chu trình bán hàng và thi tiền trong quản lý dn tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về...
Trang 1Lời nói đầu
Sự ra đời và phát triển của các tổ chức kiểm toán độc lập là xu hướng tất yếu, khách quan có tính quy luận của kinh tế thị trường Kiểm toán độc lập chính
là công cụ quản lý kinh tế, tài chính đắc lực góp phần nâng cao tính hiệu quả của kinh tế thị trường Hoạt động kiểm toán không chỉ tạo niềm tin cho những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp mà còn góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt động tài chính kế toán, nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các đơn vị được kiểm toán
Cùng với việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, kiểm toán đã được hình thành và đi vào hoạt động ở Việt Nam Sự phát triển nhanh chóng của các công ty kiểm toán độc lập trong những năm qua ở nước ta đã chứng minh sự cần thiết của hoạt động này Một trong những loại hình nghiệp vụ chủ yếu mà Công ty kiểm toán độc lập cung cấp cho khách hàng đó là hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính,
đó là sự kiểm tra và trình bầy ý kiến nhận xét về báo cáo tài chính của đơn vị
Báo cáo tài chính là tấm gương phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung trên mọi khía cạnh của quá trình kinh doanh Một tập hợp các thông tin có được từ việc xử lý các giao dịch cuối cùng sẽ được phản ánh thành các
bộ phận, các khoản mục trên báo cáo tài chính Vì vậy, để đạt được mục đích kiểm toán toàn diện các báo cáo tài chính nói chung kiểm toán viên cần phải xem xét, kiểm tra riêng biệt các bộ phận của chúng
Chu trình bán hàng – thu tiền là một bộ phận có liên quan đến rất nhiều chỉ tiêu trọng yếu trên báo cáo tài chính, nó quan hệ mật thiết với báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền là một phần hành quan trọng trong kiểm toán báo cáo tài chính Nhận thức được điều này trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại Công ty Kiểm toán và tư vấn Tài chính Kế toán Sài Gòn , em đã chọn đề tài :
"Kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính
do Công ty Kiểm toán và tư vấn Tài chính Kế toán Sài Gòn thực hiện”
Mục đích nghiên cứu của đề tài là vận dụng lý thuyết về kiểm toán,đặc biệt
là kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính và việc xem xét thực tiễn công tác kiểm toán cua Công ty, từ đó rút ra bài học kinh
Trang 2nghiệm và đua ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty thực hiện.
Nội dung của chuyên đề ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có các phần chính sau.
Chương I Cơ sở lý luận về kiểm toán và kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền
trong kiểm toán Báo cáo tài chính
Chương II Thực hiện công tác kiểm toán chu trình bán hàng thu tiền trong kiểm
toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và tư vấn Tài chính Kế toán Sài Gòn thực hiện
Chương III Bài học kinh nghiệm và việc đánh giá thực hiện kiểm toán chu trình
bán hàng và thu tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán và tư vấn Tài chính Kế toán Sài Gòn thực hiện
Tuy nhiên, kiểm toán là một lĩnh vực còn rất mới mẻ ở Việt Nam cả về lý thuyết lẫn thực tế và do những hạn chế về kinh nghiệm và chuyên môn nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô
Trang 3Chương I
Cơ sở lý luận về kiểm toán và kiểm toán chu trình bán hàng – thu tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính
I - Đặc điểm của chu trình bán hàng - thu tiền
Có nhiều cách định nghĩa về kiểm toán khác nhau, nhưng theo cách hiểu chung và bản chất của kiểm toán được định nghĩa “Kiểm toán là quá trình mà theo
đó một cá nhân độc lập có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng có liên quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm đạt mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin đó lượng đó với chuẩn mực đã được xây dựng”(1)
Trong quá trình hoạt động kiểm toán có 3 hình thức kiểm toán là kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán BCTC
“Kiểm toán BCTC là quá trình kiểm tra bày tỏ ý kiến của KTV độc lập rằng báo cáo tài chính được trình bày một cách hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh hoặc những thay đổi của tình hình tài chính theo những nguyên tắc kế toán được chấp nhận”(2)
Và luật pháp của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã quy định: “Sau khi có xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thì các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo quyết định của các đơn vị kinh tế là căn cứ cho việc điều hành, quản lý hoạt động ở đơn vị Cho các cơ quan quản lý cấp trên và các cơ quan tài chính Nhà nước xét duyệt quyết toán hàng năm của đơn vị Cho các cơ quan quản lý cấp trên và các cơ quan tài chính Nhà nước xét duyệt quyết toán hàng năm của đơn vị Cho cơ quan thuế tính toán số thuế và các khoản phải nộp khác của đơn
vị Cho các bên tham gia liên doanh, khách hàng và các tổ chức, cá nhân xử lý mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ với đơn vị trong quá trình kinh doanh.(3)
BCTC là tấm gương phản ánh kết quả tổng hợp của một doanh nghiệp Quá trình này bao gồm các chu trình nghiệp vụ kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Các chu trình này không có điểm bắt đầu hoặc kết thúc ngoại trừ lúc doanh nghiệp bắt đầu hoặc kết thúc hoạt động của mình; Tuy nhiên nếu xét trên khía cạnh tổng quát thì các chu trình này cũng có thể được phân tích một cách tương đối Cụ thể một công ty bắt đầu hoạt động bằng cách huy động vốn thường dưới dạng tiền
(2) (1) Tài liệu tham khảo số 4.
(3) Tài liệu tham khảo số 8
Trang 4mặt (chu trình huy động vốn hoàn trả), tiền đó được dùng để mua nguyên vật liệu, hàng hóa và các dịch vụ đầu vào liên quan đến quá trình sản xuất (chu trình tiền lương vào thanh toán), để thuê mướn lao động cho sản xuất (chu trình tiền lương
và nhân sự) Qua quá trình sản xuất, thành phẩm được lưu kho chờ (chu trình hàng tồn kho), sau đó hàng tồn kho được bán và thu tiền (chu trình bán hàng và thu tiền)
Theo trình tự trên thì chu trình huy động vốn có thể được coi một cách tương đối là chu trình cuối cùng hoàn thành một vòng tuần hoàn vốn, tiền nhờ đó được tạo ra một phần dùng để hoàn trả vốn và để lại cho các chu kỳ kinh doanh tiếp sau Mỗi một chu trình nghiệp vụ kinh doanh đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và là nhân tố cần thiết tạo nên tính liên tục của quá trình kinh doanh Chu trình trước tạo tiền đề cho chu trình sau, và chu trình sau là căn cứ để đánh giá kết quả của chu trình trước Vì thế chu trình bán hàng và thu tiền là chu trình cuối cùng không những đánh giá hiệu quả của các chu trình trước mà nó còn đánh giá hiệu quả của toàn bộ quá trình kinh doanh
Trong kế toán BCTC có hai cách kiểm toán khác nhau đó là kiểm toán theo khoản mục và kiểm toán theo các chu trình nghiệp vụ Với kiểm toán theo khoản mục thì cách làm đơn giản KTV xem từng số dư của các tài khoản trên báo cáo như một phần riêng tách biệt với nhau Cách làm này dễ song hiệu quả không cao
vì nó dẫn đến sự tách biệt những tài khoản có liên quan chặt chẽ với nhau chẳng hạn như tài khoản hàng tồn kho và giá hàng bán Có một cách thông dụng và hiệu quả để phân đoạn kiểm toán là chia các nghiệp vụ và số chỉ các tài khoản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong cùng một phần hành Hay còn được gọi là phương pháp chu trình Theo phương pháp này một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính thường được tiến hành năm phần hành lớn theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: năm chu trình kiểm toán bctc.
