Nhu cầu sử dụng hàng hóa công và dịch vụ công trong thời kỳ hội nhập kinh tế , NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ Nhu cầu sử dụng hàng hóa công và dịch vụ công trong thời kỳ hội nhập kinh tế . THỰC TIỄN VỀ Nhu cầu sử dụng hàng hóa công và dịch vụ công trong thời kỳ hội nhập kinh tế . GIẢI PHÁP VỀ Nhu cầu sử dụng hàng hóa công và dịch vụ công trong thời kỳ hội nhập kinh tế
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
Lý do chọn đề tài:
Với sự ra đời của các thể chế toàn cầu và khu vực như WTO (Tổ chức thương mạithế giới), EU( Cộng đồng Châu Âu), APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á –Thái Bình Dương), NAFTA (Hiệp định Mậu Dịch Tự Do Bắc Mỹ) thế giới ngàynay đang sống trong quá trình toàn cầu hóa mạnh mẽ Quá trình này thể hiệnkhông chỉ trong lĩnh vực thương mại mà cả trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ,tài chính, đầu tư với các hình thức đa dạng và mức độ khác nhau Theo xu thếchung của thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế Để làm được điều đó thì Chính Phủ phải có các chính sách phù
Trang 2hợp hơn với vấn đề “Nhu cầu sử dụng hàng hóa công và dịch vụ công trong thời
Trang 3sóc sức khỏe ban đầu của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao Cácdịch vụ công khác như văn hóa, thông tin, chiếu sáng cộng đồng, dịch vụ nhà ởcung cấp điện nước, thu gom rác thải đều do Nhà nước trực tiếp tổ chức cungứng cho xã hội Mọi người dân đều có cơ hội gần như nhau trong việc hưởng thụcác dịch vụ công do Nhà nước cung ứng Bước vào thời kỳ đổi mới, Nhà nước đã
mở cửa một số lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp và dịch vụ công ích cho sự tham gia củacác thành phần kinh tế Tuy nhiện, do sự tham gia của khu vực tư nhân và các tổchức xã hội cung ứng các loại dịch vụ công vẫn còn ở giai đoạn bước đầu vớinhững kết quả còn khiêm tố, nên Nhà nước ta vẫn đảm nhiệm việc cung ứng phầnlớn các dịch vụ công
Bên cạnh đó, thất bại của thị trường làmột trong những trường hợp mà thị trườngcạnh tranh không thể sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ ở mức hiệu quả xã hội Có 5loại thất loại thất bại thị trường là
Trang 5hơn về Hàng Hóa Công và các dịch Vụ Công của Chính Phủ trong cung việc cungcấp và quản lý chúng trong giai đoạn hiện nay.
I Tình hình nền kinh tế Việt nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế
Quá trình hội nhập kinh tế của nước ta ngày càng sâu rộng, để dân tộc khôngđánh mất mình trong thế giới luôn phát triển và biến động khó lường, để hộinhập mà không hòa tan, hơn bao giờ hết, Đảng ta đã chủ trương tích cực triểnkhai “Chiến lược phát triển văn hóa đến 2020” Việc tiếp thu chọn lọc các giátrị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, học tập những kinh nghiệmtốt xây dựng và phát triển văn hóa của các nước trên thế giới được đẩy mạnh
Mở rộng giao lưu văn hóa với nước ngoài đi đôi với việc giữ gìn, bồi đắp bảnsắc văn hóa của dân tộc, từ đó phát triển văn hóa Việt Nam lên một tầm caomới, góp phần vào sự phát triển của nhân loại Theo đó, sự phát triển của nềnsản xuất hàng hóa hướng ra xuất khẩu đã thúc đẩy hoạt động ngoại thương và
Trang 6rệt Một mặt, hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, phát triển các vùngchuyên canh quy mô lớn, các trung tâm công nghiệp và dịch vụ lớn Mặtkhác, những vùng sâu, vùng xa, vùng núi và biên giới và hải đảo cũng được
ưu tiên phát triển Nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong xóa đóigiảm nghèo, đời sống vật chất và tinh thần của đông đảo nhân dân được cảithiện
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nước ta cũng gặp không ít nhữngkhó khăn Vấn đề việc làm, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, xóa đóigiảm nghèo, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội Để khắc phụcnhững điều đó, Chính Phủ phải tăng cường cung cấp các hàng hóa công
và dịch vụ công, phục vụ nhu cầu đời sống của nhân dân một cách tốtnhất
II Khái niệm và thuộc tính cơ bản của hàng hóa công
II.1 Khái niệm:
Trang 7Hàng hóa công cộng là những loại hàng hóa mà việc một cá nhân này đanghưởng thụ lợi ích do hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những nhữngngười khác cùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của nó.
