Qua gần 20 năm xây dựng và phát triển, ĐHQG-HCM luôn định hướng hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực hoạt động của ĐHQG-HCM như quản trị, đào tạo, phát triển đội ngũ, nghiên cứu khoa học –
Trang 1HỘI THẢO 2014
Hội nhập quốc tế trong quá trình đổi mới giáo dục đại học Việt Nam
International Integration in the Process of Higher Education Reform in Viet Nam
HỘI ĐỒNG QUỐC GIA GIÁO DỤC
VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC ĐẠI HỌC QUỐC GIA
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TP HỒ CHÍ MINH
HỘI ĐỒNG QUỐC GIA GIÁO DỤC
VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC
TÀI LIỆU HỘI THẢO
Hội nhập quốc tế trong quá trình
đổi mới giáo dục đại học Việt Nam
International Integration in
the Process of Higher Education Reform in Viet Nam
Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 08 tháng 6 năm 2014
Trang 3BÀI BÁO TOÀN VĂN
Phiên toàn thể – Sáng 08/6/2014
Phát biểu khai mạc và đề dẫn của Giám đốc ĐHQG-HCM
Hội nhập quốc tế - con đường tất yếu của
giáo dục đại học thời toàn cầu hóa 5
Phan Thanh Bình, Giám đốc ĐHQG-HCM
BC-01
Đại học Quốc gia Tp HCM: Hội nhập quốc tế để phát triển –
kinh nghiệm và đề xuất 10
Nguyễn Hội Nghĩa, Phó Giám đốc ĐHQG-HCM
BC-02
Globalization Strategies of NUS 18
TAN Eng Chye, Provost, National University of Singapore
BC-03
International Integration of Higher Education in a Runaway World:
Challenges to the Universities in ASEAN 28
Choltis Dhirathiti, ASEAN University Network (AUN)
BC-04
Hai ý tưởng quan trọng nên học tập từ Hoa Kỳ:
Phân tầng hệ thống giáo dục đại học và quản lý đầu tư nghiên cứu 32
Lâm Quang Thiệp, Trường ĐH Thăng Long
BC-05
Hội nhập quốc tế để thúc đẩy đổi mới
và đổi mới thành công sẽ hội nhập có hiệu quả 43
Trần Chí Đáo, Nguyên Giám đốc ĐHQG-HCM
BC-06
Sự chuyển dịch tư duy trong lĩnh vực hợp tác - hội nhập
của giáo dục đại học Việt Nam với quốc tế (Thành tựu, hạn chế) 46
Nguyễn Tấn Phát, Nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT, Nguyên GĐ ĐHQG-HCM
BC-07
Trả lời cho ba câu hỏi về tài chính giáo dục đại học 48
Phạm Phụ, Trường ĐH Bách khoa, ĐHQG-HCM
BC-08
Mấy suy nghĩ về giáo dục đại học Việt Nam
trong quá trình hội nhập quốc tế 53
Nguyễn Ngọc Giao, Nguyên Phó Giám đốc ĐHQG-HCM
Trang 4Phân ban 1 – Chiều 08/6/2014
TL-01
Toàn cầu hóa và giáo dục đại học 55
Hồ Thanh Phong, Trường ĐH Quốc tế, ĐHQG-HCM
Globalization and Higher Education 67
Ho Thanh Phong, International University, VNU-HCM
TL-02
Experiential Learning Approach for International Joint Programs:
Two Case Studies at the University of Science, VNU-HCM 79
Paul McAfee, Keuka College, New York, United States of America
Tran Minh Tuan, Vu Hai Quan, University of Science, VNU-HCM
TL-03
Chất lượng đào tạo đại học và hội nhập quốc tế 91
Nguyễn Hồng Minh, Lê Thế Vinh, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh
TL-04
The Advantages of International Connections
for Innovative Approaches within Higher Education 98
Michelle Vickers, Trường ĐH RMIT
TL-05
Trung tâm xuất sắc – mô hình đào tạo gắn liền với nghiên cứu
nhằm tăng cường năng lực trong đại học nghiên cứu 102
Ban Khoa học Công nghệ, ĐHQG-HCM
Phân ban 2 – Chiều 08/6/2014
TL-06
Một góc nhìn về thành tựu và hạn chế của hội nhập quốc tế
trong giáo dục đại học ở Việt nam 111
Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
A Perspective on Achievements and Limitations of
International Integration in Higher Education in Vietnam 126
Vo Van Sen, Nguyen Ngoc Tho
University of Social Sciences and Humanities, VNU-HCM
TL-07
Hội nhập quốc tế của giáo dục đại học Việt nam:
Kinh nghiệm của ĐHQG Hà Nội 141
TL-08
Xây dựng giao diện mới đối với giáo dục đại học Việt Nam
để thích nghi với hội nhập quốc tế chủ động, tích cực và sâu rộng 150
Nguyễn Thường Lạng, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
Trang 5TL-09
Giáo dục đại học Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế:
Thuận lợi và khó khăn 161
Nguyễn Cảnh Huệ, Trường ĐH Sư phạm Tp HCM
TL-10
Đề xuất mô hình phát triển nguồn nhân lực
cho Việt Nam giai đoạn (2015-2035) 169
Trần Đức Cảnh, Nguyên Giám đốc ĐT&PTNNL và An sinh Xã hội
cho chính quyền Bang Massachusetts
Các tham luận khác
TL-11
Đổi mới nền giáo dục đại học Việt Nam
hướng đến sự phát triển của kinh tế tri thức 178
Hàn Viết Thuận, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Phối hợp đào tạo giữa Việt Nam và quốc tế 190
Dương Minh Đức, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM
TL-14
Hội nhập quốc tế với đổi mới hệ thống đào tạo
trong giáo dục đại học kĩ thuật Việt Nam 197
Nguyễn Hữu Phúc, Phạm Đình Trực,
Khoa Điện - Điện tử, Trường ĐH Bách khoa, ĐHQG-HCM
TL-15
Đội ngũ điều dễ hiểu nhưng khó thực hiện 208
Nguyễn Thế Hữu, Nguyên Giám đốc ĐH Huế
TL-16
Hội nhập quốc tế trong quá trình đổi mới giáo dục đại học Việt Nam 211
Đặng Mậu Chiến, Phòng Thí nghiệm Công nghệ Nano (LNT), ĐHQG-HCM
TL-17
Mô hình giáo dục đại học của Hàn Quốc và kinh nghiệm cho Việt Nam 216
Phan Thế Công, Trường Đại học Thương mại
Nguyễn Thị Nhị, Trường Đại học Vinh
TL-18
Những thách thức hội nhập quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam 225
Nguyễn Thế Thắng, Trung tâm Nghiên cứu Quản lý Giáo dục,
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Trang 6TL-19
Hợp tác giáo dục đại học giữa Việt Nam với các nước ASEAN 232
Nguyễn Thị Chinh, Khoa Lí luận Chính trị, HV Ngân hàng
TL-20
Hội nhập quốc tế trong quá trình đổi mới giáo dục đại học
theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khoá XI)
tại học viện Ngân hàng 237
Trần Mạnh Dũng, Học viện Ngân hàng
TL-21
Kinh nghiệm thu hút sinh viên quốc tế trong
giáo dục đại học ở Cộng hòa liên bang Đức 240
Hoàng Thị Nga, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
TL-22
Quốc tế hóa giáo dục tại Viện Đào tạo Quốc tế ĐHQG-HCM 246
Trương Quang Được, Viện Đào tạo Quốc tế, ĐHQG-HCM
TL-23
Higher Education in Social Sciences and Humanities –
the Case of USSH, Pathway Vision for 2050 248
Võ Văn Sen, Trần Cao Bội Ngọc,
Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
TL-24
An American Professor’s Observations
about Higher Education in Vietnam 259
Heather Marie Stur , Fulbright Scholar in Vietnam, 2013-14
University of Southern Mississippi, USA
TL-25
Implementing an Internal Quality Assurance System
to Reach International Standards 263
Nguyễn Thanh Thủy, Trường ĐH Quốc tế, ĐHQG-HCM
TL-26
Hoạt động quan hệ quốc tế trong đảm bảo
chất lượng giáo dục tại Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh 269
Nguyễn Thị Mỹ Ngọc, Nguyễn Thị Thanh Nhật, Nguyễn Tiến Công
Trung tâm Khảo thí và Đánh giá chất lượng đào tạo, ĐHQG-HCM
TL-27
Thách thức đối với công tác đảm bảo chất lượng
giáo dục đại học Việt Nam trong quá trình hội nhập
và một số gợi mở cho việc đổi mới công tác này 274
Nguyễn Duy Mộng Hà, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
Trang 7HỘI NHẬP QUỐC TẾ - CON ĐƯỜNG TẤT YẾU CỦA
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THỜI TOÀN CẦU HÓA
Hội nhập quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của một quốc gia Trong buổi nói chuyện với với ĐHQG-HCM sáng 10/5/2014, tác giả của quyển sách Thế giới phẳng
- ông Thomas Friedman đã nhấn mạnh: “Thế giới càng ngày càng phẳng và tôi cho rằng có
3 nhân tố để mang đến thành công cho một quốc gia, cụ thể là Việt Nam Thứ nhất là xây dựng một Nhà nước pháp quyền, khuyến khích sáng tạo Thứ hai là phải xây dựng tốt cơ sở
hạ tầng và sau cùng là phải cải cách giáo dục, trang bị kỹ năng, tạo sự tương tác với thế giới.”