Vốn bằng tiền
Bán hàng và
thu tiền
Huy động và hoàn trả
Mua vào và thanh toán
Tiền lương
và nhân viên
Trang 5Với chu trình bán hàng và thu tiền, các nghiệp vụ về kinh doanh, doanh thu trả lại, chiết khấu, giảm giá, các khoản thu về tiền, số dư các khoản phải thu và các khoản dự phòng đều là những bộ phận chi tiết Khi kiểm tra chu trình này, sau những bước khảo sát hệ thống kiểm soát nội bộ, khảo sát nghiệp vụ và đi sâu vào khảo sát chi tiết số dư tài khoản, KTV phải xác định được tài khoản điển hình của chu trình này là những tài khoản nào Từ đó để có các thủ tục kiểm toán cần thiết
để thu thập đầy đủ bằng chứng xác đáng về mọi khía cạnh làm cơ sở kết luận về phần hành bán hàng và thu tiền nói riêng và BCTC nói chung
2 nội dung kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền
2.1 Đặc điểm của chu trình bán hàng và thu tiền trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đối với một doanh nghiệp sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh biểu hiện doanh nghiệp đang tồn tại và hoạt động Quá trình này bao gồm các công việc nối tiếp và liên tục, lặp đi lặp lại tạo thành những chu kỳ sản xuất Người ta có thể nhìn nhận quá trình này theo nhiều góc độ khác nhau Theo cách nhìn nhận của các nhà quản lý trên góc độ tài chính, quá trình này bao gồm chuỗi các nghiệp vụ cơ bản Các thông tin về mỗi chu trình đều được thu thập, xử lý trên các loại sổ sách giấy
tờ (đặc biệt là sổ sách kế toán) Thực chất của việc bán hàng và thu tiền trong quá trình sản xuất kinh doanh là việc thực hiện giá trị sản phẩm, hàng hóa, lao vụ có từ giai đoạn sản xuất trước đó Để thực hiện giá trị sản phẩm, doanh nghiệp phải chuyển giao hàng hóa, sản phẩm, được khách hàng chấp nhận trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán Chu trình này nói chung được bắt đầu bằng một đơn đặt hàng của khách hàng và chấm dứt bằng sự chuyển đổi hàng hóa hay dịch vụ thành các khoản thu tiền mặt hoặc các khoản phải thu
Trang 6Công tác tiêu thụ có thể được bắt đầu từ nhu cầu về các loại sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp từ phía khách hàng Tùy theo các trường hợp cụ thể mà công tác tiêu thụ có thể được thực hiện theo các phương thức khác nhau sau đây: phương thức tiêu thụ trực tiếp, phương thức chuyển giao hàng hóa theo hợp đồng, phương thức tiêu thụ qua đại lý (ký gửi), phương thức bán hàng trả góp…
Như vậy các phương thức tiêu thụ rất phong phú và đa dạng, phụ thuộc và từng trường hợp cụ thể Mặc dù vậy việc tiêu thụ thành phẩm nhất thiết được gắn với việc thanh toán của người mua, bởi vì chỉ khi nào doanh nghiệp thu nhận đầy
đủ tiền hàng thì việc tiêu thụ mới được coi là kết thúc và được ghi nhận đầy đủ trên
sổ sách kế toán
Việc thanh toán của người mua cũng được thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau như:
- Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt
- Thanh toán bằng phương thức chuyển khoản qua ngân hàng với điều kiện người mua chấp nhận thanh toán
Qua việc trình bày về một số phương thức bán hàng và thu tiền chủ yếu của doanh nghiệp cho thấy quá trình tiêu thụ bao giờ cũng gồm hai phần việc chính là nghiệp vụ bán hàng và việc thanh toán với khách hàng Cụ thể trong một doanh nghiệp, các phần việc này được biểu hiện thành những công đoạn cụ thể sau:
+ Xét và xử lý yêu cầu về mua hàng
+ Phê chuẩn phương thức bán hàng và bán chịu
+ Chuyển giao hàng hóa
+ Gửi hóa đơn cho khách và ghi sổ
+ Ghi sổ các khoản thu được bằng tiền mặt
+ Xử lý và ghi sổ doanh thu bị trả lại hoặc các khoản giảm giá, chiết khấu
+ Xóa sổ các khoản không thu hồi được
+ Dự phòng nợ phải thu khó đòi
Trang 7Với các chức năng trên, mỗi bộ phận trong doanh nghiệp sẽ phải đảm nhận từng phần một Thông qua việc phân chia nhiệm vụ, người quản lí doanh nghiệp có thể nắm bắt được các thông tin về nghiệp vụ bán hàng chính xác như trong thực tế
đã phát sinh Mặt khác để đảm bảo quyền lợi của mỗi bộ phận trong chu trình này cũng như dễ dàng quy kết trách nhiệm cho từng bộ phận nếu có xảy ra sai sót, gắn với các chức năng trên là các giấy tờ, sổ sách, chứng từ minh chứng cho việc thực hiện các chức năng là có thật bao gồm:
- Các mẫu phê chuẩn các khoản không thu được
- Sổ chi tiết các khoản phải thu
- Báo cáo hàng tháng
Trong thực tế, các loại chứng từ, sổ sách sẽ được gắn liền với từng bộ phận
và quy trình luân chuyển của chúng giữa các bộ phận thể hiện như sau:
Sơ đồ 2: quy trình luân chuyển chứng từ trong
chu trình bán hàng và thu tiền.
ch u, tiêu th ị ụ
L p hóa ậ
n thu
đơ ế GTGT
Trang 82.2 Biểu hiện của hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý chu trình bán hàng
và thu tiền tại doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh mục tiêu của doanh nghiệp được đặt lên hàng đầu đó chính là tạo ra được nhiều lợi nhuận, mở rộng sản xuất và phát triển doanh nghiệp Muốn thế nhà quản lý doanh nghiệp phải tự đề ra cho doanh nghiệp mình một phương thức
Trong môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán giữ một vai trò quan trọng Nhiệm vụ của hệ thống này nhằm cung cấp thông tin quản lý (bao gồm các thông tin về kinh tế tài chính của đơn vị và các kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh khác) và thực hiện nhiều mặt hoạt động của đơn vị
Hệ thống này bao gồm:
- Quá trình lập và luân chuyển chứng từ: Trong chu trình bán hàng và thu
tiền, hệ thống này thể hiện ở số lượng các loại chứng từ được lập hi có nghiệp vụ bán hàng và thu tiền phát sinh tại doanh nghiệp như: hóa đơn thuế giá trị gia tăng, hợp đồng mua bán hàng hóa, vận đơn, đơn đặt hàng, phiếu xuất kho… và quy trình luân chuyển các chứng từ này tại các phòng ban, bộ phận trong doanh nghiệp
- Hệ thống sổ kế toán: Hệ thống này dùng để ghi các nghiệp vụ bán hàng và thu tiền và các nghiệp vụ khác có liên quan, phát sinh trong một niên độ
kế toán, mà cơ sở của nó là các chứng từ đã được thiết lập trước đó Hệ thống sổ sách này cũng được giới thiệu tại phần 2.1
- Hệ thống tài khoản.
Trang 9+ Tài khoản phải thu khách hàng: Ngoài việc thể hiện số dư đầu và cuối kỳ trên BCTC, trong hệ thống sổ sách kế toán sẽ hiện diện thông tin chi tiết cho từng khách hàng.
+ Tài khoản tiền: Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển
+ Tài khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi
+ Doanh thu bán hàng
+ Các khoản chiết khấu, giảm giá, hàng bán bị trả lại
+ Thuế giá trị gia tăng phải nộp
Ngoài ra còn một số thông tin liên qua khác được trình bày ngoài BCTC, mà được thể hiện trên hệ thống sổ sách kế toán như các khoản chi phí dự phòng liên quan đến các khoản nợ không thu hồi được, chi phí bán hàng, giá vốn hàng bán, xử
lý các khoản nợ không thu hồi được
Mối liên hệ giữa các tài khoản này được thể hiện qua sơ đồ 3 quản lý sao cho phù hợp và có hiệu quả Do đó tất cả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị đều phải được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ nhằm cung cấp những thông tin trung thực, từ đó giúp cho nhà quản lý nắm bắt, đưa ra các quyết định xử lý kịp thời Vì thế điều quan trọng nhất đảm bảo thành công cho quá trình kiểm tra kiểm soát này
là xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp với đặc điểm và quy mô hoạt động của doanh nghiệp
Theo định nghĩa của liên đoàn kế toán quốc tế hệ thống kiểm soát nội bộ là
hệ thống những chính sách và thủ tục nhằm vào bốn mục tiêu:
- Bảo vệ tài sản đơn vị
- Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin
- Bảo đảm việc thực hiện các quy định pháp lý
- Bảo đảm hiệu quả của hoạt động
Chu trình bán hàng và thu tiền là một trong các chu trình nghiệp vụ cơ bản
mà thông tin cung cấp từ chu trình này đóng một vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thực hiện việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ đạt được các mục tiêu trên cũng bao hàm một phần quan
Trang 10trọng trong quản lý chu trình bán hàng và thu tiền Biểu hiện của hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý chu trình này được trình bày theo bốn yếu tố cơ bản của
hệ thống kiểm soát nội bộ:
♦ Môi trường kiểm soát: là bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài đơn
vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế và xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ
Hai nhóm nhân tố thể hiện bên trong và bên ngoài gồm sáu mặt chủ yếu:
K t chuy n doanh ế ể thu c a k n y ủ ỳ à nh n Doanh thu ậ đượ c
VAT ph i n p ả ộ
DT ch a ư thu ti n ề
Xóa s n ổ ợ khó òi đ Không
Trích l p ậ
d phòng ự
N ph i ợ ả
