nền công nghiệp việt nam trong thời kỳ đổi mới tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về t...
Trang 1MÔN: THÔNG TIN KINH TẾ THƯƠNG MẠI
NỀN CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Là người Việt Nam ai cũng tự hào về dân tộc mình, về lịch sử và truuyền thống hào hùng cuả dân tộc, chúng ta là những anh hùng trên chiến trường, đã từng đánh bại và làm khiếp sợ bao kẻ thù xâm lược song trên mặt trận kinh tế liệu chúng ta có phải là những anh hùng?
Có thể nói rằng thời đại của nhũng cuộc đọ sức bằng súng, những cuộc càn quét huy động đến hàng triệu người,… nhằm chứng tỏ sức mạnh quân sự, sự giàu có và quyền lực đã qua rồi Song điều đó không có nghĩa là thới đang hoà bình, không còn chiến tranh, không còn chạy đua nhằm thể hiện quyền làm chủ của mình mà đơn thuần chỉ là một sự chuyển đổi về hình tức đấu tranh, từ đấu sức chuyển sang đấu chí, từ đấu tranh trên mặt trận quân sự sang mặt trận kinh
tế, và dĩ nhiên độ khốc liệt của nó chẳng hề thuyên giảm thậm chí còn gay go và quyết liêt hơn rất nhiều Không chỉ là sự thay đổi về hình thức mà mặt trận đấu tranh cũng đã có bước chuyển đổi từ mặt trận quân sự sang mặt trận kinh tế Nếu như trước đây vũ khí là công cụ để đấu tranh thì giờ đây trí tuệ là công cụ hữu ích, là vũ khí sắc bén nhất để quyết định thắng lợi
Là một dân tộc độc lập tự do và có chủ quyền, Việt Nam là một phần của thế giới đầy biến động này vì thế chúng ta chưa bao giờ la một ngoại lệ cho những cuộc đọ sức dân tộc Trước đây trong thời đại đấu tranh quân sự, Việt Nam đã khẳng định được chỗ đứng của mình với thế giới và khiến nhân loại phải nể phục, khiền kẻ thù phải khiếp sợ Dân
Tộc nhỏ bế mà kiên cường ấy đã đấnh bại tất cả những kẻ thù hùng mạnh nhất để khẳng định chỗ đứng của dân tộc mình và trong thời đại hiện nay, chúng
ta cũng đang từng buớc cố gắng để treo kịp sự phát triển của nhân loại
Là một nước nông nghiệp chem Phát triển, Việt Nam có một xuất phát điểm không mấy thuận lợi, lại phải trải qua một thời kỳ chiến tranh tàn phá khốc liệt đã làm ảnh hưởng lớn đến nèn kinh tế nước nhà Ngày 30 tháng 4 năm 1975,
Trang 2khi Việt Nam chính thức trở thành một nước độc lập, dân chủ nền kinh tế Việt Nam gần như ở mức xuất phát điểm, nhà nước vẫn đang thực hiện chế độ bao cấp - điều này đã gây ra những trở ngại lớn trong một thời gian dài cho nền kinh
tế Việt Nam Suốt 10 năm, từ năm 1975 đến năm 1986, nền kinh tế Việt Nam không hề khởi sắc, và một yêu cầu cấp bách đặt ra cho chúng ta là phải tiến hành cảI cách,đổi mới về kinh tế nhằm tìm ra một hướng đổi mới phù hợp cho dân tộc Thấy rõ đựơc yêu cầu trên, năm trong đại hội đảng lần thứ 6 (12/1986), Đảng và nhà nước ra chính sách đổi mới đưa nền kinh tế Việt Nam vào thời kỳ mới: xoá bỏ bao cấp xây dựng nền kinh tế thị trường trong thời kỳ đổi mới
Một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, chiếm một tỷ trọng lớn trong GDP là công nghiệp, đặc biệt đối với nước ta thì vấn đề này càng trở nên bức thiết bởi mục tiêu xuyên suốt và hàng đầu trong công cuộc đổi mới là công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệp Việt Nam trong thời đại mới đang và đã là vấn đề quan tâm hàng đầu quan tâm của Đảng và nhà nước
Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất và cũng khó khăn nhất mà các nền kinh tế chuyển đổi phải giải quyết để có thể nhanh chóng trở thành nền kinh tế thị trường là xoá bao cấp Tôi cho xoá bao cấp là bài thuốc thử thành công của các nền kinh tế chuyển đổi Có thể thông qua vấn đề xoá bao cấp mà lý giải rất nhiều quá trình diễn ra trong thời kỳ chuyển đổi Và chần chừ hoặc va vấp trong việc giải quyết vấn đề này là lý do quan trọng nhất của sự chậm trễ trong công cuộc cải cách, mở cửa của nhiều quốc gia thuộc các nền kinh tế chuyển đổi
Bởi vì toàn bộ thể chế kinh tế được xây dựng trên cơ sở bao cấp cho nên xoá bao cấp sẽ tạo ra đột phá cho tăng trưởng Bên cạnh đó, xoá bao cấp một cách thiếu bài bản cũng có thể tạo ra khoảng trống cho các tiêu cực nẩy sinh Điều này lý giải tại sao hầu hết các nước chuyển đổi trong khi đạt nhiều thành tích phát triển kinh tế thì giáo dục, y tế và nhiều dịch vụ công cộng khác lại bị xuống cấp nghiêm trọng Việt Nam rất thành công trong xoá bao cấp về giá sản phẩm nông nghiệp (đi đầu trong số các nước Xã hội chủ nghĩa cũ về áp dụng cơ chế giá thị trường trong mua, bán sản phẩm của nông dân), nhưng lại rất chật vật trong xóa bao cấp về vốn cho các xí nghiệp quốc doanh và cải tổ khu vực này
Trang 3Tình trạng thiếu khung pháp lý cộng với cơ chế bao cấp đã làm cho tham nhũng trở nên nặng nề ở các nền kinh tế chuyển đổi Có thể nói, cơ chế bao cấp (mà nguồn gốc của nó là sự giáo điều, nóng vội và duy ý chí trong vận dụng tư tưởng xã hội Xã hội chủ nghĩa mong đạt đến một "sự phát triển toàn diện của mọi thành viên trong xã hội" mà không tính đến điều kiện xã hội còn quá thiếu thốn về vật chất) là rào cản lớn nhất của quá trình chuyển đổi Trong nền kinh tế bao cấp thiếu một động lực quan trọng cho sự tăng trưởng, đó là lợi ích cá nhân Tâm lý dựa dẫm, ỷ lại tồn tại trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Mặc dù tình trạng tham ô không lớn, nhưng thói quen trông chờ vào Nhà nước, lười suy nghĩ, thiếu sáng kiến đã làm cho kinh tế trì trệ kéo dài và tác động tiêu cực đến
tư duy của con người Một khi tư duy đã bị tha hoá thì rất khó chấp nhận sự thay đổi Sự chuyển đổi của xã hội vì thế mà bị khủng hoảng, có khi đem lại tổn thất
to lớn như ta đã chứng kiến
Công cuộc đổi mới còn chịu lực cản từ phía những người vốn được hưởng lợi từ cơ chế bao cấp (một bộ phận trong số họ có vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách) Lấy cớ bảo vệ thành quả của Chủ nghĩa xã hội, những người này ra sức cản trở công cuộc "đổi mới", chuyển từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường, trong khi vẫn lợi dụng tình trạng "tranh tối tranh sáng" và thiếu khung pháp lý để vơ vét của công không thương tiếc
