ,…
- Sự phát triển về dân số, nhóm lứa tuổi, tình hình thay đổi thói quen trong cuộc sống
- Các yếu tố chính trị và pháp luật như: Luật canh tranh, Luật thuế,…
- Sự biến động của thị trường và thái độ của khách hàng, qui mô thị trường, chu kì vận động của thị trường, sự trung thành của khách hàng, sức mua
- Sự thay đổi của khoa học công nghệ, cấu trúc ngành nghề như: loại sản phẩm, cấu trúc giá, chi phí của các đối thủ cạnh tranh
- Các đặc điểm về nguồn lực của doanh nghiệp như: phần thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, trình độ lao động, chi phí tiền lương, tình hình doanh thu, chất lượng sản phẩm
d) Phương pháp lợi thế vượt trội
Phương pháp này gợi mở cho các nhà quản lý khi lập kế hoạch phải xem xét khai thác các lợi thế vượt trội để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Khi lập kế hoạch doanh nghiệp cần phát huy lợi thế vượt trội trên các mặt sau:
- Lợi thế vượt trội trong lĩnh vực tiêu thụ, trong việc triển khai các kênh phân phối sản phẩm với các đối tác khác
- Lợi thế vượt trội trong sản xuất thể hiện trong việc tăng cường liên doanh liên kết để phát huy chuyên môn hoá
Trang 25- Lợi thế vượt trội trong việc hợp tác nghiên cứu điều tra dự báo
- Lợi thế vượt trội nhờ năng lực và trình độ của các nhà quản lý trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh cụ thể
e) Phương pháp mô hình PIMS (Profit Impact Market Strategy)
Theo phương pháp này, khi lập kế hoạch, các nhà lập kế hoạch phải phân
g) Phương pháp phân tích chu kỳ sống của sản phẩm
Chu kỳ sống của sản phẩm là khoảng thời gian từ khi nó được đưa ra thị trường cho đến khi nó không còn tồn tại trên thị trường Chu kỳ sống của sản
Phần thị trường tuyệt đối của doanh nghiệp Tổng phần thị trường tuyệt đối
Trang 26phẩm được đặc trưng bởi 4 giai đoạn chủ yếu: hình thành, tăng trưởng, bão hoà
và suy thoái Tương ứng với mỗi giai đoạn là các vấn đề và cả cơ hội kinh doanh Do vậy, doanh nghiệp cần nắm vững đặc điểm của từng giai đoạn để lập
kế hoạch sản xuất phù hợp vì mỗi giai đoạn của chu kỳ sống có mức độ tiêu thụ
trên thị trường khác nhau
1.2.3 Quy trình kế hoạch hóa sản xuất kinh doanh
Quy trình kế hoạch hóa bao gồm các bước tuần tự, cho phép vạch ra các mục tiêu tại những thời điểm khác nhau trong tương lai, dự tính các phương tiện cần thiết và tổ chức triển khai sử dụng các phương tiện nhằm đạt tới các mục tiêu Có nhiều cách tiếp cận về quy trình kế hoạch hóa, một trong những quy trình được áp dụng rộng rãi tại các doanh nghiệp có tên là quy trình PDCA (Plan, Do, Check, Act) Các hoạt động liên quan đến kế hoạch hóa doanh nghiệp theo quy trình này được chia làm 4 giai đoạn sau:
Hình 1.1: Quy trình kế hoạch hóa sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn: Giáo trình Kế hoạch kinh doanh
1.2.3.1 Soạn lập kế hoạch
Đây là giai đoạn đầu tiên trong quy trình kế hoạch hóa với nội dung chủ yếu
là xác định các nhiệm vụ, mục tiêu chiến lược, các chương trình và các chỉ tiêu kế hoạch tác nghiệp, soạn lập ngân quỹ cũng như các chính sách, biện pháp áp dụng
Check: Kiểm tra:
Trang 27trong thời kì kế hoạch của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu đặt ra Trong điều kiện kinh tế thị trường, soạn lập kế hoạch thường phải là quá trình xây dựng nhiều phương án khác nhau, trên cơ sở đó đưa ra các sự lựa chọn chiến lược và các chương trình hành động nhằm mục đích đảm bảo sự thực hiện các lựa chọn này Kế hoạch sẽ chỉ có nghĩa khi chúng ta tính đến một tổng thể gồm nhiều vấn đề ràng buộc lẫn nhau
1.2.3.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch
Đây là khâu mang tính quyết định đến việc đạt được các chỉ tiêu đặt ra trong