Trang 11Hệ thống báo cáo kế toán: Hệ thống này được lập với mục đích thông tin cho quản lý cấp trên nắm bắt được toàn bộ kết quả của chu trình qua một niên độ
kế toán hay qua một thời kỳ nhất định Cụ thể là các BCTC nộp cho cơ quan thuế,
Bộ chủ quản Tổng công ty… hay là các Báo cáo bán hàng, tình hình thanh toán nợ của khách hàng… cung cấp cho Ban quản trị hoặc giám đốc được biết Hệ thống báo cáo này đã được trình bày ở I.2.1
- Có phân công phân nhiệm rõ ràng
- Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
- Chế độ uỷ quyền và phê chuẩn
Đó là tất cả những nhân tố cần thiết để tạo nên một hệ thống kiểm soát nội
bộ đầy đủ Hiểu được những đặc điểm cũng như biểu hiện của hệ thống kiểm soát nội bộ trong chu trình bán hàng và thu tiền không chỉ có ích cho chủ doanh nghiệp
mà còn góp phần nâng cao hiệu quả cũng như chất lượng của kiểm toán chu trình,
và đó là lý do chúng ta nhận thức được tầm quan trọng của những thông tin trên trước khi đi vào thực hành kiểm toán chu trình
2.3 Các mục tiêu kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền
Mục đích của kiểm toán Báo cáo tài chính là xác minh và bày tỏ ý kiến về
độ tin cậy của các thông tin, về tính tuân thủ các quy tắc Đối với chu trình bán hàng và thu tiền sau khi đã xác định được phạm vi kiểm toán (là các khoản mục trên báo cáo tài chính) việc làm chính và chủ yếu của KTV là thu thập bằng chứng, lấy đó làm cơ sở để chứng minh cho ý kiến của mình trong báo cáo kiểm toán Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 500 “KTV phải thu thập bằng chứng kiểm
Trang 12kiến của mình”(4) Các bằng chứng kiểm toán thu được có quan hệ chặt chẽ đến các đặc tính của các thông tin trên Báo cáo tài chính nói chung và chu trình bán hàng
và thu tiền nói riêng
Đối với bất kỳ một cuộc kiểm toán nào, các mục tiêu đặt ra nhằm cung cấp một bố cục để giúp KTV tập hợp đầy đủ bằng chứng cần thiết Các mục tiêu đặt ra
có liên quan chặt chẽ đến việc xác nhận của doanh nghiệp về các tiêu chuẩn của đặc tính thông tin đã trình bày trên BCTC Thông thường các bước triển khai mục tiêu kiểm toán như sau:
Trang 13Sơ đồ 4: các bước triển khai mục tiêu kế toán (5)
Thông qua các bước trên cho thấy xác nhận của Ban quản trị về các chu trình nói chung và chu trình bán hàng và thu tiền nói riêng là rất quan trọng để thiết
kế nên các mục tiêu kiểm toán
Do vậy để khẳng định mục đích chung của kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền là đánh giá xem liệu các số dư tài khoản bị ảnh hưởng tới chu kỳ này có được trình bày một cách trung thực phù hợp với các nguyên tắc kế toán được thừa nhận hay không
Từ mục đích chung của kiểm toán có thể phát triển thành những mục tiêu đặc thù, mục tiêu của kiểm toán được chia làm hai loại:
- Mục tiêu chung khác gồm:
+ Xác minh tính hiệu lực
+ Xác minh tính chọn vẹn
+ Xác minh việc phân loại và trình bày
+ Xác minh nguyên tắc tính giá
Trang 14(1) Có căn cứ hợp lý: Cụ thể doanh thu tiền mặt và các khoản phải thu đều phải hiện hữu vào ngày lập BCTC.
(2) Tính đầy đủ: Cụ thể các khoản doanh thu và các khoản phải thu hiện có
đã được tính và ghi vào các tài khoản có liên quan
(3) Quyền sở hữu: Cụ thể doanh nghiệp phải có quyền sở hữu đối với tất cả các khoản doanh thu, thu nhập khác, tiền mặt và các khoản phải thu phát sinh trong kỳ
(4) Sự đánh giá: Cụ thể giá của hàng bán phải được phê chuẩn đúng đắn
(5) Sự chính xác của các tài khoản: Cụ thể tích của đơn giá với số lượng hàng bán phải được tính đúng Và sổ chi tiết phải được cộng dồn chính xác TK 632
(6) Xác minh chính sách chiết khấu phù hợp: Cụ thể doanh thu và các khoản phải thu phải được giảm trừ khi thực tế phát sinh phù hợp với chính sách chiết khấu
(7) Sự phân loại: Cụ thể doanh thu phải phân loại đúng đắn thành doanh thu bán hàng ra ngoài, doanh thu bán hàng nội bộ, doanh thu bán hàng bị trả lại, doanh thu trả trước, các khoản phải thu của khách hàng, thu nội bộ và thu khác
(8) Tính đúng kỳ: Cụ thể doanh thu và các khoản phải thu phải được ghi chép đúng kỳ, không có hiện tượng ghi giảm doanh thu và ghi tăng các khoản phải thu và ngược lại
(9) Trình bày và thể hiện: Cụ thể doanh thu và các khoản phải thu phải được trình bày chính xác và hợp lý trên BCTC theo đúng chế đoọ quy định
Như vậy thông qua từng trường hợp cụ thể, dựa vào sự xét đoán của KTV để xác định mục tiêu đặc thù cho chu trình này là rất quan trọng Việc xác định các mục tiêu đặc thù này có ý nghĩa rất lớn trong việc áp dụng các phương pháp kiểm toán, thu thập đánh giá bằng chứng góp phần thực hiện kiểm toán có hiệu quả
3 quy trình kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền.
Quy trình kiểm toán chính là một hệ thống phương pháp rõ ràng của quá trình tổ chức một cuộc kiểm toán nhằm giúp cho KTV tập hợp đầy đủ bằng chứng cần thiết Quy trình kiểm toán được thể hiện qua sơ đồ số 5
Trang 15Sơ đồ 5: bốn giai đoạn của cuộc kinh tế bctc (4)
Giai đoạn 1 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp
kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền
Giai đoạn 2 Khảo sát các quá trình kiểm soát và khảo
sát nghiệp vụ chu trình bán hàng và thu tiền
Giai đoạn 3 Khảo sát chi tiết số dư tài khoản của chu
trình bán hàng và thu tiền
Giai đoạn 4 Hoàn tất công tác kiểm toán và công bố
cáo cáo kiểm toán
3.1 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền
Kế hoạch kiểm toán là cần thiết giúp cho KTV có thể thu thập được bằng chứng có giá trị và đầy đủ cho các tình huống, mà vẫn giữ chi phí ở mức hợp lý nhất đồng thời tránh được những bất đồng với khách hàng trong quá trình thực hiện kiểm toán Thu thập được chứng cứ đầy đủ là điều quan trọng nếu hãng kiểm toán muốn giảm thiểu tối đa trách nhiệm pháp và giữ vững tiếng tốt trong cộng đồng nghề nghiệp Duy trì chi phí ở mức hợp lý giúp hãng kiểm toán đủ sức cạnh tranh trên thị trường Vì tầm quan trọng đó của việc lập kế hoạch kiểm toán mà ngay cả trong chuẩn mực thực thành thứ nhất có khẳng định “Công việc kiểm toán phải được lập kế hoạch và những người phụ tá, nếu có, phải được giám sát đúng đắn”(4)
Quá trình lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán được thể hiện qua
sơ đồ sau:
Trang 16Sơ đồ 6: lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán bctc (2)
3.1.1 Chuẩn bị kế hoạch.
- Sự chấp nhận khách hàng mới và tiếp tục với khách hàng cũ: Đối với một nghề nghiệp có tính cạnh tranh như kiểm toán độc lập thì hãng kiểm toán phải cân nhắc thận trọng trong quyết định chấp nhận kiểm toán cho khách hàng nào
+ Với khách hàng mới: Các kháchỉ tiêu hàng này hàng chưa tiến hành kiểm toán một lần nào Để xem xét khả năng có chấp nhận kiểm toán hay không hãng kiểm toán phải đánh giá được vị trí chính nếu có, xem xét quan hệ của Công ty đó với Công ty tiến hành kiểm toán trước kia
+ Với khách hàng đã ký hợp đồng từ các năm trước (khách hàng cũ) hãng kiểm toán phải xem xét những trường hợp không thể tiếp tục tiến hành kiểm toán cũng như cân nhắc giữa nhu cầu khách hàng là khả năng cung cấp dịch vụ kiểm toán của mình
Chu n b k ho chẩ ị ế ạ
Thu th p thông tin c sậ ơ ở
Thu th p thông tin v ngh a v pháp lý c a khách h ngậ ề ĩ ụ ủ à
ánh giá tính tr ng y u, r i ro ki m toán, r i ro kinh doanh v
r i ro ti m t ngủ ề à
Tìm hi u c s ki m toán n i b v ánh giá r i ro ki m toán ể ơ ở ể ộ ộ à đ ủ ể
Tri n khai k ho ch ki m toán to n b v chể ế ạ ể à ộ à ương trình ki m ể
toán
Trang 17Bản chất của việc thực hiện công việc này là định dạng những mối quan hệ với khách hàng có liên quan đến đối tượng kiểm toán là các Báo cáo tài chính Có hai nhân tố tác động trực tiếp đến việc định dạng là:
+ Người sử dụng các BCTC
+ Mục đích sử dụng các báo cáo tài chính
Khi các nhân tố trên thay đổi, thì KTV cũng phải thay đổi quy mô chất lượng số lượng bằng chứng kiểm toán cho phù hợp
- Nhóm kiểm toán
Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán thích hợp cho hợp đồng kiểm toán là điều quan trọng để thỏa mãn chuẩn mực kiểm toán đã thừa nhận và đảm bảo tính hiệu quả của cuộc kiểm toán
Do đó vấn đề này thường do Ban giám đốc của hãng trực tiếp chỉ đạo Nhóm kiểm toán được bố trí theo chuẩn mực kiểm toán ISA 2000 “… công việc kiểm toán phải được giao cho các nhân viên có trình độ chuyên môn và năng lực cần thiết, đáp ứng được tình hình thực tế”
Sau khi kế thúc giai đoạn này Hãng kiểm toán sẽ đưa ra thư chấp nhận kiểm toán Theo luật pháp nước ngoài thì thư chấp nhận có giá trị như một hợp đồng Còn ở Việt Nam, ngoài thư chấp nhận còn có hợp đồng kinh tế nêu rõ:
- Trách nhiệm về phía khách hàng
- Trách nhiệm của KTV
- Thời gian tiến hành kiểm toán
- Phạm vi của cuộc kiểm toán
- Phí kiểm toán
3.1.2 Thu thập thông tin cơ sở.
Am hiểu công việc, ngành nghề kinh doanh của khách hàng và có kiến thức
về hoạt động của Công ty khách hàng là điều cần thiết cho việc thực hiện kiểm toán đầy đủ, đặc biệt là với khách hàng mới Chuẩn mực ISA 310 quy định “… để thực hiện kiểm toán BCTC, KTV phải có hoặc phải thu thập hiểu biết đầy đủ về hoạt động kinh doanh của khách hàng để có thể nhận thức và xác định các sự kiện nghiệp vụ, thực tiễn của đơn vị…” Sự thu thập thông tin cơ sở được hoàn thành
Trang 18- Qua tìm hiểu về doanh nghiệp.
Tìm hiểu về doanh nghiệp để biết về ngành nghề và công việc kinh doanh của khách hàng, sự hiểu biết này có thể đạt được qua báo, đài, tạp chí chuyên ngành Từ việc đăng ký kinh doanh trong phân tích đánh giá một số chỉ tiêu cụ thể KTV có thể đưa ra một số nhận xét về tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong ngành nghề kinh doanh nhất định, khả năng phát triển và tương lai hoạt động Các chỉ tiêu thường được dùng để đánh giá bao gồm:
+ Năng suất lao động bình quân, số vốn bình quân, lương bình quân so với một doanh nghiệp cùng ngành
+ Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (mức sinh lời của một đồng hàng hóa bán ra), tỷ suất lợi nhuận trên vốn
+ Tỷ lệ về thị phần: được tính theo doanh thu của đơn vị trên doanh thu của toàn ngành
+ Tỷ lệ vốn: Vốn của doanh nghiệp trên toàn ngành
+ Tỷ lệ về khoản mục trên tổng số
Mục đích của việc phân tích các chỉ tiêu này nhằm phát hiện ra những biến động trong kinh doanh có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, từ đó chú trọng hơn đến những tài khoản liên quan khi tiến hành khảo sát chi tiết số dư, giúp cho KTV xác định những điểm cần phải chú trọng để thiết kế phương pháp kiểm toán hợp lý, khoa học Tuy nhiên khi dùng tỷ số ngành để phân tích cũng có thể gặp nhiều bất lợi là giữa công ty khách hàng và công ty khách trong ngành không đồng nhất với nhau về bản chất các thông tin tài chính, hoặc các dữ liệu của ngành
là số bình quân chung nên việc so sánh có thể không có ý nghĩa, từ đó KTV phải thận trọng khi áp dụng các kết quả so sánh vào từng trường hợp cụ thể
Cách thức để KTV nhận biết được các chỉ tiêu và các hiểu biết khác là có thể đựa vào KTV tiền nhiệm hoặc kết luận của các nhà quản lý của khách hàng, sau khi đã kiểm tra lại về nội dung và phương pháp tính hoặc có thể biết được thông qua các tài liệu công bố của ngành
- Qua thị sát-tham quan nhà xưởng
Qua việc tìm hiểu này giúp cho KTV nắm được tình hình tài sản và quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đặc biệt là hàng tồn kho có liên quan trực
Trang 19tiếp đến chu trình bán hàng và thu tiền như sản xuất đình trệ, sản xuất ứ đọng không tiêu thụ được… do đó ảnh hưởng tới những tài khoản trọng yếu trên BCTC.
- Qua phỏng vấn:
Đây là dịp để KTV có điều kiện gặp gỡ và phỏng vấn những nhân vật chủ chốt trong doanh nghiệp, qua đó cũng phần nào đánh giá được thái độ, phong cách làm việc và quản lý của Ban giám đốc Công ty khách hàng
Với những thông tin cơ sở thu thập được, bằng cách áp dụng thủ tục phân tích để so sánh với các năm trước để phát hiện ra những biến động hoặc thay đổi bất thường từ đó lập kế hoạch kiểm toán thích hợp
3.1.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng.
Nhằm giúp cho KTV đánh giá được sơ bộ rủi ro kiểm soát Các thông tin và tài liệu dựa vào các hồ sơ đã có bao gồm hồ sơ thường trực và hồ sơ làm việc, là căn cứ để đánh giá mối quan hệ của khách hàng với các bên liên quan bao gồm:
- Hồ sơ sáng lập
- Những tài liệu hội nghị của các nhà quản lý các cổ đông nhằm tìm thông tin về nghiệp vụ phân phối, thưởng phạt… các nội quy, quy chế ban hành để thiết
kế nên môi trường kiểm soát
- Hợp đồng (cam kết giữa các bên): Thể hiện nghĩa vụ pháp lý của Công ty khách hàng và các khách hàng khác Thông thường đây là các hợp đồng kinh tế như mua bán hàng hóa, hợp đồng về xây dựng, cung cấp các loại dịch vụ cho khách hàng, các cam kết khác như cam kết nợ của khách hàng khi kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền do liên quan mật thiết đến các loại rủi ro kiểm toán và các sai sót trọng yếu, liên quan đến các khoản mục của chu trình này như doanh thu và các khoản phải thu…
3.1.4 Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro kiểm toán, rủi ro kinh doanh và rủi
ro tiềm tàng.
♦ Tính trọng yếu:
Tính trọng yếu được định nghĩa là giá trị bằng tiền của các sai sót làm ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin trên BCTC
Trang 20Mức độ trọng yếu là giá trị của các sai sót dự tính nếu có thì có thể sẽ gây ảnh hưởng tới tính sát thực của việc trình bày thông tin trên BCTC, từ đó ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng BCTC Tính trọng yếu rất quan trọng đối với KTV trong khi xác định nội dung và số lượng của bằng chứng phải thu thập Trách nhiệm của KTV là xác định liệu BCTC có bị vi phạm tính trọng yếu hay không, và trước khi tiến hành kiểm toán, KTV phải xây dựng được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu để thu thập bằng chứng thích hợp Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là lượng tối đa của sai sót (xác định bằng tiền) mà KTV tin rằng tại mức
đó các BCTC có chứa sai sót nhưng chưa ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng Tuy vậy để xây dựng được mức ước lượng này không phải là điều dễ dàng,
vì chúng hoàn toàn mang tính xét đoán nghề nghiệp và đòi hỏi KTV phải có trình
độ và kinh nghiệm
Khi xây dựng ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cần lưu ý:
+ Tính trọng yếu là một khái niệm tương đối phụ thuộc vào quy mô hoạt động kinh doanh của khách hàng
+ Cơ sở để đánh giá tính trọng yếu: Phải xác định được khoản mục và tên các BCTC được sử dụng để ước lượng tính trọng yếu Người ta có thể dùng các chỉ tiêu như doanh thu, thu nhập trước thuế, tổng giá trị tài sản là cơ sở để đánh giá Tuỳ thuộc việc xem xét thông tin nào là then chốt với người sử dụng BCTC
Khi đã xây dựng được ước lượng ban đầu về tổng mức trọng yếu phải phân
bổ tổng mức trọng yếu này cho các bộ phận của BCTC và bằng chứng thường được thu thập theo từng bộ phận của BCTC (hay theo các chu trình nghiệp vụ): từ các chu trình này người ta lại tiếp tục phân bổ theo tài khoản và xác định xem liệu các tài khoản nào có số dư trọng yếu, từ đó tiến hành các loại trắc nghiệm thử nghiệm đối với các tài khoản này Giả sử KTV xác định các tài khoản phải thu có liên quan chặt chẽ đến khoản phải thu khách hàng cũng được chia thành doanh thu bán hàng hóa, sản phẩm theo từng mặt hàng, doanh thu trên thu nội bộ doanh thu
từ các loại dịch vụ khác v.v… để phát hiện sai sót với từng loại
Tuy nhiên khi tiến hành phân bổ, việc phân bổ này cũng mang tính chất xét đoán nghề nghiệp, phụ thuộc vào việc đánh giá của KTV rằng sai sót nào dễ xảy ra với từng khoản mục cụ thẻ, và mức sai sót thường thể hiện theo hai hướng lớn hơn hoặc nhỏ hơn (tương ứng với việc khai khống hoặc khai thiếu giá trị của các khoản mục trên BCTC so với thực tế)
Trang 21Tính trọng yếu ngoài việc xem xét trong giai đoạn thực hành kiểm toán Cụ thể việc tính mức trọng yếu tối đa và ước lượng để phân bổ cho các khoản mục là thuộc giai đoạn lập kế toán Khi thực hiện kiểm toán, KTV sẽ tiến hành lấy mẫu và thực hiện kiểm tra chi tiết với mẫu đã chọn Nếu như tổng mức trọng yếu được phát hiện trong các giai đoạn do sai sót của các khoản mục gây nên lớn hơn tổng mức trọng yếu xác định ban đầu thì KTV có thể yêu cầu khách hàng thực hiện các bút toán điều chỉnh và chỉnh lý lại BCTC trước khi đem ra công bố Nếu không sẽ đưa vào phần nhận xét trong báo cáo kiểm toán, từ đó đưa ra ý kiến là chấp nhận hay không chấp nhận, các BCTC của đơn vị được tập trung thực và hợp lý.