Vấn đề cần đặt ra ở đây là chúng ta cần làm gì và làm như thế nào để “tương tác hiệu quả” với thế giới trong thời đại toàn cầu hóa?
THẾ GIỚI PHẲNG- KỶ NGUYÊN GIÁO DỤC TOÀN CẦU HÓA
Toàn cầu hóa được biết với nhiều định nghĩa khác nhau trên cơ sở các cách tiếp cận khác nhau [1].Toàn cầu hoá liên quan đến sự chuyển động của nền kinh tế, công nghệ, con người
và những ý tưởng vượt ra khỏi biên giới quốc gia Trong giáo dục, toàn cầu hoá thường được đề cập đến là sự tương tác chặt chẽ giữa chương trình giáo dục với sự phát triển kinh
tế Tuyên ngôn đại học của UNESCO năm 2009 cũng đã nêu rõ “toàn cầu hóa là thời kỳ mà
tri thức ngày càng giữ vai trò quyết định trong tiến trình phát triển xã hội ”[2]
Thế giới phẳng ngày nay cũng làm “phẳng hoá” giáo dục, tạo ra một sân chơi giáo dục bằng phẳng, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh Lịch sử toàn cầu hóa về giáo dục đã cho thấy Giai đoạn đầu tiên là hợp tác quốc tế về giáo dục đã diễn ra trong thập niên cuối của thế kỷ XX Sang đến thập niên đầu của thế kỷ XXI, giáo dục đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, cao hơn và phức tạp hơn Đó là quốc tế hóa về giáo dục
Từ một thế giới toàn cầu hóa, khái niệm quốc tế hoá giáo dục giúp chúng ta hiểu được khả năng hội nhập giáo dục của mỗi quốc gia vào tiến trình toàn cầu Quốc tế hóa giáo dục đại học của mỗi quốc gia thường được đo lường bằng khả năng hội nhập, khả năng thay đổi, khả năng thích ứng và khả năng được quốc tế chấp nhận các giá trị
Với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, quốc tế hóa giáo dục thường được các nhà phân tích quốc tế nhận định rằng: đó là tiến trình của những cải cách, của những đổi mới giáo dục dựa trên kết quả của nhận thức tư tưởng mới xuất phát từ sự tích hợp ý kiến giữa việc cải tổ nền GDĐH trên toàn cầu cùng với tính lịch sử, yếu tố văn hoá của nền GDĐH Việt Nam
Trang 8Trong quá trình quốc tế hóa giáo dục, ngay cả với nước Mỹ- một nền đại học xếp hạng hàng đầu mang tính hình mẫu của thế giới cũng phải thay đổi Họ đã xác định “Sức mạnh mềm của Mỹ là củ cà rốt mang tên “Giáo dục đại học” Quyền lực mềm trong thời kỳ toàn cầu hóa
cũng đã được thay đổi bởi chính cha đẻ của khái niệm đó là Joseph Nye “Quyền lực mềm được định nghĩa đầy đủ là khả năng ảnh hưởng tới người khác thông qua thông qua các công cụ hợp tác, thuyết phục và gợi ra sức hút tích cực để có được những kết quả mong
đợi”[3] Và giáo dục đại học Mỹ là một thí dụ đã được ông phân tích (với số sinh viên nước
ngoài đến Mỹ học hàng năm tăng cao [4], với vị trí của các trường đại học Mỹ luôn được xếp hạng cao trên thế giới, với số tiền lên đến hàng chục tỷ đô la/năm mà GDĐH Mỹ thu được từ các sinh viên nước ngoài [5])
Như vậy thế giới của thời kỳ toàn cầu hóa đã tác động mạnh mẽ lên “tháp ngà đại học” Tất
cả các quốc gia đều bị cuốn vào sự vận động chung hướng đến thịnh vượng của toàn cầu Trong bối cảnh đấy, GDĐH chính là chìa khóa, là con đường tất yếu cho sự phát triển mang tính bền vững của mỗi quốc gia
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM- NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG CƠ BẢN CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Kể từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945), giáo dục Việt Nam đã tiến hành nhiều cuộc cải cách vào các năm 1950,
1956, 1979 và đặc biệt năm 1986 Sau gần ba mươi năm Đổi mới, chúng ta lại tiếp tục làm một cuộc cách mạng giáo dục mới với tiêu chí hội nhập quốc tế một cách chủ động Trong quá trình Đổi mới vì Hội nhập đấy, chúng ta nhận thấy: Đổi mới và Hội nhập là hai quá trình song song trong một thế giới toàn cầu hóa Hai quá trình này có tính liên kết lôgic và chặt chẽ với nhau Hai quá trình này là động lực chính thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia Nền GDĐH Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn từ các nước khác trong đó có Trung Quốc, Pháp
và Liên Xô (cũ) Tuy nhiên, khi chủ động tham gia vào toàn cầu hóa, những tác động bên ngoài đều được Việt Nam hóa khi ứng dụng vào bối cảnh của quốc gia Công cuộc Đổi mới của kinh tế đã làm thay đổi tư duy “bao cấp giáo dục đại học” GDĐH VN ở thời kỳ này có đặc tính linh hoạt bởi chúng ta, vừa tự Đổi mới để Hợp tác quốc tế , rồi lại cải tiến, rồi đổi mới và tiếp tục hợp tác quốc tế Ba thành tựu đổi mới GDĐH VN được các nhà tư vấn của Ngân hàng thế giới[6] nhận thấy rõ nhất là :
Tổ chức lại hệ thống GDĐH : Cho đến thập niên cuối của thế kỷ XX, GDĐH VN vẫn là nền
giáo dục bao cấp Nhưng khi chuyển nền kinh tế theo hướng thị trường, GDĐH VN đã mở cửa cho nhiều thành phần khác nhau tham gia vào hệ thống giáo dục Điều đó đã thúc đẩy nền giáo dục Việt Nam tổ chức lại hệ thống giáo dục theo hướng mở, thực tế hơn và đáp ứng được nhu cầu của số đông Việc tổ chức lại hệ thống GDĐH được xem là phương tiện rất quan trọng để đạt được sự hội nhập quốc tế
Sự đa dạng hoá : Thế giới càng phẳng, nhu cầu về nguồn nhân lực cũng đa dạng hơn Đầu
tiên là sự đa dạng hóa chủ thể đại học , đa dạng hóa nguồn tài chính, cung cấp đa dạng sự lựa chọn cho sinh viên, đa dạng tính cạnh tranh tìm kiếm sinh viên Sự đa dạng hóa được thể hiện trong việc tăng theo cấp số nhân các ngành đào tạo đại học Sự đa dạng hóa dễ dàng nhận thấy trong các loại hình đào tạo Sự đa dạng hoá đã kéo theo những hệ lụy mà GDĐH VN phải đối mặt như khả năng quản lý, khả năng kiểm soát chất lượng, khả năng bảo đảm đầu ra…
Sự phân quyền : Kinh nghiệm cho thấy ở các quốc gia châu Á, mặc dù đa số đã từng duy
trì hệ thống giáo dục mang tính tập trung rất cao, tuy nhiên khi cải tiến phân quyền theo nguyên tắc tự chủ đại học cũng rất thành công Việt Nam cũng là một trường hợp như thế Phân quyền ở đây không có nghĩa là bãi bỏ những quy định hay không có sự quản lý của
Trang 9nhà nước, mà thay thế vào đó là cơ chế về trách nhiệm giải trình đã được hình thành bao gồm kiểm định, đánh giá thực hiện, và tiêu chí đối sánh với các trường đại học hàng đầu của thế giới Do đó, vai trò của Nhà nước trong việc ban hành các quy định và phối hợp đã trở nên thiết thực hơn Một số nhà giáo dục xem việc bãi bỏ các quy định là môt hình thức “tái điều chỉnh” trong công tác quản lý
Ba quá trình trên được coi như những bước cải tiến Nói cải tiến chứ không phải cải cách vì tác động của nó mới chỉ đụng chạm đến một số lĩnh vực trong giáo dục Hợp tác quốc tế đã góp phần chuyển đổi hệ thống GDĐH, góp phần làm đa dạng hoá trường ĐH và các loại hình đào tạo, góp phần hình thành nên những nhận thức mới về sự phân quyền Tuy nhiên Chất luợng giáo dục đại học và hiệu quả của sự chuyển biến nhằm tác động vào xã hội vẫn còn rất chậm chạp Và chậm trong một thế giới đã chuyển sang giai đoạn quốc tế hóa, có nghĩa GDĐH VN đã thụt lùi