kì kế hoạch và kết quả hoạt động của quá trình này được thể hiện bằng những chỉ tiêu thực tế Nó là sự cụ thể hóa các mục tiêu, ý tưởng trên giấy tờ lý thuyết thành những hành động cụ thể và kết quả cụ thể đạt được Nội dung của quá trình này bao gồm việc huy động và sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp một cách hiệu quả nhất, đồng thời với việc phối hợp hành động giữa các bộ phận, đơn vị chức năng trong doanh nghiệp nhằm đảm bảo yêu cầu tiến độ đặt ra, kể cả về thời gian, quy
mô và chất lượng công việc Một cách cụ thể, nhiệm vụ của quá trình này là phải thiết lập và tổ chức việc sử dụng nguồn lực, phải sử dụng các biện pháp, chính sách cũng như những đòn bẩy quan trọng để tác động trực tiếp đến các cấp thực hiện
nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để hoàn thành mục tiêu đặt ra
1.2.3.3 Theo dõi, giám sát thực hiện kế hoạch
Quá trình này nhằm kiểm tra việc thực hiện các mục tiêu đặt ra xem có đúng yêu cầu về tiến độ thời gian, quy mô, chất lượng không và kịp thời phát hiện những sai sót, lệch hướng so với mục tiêu đã đặt ra Công việc này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục để không bỏ qua bất cứ một sai sót nào trong quá trình thực hiện Quan trọng hơn nữa, không chỉ kiểm tra mà quá trình này còn phải phân tích được nguyên nhân dẫn đến những sai sót đó Nếu kế hoạch diễn ra tốt đẹp theo đúng hướng và không có những sai lệch, bất hợp lí thì tiếp tục quá trình đánh giá sau kế hoạch để xác định được kết quả mà thời kì kế hoạch mang lại Nhưng nếu phát hiện ra những sai sót thì doanh nghiệp phải kịp thời đưa ra những quyết định điều chỉnh
1.2.3.4 Điều chỉnh thực hiện kế hoạch
Từ những phân tích trong bước kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, làm rõ những sai lệch và nguyên nhân sai lệch, cán bộ quản lý của doanh
Trang 28nghiệp sẽ đưa ra các quyết định điều chỉnh để kế hoạch đi đúng hướng mục tiêu đã
đề ra Những điều chỉnh này có thể là:
- Thay đổi nội dung hình thức tổ chức, theo đó thì những mục tiêu đặt ra không bị thay đổi mà chỉ thay đổi các khâu trong quá trình quản lý, thay đổi những bất hợp lí về sự phối hợp giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện kế hoạch nhằm đạt mục tiêu đề ra
- Thay đổi một số mục tiêu trong hệ thống mục tiêu ban đầu Điều chỉnh này chỉ áp dụng khi không thể điều chỉnh bằng cách thay đổi cách thức tổ chức quản lý, hoặc chi phí để tổ chức quản lý lại quá lớn, không đảm bảo hiệu quả kinh tế
- Quyết định chuyển hướng sản xuất kinh doanh được áp dụng trong những điều kiện bất khả kháng Hướng chuyển đổi này thường nằm trong phương án mà doanh nghiệp đã xác định trong khâu soạn lập kế hoạch
Và cuối cùng, sau khi đã có những điều chỉnh đúng đắn và thích hợp, doanh nghiệp lại tiếp tục con đường hướng đến mục tiêu chung, lâu dài đã chọn trong tương lai
Quy trình kế hoạch là một quá trình yêu cầu có sự linh hoạt mềm dẻo cao, nó không thể là sự tuần tự từng bước mà phải là sự đan xen, hỗ trợ lẫn nhau giữa các bước
1.2.4 Tổ chức công tác kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
1.2.4.1 Ban Giám đốc
Ban Giám đốc là những người chịu trách nhiệm về mọi hoạt động sản xuất
và quản lí của doanh nghiệp nên họ tham gia vào công tác kế hoạch là điều tất yếu
Họ chính là những người soạn lập chiến lược doanh nghiệp, ra các quyết định về kế hoạch hóa chiến lược, xác định các mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp và
các giải pháp chính sách cơ bản để đạt được các mục tiêu chung đó
1.2.4.2 Các Phòng, Ban chức năng
