1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỐI QUAN hệ GIỮA THÂM hụt NGÂN SÁCH NHÀ nước và lạm PHÁT từ năm 2010 đến NAY

17 881 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 126,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỐI QUAN hệ lạm PHÁT và THÂM hụt NSNN GIAI đoạn 2010 đến NAY . LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN hệ lạm PHÁT và THÂM hụt NSNN GIAI đoạn 2010 đến NAY , THỰC TIỄN VỀ MỐI QUAN hệ lạm PHÁT và THÂM hụt NSNN GIAI đoạn 2010 đến NAY , GIẢI PHÁP VỀ MỐI QUAN hệ lạm PHÁT và THÂM hụt NSNN GIAI đoạn 2010 đến NAY

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG

BÀI TIỂU LUẬN: MỐI QUAN HỆ GIỮA THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

VÀ LẠM PHÁT TỪ NĂM 2010 ĐẾN NAY

SVTH: ĐINH THỊ THU HẰNG

LỚP: 11NH

GVHD: THẦY NGÔ ĐỨC CHIẾN

Đà Nẵng

Trang 2

Lời mở đầu:

Như chúng ta đã biết, bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm

mà các quốc gia gặp phải Nó không chỉ tác động đến nền kinh tế mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.Và chính phủ Việt Nam cũng không là ngoại lệ Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang có nhiều biến động, tình hình chính trị có nhiều biến động, lạm phát diễn ra ở nhiều nước trên thế giới, vấn đề kiềm chế lạm phát được đặt ra ở nhiều quốc gia không chỉ riêng Việt Nam Xử lý bội chi NSNN như thế nào để ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiên các chiến lược kinh tế xã hội và kiềm chế lạm phát hiện nay? Vậy bội chi NSNN là gì? Lạm phát là gì? Và chúng có mối quan hệ như thế nào?

Trang 3

Đặt vấn đề:

 “Thâm hụt” nghĩa là thiếu đi do chi quá mức Vậy khi các khoản chi trong NSNN lớn hơn các khoản thu vào sẽ tạo ra một khoản chênh lệch gọi là thâm hụt

 Một quốc gia có thể tự phát hành tiền Vậy tại sao họ lại không phát hành tiền

để bù đắp thâm hụt ngân sách? Và họ xử lý thâm hụt NSNN như thế nào?

 Trả lời:

Trong lịch sử, phát hành thêm tiền đã từng là một cách tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nhưng do hậu quả nghiêm trọng của nó là dẫn đến lạm phát ở mức cao nên ngày nay cách này hầu như không được chính phủ của bất cứ quốc gia nào sử dụng nữa Thu của chính phủ không bao gồm khoản đi vay Đi vay chính là một cách mà chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân sách

Trang 4

1.1 Lạm phát

1.1.1 Khái niệm:

Các nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đứng đầu là Milton

Friedman đã định nghĩa: “ lạm phát là hiện tượng giá cả tăng lên liên tục trong một thời gian dài” Theo trường phái này, sự tăng lên của mức giá chung mới chỉ phản ánh biểu hiện của lạm phát, bản chất của lạm phát được thể hiện ở tính chất của sự tăng giá

đó, đó là sự tăng giá với tốc độ cao và kéo dài Chính sự tăng giá cao và liên tục từ thời gian này đến thời gian khác mới tạo ra những tác động đặc thù của lạm phát Cũng

vì vậy, cái gọi là tỷ lệ giá hàng tháng mà chúng ta nghe trên đài, báo hay vô tuyến chỉ cho biết mức giá cả đã thay đổi bao nhiêu phần trăm so với tháng trước chứ chưa được coi là biểu hiện của lạm phát Đó có thể chỉ là sự thay đổi xảy ra duy nhất một lần hoặc chỉ là tạm thời chứ không kéo dài Chỉ khi nào tỷ lệ giá vẫn duy trì cao trong thời gian dài thì mới được coi là biểu hiện của lạm phát cao

1.1.2 Phân loại:

Căn cứ vào định lượng gồm:

Lạm phát vừa phải Còn gọi là lạm phát một con số ,có tỷ lệ lạm phát dưới 10% một năm Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương đối Trong thời kì này nền kinh tế hoạt động một cách bình thường ,đời sống của người lao động ổn định Sự ổn định đó được biểu hiện : Giá cả tăng chậm ,lãi xuất tiền gửi không cao ,không xảy ra tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn …

Có thể nói đây là mứclạm phát mà nền kinh tế chấp nhận được ,những tác động của

nó là không đáng kể Mặt khác ,lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho người lao động chỉ trông chờ vào thu nhập Trong thời gian này ,các hãng kinh doanh có khoản thu ổn định ,ít rủi ro và sẵn sàng đầu tư cho sản xuất kinh doanh

Lạm phát phi mã lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2 con số

1 năm Ở mức 2 con số thấp :11,12% thì nói chung các tác động tiêu cực không đán

kể và nền kinh tế vẫn có thể chấp nhận được Nhưng khi tăng đến hai chữ số cao thì lạm phát sẽ làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng ,gây biến động lớn về kinh

tế ,các hợp đồng được chỉ số hoá Lúc này người dân tích trữ hàng hoá ,vàng bạc ,bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi xuất bình thường Như vậy lạm phát

Trang 5

sẽ làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất và thu nhập vì những tác động tiêu cực của nó không nhỏ Bên cạnh đó lạm phát phi mã còn là mối đe doạ đối với sự ổn định của nền kinh tế

Siêu lạm phát 3 con số một năm xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ rất nhanh ,tỷ lệ lạm phát cao Tốc độ và tỷ lệ siêu lạm phát vượt xa lạm phát phi mã ,nó như một căn bệnh chết người ,tốc độ lưu thông tiền tệ tăng kinh khủng ,giá cả tăng nhanh và không ổn định ,tiền luơng thục tế của người lao động bị giảm mạnh ,tiền tệ mất giá nhanh chóng ,thông tin không còn chính xác ,các yếu tố thị trường biến dạng

và hoạt động sản xuất khin doanh lâm vào tình trạng rối loạn ,mất phương hướng Tóm lại ,siêu lạm phát làm cho đời sống và nền kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng Tuy nhiên siêu lạm phát rất ít xảy ra

Căn cứ vào định tính

Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng

Lạm phát cân bằng Tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao động ,tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và dến nền kinh tế nói chung Lạm phát không cân bằng Tăng không tương ứng với thu nhập của người lao

động.Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra

Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường

Lạm phát dự đoán trước là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời kì tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn Loại lạm phát này có thể dự đoán trước được

tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo.Về mặt tâm lý ,người dân đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước.Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống ,đến kinh tế

Lạm phát bất thường xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất hiện Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý ,đời sống người dân vì họ chưa kịp thích nghi Từ đó

mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế và niềm tin của nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút

Trang 6

Trong thực tế lịch sử của lạm phát cho thấy lạm phát ở nước ta đang phát triển

thường diễn ra trong thời gian dài ,vì vậy hậu quả của nó phức tạp và trầm trọng

hơn Và các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại với tỷ lệ khác nhau : lạm phát kinh liên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50% một năm ,lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài hơn 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50% và siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm

1.1.3 Cách tính lạm phát :

Tính theo CPI

Nếu Po là mức giá cả trung bình của kỳ hiện tại và P-1 là mức giá của kỳ trước, thì

tỷ lệ lạm phát của kỳ hiện tại là:

Tỷ lệ lạm phát =

100% x

Po – P-1 P-1

Có một số công thức khác nữa, ví dụ:

Tỷ lệ lạm phát = (log Po - log P-1) x 100%

Về phương pháp tính ra tỷ lệ lạm phát, hai phương pháp thường được sử dụng là:

 căn cứ thời gian: đo sự thay đổi giá cả của giỏ hàng hóa theo thời gian

 căn cứ thời gian và cơ cấu giỏ hàng hóa Phương pháp này ít phổ biến hơn vì còn phải tính toán sự thay đổi cơ cấu, nội dung giỏ hàng hóa

Thông thường, số liệu tỷ lệ lạm phát được công bố trên báo chí hàng năm được

tính theo cách cộng phần trăm tăng CPI của từng tháng trong năm

Tính theo chỉ số giảm phát GDP

Tỷ lệ lạm phát 2011 so với năm 2010 được tính như sau:

Tỷ lệ lạm phát = 100 x

Chỉ số giảm phát GDP 2011 - Chỉ số giảm phát GDP 2010

Chỉ số giảm phát GDP 2010

Trang 7

Do Chỉ số giảm phát được tính bằn GDP giá thực tế/GDP giá gốc so sánh, hiện nay giá gốc so sánh là giá 2010, sự chuyển đổi về giá góc chủ yếu dựa chỉ số giá PPI (trừ ngành xây dựng và ngành bán và sửa chữa xe có động cơ) nên có thể nói Tỷ lệ lạm phát IR tính theo chỉ số giảm phát GDP là Tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số giá người bán PPI