Như đã nêu ở trên, quốc tế hóa GDĐH là một quá trình cho tất cả các quốc gia với những cơ hội và thách thức của nền GDĐH thời kỳ toàn cầu hóa Với những quốc gia mạnh, quốc tế hóa giáo dục là “mỏ vàng cho nền kinh tế” Còn với các quốc gia đang phát triển, quốc tế hóa GDĐH là cơ hội thoát nghèo, là nguyên tắc cơ bản của phát triển bền vững Từ những yêu cầu cơ bản của hội nhập quốc tế trong GDĐH ở giai đoạn mới, chúng ta thử dùng phân tích SWOT để đánh giá khả năng thành công cho hội nhập quốc tế của GDĐHVN
Điểm mạnh (Strengths)
a Sau gần 30 năm Đổi mới và hợp tác quốc tế, Công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã giành được những thành tựu vô cùng quan trọng, làm thay đổi diện mạo của đất nước, nâng tầm vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
b Việt Nam đang chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế với nhịp độ tăng trưởng kinh tế khá cao, với môi trường chính trị ổn định và mức sống của các tầng lớp nhân dân ngày càng được cải thiện
c Đảng, Nhà nước, Chính phủ và toàn dân nhận thức sâu sắc về vai trò của hội nhập quốc tế trong tương lai phát triển của đât nước
d GDĐHVN đã có những kinh nghiệm trong hội nhập quốc tế, đặc biệt với sự kiện gia nhập WTO (2005), Việt Nam đã ký ngay cam kết tham gia vào GATS với 4 phương thức thương mại dịch vụ chính liên quan đến giáo dục : cung cấp xuyên biên giới,tiêu dùng ngoài lãnh thổ, hiện diện thương mại và hiện diện thể nhân
e Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, GDĐHVN đã đạt được những thành tựu bước đầu trong hội nhập khu vực và quốc tế về kiểm định theo chuẩn AUN, ABET…, hai ĐHQG đã lọt vào trong top 200 các trường ĐH Châu Á
Điểm yếu (Weaknesses)
a Tư duy hội nhập chậm thay đổi ở chính những con người đang làm giáo dục đại học, đặc biệt là ý thức “ngại thay đổi, ngại thêm việc” của các giảng viên-đội ngũ nòng cốt
d Đội ngũ quản lý, đội ngũ giảng viên sử dụng thuần thục một ngoại ngữ khác (đặc biệt
là tiếng Anh) không nhiều
e Kỹ năng chủ động hội nhập quốc tế ở các cấp chưa được trang bị đầy đủ
Trang 10Thời cơ (Opportunities)
a Cuộc cách mạng Khoa học công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, làm nền tảng cho
sự phát triển kinh tế tri thức Sự phát triển của khoa học công nghệ đã làm thay đổi mạnh mẽ nội dung, phương pháp giáo dục trong các trường đại học, đồng thời đòi hỏi giáo dục phải cung cấp được nguồn nhân lực có trình độ cao
b Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh của các nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích quốc gia Các nước đều xem phát triển giáo dục là nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế
xã hội, dành cho giáo dục những đầu tư ưu tiên, đẩy mạnh cải cách giáo dục nhằm giành ưu thế cạnh tranh trên trường quốc tế
c Sự phát triển của các phương tiện truyền thông, mạng viễn thông, công nghệ tin học tạo thuận lợi cho Giáo dục từ xa đã trở thành một thế mạnh của thời đại, tạo nên một nền giáo dục mở, phi khoảng cách, thích ứng với nhu cầu của từng người học
d Sau gần 30 năm đổi mới, những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế xã hội,
sự ổn định chính trị làm cho lực nước ta lớn mạnh lên nhiều so với trước Sự đóng góp về nguồn lực của nhà nước và nhân dân cho phát triển giáo dục ngày càng được tăng cường
Nguy cơ (Threats)
a Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ trên thế giới có thể làm cho khoảng cách kinh tế và tri thức giữa Việt Nam và các nước ngày càng lớn hơn, nước ta có nguy cơ bị tụt hậu xa hơn
b Hội nhập quốc tế không chỉ tạo cho giáo dục cơ hội phát triển mà còn chứa đựng nhiều hiểm họa, đặc biệt là nguy cơ xâm nhập của những giá trị văn hóa và lối sống
xa lạ làm xói mòn bản sắc dân tộc Khả năng xuất khẩu giáo dục kém chất lượng từ một số nước có thể gây nhiều rủi ro lớn đối với giáo dục Việt Nam
c Năng lực quản lý của ta đối với giáo dục xuyên quốc gia còn yếu, không có nhiều kinh nghiệm để định hướng và giám sát chặt chẽ các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài
d Sự phân hóa trong xã hội của Việt Nam có chiều hướng gia tăng Điều này có thể làm tăng thêm tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục giữa các vùng miền
và giữa các đối tượng người học
Kết quả phân tích SWOT bước đầu giúp chúng ta xác định được những bước hành động phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế Nhưng chúng ta cần phải xác định được những mục tiêu và lộ trình thực hiện rõ ràng hơn, chi tiết hơn để có thể bắt kịp với sự biến chuyển nhiều, biến chuyển nhanh và biến chuyển sâu của xã hội ở thế kỷ 21
KẾT LUẬN
Kết thúc thập niên đầu của thế kỷ XXI, toàn cầu hóa đã khiến cho giáo dục đại học có những thay đổi sâu sắc hơn, tính quốc tế hóa trong GDĐH càng mạnh mẽ và thực chất hơn trong một thế giới tiếp tục phẳng hơn Quốc tế hóa giáo dục đại học khiến một nền giáo dục đại học yếu kém, chắc chắn sẽ mất lợi thế cạnh tranh Cuộc đua giáo dục quốc tế là cuộc đua phát triển các khả năng trí tuệ mà mọi người ở bất cứ nơi đâu trên thế giới đều cần để đối phó với những thách thức lớn của thế kỷ XXI
Với những nhận thức về một thế giới luôn thay đổi nhanh chóng và phức tạp hơn , Hội thảo ngày hôm nay với chủ đề “ Hội nhập quốc tế trong quá trình đổi mới giáo dục đại học Việt Nam” sẽ hướng đến những nội dung cơ bản như sau:
- Đánh giá tác động của hội nhập quốc tế đến đổi mới Giáo dục đại học Việt Nam
Trang 11- Phân tích những thành tựu và hạn chế của GDĐH VN trong trong quá trình hội nhập quốc tế
- Nghiên cứu những kinh nghiệm, mô hình để đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy đổi mới GDĐH VN
- Đề xuất cho Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực tư vấn giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo triển khai Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa XI) về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế
Hội thảo rất hân hạnh khi đã quy tụ được những nhà lãnh đạo, các nhà quản lý giáo dục, những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực hợp tác quốc tế và đổi mới đại học của thế giới
và của Việt Nam
Tôi hy vọng rằng, với những tham luận đầy tính khoa học và đầy tâm huyết, với những lời chia sẻ thẳng thắn cùng những phần tranh biện sôi nổi, Hội thảo sẽ tạo ra những giá trị thực tiễn cao, góp phần thiết thực cho sự phát triển của GDĐH VN
Chúc sức khỏe của tất cả quý vị đại biểu và chúc cho Hội thảo thành công!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Manfred B.Steger Globalization: A very short introduction.P17 Theo ông: Vào cuối thập niên đầu của thế kỷ XXI đã có tới hàng triệu quy chiếu liên quan đến khái niệm Toàn cầu hóa trong
in ấn lẫn trên môi trường internet
viên quốc tế tại Hoa Kỳ bắt đầu từ năm 1949 Báo cáo hàng năm này cho thấy trong ba năm đầu của thập niên thứ hai-thế kỷ XXI, số sinh viên đến Mỹ du học tăng trưởng từ 3-3,5%/năm
và mang tính tăng trưởng ổn định Sinh viên quốc tế đóng góp khoảng 24 tỷ đô la hàng năm cho nền kinh tế Mỹ - thông tin từ Viện Giáo dục quốc tế và Cục Giáo dục và Văn hóa thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ 2013
6-8/10 theo tạp chí Times Higher Education bình chọn hàng năm.