Mỗi một Phòng, Ban có chức năng khác nhau lại đóng một vai trò khác nhau trong công tác kế hoạch chung của toàn doanh nghiệp Trong công tác soạn lập kế hoạch, Lãnh đạo và Chuyên viên các Phòng, Ban chịu trách nhiệm xây dựng các kế hoạch tác nghiệp, đề xuất các chính sách, giải pháp cần thiết để thực hiện có hiệu quả các kế hoạch đó Và căn cứ để họ thực hiện các kế hoạch tác nghiệp đó không
Trang 29chỉ dựa vào phân tích điều kiện môi trường bên trong, bên ngoài doanh nghiệp mà còn dựa vào những thông tin từ việc tham gia soạn lập dự án, đánh giá và xét duyệt
các phương án kế hoạch, chiến lược của toàn doanh nghiệp
1.2.4.3 Phòng Kế hoạch của doanh nghiệp
Đây là bộ phận chính thực hiện công tác soạn lập và theo dõi, thực hiện kế hoạch Những chuyên viên kế hoạch có nhiệm vụ tham gia tư vấn việc soạn thảo chiến lược doanh nghiệp, cung cấp những thông tin có giá trị, chính xác cho chuyên viên các Phòng, Ban chức năng, tham gia dự đoán về tương lai doanh nghiệp, dự báo các chỉ tiêu phát triển,… Ngoài ra, họ cũng tham gia tư vấn kĩ thuật lập, quản lí,
tổ chức, thực hiện, theo dõi, đánh giá, điều chỉnh kế hoạch cho các Phòng, Ban chức
năng và đào tạo nhân sự tham gia vào công tác kế hoạch
Tuy nhiên để thực hiện công tác kế hoạch trong doanh nghiệp, ngoài những chuyên viên, cán bộ thuộc Phòng Kế hoạch, cần phải có đội ngũ tư vấn kế hoạch, có thể là người ở ngoài hoặc trong doanh nghiệp Đây là những người có thể đưa ra những đánh giá khách quan về kết quả cũng như mục tiêu phát chung của toàn
doanh nghiệp
1.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động lập kế hoạch
1.3.1 Quan điểm của các nhà lập kế hoạch
Vì việc lập kế hoạch là do các nhà lập kế hoạch hoạch định nên ngoài những yếu tố tác động khách quan thì các kế hoạch vẫn sẽ bị chi phối bởi quan điểm chủ
quan của những nhà làm công tác kế hoạch
Năng lực của các chuyên gia lập kế hoạch cũng có ảnh hưởng lớn đến công tác xây dựng kế hoạch, các nhà lập kế hoạch phải có kiến thức và trình độ tổng hợp
để lập kế hoạch
1.3.2 Các cấp quản lý trong doanh nghiệp
Giữa các cấp quản lý trong một doanh nghiệp và các loại kế hoạch được lập
ra có mối quan hệ với nhau Cấp quản lý mà càng cao thì việc lập kế hoạch càng mang tính chiến lược Các nhà quản lý cấp trung và cấp thấp thường lập các kế hoạch tác nghiệp
Trang 30Hình 1.2: Các cấp quản lý trong một doanh nghiệp
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Bên cạnh đó thì cơ chế quản lý kinh tế và kế hoạch hoá của Nhà nước cũng
là nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Một cơ chế quản lý phù hợp sẽ có tác dụng thúc đẩy hoạt động kế hoạch sản xuất phát triển, ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp Thực tế trong những năm chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước ta đã cho thấy, càng đi sâu vào cơ chế thị trường thì càng phát sinh thêm nhiều vấn đề mới cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết để hoàn thiện cơ chế quản lý và kế hoạch hoá của Nhà nước Nhà nước cần phải tiếp tục giải quyết các tồn đọng, vướng mắc trong nhiều năm chuyển đổi để thực sự tạo quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhưng vẫn
đảm bảo được yêu cầu quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước
1.3.3 Chu kì kinh doanh của doanh nghiệp
Mỗi chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp đều trải qua bốn giai đoạn là: hình thành, tăng trưởng, chín muồi, và suy thoái Với mỗi giai đoạn thì việc lập kế hoạch
là không giống nhau Qua các giai đoạn khác nhau thì độ dài và tính cụ thể của các
kế hoạch là khác nhau
Các nhà quản lý cấp thấp
Các nhà quản lý cao cấp
Các nhà quản lý cấp trung
Lập các kế hoạch tác