II.2 Thuộc tính cơ bản của hàng hóa công cộng
- Hàng hóa công cộng không có tính cạnh tranh tiêu dùng Khi có thêm mộtngười tiêu dùng sử dụng hàng hóa thì cũng không làm ảnh hưởng đến lợiích của những người đang tiêu dùng hàng hóa này
- Hàng hóa công cộng không có tính loại trừ, tức là không thể loại trừ hoặcrất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân từ chối không chịu trả tiềncho việc tiêu dùng của mình
Hàng hóa công mang đầy đủ hai đặc tính trên thì gọi là hàng hóa côngthuần túy Trên thực tế có rất ít hàng hóa công cộng thỏa mãn cả hai thuộctính nói trên Đa số hàng hóa công chỉ có một trong hai thuộc tính và cónhững mức độ khác nhau Những hàng hóa đó là những loại hàng hóa công
Trang 8không thuần túy Tùy theo mức độ tạo ra ngoại ứng trong sản xuất hoặc tiêudùng hàng hóa và tùy theo khả năng thiết lập cơ chế để mua bản quyền sửdụng hàng hóa này ma hàng hóa công không thuần túy được chia làm hailoại:
Hàng hóa công có thể tắc nghẽn là hàng hóa mà khi có thêm nhiềungười sử dụng chúng thì có thể gây ra ùn tắc khiến lợi ích của nhữngngười tiêu dùng trước bị sụt giảm
Hàng hóa công có thể loại trừ bằng giá là những hàng hóa mà lợi ích dochúng gây ra quá tải, chén lấn làm lợi ích của người sử dụng bị giảm đi,nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế của nước ta hiện nay
II.3 Dịch vụ công
Hiện nay, khía niệm dịch vụ công có nhiều cách tiếp cận dưới các góc độkhác nhau, nhưng về cơ bản đều thống nhất tương đối ở các đặc điểm saucủa dịch vụ công:
Trang 9- Là một loại dịch vụ do Nhà Nước trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho tổchức, đơn vị ngoài Nhà nước thực hiện dưới sự giám soát của Nhà nước.
- Nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, nhân dân
- Nhà nước là người chịu trách nhiệm đến cùng trước nhân dân, xã hội vềchất lượng dịch vụ cũng như số lượng dịch vụ Trách nhiệm ở đây thể hiệnqua việc hoạch định chính sách , thể chế pháp luật, quy định tiêu chuẩn nhưchất lượng, thanh tra giám sát việc thực hiện
- Không nhằm mục tiêu lợi nhuận
- Đối tượng thụ hưởng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, tuy nhiên cónhững trường hợp phải trả lệ phí theo quy định chặt chẽ của pháp luậtTóm lại, Dịch vụ công là những dịch vụ do Nhà nước chịu trách nhiệm,phục vụ các nhu cẩu cơ bản, thiết yếu chung của người dân không vì mụctiêu lợi nhuận
Trang 10III Các vấn đề tồn tại trong nhận thức và thực tế thể hiện vai trò của Chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ trong giai đoạn hiện nay
Thứ nhất, đó là những chuẩn mực về khả năng thanh toán của đối tượng Các
bệnh viện miễn phí được hiểu là chỉ điều trị miễn phí cho bệnh nhân nghèo,nhưng ở đây, định nghĩa thế nào là một bệnh nhân nghèo thường không rõ ràng.Năng lực thanh toán của bệnh nhân không tùy thuộc vào gia cảnh của họ mà lạitùy thuộc vào căn bệnh của họ Có những căn bệnh hiểm nghèo mà chi phí chữabệnh lên đến hàng trăm triệu đồng, vượt quá khả năng thanh toán cảu một giađình trung lưu cấp thấp, đừng nói là những gia đình nghèo theo một tiêu chuẩnxác định nào đó Liệu rằng, các bệnh viện miễn phí có sẵn lòng và sẵn ngânkhoản để điều trị cho những trường hợp đó không?