Trang 12ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:
HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐỂ PHÁT TRIỂN – KINH NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT
PGS.TS Nguyễn Hội Nghĩa
Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh
TÓM TẮT
Trong thời đại toàn cầu hóa, sự phát triển của các quốc gia, tổ chức luôn phải được gắn kết với quá trình hội nhập quốc tế Từ những ngày đầu thành lập, Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) đã nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của hội nhập quốc tế, coi đây là một động lực to lớn để thúc đẩy quá trình đổi mới ĐHQG-HCM Qua gần 20 năm xây dựng
và phát triển, ĐHQG-HCM luôn định hướng hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực hoạt động của ĐHQG-HCM như quản trị, đào tạo, phát triển đội ngũ, nghiên cứu khoa học – chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế… Nhờ đó, ĐHQG-HCM luôn là một trong các đơn vị tiên phong triển khai nhiều mô hình, công nghệ mới trong giáo dục và đào tạo, đạt được những thành quả nhất định, góp phần đổi mới giáo dục đại học, phát triển kinh tế - xã hội Căn cứ trên kinh nghiệm của quá trình triển khai công tác hội nhập quốc tế tại ĐHQG-HCM, chúng tôi cũng đề xuất một số giải pháp chung cho quá trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam
Trong xu thế hội nhập, giáo dục đại học Việt Nam tất yếu sẽ chịu ảnh hưởng ngày càng tăng của giáo dục quốc tế Làn sóng toàn cầu hoá mang lại cho giáo dục đại học Việt Nam nhiều
cơ hội nhưng cũng không ít những khó khăn, thách thức Điều này đòi hỏi cần có những bước đi phù hợp để hội nhập Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI cũng chỉ rõ hội nhập quốc tế là một trong 09 nhiệm vụ, giải pháp để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Hội nhập quốc tế cũng sẽ thúc đẩy các nhiệm vụ, giải pháp còn lại để
có thể đạt được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
Là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao, nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học và là nơi đi đầu trong đổi mới, từ những ngày đầu thành lập, Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) đã nhận thức được tầm quan trọng của hội nhập quốc tế và đã định hướng triển khai trong tất cả các hoạt động của ĐHQG-HCM như quản trị, đào tạo, phát triển đội ngũ, nghiên cứu khoa học – chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế
Trang 13Bài viết này điểm lại một số kết quả thu được từ quá trình hội nhập quốc tế tại ĐHQG HCM trong những năm qua, từ đó đề xuất các giải pháp để hội nhập quốc tế thực sự góp phần vào đổi mới cơ bản toàn diện giáo dục đại học Việt Nam, nâng tầm giáo dục Việt Nam tiếp cận chất lượng quốc tế
MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ TẠI ĐHQG-HCM
Hoàn thiện mô hình hệ thống đại học đa ngành, đa lĩnh vực với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm như các hệ thống đại học lớn trên thế giới
Hai ĐHQG được thành lập trên cơ sở tổ chức lại một số trường đại học lớn trong nước để trở thành trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học - công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và thế giới, làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Trong xu thế hình thành các hệ thống đại học lớn trên thế giới, việc thành lập hai ĐHQG là một bước hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta Việc xây dựng hai ĐHQG có tính tự chủ cao, được ưu tiên đầu tư phát triển là phù hợp với tình hình chung của thế giới và định hướng phát triển nền giáo dục và khoa học công nghệ Việt Nam
Hệ thống ĐHQG-HCM hiện bao gồm 33 đơn vị thành viên và trực thuộc, trong đó có 6 trường đại học thành viên, 1 Viện Nghiên cứu và 1 Khoa trực thuộc, tham gia đào tạo và nghiên cứu tại 5 lĩnh vực khoa học chính: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội – nhân văn, khoa học kỹ thuật – công nghệ, khoa học kinh tế - quản lý, khoa học sức khỏe
ĐHQG-HCM có hệ thống các viện, trung tâm, phòng thí nghiệm chuyên sâu như: Viện Tài nguyên và Môi trường, Khu Công nghệ Phần mềm, Phòng thí nghiệm Công nghệ Nano, Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về Polyme, về Kỹ thuật số và điều khiển hệ thống, Phòng thí nghiệm tế bào gốc, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Thiết kế Vi mạch, Phòng thí nghiệm An toàn mạng, đảm bảo phục vụ tốt cho các hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ
Bên cạnh đó, hệ thống thư viện, tạp chí khoa học, nhà xuất bản, hệ thống ký túc xá sinh viên, các trung tâm: Đào tạo Quốc tế, Đào tạo và Phát triển Nguồn nhân lực, Trung tâm Khảo thí & đánh giá chất lượng đào tạo, Trung tâm Dịch vụ và xúc tiến đầu tư, phục vụ tốt cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học,
Nhằm hỗ trợ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, ĐHQG-HCM đã thành lập Quỹ phát triển ĐHQG-HCM và quỹ Khoa học công nghệ Hai Quỹ này đã đi vào hoạt động, khai thác thế mạnh, vị thế của ĐHQG-HCM để tạo nguồn tài chính, góp phần phát triển chung cho ĐHQG-HCM
Tham khảo mô hình của các hệ thống đại học trên thế giới, ĐHQG-HCM xác định rõ cơ chế quản lý: ĐHQG-HCM chịu trách nhiệm về lãnh đạo chung, xây dựng chiến lược phát triển, đưa ra các quyết sách về phương hướng, đường lối cho toàn hệ thống Các trường, viện thành viên, với mô hình trường đại học nghiên cứu, đột phá từng thế mạnh riêng từng đơn vị trong thế tương tác, hỗ trợ nhau Qua đó, ĐHQG-HCM sẽ tạo thêm sức mạnh của hệ thống thông qua việc tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học thành viên đối với ĐHQG-HCM và xã hội; tăng tính minh bạch và hiệu quả trong hoạt động của ĐHQG-HCM và tạo môi trường sáng tạo khoa học, quản trị đại học cho các trường đại học
thành viên
Trang 14Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về chương trình đào tạo và phương pháp tuyển sinh, kiểm tra, đánh giá
Với ưu thế đặc thù, tập hợp được sức mạnh của nhiều trường đại học, là một đại học đa ngành, đa lĩnh vực cấp quốc gia cùng với chế độ ưu tiên phát triển của Nhà nước, ĐHQG-HCM đã xây dựng được các mối quan hệ hợp tác quốc tế, từng bước tiếp thu các thành tựu, kinh nghiệm của các nền giáo dục lớn trên thế giới
Trên các kinh nghiệm đó, ĐHQG-HCM đã và đang chuẩn hóa các chương trình đào tạo theo các tiêu chuẩn chung của quốc tế Học chế tín chỉ, vốn được các Trường đại học Bách khoa
và Khoa học Tự nhiên áp dụng đầu tiên trong cả nước từ những năm 1992-1993, hiện đang được áp dụng đại trà trong tất cả các cơ sở đào tạo Các trường thành viên và khoa trực thuộc đã rà soát và xây dựng lại các chương trình đào tạo phù hợp với học chế tín chỉ, tăng cường liên thông, chuyển đổi giữa các chương trình, tăng tính chủ động cho sinh viên Chương trình đào tạo mới được xây dựng theo hướng tăng cường tính tự học, khả năng nghiên cứu và khả năng sáng tạo của sinh viên, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy sinh viên làm trung tâm, kiểm tra - đánh giá theo quá trình Các chương trình đào tạo đều nêu rõ mục tiêu, chuẩn đầu ra và cơ hội việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp ĐHQG-HCM đã đẩy mạnh các chương trình đào tạo chất lượng cao theo chuẩn mực quốc