Rủi ro kiểm toán: được xem xét là rủi ro mà KTV sẽ kết luận là BCTC được trình bày trung thực do đó công bố ý kiến chấp nhận của KTV có thể cung cấp ra bên ngoài cũng bao hàm việc trình bày về tính trọng yếu và rủi ro
Qua khái niệm về rủi ro trên, cho thấy rằng, đối với Hãng kiểm toán thì rủi
ro kiểm toán là điều không tránh khỏi Mong muốn của Hãng cũng như KTV khi thực hiện là một mức rủi ro chấp nhận được, từ đó hạn chế được các rắc rối về trách nhiệm pháp lý, kiện cáo, cũng như giữ được uy tín nghề nghiệp Nhưng mức
độ rủi ro kiểm toán cao hay thấp phụ thuộc vào bằng chứng kiểm toán Nếu như rủi
ro kiểm toán là không (hoặc 0%) thì đó là điều không thể thực hiện được và khi ấy
số lượng thu thập được của bằng chứng rất lớn và chi phí kiểm toán theo đó tăng vọt lên Mặt khác cũng không thể có được mức độ rủi ro là 1 (hay 100%) và không phải lúc nào rủi ro mong muốn cũng đạt được như trong thực tế Vì vậy mối quan
hệ giữa rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán (chi phí kiểm toán) được thể hiện qua sơ đồ số 7?
3.1.5 Khảo sát trực tiếp số dư.
Kiểm toán viên tiến hành kiểm tra số dư các tài khoản trong chu trình mua hàng và thanh toán theo trình tự ngược với trình tự kế toán Nghĩa là từ các khoản mục hàng tồn kho, nợ phải trả trên bảng CĐTS kiểm toán viên phân tích ra theo số
dư của từng tài khoản như tài khoản nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, tài khoản nợ phải trả người bán… sau đó sẽ kiểm tra số phát sinh của mỗi tài khoản đó trên các
sổ chi tiết và kết hợp với các phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ để xác minh trên thực tế Cuối cùng kiểm toán viên đưa ra đánh giá và kết luận của mình về độ chính xác của các số dư tài khoản Các trắc nghiệm này có ưu điểm là thu được các
Trang 22bằng chứng có độ tin cậy rất cao, các rủi ro kiểm toán được hạn chế đến mức tối đa song lại có một nhược điểm là rất tốn công, mất nhiều thời gian và chi phí lớn.
Trong kiểm toán hiện đại, việc kiểm tra chi tiết từng khoản mục, từng số dư tài khoản đã trở nên không thực tế do quy mô hoạt động của các đơn vị ngày càng lớn, khối lượng các nghiệp vụ phát sinh ngày càng nhiều Vì vậy kiểm toán viên thường kết hợp cả hai loại trắc nghiệm trên Kiểm toán viên không kiểm tra chi tiết toàn bộ các số dư tài hkoản mà sẽ thực hiện các trắc nghiệm phân tích trước, lựa ra các nghiệp vụ trọng yếu sau đó sẽ tiến hành các trắc nghiệm trực tiếp số dư
Sau khi đã lập ra kế hoạch và chương trình kiểm toán, các giai đoạn tiếp theo sẽ là vận dụng kế hoạch vào thực tế kiểm toán ở Công ty khách hàng để
có được các bằng chứng kiểm toán có giá trị Giai đoạn 2 kiểm toán viên sử dụng các phương pháp tuân thủ để thu thập bằng chứng khẳng định mức rủi ro kiểm soát
đã đánh giá Còn giai đoạn 3, kiểm toán viên sử dụng các phương pháp cơ bản để thu thập những bằng chứng kiểm toán chi tiết hơn
Trang 23Chương ii
Thực hành kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền trong quá trình kiểm toán báo cáotài chính của Công
ty Kiểm toán và Tư vấn Tài chính Kế toán sài gòn
I đặc điểm chung của công ty kiểm toán và tư vấn tài chính kế toán sài gòn
1 Giới thiệu về Công ty afc saigon
Tên giao dịch: Công ty Kiểm toán và Tư vấn tài chính kế toán Sài Gòn
Tên giao dịch quốc tế: Sài Gòn Auditing and accounting Finencial Consulting Company
Tên viết tắt: (AFC SAI GON)
Trụ sở chính: 138 Nguyễn Thị Minh Khai, quận 3, thành phố Hồ Chí MinhĐiện thoại: 08.9303437
2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty AFC Sài Gòn
Trong điều kiện nền kinh tế đã chuyển đổi sang cơ chế thị trường, mọi yếu tố không phù hợp với nền kinh tế cũ bị xoá bỏ, nhưng nhu cầu mới được hình thành
và đòi hỏi ngày càng bức bách Trong đó có các nhu cầu về dịch vụ tư vấn kế toán của các doanh nghiệp, của các tổ chức để áp dụng chế độ kế toán tài chính sao cho phù hợp, xây dựng các mô hình tổ chức kế toán, xây dựng hệ thống sổ sách kế toán, đặc biệt là việc hạch toán thế nào cho đúng trước yêu cầu cấp thiết đó, việc
Trang 24thành lập các công ty kiểm toán là rất cần thiết Ngày 13/2/1995 Bộ trưởng Bộ tài chính đã ra quyết định số 108/TC-TCCB thành lập Công ty kiểm toán và tư vấn tài chính kế toán Sài Gòn (AFC SAIGON)
AFC SAIGON là một trong những tổ chức chuyên ngành lớn nhất tại Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn tài chính kế toán Ngay từ những ngày đầu thành lập AFC SAIGON đã xác định chất lượng dịch vụ và uy tín của Công ty là mục tiêu của sự phát triển Vì vậy trong quá trình hoạt động từ năm
1995 đến nay, tập thể cán bộ công nhân viên của toàn công ty đã nỗ lực nâng cao trình độ lý luận, kinh nghiệm thực tiễn cùng với sự nhiệt tình nên uy tín của AFC SAIGON ngày càng được nâng cao thu hút được một đội ngũ khách hàng hoạt động trong mọi lĩnh vực như ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông
Với cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý khoa học, gọn nhẹ, linh hoạt, AFC SAIGON là một trong những tổ chức dịch vụ kế toán và kiểm toán hoạt động có hiệu quả và không ngừng phát triển về mọi mặt, phạm vi hoạt động của công ty ngày càng mở rộng cùng với sự phát triển của đất nước, sự giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới
Trong năm 2001, công ty AFC SAIGON tiếp tục phát huy các kế hoạch kinh doanh chiến lược của mình Tháng 7/2001 được sự chấp thuận của Bộ tài chính Việt Nam AFC SAIGON đã chính thức trở thành công ty thành viên tại Việt Nam của tập đoàn kiểm toán quốc tế BDO
BDO được xếp hạng thứ 6 trong các tập đoàn kiểm toán quốc tế hàng đầu thế giới BDO đã có trên 21000 nhân viên và chủ phần hùn đang làm việc trong 550 văn phòng tại 98 quốc gia và vùng lãnh thổ Doanh thu về phí dịch vụ năm 2000 của tập đoàn BDO trên 2 tỷ Mỹ kim Với thương hiệu quốc tế BDO, AFC SAI GON sẽ có được nhiều cơ hội tham gia phục vụ các dự án do các tổ chức quốc tế tài trợ Đây là cơ hội lớn giúp AFC SAIGON củng cố va phát triển vị thế trên thị trường trong và ngoài nước
Với phương châm hoạt động "thành công của khách hàng chính là thành công của chúng tôi", với đội ngũ nhân viên vững vàng về nghiệp vụ, nhiệt tình trong công việc, với sự hỗ trợ của mạng lưới BDO qua công tác huấn luyện nghiệp vụ cũng như cung cấp mọi nguồn lực, AFC SAIGON ngày càng trở nên vững mạnh
Trang 25về mọi mặt kể cả uy tín cũng như chất lượng, góp phần đưa ngành kiểm toán Việt Nam sánh vai cùng quốc tế.