Trang 11Thứ hai, đó là vấn đề chất lượng phục vụ của các định chế công, khi lâm váo tình
trạng quá tải Khi số lượng bệnh nhân tăng quá đông, chất lượng phuc vụ bệnhnhân, chưa nói đến việc chữa trị, thuốc men chắc chắn giảm thấp Đã có nhiềutrường hợp một giường bệnh phải nằm hai người, nhiều bệnh nhân và người nuôibệnh phải nằm la liệt trên sàn nhà Không hiếm những trường học phải dạy ba ca,không hiếm những trường không đủ bàn và ghế cho học sinh Còn đối với côngchức làm việc trong những định chế công đó? Lương thấp, tình trạng phục vụ quátải có thể khiến cho họ trở nên khó tính và thiếu hăn nụ cười
Thứ ba, điều mà chúng ta tưởng tượng rằng các định chế công có thể khắc phục
một cách công bằng, không phân biệt đối xử với chất lượng phục vụ tốt hiếm khixảy ra trong thực tế Rốt cuộc, các bệnh viện gọi là miễn phí muốn tồn tại vẫnphải thu phí, những loại phí thuộc kế hoạch B và những bệnh nhân có tiền thanhtoán thuốc men và viện phí vẫn được phục vụ tốt hơn Các trường hợp bệnh việncông không đòi hỏi bệnh nhân phải nộp đủ tiền thuốc, tiền mổ cho một ca mổ
Trang 12khẩn cấp ngày càng trở nên hiếm hoi Còn đối với các trường công lập? Khôngnhững phụ huynh học sinh vẫn phải đóng học phí, mà thậm chí còn phải “chạytrường” để được trường tốt, và có phải góp nhiều thứ lệ phí khác, kể cả học phícho các lớp phụ đạo.
Thứ tư, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các hoạt động cung cấp hàng
hóa và dịch vụ đều do Nhà nước bao cấp qua giá cả nên việc quy dịnh khuôn khổpháp luật cho các hoạt động đó chưa thực sự quan tâm Hoạt động của các đơn vịcung ứng dịch vụ thường kém hiệu quả, chất lượng không cao, song Nhà nướccũng không có cơ chế để kiểm tra, giám sát và cũng thiếu những biện pháp xử lýnghiêm minh Điều đó dẫn đến sự thất thoát tài sản của Nhà nước, nạn tham ô,tham nhũng xảy ra khá phổ biến và để lại hiệu quả cho đời sống xã hội hiện nay
IV Một số đề xuất nhắm nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ
trong cung ứng dịch vụ công cộng
Trang 13IV.1 Mục tiêu phát triển đối với việc cung ứng các dịch vụ công cộng của Chính phủ.
Cho đến nay thì Nhà nước vẫn là người trực tiếp cung ứng phần lớn cácdịch vụ công cộng ở nước ta từ giáo dục, y tế cho đến các dịch vụ côngcộng khác như vận tải công cộng, vệ sinh môi trường Đặc biệt là nhữngloại dịch vụ ảnh hưởng tới nhu cầu thiết yếu của người dân và có ý nghĩaquyết định đối với sự phát triển của đất nước
Vấn đề đặt ra là Nhà nước phải không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa cơ sở Nhà nước cung ứng dịch vụ công cộng, bao gồm:
Sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách Nhà nước chi tiêu cho dịch vụcông cộng Chi tiêu Nhà nước cho dịch vụ công cộng chiếm một tỷ
lệ đáng kể trong chi ngân sách Nhà nước hàng năm Đầu tư của Nhànước để xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng cũng chiếm một tỷ trọngđáng kể trong đầu tư phát triển của Nhà nước Vì vậy, việc sử dụng
Trang 14hiệu quả nguồn ngân sách cho dịch vụ công của Nhà nước trở thànhmột nhu cầu hàng đầu đối với cơ sở cung ứng dịch vụ công cộng,nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu thiết yếu của người dân đối vớinguồn ngân sách còn hạn hẹp hiện nay.