Chọn khâu đột phá là xoá bao cấp về giá (Nghị quyết của Hội nghị 4 Trung ương Khoá VI, 1981), Việt Nam đã mở đầu thành công trong công cuộc chuyển đổi Tuy nhiên, tự do hoá giá cả đã không thu được kết quả như nhau trong các lĩnh vực của nền kinh tế Khu vực được hưởng lợi nhiều nhất từ tự do hoá giá cả là nông nghiệp (cũng bởi vì nông thôn được bao cấp ít nhất) áp dụng giá thị trường trong mua bán nông sản cùng với cơ chế "khoán 10" áp dụng từ năm 1988 đã thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam, đưa nông dân trở lại vị trí người chủ ruộng đất mà họ đang cày cấy (Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam 4/1988 với nội dung chủ yếu là trao lại tư liệu sản xuất cho
hộ nông dân, cũng tức là trao quyền tự chủ cho họ) Như vậy, không phải cách mạng kỹ thuật mà chính là thay đổi cơ chế (xoá bao cấp, bao biện) đã dẫn đến
Trang 4cuộc bứt phá ngoạn mục trong nông nghiệp khiến Việt Nam từ chỗ nhập khẩu trên dưới một triệu tấn gạo/ một năm trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ nhì thế giới
Sự thay đổi cơ chế đã giải phóng sức sáng tạo của nông dân, họ không dừng lại ở tăng sản lượng mà còn thay đổi cách làm ăn, tăng vụ, thay đổi cơ cấu kinh tế Do tiềm năng nhỏ bé của nền tiểu nông nên sự chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp diễn ra chậm chạp trong những năm đầu “đổi mới” (1990 - 2000), nhưng, như "mưa dầm thấm lâu", quá trình này đã dẫn đến sự đột phá trong kinh
tế mấy năm gần đây Nếu như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong những năm trước chủ yếu là hành động tự phát của từng hộ nông dân, từng chủ trang trại thì từ 2002 - 2003 quá trình này đã được sự đỡ đầu, bảo trợ của chính quyền
Nông dân Hải Dương đã thành công trong việc chuyển từ trồng lúa sang trồng cây ăn quả (táo, dưa hấu, cam Canh đường), nay chính quyền tỉnh đang vận động nông dân tham gia dự án trồng hoa hồng xuất khẩu với cam kết: "nếu trồng hoa hồng hiệu quả thua lúa tỉnh đền nông dân" Uỷ ban Nhân dân xã Đoàn Thượng, Huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương hợp tác với Công ty Nhân Văn đầu tư cho nông dân có ruộng tham gia dự án trồng hoa hồng với mức 480.000 đ/sào,
hỗ trợ 50% tiền mua giống và đào tạo những nông dân chủ chốt của dự án thành các kỹ thuật viên, hưởng lương kỹ thuật 320.000 đ/người/tháng trong vòng 4 năm Sản phẩm của những diện tích tham gia dự án được Công ty Nhân Văn bao tiêu (mua hết sản phẩm) Có một bước tiến vượt bậc về thu nhập trên một ha tại vùng đất "thuần lúa" xưa kia: từ chỗ chỉ thu được do trồng lúa mỗi năm từ 5 đến
10 triệu đồng/ ha, nay thu nhập đã tăng lên tới 200 - 270 triệu đồng/ ha nếu trồng dưa hấu và 500 triệu đồng/ ha nếu trồng hoa hồng xuất khẩu Lần đầu tiên nông dân ở đây đã trồng được hoa hồng xanh, hoa hồng đen Có cán bộ thường đi nước ngoài công tác đã nhận xét: thị trường hoa của Việt Nam mấy năm gần đây
đã phong phú hơn ở Mỹ và nhiều nước châu Âu
Sự chuyển đổi cơ cấu trong nông nghiệp đã lan nhanh đến cả những địa phương vốn là những vùng có điều kiện tự nhiên và hạ tầng khó khăn như các
Trang 5tỉnh miền Trung, miền núi Trong dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, tháng 5/2004 vừa qua, du khách đã rất ngạc nhiên khi được thưởng thức cá nuôi trên vùng núi cao trước đây đến rau ăn cũng hiếm Các "hồ treo" trên núi tại Điện Biên không những cung cấp cá cho các nhà hàng, khách sạn trong dịp lễ hội mà còn là những điểm tham quan thú vị của du khách Xã nghèo ven biển Quỳnh Lương, Nghệ An trước kia, nay đã giàu lên nhờ trồng rau, màu Thu hoạch từ rau, màu đạt trên 100 triệu đồng/ ha, gấp 20 lần trồng lúa; cả xã có