3 Thành quả hoạt động của công ty
Năm 2000 là năm thứ 5 liên tục AFC SAIGON giữ vững mức tăng trưởng hàng năm bình quân là 22%, dịch vụ kiểm toán vẫn là dịch vụ chủ yếu tạo ra 78% tổng doanh thu của công ty, trong thời gian sắp tới AFC SAIGON sẽ tăng cường dịch vụ tư vấn, kế toán, đào tạo và huấn luyện Đây là các lĩnh vực nhiều tiềm năng trên thị trường
§µo t¹o, huÊn luyÖn
Kh¸c
AFC SAIGON đã cung cấp các dịch vụ chuyên ngành cho hàng ngàn lượt khách hàng với hơn 600 khách hàng thường xuyên thuộc mọi thành phần kinh tế: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN), doanh nghiệp nhà nước (DNNN), công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân Ngoài ra, khách hàng của AFC SAIGON còn bao gồm nhiều tổ chức và chương trình tài trợ quốc tế
50%
39%
§TNN DNNN
Cæ phÇn T nh©n
Trang 264 Chức năng và nhiệm vụ của công ty AFC SAIGON
- Đăng ký kế hoạch kinh doanh cơ quan thuế theo đúng các quy định của nhà nước
- Trình Bộ Tài chính duyệt kế hoạch tài chính hàng năm, kế hoạch xây dựng phát triển dài hạn và ngắn hạn của công ty
- Bảo toàn và phát triển vốn
- Làm đầy đủ các nghĩa vụ nộp thuế và nộp khác với Nhà nước theo đúng quy định của pháp luật và các văn bản của Bộ Tài chính
- Thực hiện đúng chế độ quản lý tài chính, chế độ kế toán do Nhà nước quy định
- Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho viên chức trong Công ty, bảo vệ sản xuất kinh doanh, giữ gìn an ninh trật tự xã hội và tuân theo pháp luật
- Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người lao động trong Công ty
Trang 275 Các dịch vụ của AFC SAIGON
a) Dịch vụ kế toán và kiểm toán
Dịch vụ kiểm toán là dịch vụ chủ yếu trong hoạt động kinh doanh, chiếm tỷ trọng 78% tổng doanh thu của AFC SAIGON Các giám đốc phụ trách theo sát sự phát triển của nghiệp vụ kiểm toán và đã tiếp cận với công nghệ tiên tiến nhất nhờ vào sự hỗ trợ của các uỷ ban và các cuộc hội thảo về kế toán và kiểm toán
b) Các dịch vụ kiểm toán đặc biệt
- Kiểm toán dự toán, báo cáo quyết toán công trình xây dựng cơ bản
- Kiểm toán dự án, báo cáo quyết toán kinh phí từ các nguồn tài trợ trong và ngoài nước
- Kiểm toán tỷ lệ nội địa hoá để được hưởng chính sách ưu đãi về thuế nhập khẩu
c) Dịch vụ tư vấn thuế
Các chuyên viên thuế của công ty làm việc sâu sát với khách hàng để giảm thiểu gánh nặng về thuế một cách hợp pháp và tối đa hoá các chính sách ưu đãi, khuyến khích về thuế cho khách hàng Với kiến thức chuyên sâu về thuế trong nước và qua sự hỗ trợ của mạng lưới BDO, AFC SAIGON có thể tư vấn cho các nhà đầu tư nước ngoài các quy định về thuế quốc tế Tại Việt Nam, các chuyên viên tư vấn thuế của công ty cung cấp các dịch vụ sau:
- Lập kế hoạch thuế, tư vấn, tham vấn về các vấn đề có liên quan đến các loại thuế thu nhập (doanh nghiệp, cá nhân), các chính sách ưu đãi về thuế, các loại phí
và lệ phí, các loại thuế gián thu
- Hỗ trợ trong việc tuân thủ các luật thuế bao gồm cả việc lập, nộp các tờ khai thuế cho các công ty và cá nhân
- Lập hồ sơ xin được hưởng thuế xuất ưu đãi
- Lập hồ sơ xin miễn giảm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
d) Dịch vụ tư vấn văn phòng công ty
- Giữ sổ sách của công ty theo luật định
Trang 28- Tư vấn và lập hồ sơ cho công ty bao gồm cả việc lập hồ sơ xin niêm yết trên thị trường chứng khoán.
e) Dịch vụ đào tạo - huấn luyện
Giảng viên các lớp đào tạo của công ty tốt nghiệp từ nhiều trường đại học nổi tiếng trong và ngoài nước Hiện nay, Công ty thường xuyên và liên tục mở các lớp huấn luyện ngắn hạn như sau:
- Bồi dưỡng kế toán trưởng theo chương trình của Bộ Tài chính
- Bồi dưỡng kiểm toán viên để dự kỳ thi kiểm toán viên cấp Nhà nước
- Nguyên lý kế toán, kế toán giá thành vf kế toán nâng cao thuộc hệ thống kế toán Mỹ
- Tài chính, kế toán, thuế
Ngoài các lớp huấn luyện thường xuyên nói trên, Công ty cũng mở các lớp huấn luyện đặc biệt đáp ứng nhu cầu tuân thủ các chính sách kế toán, tài chính, thuế mới ban hành
f) Dịch vụ kế toán
Các dịch vụ kế toán của Công ty bao gồm:
- Đăng ký chế độ kế toán
- Mở và cập nhật sổ sách kế toán
- Lập và nộp các báo cáo tài chính, kế toán, thuế
- Xây dựng các mô hình kế toán, tổ chức và điều hành bộ máy kế toán, hướng dẫn việc thực hiện lập chứng từ , sổ sách kế toán và báo cáo tài chính
g) Dịch vụ quản lý doanh nghiệp
Công ty có thể cung cấp dịch vụ tư vấn để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận, quản
lý và cải tiến hệ thống quản lý doanh nghiệp, bao gồm nhưng không giới hạn về các lĩnh vực sau:
- Kế hoạch chiến lược
- Quản lý rủi ro
- Kiểm tra chéo
Trang 29- Kiểm soát nội bộ.
- Kiểm tra và đánh giá dịch vụ thông tin
h) Tư vấn quản trị tài chính
Trong môi trường kinh doanh và hệ thống luật pháp điều tiết ngày càng phức tạp hơn, các doanh nhân cần phải có những giải pháp sáng tạo và đặc biệt để đảm bảo thành công trong kinh doanh Công ty AFC SAIGON có một hệ thống quốc tế gồm các chuyên gia tư vấn tài chính doanh nghiệp có đủ năng lực chuyên môn để đảm nhận các hợp đồng tư vấn trong lĩnh vực tư nhân và công cộng
i) Dịch vụ phần mềm kế toán
Với đội ngũ chuyên viên công nghệ thông tin có kiến thức về kế toán tài chính, công ty có thể cung cấp các dịch vụ tin học sau:
- Thiết kế phần mềm kế toán theo yêu cầu quản lí đặc thù của khách hàng
- Nâng cấp các phần mềm hiện có theo yêu cầu quản lí của khách hàng
j) Tư vấn khôi phục và giải thể doanh nghiệp
Các dịch vụ khôi phục doanh nghiệp bao gồm:
- Cơ cấu lại lưu chuyển tiền tệ
- Hợp lý hoá hoạt động kinh doanh
- Thanh lý tài sản, công nợ
- Kiểm tra việc kiểm soát tín dụng
- Kiểm tra nợ phải thu khách hàng
- Điều phối về tài chính
- Kiểm tra thanh khoán công ty
- Thu hồi và tiếp nhập nợ
- Điều tra khả năng sống còn của doanh nghiệp
- Cơ cấu và bố trí lại kế hoạch chi phí doanh nghiệp
- Quản trị đặc biệt đối với doanh nghiệp trong tình trạng nguy kịch
6 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty AFC SAIGON
Trang 30Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty
Tổ chức bộ máy của công ty bao gồm trụ sở chính của công ty tại thành phố
Hồ Chí Minh và hai chi nhánh của công ty tại Cần Thơ và Hà Nội
Cơ cấu bộ máy của công ty bao gồm:
- Ban giám đốc
- Phòng kiểm toán
- Phòng tư vấn và bồi dưỡng nghiệp vụ
- Phòng kế hoạch và kế toán tài vụ
- Phòng tổ chức, hành chính, quản trị
+ Ban giám đốc công ty
Ban giám đốc của công ty bao gồm một giám đốc và 3 phó giám đốc Giám đốc công ty do Bộ trưởng Bộ tài chính bổ nhiệm và có các nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
v 5 ụ
Phó giám
c công ty đố
Phòng nghi p v 1 ệ ụ
Phòng nghi p v 3 ệ ụ
Phòng tư
v n & ấ đà o
t o ạ
Phòng công ngh thông ệ tin
Phó giám
c công đố
ty
Phòng nghi p v ệ ụ 2
Phòng nghi p v ệ ụ 4
Giám c chi đố nhánh Hà
N i ộ
Chi nhánh
H N i à ộ
- Các phòng nghi p v ệ ụ
ki m toán ể
- Nhóm t ư
v n ấ
Phòng phát tri n kinh ể doanh
Trang 31- Điều hành, quản lí và chịu trách nhiệm về toàn bộ các hoạt động của công
ty theo đúng pháp luật và những quy định tại điều lệ của công ty
- áp dụng các biện pháp cần thiết trong khuôn khổ cho phép của luật pháp để thực hiện các kế hoạch đã được Bộ tài chính phê duyệt