tế Chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao tại Việt Nam (Chương trình PFIEV) được tiến hành tại ĐHQG-HCM từ năm 1999 Sinh viên tốt nghiệp từ chương trình được nhận 02 bằng
- của Việt nam và của trường đối tác phía Pháp (bằng tương đương Master châu Âu) Tính đến nay, chương trình đã cung cấp cho xã hội hơn 500 kỹ sư chất lượng cao được Ủy ban bằng kỹ sư Pháp (CTI) đánh giá và công nhận
Hệ đào tạo cử nhân, kĩ sư tài năng là một phương thức đào tạo đặc biệt nhằm tiếp cận ngay chuẩn mực chất lượng quốc tế đối với một số ngành đào tạo mũi nhọn dành cho một bộ phận sinh viên giỏi, với ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đội ngũ giảng viên giỏi và áp dụng phương pháp dạy - học tiên tiến Kết quả 10 năm đào tạo hệ tài năng cho thấy, tỉ lệ tốt nghiệp hạng giỏi, khá của hệ đào tạo này cao hơn hẳn hệ đại trà, được quốc tế thừa nhận, đã có đóng góp tích cực cho các cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước Bên cạnh các chương trình tài năng, từ năm 2006, ĐHQG-HCM triển khai các chương trình đào tạo tiên tiến giảng dạy bằng tiếng Anh, dựa trên việc phối hợp vận hành các chương trình giảng dạy đang được sử dụng tại các trường đại học hàng đầu trên thế giới
Công nghệ đào tạo CDIO được ĐHQG-HCM tiếp nhận và áp dụng như một hệ thống giải pháp đồng bộ đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo, đang được đúc kết để mở rộng nhằm chuẩn hóa chất lượng các chương trình đào tạo, phát triển các chương trình đào tạo đạt chuẩn kiểm định quốc tế ĐHQG-HCM chính thức áp dụng CDIO từ năm 2010 cho 6 chương trình đào tạo trọng điểm lĩnh vực Kỹ thuật Chế tạo và CNTT Với hiệu quả và tác động sâu như khung chuẩn cấu trúc mở cho việc hoạch định, triển khai và đánh giá chương trình đào tạo theo chuẩn đầu ra, từ năm 2012, ĐHQG-HCM mở rộng áp dụng cho các chương trình đào tạo có kế hoạch tham gia kiểm định
ĐHQG-HCM cũng đẩy mạnh áp dụng hệ thống kiểm định chất lượng quốc tế như AUN, ABET… cho các chương trình đào tạo Hiện nay, ĐHQG-HCM là một trong các đơn vị có số lượng chương trình được đánh giá ngoài cao nhất cả nước: 10 chương trình được công nhận đạt chuẩn AUN-QA, 2 chương trình được kiểm định ABET và 1 chương trình được đánh giá theo dự án hợp tác giữa AUN và DAAD Đây là cơ sở tốt để ĐHQG-HCM tham gia liên thông tín chỉ với các trường đại học trong khu vực và trên thế giới
Theo xu hướng chung trên thế giới, ĐHQG-HCM cũng luôn chú trọng hoàn thiện công tác tuyển sinh với mục tiêu tuyển chọn được đối tượng sinh viên có kiến thức, kỹ năng, thái độ
Trang 15phù hợp với mục tiêu của các ngành đào tạo, đồng thời định hướng đúng đắn cho quá trình học tập của học sinh, giúp học sinh có sự chuẩn bị tốt cho quá trình học đại học Từ năm
2002, ĐHQG-HCM đã là đơn vị đi đầu trong việc áp dụng hình thức thi trắc nghiệm trong tuyển sinh, kiểm tra, đánh giá Để chuẩn bị cho một giai đoạn mới, ĐHQG-HCM đã xây dựng
kế hoạch đổi mới tuyển sinh, trong đó tách công tác thi với công tác tuyển sinh Công tác thi cần đánh giá phần chung nhất về kiến thức, kĩ năng cho nhiều trường, tăng liên thông, áp dụng công nghệ đánh giá hiện đại Công tác tuyển sinh có tính "mềm", bao gồm không chỉ kết quả thi mà bổ sung một số yếu tố khác phù hợp với từng trường, ngành, vùng, tăng tính tự chủ, phân quyền mạnh cho các trường trong tuyển chọn Đề thi sẽ được xây dựng theo hướng đánh giá định chuẩn (standardized test) nhằm đánh giá đúng năng lực của thí sinh
Từng bước đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, thu hút và phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý
Tài chính hiện nay được xem như một nút thắt cổ chai đối với các nỗ lực đổi mới trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo Nhiều quy định đã không còn phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội hiện nay Ngân sách nhà nước cấp và mức thu học phí không tạo đủ điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng đào tạo, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập với các nước trong khu vực Do đó, giải quyết được bài toán về tài chính là một trong các giải pháp quan trọng để đổi mới giáo dục đại học Trong quá trình hội nhập quốc tế, ĐHQG-HCM
đã mạnh dạn đề xuất các mô hình để đổi mới cơ chế tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính đầu tư cho giáo dục đại học Trường ĐH Quốc tế thuộc ĐHQG-HCM là một thí điểm mô hình tự chủ tài chính đại học, triển khai tiếp nhận, chuyển hóa chương trình và phương thức giảng dạy, đào tạo, quản lý của các trường đại học tiên tiến nước ngoài tại Việt Nam
Trường có nhiệm vụ đi vào các lãnh vực khoa học, kỹ thuật và kinh tế, kinh doanh đáp ứng yêu cầu của xã hội, công nghiệp, doanh nghiệp và cộng đồng, đào tạo các sinh viên có khả năng làm việc hiệu quả, chất lượng cao trong môi trường xã hội hội nhập và toàn cầu hóa Môi trường học tập nghiên cứu hoàn toàn bằng tiếng Anh với các chương trình chuyển giao
từ các trường đại học tiên tiến và chuyển đổi phù hợp trong điều kiện Việt Nam, có cơ sở vật chất và phương tiện học tập giảng dạy hiện đại, giảng viên được tạo điều kiện để tập trung vào công việc chuyên môn bao gồm giảng dạy, nghiên cứu khoa học với số giảng viên thỉnh giảng từ nước ngoài đến trường chiếm tỷ lệ cao Để đảm bảo các yêu cầu này, kinh phí cho hoạt động nhà trường là một vấn đề quan trọng Với yêu cầu cao về điều kiện làm việc, học tập và chuẩn đầu ra, ngay từ khi thành lập vào năm 2003, Trường ĐH Quốc tế đã xây dựng
kế hoạch tự chủ tài chính theo hướng tự bảo đảm hoàn toàn kinh phí thường xuyên, phù hợp hướng đến các mục tiêu:
- Tạo quyền chủ động trong quản lý và chi tiêu tài chính, đảm bảo tính khả thi của việc triển khai kế hoạch chiến lược của nhà trường;
- Tạo ra cơ chế tiền lương mang tính cạnh tranh để thu hút và giữ chân người tài; tăng và thay đổi căn cơ thu nhập của cán bộ viên chức, định hướng hiệu quả hoạt động của từng cá nhân để nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ đào tạo;
- Khuyến khích tăng thu, sử dụng tài sản đúng mục đích và hiệu quả
Qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển, trường đã đạt được nhiều thành quả đáng ghi nhận
từ công tác phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hoạt động NCKH có bước chuyển biến mang tính đột phá, chất lượng giảng dạy – học tập được đánh giá cao Từ những thành quả ban đầu đó, Trường ĐH Quốc tế khẳng định: Việc triển khai tự chủ tài chính có tác động tích cực đến tinh thần, thái độ cũng như hiệu quả công tác của cán bộ viên chức, giúp nhà trường có môi trường thuận lợi để triển khai thành công chiến lược phát triển thành trường đại học định hướng nghiên cứu
Trang 16Dựa trên mô hình này và các chương trình đào tạo đã được kiểm định, ĐHQG-HCM đang thí điểm triển khai các chương trình đào tạo chất lượng cao, học phí tương ứng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người học và của nền kinh tế, xã hội