1.2 Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2010 đến nay :

Năm 2010

Chỉ số tiêu dùng (CPI) tháng 12/2010 của cả nước tăng 1,98%, qua đó đẩy mức

lạm phát năm của cả nước 2010 lên 11,75% so với năm 2009 Con số này vượt gần 5% so với chỉ tiêu được Quốc hội đề ra hồi đầu năm 2010 (khoảng 8%)

Trong khi đó, nếu tính bình quân theo từng tháng (cách tính mới của Tổng cục thống kê), chỉ số lạm phát năm 2010 tăng 9,19% so với năm 2009.Trong tháng 12, CPI nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,31% trong đó nhóm lương thực tăng 4,67%, thực phẩm tăng 3,28% so với tháng 11 Ngành bưu chính viễn thông giảm nhẹ 0,02%

so với tháng trước

Tính chung CPI năm 2010, CPI giáo dục tăng mạnh nhất gần 20% Tiếp đó là hàng

ăn (16,18%), nhà ở - vật liệu xây dựng (15,74%) Các ngành Giao thông, hàng hóa & dịch vụ khác, thực phẩm đều có mức tăng trên 10% Bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất giảm giá với mức giảm gần 6% trong năm 2010.Trong năm 2010, chỉ số giá vàng tăng 36,72%, chỉ giá USD tăng 7,63%

Về CPI của các vùng miền, đáng chú ý là chỉ số CPI khu vực nông thôn tháng 12 tăng 2,04%; cao hơn 1,87% của khu vực thành thị

Năm 2011

Theo Tổng cục Thống kê công bố số liệu chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của cả nước trong tháng 12 và cả năm 2011 Theo đó CPI trong tháng cuối năm tăng 0,53%, cao hơn 2 tháng trước đó Con số này đưa chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2011 tăng cao hơn

Trang 8

18,13% so với cùng kỳ 2010 Tuy nhiên, tính chung trong cả năm 2011, mặt bằng giá

đã tăng 18,58% so với 2010

( Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm 2011 Số liệu: GSO)

Trong rổ hàng hóa, lương thực là phân nhóm có tốc độ tăng giá mạnh nhất

gyutrong tháng 12 khi tăng 1,4% Giá thực phẩm cũng tăng trở lại 0,49% sau 3 tháng giảm liên tiếp Cùng với khu vực ăn uống ngoài gia đình (0,57%), 2 nhóm này đẩy chỉ

số của hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,69% và đóng góp chủ yếu vào đà tăng của CPI Tăng giá mạnh nhất trong tháng là các mặt hàng may mặc - mũ nón - giầy dép (0,86%) chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ tại miền Bắc vào mùa đông Các mặt hàng khác như nhà ở - vật liệu xây dựng (tăng 0,51%), thiết bị - đồ dùng gia đình (0,68%) và hàng hóa - dịch vụ khác (0,6%) cũng tăng giá tương đối mạnh theo quy luật tiêu dùng cuối năm Ở hầu hết các nhóm hàng còn lại, mức tăng giá trong tháng đều dưới 0,5%

do chưa chịu tác động của đợt tăng giá điện mới đây Riêng nhóm bưu chính - viễn thông giảm giá gần 0,1%

Tuy không được tính vào rổ hàng hóa CPI nhưng diễn biến giá vàng và đôla Mỹ cũng đáng chú ý Sau nhiều tháng tăng liên tiếp, giá vàng đã giảm gần 1% trong tháng

12 vừa qua Tính chung cả năm, mặt hàng này vẫn tăng giá khoảng 39% Đôla Mỹ tăng giá nhẹ 0,02% trong tháng và kết thúc năm với mức tăng 8,47%

Năm 2012

Trang 9

Tổng cục Thống kê đánh giá, lạm phát năm 2012 chỉ “nhỉnh” hơn mức tăng 6,52% của năm 2009 – năm suy giảm kinh tế mạnh và thấp hơn nhiều so với mức tăng

11,75% của năm 2010 và mức tăng 18,13% của năm 2011

Cơ quan này phân tích, CPI tăng không quá cao vào hai tháng đầu năm (tăng 1,0% vào tháng 1 và tăng 1,37% vào tháng 2) nhưng tăng cao nhất vào tháng 9 với mức tăng 2,20% Đây là tháng chịu tác động chủ yếu của nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục Sau đó, mức tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm dần trong những tháng cuối năm