- Điều hoà vốn phát triển sản xuất kinh doanh trong toàn công ty khi cần thiết
- Ký hợp đồng thuê chuyên gia trong và ngoài nước để đáp ứng yêu cầu hoạt động của công ty
- Quy định cơ cấu tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của các chi nhánh, văn phòng đại diện và các phòng phụ thuộc của công ty
- Tạo điều kiện cần thiết để kế toán trưởng công ty thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình theo đúng chế độ tài chính - kế toán do nhà nước quy định
- Quyết định các vấn đề về cán bộ và lao động tiền lương theo phân cấp của
Bộ tài chính
II Thực hiện kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền
Là một trong những công ty hàng đầu và lớn nhất tại Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán đầy mới mẻ nhưng AFC đã nhanh chóng khẳng định vị trí của mình trên thị trường Với tỷ trọng doanh thu kiểm toán đã trở thành mũi nhọn
và được AFC chú trọng đầu tư và phát triển Trong suốt gần 10 năm AFC đã thu hút được đội ngũ khách hàng thường xuyên đông đảo, có được kết quả đó là nhờ
nỗ lực không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp, khai thác và mở rộng thị trưòng Hàng năm AFC đều gửi thư chào hàng đến cho khách hàng có nhu cầu kiểm toán Thư chào hàng là bức thông điệp giới thiệu về uy tín, chất lượng, dịch
vụ của AFC Sau khi nhận đựoc thư chào hàng nếu khách hàng đồng ý thì họ sẽ phát thư mời kiểm toán, thư mời kiểm toán có hình thức bằng văn bản hoặc bằng miệng Sau khi nhận được thư mời kiểm toán đại diện AFC tiếp xúc gặp gỡ Ban Giám đốc khách hàng để trao đổi thông tin và đi tới ký kết hợp đồng kiểm toán, tuy nhiên mức độ trao đổi còn tuỳ thuộc vào từng loại khách hàng Chẳng hạn với khách hàng cũ của AFC thì đại diện của hai bên tiếp xúc gặp gỡ để trao đổi và cũng là đề xuất yêu cầu của mình, còn với những khách hàng mới thì AFC cần có những thông tin về qúa trình sản xuất, những khó khăn cũng như những yêu cầu từ
Trang 32phía khách hàng đối với dịch vụ kiểm toán từ đó AFC sẽ ước lượng sơ bộ khối lượng công việc và giá phí kiểm toán cũng như rủi ro kiểm toán nếu khách hàng chấp nhận dịch vụ và giá phí kiểm toán mà AFC đưa ra thì hai bên tiến hành ký kết hợp đồng Trong trường hợp có gì thắc mắc về dịch vụ kiểm toán cũng như mức giá phí kiểm toán thì khách hàng có thể đề đạt và thoả thuận lại.
Hợp đồng kiểm toán là sự thoả thuận bằng văn bản về yêu cầu của khách hàng và AFC đã được cả hai bên chấp nhận, trong đó xác định được mục tiêu, phạm vi cuộc kiểm toán, trách nhiệm của AFC và trách nhiệm của khách hàng, hình thức phát hành báo cáo kiểm toán, thời gian thực hiện và các điều kiện về phí kiểm toán, về xử lý tranh chấp hợp đồng Giá phí kiểm toán do AFC đưa ra và được tính theo cơ sở thời gian tiến hành cuộc kiểm toán, mức độ phức tạp của công việc và các dịch vụ mà AFC sẽ cung cấp bổ sung Tuy nhiên, trong một số trường hợp AFC sẽ cung cấp miễn phí một số dịch vụ nào đó hoặc giảm giá xuống mức có thể chấp nhận được sao cho cả hai bên cùng có lợi Với chất lượng dịch vụ cao, giá phí kiểm toán hợp lý AFC đang là một đối thủ cạnh tranh của nhiều công ty kiểm toán trong và ngoài nước
1 Lập kế hoạch kiểm toán
Công ty nhận thức rõ việc lập kế hoạch kiểm toán sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện kiểm toán có hiệu quả, giảm thiểu được chi phí nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán Việc lập kế hoạch kiểm toán được thực hiện qua các bước sau:
1.1 Chấp nhận thư mời kiểm toán
Khi AFC chấp nhận thư mời kiểm toán của khách hàng thì hai bên sẽ thoả thuận ký kết hợp đồng kiểm toán Hợp đồng kiểm toán là minh chứng pháp lý cho
sự hiện hữu của cuộc kiểm toán
Khi hợp đồng kiểm toán được ký kết xong có nghĩa việc thực hiện một cuộc kiểm toán đã được bắt đầu và công việc tiếp theo đó là cử kiểm toán viên phụ trách
1.2 Cử kiểm toán viên phụ trách
Việc cử kiểm toán viên phụ trách là một bước công việc quan trong trong quá trình kiểm toán công việc này phụ thuộc vào quy mô từng cuộc kiểm toán, từng phần hành kiểm toán và đặc biệt còn phụ thuộc vào trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của kiểm toán viên
Trang 331.3 Tìm hiểu khách hàng
Việc tìm hiểu khách hàng giúp cho kiểm toán viên có những hiểu biết về khách hàng và từ đó có những định hướng và thiết kế phương pháp kiểm toán cho phù hợp Việc tìm hiều về khách hàng bao gồm các mặt sau:
a Tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng
AFC tìm hiểu hoạt động kinh doanh cả dưới góc độ khách quan và dưới góc độ của khách hàng
+ Những hoạt động kinh doanh và kết quả kinh doanh của khách hàng
+ Chiến lược kinh doanh của khách hàng
+ Cơ cấu sản phẩm và công tác tiêu thụ sản phẩm
+ Môi trường kinh doanh mà khách hàng đang hoạt động
+ Vị trí cạnh tranh của khách hàng Những rủi ro mà khách hàng đang gặp phải xét xem liệu các rủi ro này có khả năng ảnh hưởng tới báo cáo tài chính và vì thế có ảnh hưởng tới quá trình kiểm toán hày không
Việc am hiểu công việc kinh doanh và nghành kinh doanh của khách hàng
và kiến thức về các mặt hoạt động của họ là cần thiết cho việc thực hiện kiểm toán đầy đủ Với đa số khách hàng thường niên thì những thông tin về hoạt động kinh doanh cập nhật cho cuộc kiểm toán năm nay đưọc lấy từ hồ sơ kiểm toán năm trước Những thay đổi được cập nhật trong quá trình thu thập những thông tin chung ở bước trên và được ban quản lý của khách hàng cung cấp tạin buổi thảo luận với đại diện của AFC, còn đối với những công ty lần đầu tiên là khách hàng (khách hàng mới) thì AFC có được thông tin bằng cách thu thập các tài liệu như giấy phép thành lập, điều lệ công ty, các biên bản họp hội đồng quản trị, các văn bản luật, chế độ chính trị của Nhà nước có liên quan… kiểm toán viên ghi các thông tin này vào giấy làm việc và lưu vào hồ sơ kiểm toán bằng cách trích đoạn các văn bản hoặc sao chụp và gạch dưới các phân quan trọng Hoặc cũng có thể thu thập thông tin về tình hình kinh doanh của khách hàng bằng phương pháp phỏng vấn Làm việc tại trụ sở của công ty là tốt nhất vì nó tạo điều kiện cho kiểm toán viên tiếp cận dễ dàng với khách hàng, quan sát hoạt dộng sản xuất kinh doanh, phỏng vấn ban quản lý khách hàng để thấy được những mong muốn, thắc mắc của
họ từ đó cải thiện chất lượng phục vụ cung cấp Ngoài ra đối với những khách hàng hoạt động trong các lĩnh vực mới mẻ có rủi ro kinh doanh cao thì nhóm kiểm
Trang 34toán còn tham khảo ý kiến của các chuyên gia để có được những hiểu biết cặn kẽ hơn
Đối với công ty A
• Loại hình sở hữu Là một doanh nghiệp nhà nước
Quá trình hình thành và phát triển Công ty A được thành lập theo quyết định 7360 ngày 28/2/1991, là một doanh nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân,
có tài khoản ở ngân hàng, có con dấu riêng và hach toán độc lập, hoạt động theo giấy phép kinh doanh số 873/GP ngày 30/3/1991
- Về nghành nghề kinh doanh Công ty chuyên sản xuất các sản phẩm đồ hộp như Patê, thịt hộp, cá xay
- Về tình hình tài sản và nguồn vốn thể hiện trên hai báo cáo của công ty là bảng cân đối kế toán và băng báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty A
Báo cáo lãi lỗ
2 Các khoản giảm trừ doanh thu 103.354.000
Trang 36Bảng cân đối kế toán.