Đội ngũ cán bộ là nhân tố quyết định sự phát triển của ĐHQG-HCM Trong các năm qua, ĐHQG-HCM luôn chú trọng xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ khoa học, quản
lý trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục, đào tạo; hình thành đội ngũ cán bộ mạnh trong các lĩnh vực: khoa học tự nhiên, kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học kinh tế và quản lý, khoa học sức khỏe nhằm phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ Qua gần 20 năm xây dựng và phát triển, ĐHQG-HCM hiện
có tổng số cán bộ, viên chức là 5.514 người với 3.342 cán bộ giảng dạy và cán bộ nghiên cứu trong đó 2.872 cán bộ có trình độ sau đại học (888 tiến sĩ, 1.769 thạc sĩ, 215 giáo sư và phó giáo sư) Dựa trên mối quan hệ hợp tác với các trường trên thế giới, hàng năm ĐHQG-HCM cử đi đào tạo, tập huấn hàng trăm lượt cán bộ, giảng viên
ĐHQG-HCM đẩy mạnh chính sách thu hút các chuyên gia trong và ngoài nước cùng làm việc và đóng góp cho sự phát triển chung của ĐHQG-HCM Nhiều nhà khoa học từ các cơ
sở đào tạo và nghiên cứu trên thế giới hiện đang trực tiếp làm việc tại ĐHQG-HCM hoặc đang cộng tác nghiên cứu, đồng hướng dẫn thạc sĩ, tiến sĩ với các giảng viên trong ĐHQG-HCM Có thể kể một số điển hình như: GS Võ Văn Tới (ngành Kỹ thuật Y sinh tại trường
ĐH Quốc Tế), GS TS Hồ Tấn Nhựt (xây dựng chương trình đào tạo theo tiếp cận CDIO),
GS Đào Trung Giang, GS Đặng Lương Mô (cố vấn Ban Giám đốc ĐHQG-HCM xây dựng
và phát triển ngành thiết kế vi mạch) và GS Dương Nguyên Vũ (Trung tâm Xuất sắc – John
để ĐHQG-HCM phát huy vai trò là trung tâm KH&CN lớn khu vực phía Nam thông qua việc triển khai các chương trình KH&CN trọng điểm của Nhà nước, tham gia góp phần giải quyết các nhiệm vụ KH&CN quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Đồng bằng sông Cửu Long
Được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước kèm với sự năng động tìm kiếm các nguồn tài trợ quốc tế, đến nay ĐHQG-HCM đã hình thành một hệ thống 60 phòng thí nghiệm (PTN) phục
vụ NCKH, CGCN và đào tạo Trong số đó có 2 PTN trọng điểm Quốc gia và 10 PTN trọng điểm cấp ĐHQG Các PTN trọng điểm được đầu tư mạnh cả về trang thiết bị, con người, cơ chế đóng vai trò chủ lực trong việc thực hiện các chương trình KH&CN trọng điểm của ĐHQG-HCM
Trong quá trình hợp tác nghiên cứu khoa học với các đối tác trên thế giới, ĐHQG-HCM đã hình thành các nhóm nghiên cứu mũi nhọn, trong số đó nhiều nhóm đã đi thẳng vào những hướng nghiên cứu hiện đại hoặc giải quyết những thực tiễn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước như: trí tuệ nhân tạo, thiết kế vi mạch, KH&CN Vật liệu Nano, Cơ khí - Tự động hóa, Năng lượng, Tế bào gốc, Kỹ thuật Y sinh, Sức khỏe sinh sản, Vật lý tính toán…
Song song với các mô hình đào tạo truyền thống, ĐHQG-HCM đã chủ động, sáng tạo áp dụng những mô hình mới nhằm gắn kết chặt chẽ đào tạo với công tác NCKH và quan hệ doanh nghiệp Một số ví dụ có thể kể đến như: Chương trình đào tạo thạc sỹ nghiên cứu trong khuôn khổ dự án SUPREM hợp tác với JICA, Chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao hợp tác với các đại học Pháp tại Trường ĐH Bách khoa; Tại Trung tâm xuất sắc John
Trang 17Von Neumann các chương trình sau đại học đều gắn với các dự án nghiên cứu, hợp tác cách tân công nghiệp, đồng thời lấy phòng thí nghiệm làm hạt nhân cho các mảng hoạt động; Trung tâm MANAR hợp tác với UCLA lấy mentoring làm phương pháp chủ đạo trong truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm từ thầy đến trò…
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác sở hữu trí tuệ (SHTT) trong xu thế hội nhập Quốc tế, bắt đầu từ năm 2008 ĐHQG-HCM đã tổ chức nhiều hoạt động quảng bá, tổ chức nhiều lớp tập huấn kiến thức về SHTT, đồng thời chủ động đứng ra thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu các kết quả nghiên cứu, phát minh, sáng chế cho các nhà khoa học tại các đơn vị thành viên ĐHQG-HCM đã thành lập Trung tâm SHTT – CGCN với nhiệm vụ nghiên cứu, đào tạo, nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của tài sản trí tuệ và công tác bảo hộ SHTT đồng thời cung ứng các dịch vụ tư vấn về SHTT – CGCN cho các đại học, doanh nghiệp trong và ngoài ĐHQG-HCM
Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế
Những thành tựu mà hoạt động hợp tác quốc tế thực hiện được trong thời gian qua đã không ngừng góp phần thúc đẩy sự lớn mạnh của ĐHQG-HCM, tạo dựng hình ảnh ĐHQG-HCM đối với thế giới Số lượng, số giảng viên, sinh viên đến thăm và làm việc với ĐHQG-HCM và các đơn vị thành viên trung bình hơn 1.000 người mỗi năm học Với chính sách khuyến khích hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học của Đảng và Nhà nước, ĐHQG-HCM
đã kí kết và triển khai hơn 200 thỏa thuận hợp tác với các trường đại học uy tín trên thế giới
Có thể nói ĐHQG-HCM đang được cộng đồng các cơ quan giáo dục đại học trên thế giới quan tâm và đánh giá cao trong mối quan hệ hợp tác của họ Đã có nhiều cơ quan giáo dục đại học trong khu vực và trên thế giới đến đặt quan hệ hợp tác lâu dài và xem ĐHQG-HCM
là một đối tác quan trọng: Hoa Kỳ (UC, CA, Rutgers, UCLA, Illinois, Dukes, Loyola, ), Pháp (các ĐH Paris Orsay, Pierre et Marie Curie, ; Hệ thống INP, Nhật Bản (ĐHQG Tokyo, ĐH Waseda), Hàn Quốc (ĐH Korea, ), Thái Lan (AIT, Chulalongkorn, )
ĐHQG-HCM đã xây dựng cho mình một mạng lưới đối tác có quan hệ chặt chẽ, bền vững từ châu Á, châu Âu đến Bắc Mỹ, Úc và New Zealand… Chính nhờ việc xây dựng mạng lưới các đối tác chiến lược rộng khắp này, ĐHQG-HCM đã từng bước chuẩn hóa các hoạt động của mình và hội nhập vươn ra thế giới, khẳng định vị thế và trở thành đối tác quan trọng đối với các cơ quan giáo dục đại học trong khu vực và trên thế giới
ĐHQG-HCM cũng là nơi các quỹ học bổng tin tưởng ký kết tài trợ cho học tập và nghiên cứu khoa học Trong các năm qua, toàn ĐHQG-HCM đã thu hút được hơn 2.300 suất học bổng với tổng giá trị gần 8,3 triệu USD, chủ yếu cho các chương trình đào tạo đại học, thạc sĩ, tiến
sĩ Có thể nói đây là nguồn hỗ trợ rất lớn cho việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của nước ta
Không chỉ tham gia tích cực các hội nghị, hội thảo quốc tế với tư cách là thành viên chính thức (AUN, AUF, APAIE, ), ĐHQG-HCM còn chủ động đứng ra đăng cai tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế, xem đây là cơ hội để giới thiệu mình đến các trường bạn và hệ thống các trường đại học trên thế giới Trong hơn 4 năm từ 2009 đến 2013, ĐHQG-HCM đã tổ chức hoặc cùng tổ chức hơn 60 hội nghị, hội thảo quốc tế hoặc các buổi gặp gỡ trao đổi học thuật, kinh nghiệm nghiên cứu thu hút đông đảo chuyên gia, cán bộ và sinh viên trong và ngoài nước tham gia được các đơn vị đối tác nước ngoài đánh giá cao
Để tăng nguồn lực, ĐHQG-HCM đã chú trọng tìm kiếm, xây dựng các dự án hợp tác quốc tế thông qua việc tìm kiếm các nhà tài trợ, xây dựng các nhóm viết dự án, triển khai các dự án với sự tham gia của nhiều đơn vị thành viên và trực thuộc Tính đến năm 2013, ĐHQG-HCM