nghiệp
Lập các kế hoạch chiến lược
Trang 31Hình 1.3: Chu kì kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn: Giáo trình Marketing căn bản
- Trong giai đoạn hình thành (hay giai đoạn bắt đầu đi lên của chu kì kinh
doanh) các nhà quản lý thường phải dựa vào kế hoạch định hướng Thời kì này các
kế hoạch rất cần tới sự mềm dẻo và linh hoạt vì mục tiêu có tính chất thăm dò, nguồn lực chưa được xác định rõ, và thị trường chưa có gì chắc chắn Kế hoạch định hướng trong giai đoạn này giúp cho những nhà quản lý nhanh chóng có những thay đổi khi cần thiết
- Trong giai đoạn tăng trưởng, kế hoạch ngắn hạn được sử dụng nhiều và thiên về cụ thể vì các mục tiêu được xác định rõ hơn, các nguồn lực đang được đưa vào và thị trường cho đầu ra đang tiến triển
- Ở giai đoạn chín muồi, doanh nghiệp nên có các kế hoạch dài hạn và cụ thể
vì ở giai đoạn này tính ổn định và tính dự đoán được của doanh nghiệp là lớn nhất
- Trong giai đoạn suy thoái, kế hoạch lại chuyển từ kế hoạch dài hạn sang kế hoạch ngắn hạn, từ kế hoạch cụ thể sang kế hoạch định hướng Cũng giống như giai đoạn đầu, giai đoạn suy thoái cần tới sự mềm dẻo, linh hoạt vì các mục tiêu phải được xem xét và đánh giá lại, nguồn lực cũng được phân phối lại cùng với những điều chỉnh khác
Ngoài ra, tính không chắc chắn của môi trường kinh doanh cũng có ảnh hưởng không hề nhỏ đến quá trình lập kế hoạch Môi trường càng bất ổn định bao nhiêu thì kế hoạch càng mang tính định hướng và ngắn hạn bấy nhiêu Những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường tương đối ổn định thường có những kế
Kết quả
kinh doanh
Hình thành
Tăng trưởng
Chín muồi
Suy thoái
Thời gian
Trang 32hoạch dài hạn, tổng hợp và phức tạp, còn những doanh nghiệp hoạt động trong môi trường hay có sự thay đổi lại có những kế hoạch hướng ngoại và ngắn hạn Các nhà lập kế hoạch cần phải tính toán, phán đoán được sự tác động của môi trường kinh doanh, sự không chắc chắn của môi trường kinh doanh được thể hiện dưới ba hình thức sau:
Một là, tình trạng không chắc chắn: xảy ra khi toàn bộ hay một phần của môi
trường kinh doanh được coi là không thể tiên đoán được
Hai là, hậu quả không chắc chắn: là trường hợp mặc dù đã cố gắng nhưng
nhà quản lý không thể tiên đoán được những hậu quả do sự thay đổi của môi trường tác động đến các doanh nghiệp, do vậy mà dẫn đến sự không chắc chắn
Ba là, sự phản ứng không chắc chắn: là tình trạng không thể tiên đoán được
những hệ quả của một quyết định cụ thể, sự phản ứng của doanh nghiệp đối với những biến động của môi trường kinh doanh
Vì vậy, công việc của các nhà lập kế hoạch là phải đánh giá tính chất và mức độ không chắc chắn của môi trường kinh doanh để xác định giải pháp phản ứng của doanh nghiệp và triển khai các kế hoạch thích hợp Với những lĩnh vực
có mức độ không chắc chắn thấp thì việc xây dựng kế hoạch là ít phức tạp, nhưng những lĩnh vực có mức độ không chắc chắn cao thì đòi hỏi kế hoạch phải được xác định rất linh hoạt
1.3.4 Hệ thống các mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp
Mục tiêu là kết quả mong muốn cuối cùng của các cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp Mục tiêu chỉ ra phương hướng cho tất cả các quyết định quản lý và hình thành nên những tiêu chuẩn đo lường cho việc thực hiện trong thực tế Mục tiêu là nền tảng của việc lập kế hoạch
Do vậy, các nhà lập kế hoạch cần phải dựa vào hệ thống mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp mình để có các kế hoạch dài hay ngắn cho phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
1.3.5 Sự hạn chế của các nguồn lực