Khẳng định vai trò chủ đạo của Nhà nước trong lĩnh vực này, dotrách nhiệm của Nhà nước trước xã hội về các dịch vụ công, các cơ
sở cung ứng dịch vụ công cộng của Nhà nước phải giữ vai trò chủđạo so với các thành phần khác Vai trò chủ đạo thể hiện ở tính hiệuquả trong hoạt động , việc thực hiện nghiêm chỉnh các quy định củanhà nước và hỗ trợ các đối tượng yếu thế trong xã hội về các dịch
vụ này
Đảm bảo sự ổn định và công bằng xã hội trong tiêu dùng các dịch
vụ công cộng và sự phát triển xã hội theo những mục tiêu mà nhànước đã đề ra Trong điều kiện mở rộng xã hội hóa hiện nay, với
Trang 15hiện tượng phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt, lực lượng Nhànước giữ vị trí quan trọng trong việc góp phần giảm bớt sự bất bìnhđẳng xã hội trong tiêu dùng các dịch vụ công Bằng các chính sách
và biện pháp cụ thể trong từng lĩnh vực, Nhà Nước có thể đảm bảocho những người nghèo được sử dụng những dịch vụ công cộngthiết yếu Đó là trách nhiệm pháp lý và đạo lý của Nhà nước trước
xã hội Nhà nước cũng dựa vào lực lượng của mình để thực hiện cácchính sách quan trọng về giáo dục, y tế, khoa học, văn hóa nhằmđảm bảo sự phát triển của đất nước trong xu thế hội nhập, khẳngđịnh bản sắc truyền thống
IV.2 Phương hướng
Để đạt được mục tiêu trên, hoạt động cung ứng dịch vụ công của Nhà nướccần tập trung vào các phương hướng cơ bản sau:
Trang 16Thứ nhất, nhà nước cần xây dựng chiến lược và chính sách phát triển của
các ngành cung ứng dịch vụ công cộng Trong điều kiện chuyển sang nềnkinh tế thị trường, bên cạnh các lực lượng của Nhà nước sẽ có sự tham giađông đảo của lực lượng tư nhân vào cung ứng dịch vụ công cộng Chiếnlược và chính sách cung ứng dịch vụ của Nhà nước phải bao quát các nộidung sau:
Đề ra các mục tiêu về đảm bảo cung ứng dịch vụ công cộng chonhân dân, các chỉ tiêu số lượng và chất lượng dịch vụ đối với xãhội
Xác định rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc cungứng mỗi loại dịch vụ công cộng nhất định Trong đó, phải xácđịnh rõ yêu cầu đặt ra đối việc cung ứng dịch vụ công cộng tùytheo tầm quan trọng của các loại dịch vụ đó với xã hội
Trang 17 Đề ra các giải pháp cơ ban để từng bước cải tiến việc cung ứngdịch vụ công cộng, trong đó tất cả các giải pháp về xã hội dịch vụcông cộng và đặc biệt là các giải pháp quản lý nhà nước đối vớicác cơ quan, đơn vị cung ứng dịch vụ công cộng.