đã hoàn thành 37 dự án quốc tế với tổng giá trị hơn 25.218.625 USD Hiện nay, ĐHQG-HCM đang triển khai 15 dự án quốc tế với tổng giá trị là 22.931.892 USD + 35.143.200.000 VNĐ + 320.000 Euro Ngoài ra, có 2 dự án đang trong giai đoạn đàm phán
Trang 18nhập quốc tế tại ĐHQG-HCM, ĐHQG-HCM xin kiến nghị một số nội dung sau:
1 Tổng kết các kinh nghiệm thực tiễn trong toàn ngành giáo dục – đào tạo về hội nhập quốc
tế, từ đó đúc kết và rút ra các mô hình, mẫu hình, tập thể điển hình, xuất sắc trong việc hội nhập, học tập kinh nghiệm của quốc tế và vận dụng có hiệu quả cao vào thực tiễn Việt Nam, huy động tốt các nguồn lực quốc tế vào sự phát triển, từ đó phổ biến rộng rãi các kinh nghiệm, bài học về hội nhập nhằm nhân rộng mô hình, mẫu hình cho toàn ngành giáo dục – đào tạo
2 Có chủ trương, giải pháp cụ thể nhằm ủng hộ và bố trí nguồn tài lực để hỗ trợ cho các dự
án, đề án mang tính hội nhập, trên cơ sở cạnh tranh, thi đua lành mạnh về nội dung, tính chất, chất lượng, hiệu quả, phạm vi áp dụng trong và sau dự án, đề án
3 Cho phép thực hiện một số giải pháp cụ thể:
+ Giao quyền tự chủ nhiều hơn, trước hết là về lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu, cho các
cơ sở đào tạo Đồng thời, xây dựng cơ chế quản lý phù hợp, đẩy mạnh phân cấp, phân tầng giữa các cơ sở đào tạo Đối với các cơ sở đào tạo đã khẳng định được uy tín, có chất lượng, thì tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội để tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo cho các cơ sở đào tạo, trước hết là hai ĐHQG cần được tự chủ tự chịu trách nhiệm hướng theo các mô hình tiên tiến trên thế giới của hệ thống các trường thành viên Trước mắt là ủng hộ việc thực hiện triệt để nội dung Quy chế tổ chức và hoạt động của ĐHQG và các cơ sở giáo dục đại học thành viên, được ban hành theo QĐ 26/2014/QĐ-TTg ngày 26/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó đã nêu:
- Đại học quốc gia được tự quyết định về phương thức tuyển sinh và chịu trách nhiệm về công tác tuyển sinh trong Đại học quốc gia
- Đại học quốc gia … có trách nhiệm ban hành Quy chế đào tạo, phù hợp với mô hình, đặc điểm của Đại học quốc gia và pháp luật để áp dụng thực hiện trong toàn Đại học quốc gia
- Đại học quốc gia được tổ chức thí điểm mô hình, cơ chế quản lý các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ mới
- Đại học quốc gia được quyền tự chủ cao trong các hoạt động về tài chính theo Quy chế này và cơ chế tài chính đặc thù do Thủ tướng Chính phủ quy định
+ Đổi mới phương thức tuyển sinh đại học và sau đại học theo hướng hội nhập quốc tế,
cụ thể là đánh giá đúng năng lực của thí sinh nhằm tuyển chọn được đối tượng thí sinh có kiến thức, kỹ năng, thái độ phù hợp với mục tiêu của các ngành đào tạo
+ Đổi mới cơ chế quản lý tài chính theo hướng hội nhập quốc tế đối với các nhiệm vụ KH&CN theo phương thức khoán dựa trên sản phẩm cuối cùng và cơ chế thuê chuyên gia trong hoạt động KH&CN nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính
Trang 19phục vụ cho sự phát triển của các ĐHQG, đồng thời làm cơ sở để đổi mới cơ chế quản
lý tài chính cho lĩnh vực hoạt động KH&CN của Nhà nước nói chung
+ Thúc đẩy quá trình xây dựng và phát triển hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục theo các tiêu chuẩn quốc tế Trước mắt, hỗ trợ và thúc đẩy quá trình phát triển của hai trung tâm kiểm định tại hai ĐHQG đi vào hoạt động một cách hiệu quả
Trang 34HAI Ý TƯỞNG QUAN TRỌNG NÊN HỌC TẬP TỪ HOA KỲ:
PHÂN TẦNG HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ NGHIÊN CỨU
Lâm Quang Thiệp
Trường Đại học Thăng Long
thống có sự phân công về nhiệm vụ của từng tầng, tổ chức tốt mối liên kết giữa các trường trong một tầng và giữa các tầng với nhau Để xây dựng hệ thống GDĐH phân tầng, kinh nghiệm của hệ thống GDĐH bang California Hoa Kỳ được giới thiệu
Trong phần thứ hai bài viết lưu ý nên coi trọng việc quản lý đầu tư nghiên cứu Mô tả so sánh về cơ cấu hệ thống GDĐH và nghiên cứu ở Việt Nam và Hoa Kỳ, bài viết vạch rõ sự khác biệt giữa hai hệ thống ở chỗ lực lượng nghiên cứu của Hoa Kỳ phần lớn tập trung trong
hệ thống GDĐH, còn ở Việt Nam tồn tại sự tách biệt giữa hệ thống viện nghiên cứu mạnh và
hệ thống GDĐH Các ý tưởng đặc biệt về quản lý đầu tư nghiên cứu của Hoa Kỳ do Vannevar Bush đề nghị được giới thiệu, trong đó nhấn mạnh việc Nhà nước tài trợ chính cho nghiên cứu cơ bản; ưu tiên tài trợ cho nghiên cứu của các trường ĐH, nơi có đào tạo;
và đảm bảo quá trình lựa chọn và đánh giá có tính cạnh tranh cao bởi các đồng nghiệp trên
cơ sở trình độ khoa học chứ không phải dựa vào chính trị hoặc thương mại
Cuối mỗi phần có giới thiệu tóm tắt các khuyến nghị mà Việt Nam nên học tập từ Hoa Kỳ để xây dựng hệ thống GDĐH và nghiên cứu của mình
Khi nói về hội nhập giáo dục đại học (GDĐH), người ta thường nghĩ trước hết đến GDĐH Hoa Kỳ, vì đó là nền GDĐH thành công nhất trên thế giới Điều đó có thể thấy rõ qua tiến
Trang 35trình Bologna của Liên minh châu Âu [http://ec.europa.eu…/bologna_en.htm], qua việc tiếp nhận mô hình GDĐH Hoa Kỳ của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc v.v…Trong quá trình đổi mới GDĐH Việt Nam từ thập niên 1990 đến nay chúng ta cũng đã học tập nhiều từ Hoa Kỳ [Lâm Quang Thiệp, 2007] Tuy nhiên, tại diễn đàn này chúng tôi chỉ xin nhấn mạnh hai ý tưởng quan trọng liên quan đến GDĐH Hoa Kỳ mà chúng ta nên lưu ý nhiều hơn để học tập,
đó là phân tầng hệ thống GDĐH và quản lý đầu tư nghiên cứu
PHÂN TẦNG HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Về những cố gắng nâng cao năng lực của hệ thống GDĐH nước ta
Trong mấy năm qua Nhà nước đã cố gắng thực hiện một số hoạt động để phát triển GDĐH nước ta Chẳng hạn, việc tìm nhiều nguồn lực trong và ngoài nước đề xây dựng các trường đại học liên kết với nước ngoài, kỳ vọng chúng sẽ trở thành các trường đại học “đẳng cấp thế giới”; cố gắng triển khai các chương trình đào tạo tiên tiến, hy vọng hình thành một số ngành đào tạo đẳng cấp thế giới, để mở rộng dần thành các trường đại học đẳng cấp thế giới Trường đại học đẳng cấp thế giới trở thành mục tiêu “mơ ước” và được ghi vào kế hoạch chiến lược dài hạn của nhiều trường, các trường lạc quan thì đề ra thời hạn vài thập niên, các trường thận trọng hơn thì đưa vào tầm nhìn năm bảy thập niên
Trường đại học đẳng cấp thế giới là phương hướng phấn đấu của nhiều trường đại học thuộc tầng cao ở nước ta Tuy nhiên, một số câu hỏi nảy sinh: bao giờ thì nước ta mới có được các trường đại học đẳng cấp thế giới? Và nếu tập trung phần lớn nguồn lực để sớm xây dựng được một vài trường đại học như vậy thì các trường đó sẽ đóng góp ở mức độ nào vào mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế xã hội trước mắt cho đất nước? Thế thì các trường học/cao đẳng ở tầng thấp hơn nên phát triển như thế nào để đóng góp chung vào sự phát triển hệ thống GDĐH và phát triển bền vững đất nước?