17 xe chuyên dùng để chở rau đi bán tỉnh xa Nghề nuôi tôm trên cát đã góp phần xoá nghèo và vươn lên giàu có cho nhiều vùng đất chua mặn quanh năm nghèo đói trước đây
Quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp mất dần tính tự phát đã kéo theo những biến chuyển về chất của nền nông nghiệp Việt Nam Chỉ trong vòng hơn một năm qua đã có nhiều thương hiệu sản phẩm nông nghiệp đưa ra thị trường quốc tế như: nước mắm Phú Quốc, bưởi Năm Roi, cà phê Trung Nguyên Sản phẩm lưu thông trong nước cũng đang nhanh chóng đi theo
xu hướng có thương hiệu đảm bảo cho chất lượng ổn định để duy trì thị trường Tính "dã man" của kinh tế thị trường Việt Nam đang nhanh chóng nhường chỗ cho một nền thương mại văn minh
Mặc dù những thành tựu đạt được trong phát triển nông nghiệp, lĩnh vực này vẫn đang phải đối đầu với những thách thức lớn Một trong số những thách thức đó là trình độ văn hoá, kỹ thuật của người lao động Nông dân rất nhanh nhạy tham gia kinh tế thị trường, nhưng do trình độ văn hoá và kỹ thuật thấp nên kết quả thu được vẫn còn hạn chế, thể hiện điều mà nhiều chuyên gia nhận định rằng chất lượng tăng trưởng của kinh tế còn thấp Có thể minh hoạ điều này qua thí dụ về tỉnh Nghệ An nêu trên: trong số 71.526 hộ sản xuất giỏi của tỉnh này, chỉ có 14% qua các lớp trung cấp, sơ cấp kỹ thuật hoặc quản lý
Khu vực được hưởng lợi thứ hai nhờ xoá bao cấp là công thương nghiệp ngoài quốc doanh, nay gọi là khu vực dân doanh Do nhận thức cũ, coi doanh nghiệp dân doanh là thành phần "phi xã hội chủ nghĩa" nên quá trình chuyển từ cấm đoán sang không cấm rồi khuyến khích doanh nghiệp dân doanh diễn ra
Trang 6chậm hơn so với nông nghiệp Mãi đến năm 2000, cùng với thi hành Luật Doanh nghiệp, khu vực dân doanh mới có được khung pháp lý thuận lợi để phát triển Nhiều người đánh giá Luật Doanh nghiệp đã tạo ra bước đột phá tương tự như "khoán 10" trong nông nghiệp Chỉ sau 3 năm thi hành Luật Doanh nghiệp,
đã có gần 73000 doanh nghiệp đăng ký mới với số vốn xấp xỉ 9,5 tỷ USD (tương tự khối lượng FDI đạt được cùng thời gian), tạo việc làm cho gần một nửa số lao động tăng thêm hàng năm Nếu Luật Doanh nghiệp được thi hành nghiêm túc hơn, doanh nghiệp dân doanh được dễ dàng hơn trong vay vốn ngân hàng và thuê mặt bằng sản xuất thì hiệu quả mà khu vực này đem lại còn lớn hơn
Mặc dù vẫn duy trì bao cấp trong các lĩnh vực công cộng và phúc lợi xã hội như y tế, giáo dục, văn hoá, giao thông công cộng, vệ sinh môi trường v.v nhưng việc thực hiện "xã hội hoá" cũng đã giảm nhiều tình trạng xuống cấp của khu vực này Đặc biệt, chính sách đoàn kết nêu ra tại Đại Hội lần thứ 9 Đảng cộng sản việt Nam (4/2003) "phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân" "lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng " đã làm yên lòng giới kinh doanh
tư nhân và động viên được các nguồn nội lực Trong các năm 2001 - 2003 đầu