Thứ hai: hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý việc cung cấp dịch vụ công
cộng
Xây dựng một khuôn khổ hành lang pháp lý để quản lý hoạt động cungứng dịch vụ công cộng là một đòi hỏi tất yếu để nâng cao hiệu quả quản lýcủa Nhà nước Hiện nay hệ thống văn bản pháp luật của nhà nước về cácloại hình dịch vụ công cộng và việc quản lý các dịch vụ này còn rất hạnchế Hệ thống văn bản pháp luật về dịch vụ công cộng nói chung cũngchưa từng dịch vụ công cộng nói riêng phải lưu ý đến các nội dung sau:
Làm rõ đặc thù của từng loại hình công cộng, tầm quan trọng của
nó với đời sống xã hội
Trang 18 Xác định rõ vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ sởcung ứng dịch vụ công cộng
Xác định rõ vai trò của Nhà nước với việc đảm bảo cung ứng cácloại dịch vụ công cộng này, các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước đốivới việc cung ứng chúng
Xác định cơ chế tài chính của các đơn vị cung ứng dịch vụ côngcộng và và quản lý của Nhà nước về chế độ tài chính với các đơn
vị này để tránh hoạt động cung ứng dịch vụ công cộng thành hoạtđộng kinh doanh chạy theo lợi nhuận thị trường
Quy đinh xử ký nghiêm minh đối với các cơ sở vi phạm quy địnhcủa Nhà nước về cung ứng dịch vụ công cộng
Thứ ba, tách biệt hoạt động cung ứng dịch vụ công cộng ra khỏi các hoạt
động quản lý của Nhà nước
Trang 19Hoạt động cung ứng dịch vụ công khác với hoạt động quản lý Nhà nước.Đặc biệt, các hoạt động cung ứng dịch vụ công cộng là do các cơ quan sựnghiệp , các doanh nghiệp công ích thực hiện vì vậy hoạt động này cầnphải phân định rõ ràng với các hoạt động của các cơ quan hành chính Nhànước.
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, với sự tham gia của các thànhviên kinh tế, các cơ sở cung ứng dịch vụ của nhà nước phải đối mặt với sựcạnh tranh và phải chứng minh dược vị trí chủ đạo của nó
Thứ tư, tạo ra cơ chế hoạt động linh hoạt cho các cơ sở cung ứng dịch vụ
công cộng Cần tạo quyền chủ động lớn hơn cho các cơ sở cung ứng dịch
vụ công cộng trên cơ sở cải cách một bước cơ bản chế độ tiền lương, xâydựng cơ chế mới về tổ chức và hoạt động của các cơ sở cung ứng dịch vụcông cộng Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước, cần đổi mới toàn diện và cơ bản cơ chế quản lý của các
Trang 20đơn vị cung ứng dịch vụ công cộng, tiến tới giao quyền tự chủ, tự chịutrách nhiệm cho cơ sở để phát huy sự chủ động và chịu trách nhiệm của
cơ sở này
Thứ năm, có những biện pháp hỗ trợ thích hợp để tăng cường vai trò của
Nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ công cộng
Nhà nước cần có giải pháp thích hợp để củng cố các đơn vị cung ứng dịch
vụ công cộng mà Nhà nước nhằm tạo cơ sở thực hiện vai trò của Nhà nướctrước toàn xã hội về đảm bảo cung ứng dịch vụ công cộng, nhà nước cầntập trung những nội dung sau:
Nhà nước tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản nhất ảnh hưởng đếnnhu cầu thiết yếu cơ bản của nhân dân, nhất là trong các lĩnh vực y
tế, giáo dục
Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất ban đầu
Trang 21 Nâng cao mức thu nhập của cán bộ, viên chức hoạt động trong các
cơ sở cung ứng dịch vụ công cộng trên cơ sở cải cách tiền lương.Đổi mới cơ chế quản lý, phân phối và chi trả lương phù hợp vớitính chất và đặc điểm hoạt động của từng ngành, từng lĩnh vực, phùhợp với quá trình phân cấp và giao quyền chủ động cho cơ sở
Từng bước tách cơ sở bán công ra khỏi đơn vị công lập, không nên
để tình tranh công – tư lẫn lộn, rất khó kiểm soát về mặt tài chính vàlao động
Nhà nước đầu tư phát triển các đơn vị cung ứng dịch vụ công cộngtại các địa phương, khu vực nghèo khó, nơi mà việc xã hội hóa khó
có điều kiện thu hút dù kinh phí cần thiết cho các hoạt động