Niên độ 2000
A Tái sản lưu động và đầu tư ngẵn
hạn.
39489723125 43336230326
I Tiền mặt và tiền gửi ngân hàng 2992568000 3895675000
B Tài sản cố định và đầu tư dài hạn 212447848 15478781
III Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 15454564564 4454454568
IV Chi phí xây dựng cơ bản dở dang 1512312156 4151156486
V Các khoản ký quỹ ký cược dài hạn 212447848 15478781
Trang 37Tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ
Với bất cứ một khách hàng nào thuộc mọi thành phần kinh tế thì việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đó là một việc làm quan trọng đối với mọi cuộc kiểm toán tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đó là một việc làm quan trọng đối với mọi cuộc kiểm toán Tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công ty A bao gồm các mặt tìm hiểu sau
b.1 Môi trường kiểm soát
Với những khách hàng thường niên thì nhóm kiểm toán chỉ cần cập nhật những thông tin về sự thay đổi trong bộ máy lãnh đạo, cơ cấu nhân sự cũng như kế hoạch và dự toán được lạp cho năm kiểm toán Việc tìm hiểu về môi trường kiểm soát được đề cập đến các khía cạnh sau
- Quan điểm và phong cách điều hành của Ban Giám đốcĐối với công ty A
Giám đốc công ty A là người chịu trách nhiệm hoàn toàn về mọi mặt nói chung cũng như mặt hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng Là một người có trình độ chuyên môn cao, có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo,am hiểu thực tế, có uy tín Các Phó Giám đốc là những người có học vấn, có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn, điều hành một hoặc một số lĩnh vực theo sự phân công của Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Giám đốc, trước pháp luật về nhiệm
vụ được phân công
Kế toán trưởng là người có trình độ, liêm khiết và tư vấn cho Giám đốc về tình hình tài chính của đơn vị đồng thời cũng đưa ra giải pháp hoạt động sản xuất kinh doanh
- Về nhân sự:
Tính đến ngày 31/12/1999 toàn công ty có 2576 cán bộ công nhân viên chức, chủ yếu hoạt động trong các phân xưởng chế biến và hoạt động công tác bán hàng ở mọi nơi với mứa lương thoả đáng Với dây chuyền công nghệ hiện đại, là một Công ty hàng đầu về chế biến, sản xuất hải sản đông lạnh, đội ngũ công nhân viên có trình độ và kinh nghiệm nên hạn chế được tối đa sản phẩm hỏng và luôn cải tiến chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá các loại sản phẩm
- Về các loại kiểm soát khác
Trang 38Đó là những kế hoạch về tiêu thụ sản phẩm ,về đầu tư sửa chữa lớn tài sản
cố định cũng như mua bán , thanh lý tài sản cố định
Hàng năm công ty A đều có các buổi họp về tình hình tiêu thụ sản phẩm, đề
ra các phương hướng, biện pháp về kế hoạch tiêu thụ sản phẩm trong năm tới cũng như việc đề ra các mục tiêu phấn đấu tăng chất lượng sản phẩm, chiến lược mở rộng thị trường
- Về các hoạt động kiểm toán nội bộ
Công ty A là một Công ty có bộ máy kiểm toán nội bộ riêng biệt, hoàn toàn tách biệt với Ban giám đốc Công ty và không chịu sự điều hành trực tiếp của Ban Giám đốc Công ty A nên báo cáo của bộ máy kiểm toán nội bộ được AFC đánh giá
là đảm bảo được tính độc lập khách quan Mặt khác, trong quá trình kiểm toán bộ phận kiểm toán nội bộ được quyền thu thập thông tin không giới hạn Qua kiểm tra
sơ bộ giấy tờ làm việc của kiểm toán viên nội bộ, KTV đánh giá cao chuyên môn
và kinh nghiệm của kiểm toán nội bộ Tài liều của bộ phận kiểm toán nội bộ được lưu trữ trong hồ sơ kiểm toán để làm bằng chứng kiểm toán
Là một Công ty có quy mô lớn, thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng khắp trong
cả nước nên bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức một cách gọn nhẹ mà các kế toán viên đều đảm nhận hết các công việc kế toán hàng ngày, thực sự trở thành một thực thể giúp việc cho Ban Giám đốc điều hành và quản lý doanh nghiệp
Với tổng số 16 người trong bộ máy kế toán bao gồm một kế toán trưởng và các kế toán viên đã đảm nhận mọi công viếc thuộc các phần hành khác nhau
Trang 39Sơ đồ bộ máy kế toán của công ty a
Với sơ đồ cơ cấu bộ máy kế toán của công ty KTV nhận thấy rằng việc phân công công tác kế toán là đảm bảo theo đúng nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc phân công phân nhiệm rõ ràng Như vậy, cơ cấu bộ máy kế toán là hợp lý
- Về chế độ kế toán áp dụng
Hình thức mở sổ Theo hình thức nhật ký chung
Niên độ kế toán Bắt đầu từ ngày 1/1 và kêt thúc ngày 31/12
Đồng tiền sử dụng trong hạch toán là Việt Nam đồng Trong kỳ các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ được qui đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hoạch toán và cuối kỳ qui đổi theo tỷ giá thực tế , chênh lệch tỷ giá được kết chuyển vào kết quả kinh doanh trong kỳ
Tài sản cố định được phản ánh theo nguyên giá và hao mòn luỹ kế Khấu hao được tính theo từng tháng , Công ty mở thẻ tài sản cố định để theo dõi
Hạch toán nguyên vật liệu, công cụ , dụng cụ Công ty sử dụng phương pháp thẻ song song , hàng quý Công ty tiến hành kiểm kê kho vật tư , Công ty sử dụng phương pháp nhập trước xuất trước để tính giá nguyên vật liệu xuất kho
_ Về hạch toán giá thành sản phẩm Công ty tính giá theo phương pháp hệ
số vì đặc thù sản xuất là các yếu tố đầu vào, cùng một dây truyền công nghệ nhưng cho ra các loại sản phẩm khác nhau Do vậy , ngay từ đầu đã không hạch toán riêng được cho từng loại Công ty tính giá thành sản phẩm theo phương pháp phân bước có tính giá thành của bán thành phẩm
B ph n ộ ậ
k toán ế
v n b ng ố ằ
ti n v ề à thanh toán công nợ
B ph n ộ ậ
k toán ế
t ng h p ổ ợ
v ki m à ể tra
Bôh
ph n k ạ ế toán t p ậ
h p chi ợ phí v à tính giá
th nh à
Trang 40b3 Về thủ tục kiểm soát KTV đánh giá tính hiệu quả của các thủ tục kiểm
soát qua việc thực thi nguyên tắc phân công phân nhiệm , uỷ quyền và phê chuẩn , bảo quản chứng từ và sổ sách đầy đủ
Chẳng hạn về công tác thu hồi nợ Công ty có chế độ tín dụng tương đối trong quan hệ mua bán Việc phê chuẩn các khoản doanh thu bán chịu phải được phép của nhữg người có thẩm quyền độc lập vớí người ghi sổ doanh thu Khi bán hàng Công ty chỉ cho phép trả chậm trong vòng từ 30 ngày đến 45 ngày nếu thời hạn trả chậm lâu hơn phải được sợ phê chuẩn của Giám đốc hoặc của Phó Giám đốc
Trong công tác tiêu thụ , trưởng phòng kinh doanh của công ty được uỷ quyền phê chuẩn các khoản bán chịu có số tiền nhỏ hơn 300 triệu và thời hạn thanh toán không quá 1,5 tháng Còn lại nếu các khoản bán chịu có số tiền lớn hơn 300 triệu và thời hạn thanh toán lớn hơn 45 ngày , đặc biệt xoá sổ các khoản nợ phải thu khó đòi thì nhất thiết phải có sự đồng ý của Ban Giám đốc
Căn cứ vào những thông tin thu được trong quá trình tìm hiểu khách hàng cũng như tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ KTV phân tích và đành giá tính trọng yếu của từng khoản mục trong cuộc kiểm toán báo cáo tài chính Với Công
ty A các khoản mục sau được đánh giá là trọng yếu
Hàng tồn kho
Tài sản cố định
.Các khoản đầu tư xây dựng cơ bản xảy ra
.Các khoản vay ngắn hạn , dài hạn
.Nguồn vốn kinh doanh , đặc biệt là việc trích lập va sử dụng quỹ đầu tư phát triển
.Các khoản công nợ phải thu , phải trả
.Các khoản chi phí sản xuất kinh doanh , doanh thu
Trong bước đánh giá trọng yếu rủi ro này KTV chỉ đánh giá một cách định tính theo kinh nghiệm chứ không ước lượng tính trọng yếu ban đầu của toàn bộ báo cáo tài chính va phân bổ mức trọng yếu đó cho từng khoản mục Vì thế , việc đưa ra các bút toán điều chỉnh cho những sai sót hoàn toàn theo ý muốn chủ quan của KTV