tư của khu vực tư nhân đã bù lại được sự giảm sút của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khu vực được bao cấp lớn nhất trong kinh tế Việt Nam cho đến nay vẫn
là khối các doanh nghiệp nhà nước Với lý thuyết "ưu tiên phát triển công nghiệp" (có thời kỳ còn đề ra khẩu hiệu "ưu tiên phát triển công nghiệp nặng"), Việt Nam đã dành sự bao cấp to lớn cho công nghiệp Các xí nghiệp quốc doanh
sở hữu gần như toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế, hầu hết cán bộ
kỹ thuật và công nhân lành nghề Mặc dù trình độ quản lý yếu kém, tiền lương thấp, nhưng do được bảo hiểm của Nhà nước nên khu vực này vẫn có sức hút mạnh hơn so với khu vực tư nhân mới bắt đầu phát triển từ sau khi có Luật Doanh nghiệp (có hiệu lực từ năm 2000) Điều đó giải thích tại sao việc cổ phần
Trang 7hoá khu vực này diễn ra chậm chạp (bên cạnh sự chống đối của những người muốn dựa vào cơ chế bao cấp cũ)
Sức mạnh vật chất của kinh tế nhà nước cộng với lợi ích mà nó đem lại cho một bộ phận đông đảo dân cư khiến cho không thể nóng vội cải tổ khu vực này Ngay cả những kinh tế gia ít chuyên sâu về kinh tế Việt Nam (như Joseph Stigliz, người được giải Nobel kinh tế) cũng khuyên Chính phủ Việt Nam không nên cổ phần hoá khu vực doanh nghiệp nhà nước với bất cứ giá nào, mà nên phát triển khu vực tư nhân bên cạnh khu vực nhà nước đồng thời với cải tổ xí nghiệp quốc doanh Còn những người am hiểu Việt Nam như ông Jhozev Hà, nguyên chủ tịch tập đoàn Daewoo, Hàn Quốc, thì khuyên Việt Nam không nên vội vã tư nhân hoá ngành công nghiệp nặng đã được xây dựng từ thời bao cấp,
vì đó là sức mạnh kinh tế của đất nước Tuy nhiên, chuyển hướng đầu tư cho công nghiệp nặng theo hướng phát triển ngành công nghiệp phụ trợ như kiến
nghị của giáo sư Trần Văn Thọ tại Hội thảo hè năm 2002 là giải pháp cấp bách
Nhân đề cập đến vấn đề phát triển công nghiệp phụ trợ, từ năm 2003 đã có những tín hiệu đáng mừng: các ngành sản xuất ô tô, xe máy, ti vi, máy vi tính đang chuyển hướng đầu tư sản xuất phụ tùng, linh kiện thay thế để giảm bị động trong sản xuất và hưởng các ưu đãi của Nhà nước
Nhiều nền kinh tế chuyển đổi tìm thấy cơ hội xoá cơ chế bao cấp thông qua việc hội nhập vào kinh tế thế giới Những thành tích Việt Nam đạt được trong xuất khẩu từ sau khi Hiệp định thương mại ký với Hoa Kỳ có hiệu lực đã
củng cố quyết tâm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Ngoài việc
khẩn trương sửa đổi luật pháp cho phù hợp các cam kết của WTO, điều hành nền kinh tế cũng đang chuyển theo hướng xoá dần bao cấp, tạo môi trường bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế Ví dụ sinh động nhất mới đây là chủ trương giảm thuế nhập khẩu thép thành phẩm từ 20% - 40% xuống mức 0% trong cơn sốt giá thép thế giới từ đầu năm 2004 bất chấp phản ứng mạnh mẽ của các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước Thời hạn thực hiện cam kết AFTA giảm thuế hải quan xuống mức 0% - 5% đang đến gần đã khiến doanh nghiệp quan tâm đến đầu tư chiều sâu, áp dụng công nghệ mới và tiếp thị để nâng cao sức cạnh
Trang 8tranh Trong cuộc chạy đua này, nhiều doanh nghiệp tư nhõn đó tỏ ra năng động