Khi lập kế hoạch các nhà lập kế hoạch phải dựa vào nguồn lực hiện có của doanh nghiệp mình Thực tiễn cho thấy sự khan hiếm của các nguồn lực là bài toán làm đau đầu các nhà quản lý khi lập kế hoạch Chính điều này nhiều khi còn làm giảm mức tối ưu của các phương án được lựa chọn Nguồn lực của doanh nghiệp
Trang 33bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn lực về tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc thiết bị, khoa học công nghệ,…
Trước hết là nguồn nhân lực, đây được coi là một trong những thế mạnh của nước ta, nhưng thực tế ở các doanh nghiệp còn rất nan giải Lực lượng lao động mặc dù thừa về số lượng nhưng lại yếu về chất lượng Số lượng lao động có trình độ quản lý, tay nghề cao còn thiếu nhiều, lực lượng lao động trẻ ít kinh nghiệm vẫn cần phải đào tạo nhiều
Tiếp đến phải kể đến là sự hạn hẹp về tài chính Nguồn lực tài chính yếu sẽ cản trở
sự triển khai các kế hoạch và nó cũng giới hạn việc lựa chọn những phương án tối ưu
Cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc thiết bị của doanh nghiệp cũng là nguồn lực hạn chế Thực tế hiện nay ở các doanh nghiệp nước ta hệ thống cơ sở vật chất
kỹ thuật còn yếu, thiếu và lạc hậu, trình độ khoa học công nghệ còn thấp Điều này
đã cản trở việc xây dựng và lựa chọn những kế hoạch sản xuất tối ưu
1.3.6 Hệ thống thông tin trong doanh nghiệp
Nhà kinh tế học người Anh Roney cho rằng: “Một công ty hoạt động trong nền kinh tế thị trường muốn chiến thắng trong cạnh tranh thì trước hết phải nắm được thông tin, tiếp đó phải xây dựng cho mình các chiến lược và kế hoạch đầy tham vọng”
Trong quá trình lập kế hoạch sản xuất kinh doanh thông tin sẽ giúp Bộ phận Lãnh đạo của doanh nghiệp có được các quyết định đúng đắn kịp thời
Trong nền kinh tế thị trường thì thông tin là quan trọng nhất, thông tin là cơ
sở của công tác lập kế hoạch Khi lập kế hoạch nhà quản lý cần dựa vào thông tin về các nguồn nhân lực, tài lực, vật lực và mối quan hệ tối ưu giữa chúng, làm cho chúng thích nghi với sự biến động của môi trường, giảm thiểu tính mù quáng của hoạt động kinh tế, đảm bảo tạo ra khối lượng sản phẩm lớn nhất với chi phí nhỏ nhất Đồng thời trong quá trình thực hiện kế hoạch thì chúng ta cũng cần phải dựa vào các thông tin phản hồi để có những điều chỉnh phù hợp
1.3.7 Hệ thống kiểm tra đảm bảo cho quá trình lập kế hoạch đạt hiệu quả cao
Kiểm tra đảm bảo cho các kế hoạch được thực hiện với hiệu quả cao Trong thực tế, những kế hoạch tốt nhất cũng có thể không được thực hiện như ý muốn Các nhà quản lý cũng như cấp dưới của họ đều có thể mắc sai lầm và kiểm tra cho phép chủ động phát hiện, sửa chữa các sai lầm đó trước khi chúng trở nên nghiêm trọng để mọi hoạt động của tổ chức được tiến hành theo đúng kế hoạch đã đề ra
Trang 34CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THỜI TRANG QUỐC TẾ TAKE Á CHÂU
2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu
2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu
Tên doanh nghiệp: Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu
Tên giao dịch: Take A Chau Fashion Joint Stock Company
Trụ sở chính: 234 Ngô Gia Tự, Quận Long Biên, Hà Nội
Tel: (084).63251381
Fax: (084).463251381
Lĩnh vực hoạt động SXKD: may mặc
Tổng diện tích mặt bằng: 34169 m2
Tổng số cán bộ nhân viên: 2.500 người
Năng lực sản xuất: 9 triệu sản phẩm /năm (quy đổi theo áo sơ mi chuẩn) Tổng số máy móc thiết bị chyên dùng: 1852 máy
Từ một cơ sở nhỏ bé ít danh tiếng trong ngành Dệt may Việt Nam, qua hơn 10 năm đổi mới công nghệ và quản lý theo hướng hiện đại, Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu đã vươn lên thành một doanh nghiệp sở hữu Nhà nước, quy mô tương đối lớn, xuất khẩu sản phẩm may mặc có uy tín trên thị trường thế giới