Trong năm, có tới 7 tháng CPI chỉ tăng dưới 1% và hầu hết các tháng chỉ tăng dưới 0,5% Một điều khác thường nữa của thị trường giá cả trong nước năm nay là CPI không giảm vào sau Tết âm lịch mà giảm vào hai tháng giữa năm (Tháng 6 và tháng 7)

Chỉ số giá vàng tháng 12/2012 tăng 0,46% so với tháng trước; tăng 0,4% so với tháng 12/2011 Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2012 tăng 0,03% so với tháng trước; giảm 0,96% so với tháng 12/2011

 Năm 2013

Theo tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2013 tăng 0,51% so với tháng trước và tăng 6,04% so với tháng 12/2012 Đây là năm có chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2013 tăng 6,6% so với bình quân năm 2012

Trong các nhòm hàng hóa và dịch vụ, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng có chỉ số giá tháng 12/2013 so với tháng trước tăng cao nhất với mức tăng 2,31%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,57%, hàng ăn dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 0,17%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,27%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,25%; văn hóa, giải trí

và du lịch tăng 0,13%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,08%; giáo dục tăng 0,02% Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại chỉ số giá giảm: Gồm giao thông vận tải 0,23%, bưu chính viễn thông giảm 0,01%

Trang 10

 6 tháng đầu năm 2014

Theo tổng cục thống kê, CPI tháng 6/2014 của cả nước tăng 0,3% so với tháng trước

và tăng 1,38% so với tháng 12/2013 Tuy nhiên, nếu so với cùng kỳ, CPI tháng 6/2014 vẫn tăng 4,98% Còn nếu tính trung bình 6 tháng đầu năm, con số này là 4,77% Có thể thấy rõ, nguyên nhân của mức tăng 0,3% chủ yếu do nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (tăng 0,28%); nhà ở và vật liệu xây dựng (tăng 0,61%); thuốc và dịch vụ y tế (tăng 0,74%)…

Chương 2: Thâm hụt ngân sách nhà nước từ năm 2010 đến nay.

2.1 Thâm hụt ngân sách nhà nước

2.1.1 Khái niệm : Thâm hụt ngân sách trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng là

tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách

Thâm hụt ngân sách nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, là tình

trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu "không mang tính hoàn trả" của ngân sách nhà nước

Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước.

Thâm hụt ngân sách nhà nước có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh

tế một nước tùy theo tỉ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt Nói chung nếu tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước với tỷ lệ cao và trong thời gian dài sẽ gây ra lạm phát, ảnh hưởng tiêu cực

Thâm hụt ngân sách nhà nước cần phải đặt trên cơ sở thu nhập và mức sống của người dân do thuế là 1 trong những nguồn bù đắp ngân sách lớn nhất của ngân sách nhà nước mà việc thu thuế cần phải dựa vào mức thu nhập của người dân, hơn nữa nhà nước có thể lựa chọn vay từ dân cư trong nước mà để định mức vay hợp lý thì lại phải dựa trên thu nhập và mức sống của người dân

Trang 11

2.1.2 Phân loại: Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm

hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ.

Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách

tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,

Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh

tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân Ví dụ khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm

xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên

2.2 Tình hình thâm hụt ngân sách nhà nước năm 2010 đến nay

(Đvt: tỷ đồng)

hâm hụt

NSNN

Tỷ lệ phần

trăm (%) bội

chi NSNN so

với GDP

Tình hình thâm hụt NSNN 2010-2013

Chỉ tiêu

năm

Trang 12

Qua thống kê cho thấy, trong những năm trở lại đây tỷ lệ thâm hụt NSNN so với GDP

ở Việt Nam luôn ở ngưỡng 5% GDP và có biến động tăng giảm bất thường Đây là một tỷ lệ khá cao, lạm phát ở mức 5%GDP được coi là đáng báo động Riêng năm

2010 tỷ lệ này lên đến 5.5% tương đương với thâm hụt hơn 109 tỷ đồng

Cụ thể, vào năm 2012 tỷ lệ lạm phát là 5.36% tăng hơn 21% so với năm 2011 Và theo số liệu dự đoán của năm 2013, tỷ lê thâm hụt ngân sách sẽ giảm còn 4.8%

Chương 3: Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách nhà nước và lạm phát

-6

-5

-4

-3

-2

-1

0

Tỷ lệ phần trăm (%) bội chi NSNN so với GDP

Tỷ lệ phần trăm (%) bội chi NSNN so với GDP

Ngày đăng: 01/03/2015, 14:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w