và cú được thành cụng đỏng mừng Tai Hội chợ quốc tế Cụn Minh, Trung Quốc thỏng 6 vừa qua, phần lớn trong số cỏc doanh nghiệp ký được hợp đồng xuất khẩu là doanh nghiệp tư nhõn
Thời gian đầu của quá trình đổi mới chúng ta còn mắc nhiều sai lầm, thiếu xót do cha thấy rõ đựoc thực trạng nền kinh tế nớc nhà, các chỉ tiêu đặt ra cha dựa trên những cơ sở và tiền đề của nền kinh tế, tập trung chú trọng phát triển công nghiệp nặng trong khi cơ sở vật chất của chúng ta cha đủ hiện đại để đáp ứng trong khi đó lại coi nhẹ công nghiệp nhẹ- mà đây lại là yếu tố tiền đề cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá Bởi vậy mà thời kỳ đầu của quá trình đổi mới, nền công nghiệp nớc ta không thu đợc nhiều kết quả khả quan song từ sau năm những năm 1990,Đảng và nhà nớc đã dần đa nớc ta đi đúng hớng trên con đờng
đổi mới, chú trọng phát triển công nghiệp nhẹ, chú trọng 3 mặt hàng chính : hàng tiêu dùng, lơng thực thực phẩm và hàng xuất khẩu Bên cạnh đó đầu t phát triển các ngành công nghiệp năng và công nghiệp điện tử
Sự kiện tiêu biểu đánh dấu một bớc ngoặt quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam là đầu năm 2007 vừa qua chúng ta đã chính thức gia nhập tổ chức
th-ơng mại thế giới (WTO), nó đã tạo ra sự thay đổi lớn trong bức tranh kinh tế Việt Nam trong thời đại mới, tạo ra những cơ hội mới, thách thức mới cho nền kinh tế nớc nhà
Theo nh ông Nguyễn Ngọc Phúc, thứ trởng bộ kế hoạch đầu t đã có những
đánh giá về sự kiện này nh sau:
“ Trở thành thành viên của WTO, các doanh nghiệp nhà nớc Việt Nam sẽ
có cơ hội tận dụng đợc nhiều điều kiện thuận lợi do nhũng nguyên tắc và quy
định của tổ chức này đem lại để nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trờng xuất khẩu và từng bớc tham gia các chuỗi giá trị và dây chuyền cung cấp toàn cầu
Lợi ích cụ thể trớc nhất là giảm giá thành đầu vào cho sản xuất Việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ cho phép hàng hoá nhập khẩu có cơ hội thâm nhập sâu hơn vào thị trờng trong nớc Ngời tiêu dùng sẽ đợc mua hàng với giá thấp hơn, mẫu mã đa dạng hơn; đồng thời các doanh nghiệp nói chung và các doanh
Trang 9nghiệp nhà nớc nói riêng tham gia vào qúa trình sản xuất sẽ có nhiều cơ hội hơn
để lựa chọn nguyên vật liêu đầu vào đa dạng hơn, ở mức chi phí và chất lợng hợp lý
Thứ hai, để ra nhập WTO chính phủ phải từng bớc thực hiện những
điều chỉnh cần thiết đối với các quy định, luật lệ và chính sách kinh tế vĩ mô cho phù hợp luật chơI quốc tế phổ biến Điều này tạo môi truờng đầu t và kinh doanh ngày càng thuận lợi và thông thoáng cho hoạt động của tất cả các doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp nhà nớc
Thứ 3, Việt Nam gia nhập WTO tạo cơ hội cho các doanh nghiệp nhà nớc tiếp cận thị truờng rộng lớn hơn cùng với một chế độ đối xử nh đối với mọi thành viên khác của tổ chức, những cam kết giảm trợ cấp, mở rộng hạn ngạch xuất khẩu của các nớc, nhất là nhóm nớc phát triển có thể giúp Việt nam dành đợc nhiều thị truờng hơn, tăng xuất khẩu nhiều hơn các mặt hàng nông sản
và dệt may
Thứ 4, các doanh nghiệp nhà nớc Việt Nam sẽ có tiếng nói mạnh hơn, có quyền thơng lợng và khiếu nại công bằng hơn với các cuờng quốc thơng mại trong tranh chấp dựa trên những luật lệ chung