Tiền thân của Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu là Xí nghiệp may mặc xuất khẩu Á Châu thành lập theo quyết định số 423 QĐ/UB ngày 02/3/1990 của UBND Thành Phố Hà Nội
Năm 1990-1991, tình hình chính trị kinh tế Liên xô và các nước Đông Âu có nhiều biến động, hoạt động của Xí nghiệp rơi và tình trạng hụt hẫng và bế tắc Sau 2 năm điêu đứng tưởng chừng không thể tồn tại, Xí nghiệp đã từng bước vượt qua khó khăn, khẳng định và phát triển bằng cách chuyển hướng sản xuất, tiếp cận thị trường các nước Tư bản Trong thời gian này, Xí nghiệp tập trung vào may hàng xuất khẩu vào thị trường EU và đồng thời làm hàng trả nợ cho Cộng Hoà Liên Bang Nga, Li Bi với các mặt hàng đa dạng như: áo sơ mi, áo jắckét, quần áo thể thao Bên
Trang 35cạnh đó, Xí nghiệp cũng đã kí nhiều hợp đồng với khách hàng đặt nhiều gia công như: Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản,
Năm 2000, Xí nghiệp may xuất khẩu Á Châu đã chuyển thành Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu theo Quyết định số 343 QĐ/UB ngày 7/2/2000 của UBND Thành Phố Hà Nội
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng công ty Dệt May Việt Nam (Vinatex) là một doanh nghiệp
hạch toán độc lập và có quyền xuất khẩu trực tiếp
Nhiệm vụ kinh doanh chủ yếu của Công ty bao gồm:
- Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm may mặc phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước
- Tiến hành kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp, gia công sản phẩm may mặc có chất lượng cao theo đơn đặt hàng của khách hàng
- Công ty phải đảm bảo kinh doanh có hiệu quả, hoàn thành tốt nghĩa vụ được giao đối với Nhà nước, đảm bảo công ăn việc làm ổn định, cải thiện đời sống của cán bộ công nhân viên trong Công ty
- Tuân thủ các quy định pháp luật chính sách của Nhà nước, báo cáo định kỳ lên Tổng công ty, tiến hành sản xuất kinh doanh theo sự chỉ đạo của Tổng công ty
- Bảo vệ doanh nghiệp, môi trường giữ gìn trật tự an toàn xã hội theo quy định của luật pháp thuộc phạm vi quản lý của Công ty
Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty là sản xuất các mặt hàng dệt may Các mặt hàng chủ yếu của Công ty là: áo jắckét, áo sơ mi, quần âu, quần áo trượt tuyết,…
2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty
2.1.3.1 Đặc điểm tổ chức quản lý của Công ty
Tại Công ty cổ phần thời trang quốc tế Take Á Châu, bộ máy quản lý được
tổ chức theo mô hình trực tuyến
a) Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ)
Là cơ quan quyền lực cao nhất của Công ty, quyết định các vấn đề liên quan đến chiến lược phát triển dài hạn của Công ty Các vấn đề do ĐHĐCĐ quyết định
Trang 36thường được thực hiện thông qua biểu quyết Nghị quyết được thông qua khi có trên 51% số phiếu tham gia cuộc họp ĐHĐCĐ đồng ý ĐHĐCĐ bầu ra Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát của Công ty
b) Hội đồng quản trị (HĐQT)
Là cơ quan quản lý của Công ty, đứng đầu là Chủ tịch HĐQT Thay mặt HĐQT điều hành Công ty là Tổng giám đốc HĐQT hoạt động tuân thủ theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ của Công ty
c) Ban kiểm soát
Là cơ quan giám sát hoạt động của ĐHĐCĐ, đứng đầu là Trưởng ban kiểm soát
d) Khối quản lý
Là những Phòng, Ban tham gia giám sát và tổ chức sản xuất
e) Khối phục vụ sản xuất
Là những bộ phận có trách nhiệm giúp đỡ bộ phận sản xuất trực tiếp khi cần
g) Khối sản xuất trực tiếp
Là bộ phận trực tiếp sản xuất tạo ra sản phẩm
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy tổng quát của Công ty
Nguồn: Văn phòng Công ty
Khối quản lý sản xuất