Thứ 5, gia nhập WTO cũng đồng nghĩa với các doanh nghiệp nhà
n-ớc sẽ óc cơ hội tham gia vào sân chơi mới với luật chơI chung toàn cầu Điếu đó một mặt gây áp lực to lớn khiến các doanh nghiệp nhà nớc phải điều chỉnh, thích nghi cho phù hợp, mặt khác chính là động lực để các doanh nghiệp này nhìn nhận lại mình, hiểu đợc thc chất điểm mạnh, điểm yếu để từ đó đổi mới tổ chức lại theo hớng gọn nhẹ, hiệu quả, tiến tới trở thành những tập đoàn lớn mạnh
Tuy nhiên, việc gia nhập WTO cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam và khu vực doanh nghiệp nhà nớc nói riêng Những quy tắc, luật lệ của WTO gây nhiều thiệt thòi cho các doanh nghiệp của nền kinh tế đang phát triển
Thách thức cũng nảy sinh từ năng lực canh tranh yếu kém và hiệu qủa kinh doanh thấp Tình trạng tiêu hao nguyên liệu cao, chi phí quản lý lớn và chất lợng nguồn nhân lực thấp làm giá thành sản phẩm tăng, giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nớc trên thị trờng Bao trùm lên là đội ngũ cán bộ quản lý
Trang 10doanh nghiệp còn cha thích ứng với thị truờng , tinh thần tự chủ cha cao, vẫn còn
ỷ lại vào nhà nớc
CảI cách doanh nghiệp nhà nớc mà trọng tâm là cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nớc trong quá trình hội nhập, đặc biệt gia nhập WTO Tuy nhiên, quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam diễn
ra còn chậm và nhiều hạn chế đang đặt ra những thách thức lớn
Một là, tốc độ cổ phần hoá diễn ra còn chậm, thời gian thực hiện cổ phần hoá còn quá dài Theo báo cáo kết quả khảo sát của dự án hỗ trợ kỹ thuật giám sát chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nớc tại 934 doanh nghiệp đã cổ phần hoá cho thấy thời gian cổ phần hoá một doanh nghiệp nhà nớc là 437 ngày
Hai là, việc đa dạng hoá sở hữu trong cổ phần hoá còn nhiều hạn chế Nhà nớc còn chiếm tỷ trọng lớn trong vốn điều lệ ở nhiều doanh nghiệp không thuộc diện cần giữ cổ phần chi phối, phổ biến ở các tổng công ty nhà nớc thuộc các ngành xây dựng giao thông
Ba là, các doanh nghiệp nhà nớc cổ phần hoá chủ yếu mới ở quy mô nhỏ và vừa Tổng số vốn nhà nớc của tất cả các doanh nghiệp nhà nớc cổ phần hoá chỉ bằng 8,2% tổng số vốn nhà nớc hiện có trong các doanh nghiệp nhà nớc
Bốn là, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc vẫn cha thay đổi đợc
ph-ơng pháp quản lý cũ của doanh nghiệp nhà nớc Điều này thờng xảy ra ở những doanh nghiệp mà nhà nớc còn giữ cổ phần quá lớn Ban lãnh đạo của doanh nghiệp cổ phần đều từ doanh nghiệp nhà nớc chuyển sang dẫn đến tình trạng “ bình mới rợu cũ”
Năm là, một số doanh nghiệp nhà nớc sau khi cổ phần hoá hoạt
động kém hiệu quả so với trớc khi cổ phần hoá Do hoạt động trong những ngành, lĩnh vực có điều kiện phát triển khó khăn, công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao
Trớc thực tế nhiều doanh nghiệp nớc ta chỉ biết lầm lũi làm ăn mà cha có sự chuẩn bị cho việc gia nhập đấu trờng thơng mại, chúng ta cần tiếp tục
có chính sách, chơng trình tuyên truyền, vận động giúp họ nhìn nhận ra những khó khăn thách thức sắp phải đối mặt.”