Vấn đề xây dựng các trường đại học đẳng cấp thế giới không chỉ là mối quan tâm riêng của nước ta, mà cũng là quan tâm chung của nhiều nước đang phát triển Do đó nhiều nước cũng bàn luận nhiều về mục tiêu này Có lẽ nên tham khảo một ý tưởng trong Báo cáo của Hội nghị khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại Macao tháng 9 năm 2008 chuẩn bị cho Hội
nghị Thế giới về GDĐH tại Paris tháng 7 năm 2009 Báo cáo có viết: “Không một quốc gia nào có đủ sức chu cấp kinh phí để mọi trường đại học của mình tương xứng với các trường đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới Tuy nhiên, tốt hơn hết, nhiều quốc gia có thể định vị trong một thị trường cạnh tranh toàn cầu bằng cách tạo dựng cho mình một “hệ thống đẳng cấp thế giới về GDĐH” hơn là tập trung phần lớn nguồn lực của mình để tạo nên một số ít cái gọi là trường đại học đẳng cấp thế giới” Hệ thống đẳng cấp thế giới về GDĐH là “hệ
thống nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội và sự đa dạng của nền học vấn - năng lực của sinh viên do kết quả của việc đại chúng hóa Các trường đại học cần có các sứ mạng khác nhau và cần phục vụ nhiều loại nhóm người khác nhau có lợi ích liên quan với GDĐH Hoạt động cơ bản của GDĐH vẫn là giảng dạy và học vấn, và trong một môi trường toàn cầu ngày càng phức tạp và biến động, sự phù hợp của các hoạt động của chúng đối với các cộng đồng địa phương sẽ trở nên hết sức quan trọng” [Conference Report, 2008] Nói cách khác, đó là hệ thống GDĐH mạnh, đa dạng, phân tầng, đáp ứng có hiệu quả các yêu cầu khác nhau của sự phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu học tập của nhân dân
Trong tình trạng hiện nay của GDĐH nước ta, chúng tôi rất tâm đắc với ý tưởng tạo dựng
Trang 36tổng thể cả hệ thống chứ không nên chú ý chỉ đến vài cá thể, - hai là khi xây dựng một trường đại học đỉnh cao cho hệ thống không nên tâm niệm về “đẳng cấp thế giới” mà nên xác định yêu cầu về vai trò của nó trong hệ thống GDĐH ngay ở nước mình
Cụm từ “hệ thống đẳng cấp thế giới về GDĐH” mà Hội nghị Macao năm 2008 nêu ra có lẽ chủ yếu nhằm đối sánh với cụm từ “trường đại học đẳng cấp thế giới” đã có Chúng tôi
mượn cụm từ này đơn giản chỉ để ngụ ý về một hệ thống GDĐH mạnh , chứ không muốn
bàn đến tiêu chí đẳng cấp thế giới của hệ thống GDĐH
Sở dĩ chúng tôi nêu ý tưởng này vì cảm nhận rằng trong hệ thống GDĐH nước ta mấy năm qua dường như các trường đại học ở tầng cao và đại học “đẳng cấp thế giới” được quan tâm quá nhiều, trong khi các thành phần khác không kém phần quan trọng của hệ thống, chẳng hạn mạng lưới các trường đại học/cao đẳng cộng đồng địa phương [Lâm Quang Thiệp, 2008], mạng lưới các trường đại học ngoài công lập [Lâm Quang Thiệp, 2009] cũng như các đại học mở và đào tạo từ xa [Lâm Quang Thiệp, 2009, 2010]chưa được quan tâm thích đáng
Nên hiểu thế nào về một hệ thống GDĐH mạnh cho nước ta? Theo chúng tôi, một hệ thống như vậy cần có các đặc trưng sau đây:
Đó là hệ thống GDĐH có nhiều tầng bậc, nhiều nhiệm vụ, nhiều kiểu chức năng và loại hình,
đáp ứng nhu cầu đa dạng của việc đại chúng hóa GDĐH, và tầng nào trong hệ thống cũng
thực hiện được sứ mệnh của mình Mục tiêu của việc phân tầng đã được nêu ở Luật GDĐH,
là “nhằm phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển, nâng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu khoa học của cơ sở giáo dục đại học; thực hiện quản lý nhà nước”
Đó là hệ thống GDĐH có sự phân công về nhiệm vụ của từng tầng và tổ chức tốt mối liên kết giữa các trường trong một tầng và giữa các tầng với nhau
Hệ thống GDĐH phân tầng của California
Để lấy ví dụ về một hệ thống GDĐH mạnh có thể nêu hệ thống GDĐH của bang California thuộc Hoa Kỳ
Ở bang California, Hoa Kỳ, một Quy hoạch tổng thể (Master Plan) cho GDĐH được chính quyền bang thiết kế vào năm 1960 cho các trường đại học công, phát triển năm 1987 cho cả các hệ thống GDĐH tư và các trường nghề
Theo Quy hoạch tổng thể, hệ thống đại học công lập được tổ chức thành 3 tầng: tầng trên cùng có 10 trường đại học nghiên cứu và đào tạo tiến sĩ (phần đầu của tên gọi dùng chung nhóm từ University of California - UC), tầng giữa là 23 trường đại học ở chỉ có quyền đào tạo đến thạc sĩ (phần đầu của tên gọi dung chung nhóm từ California State University - CSU) và tầng dưới cùng là 112 trường cao đẳng/đại học cộng đồng có các chương trình đào tạo nghề và đào tạo bằng đại học đại cương 2 năm để chuyển tiếp Từ hơn nửa thế kỷ trước đây bang California đã quy hoạch hệ thống GDĐH công lập của họ, luật lệ của bang quy định khoảng 12% học sinh phổ thông loại giỏi nhất có quyền vào học ở tầng trường đại học
UC, khoảng trên 30% học sinh tiếp theo có quyền vào học các trường CSU, và tất cả các học sinh còn lại có quyền vào các trường cao đẳng/đại học cộng đồng để học nghề hoặc học để các chương trình chuyển tiếp (transfer programs) để lấy bằng đại học đại cương Tuy nhiên, để khuyến khích sinh viên các trường đại học/cao đẳng cộng đồng, luật lệ của tiểu bang cũng quy định sau khi sinh viên có bằng đại học đại cương 2 năm, tùy theo kết quả học tập có thể được chuyển tiếp lên học giai đoạn giáo dục nghề nghiệp ở các trường đại học thuộc hai tầng trên Chi phí học tập ở các trường cao đẳng/đại học cộng đồng thường rất thấp (học phí trung bình một năm vào 2012 ở các trường cao đẳng/đại học cộng đồng công
Trang 37lập chỉ 2.713 USD, trong khi ở các trường đại học công lập có đào tạo cử nhân khác là 7.605 USD và ở các trường đại học tư thục là 27.293 USD) [Chronicle of Higher Education, Almanac Issue, 2011-12] Học sinh học tại bang của mình được trả học phí rẻ và được rất nhiều ưu tiên, do đó đa số học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học thường nhập học đại học tại các trường cao đẳng/đại học cộng đồng ở bang của mình (81% vào năm học 2006) Như vậy, thực tế hệ thống đại học/cao đẳng cộng đồng tạo điều kiện để sinh viên “ăn cơm nhà đi học đại học” Và có thể nói hệ thống đại học/cao đẳng cộng đồng của Hoa Kỳ là công cụ
quan trọng nhất làm cho Hoa Kỳ trở thành một quốc gia thực hiện được đại chúng hóa GDĐH trước đây và phổ cập hóa GDĐH ngày nay trước các quốc gia tiên tiến khác của
châu Âu nhiều thập niên Chính vì nhìn thấy ưu điểm của kế hoach tổng thể xây dựng hệ thống GDĐH California mà các chuyên gia GDĐH của OECD đã khuyến cáo các nước học theo mô hình này để xây dựng các hệ thống GDĐH cho thế kỷ 21, và gọi đó là giấc mơ California (California dream) [The OECD, the Master Plan and the California Dream, 1992]
Làm thế nào để xây dựng được một hệ thống giáo dục đại học mạnh cho nước ta?
Để xây dựng một “hệ thống” tốt cần xác định chức năng và vai trò của các thành viên trong
từng tầng bậc của hệ thống và xây dựng mối quan hệ giữa các thành viên và các tầng bậc
của hệ thống
Về chức năng và vai trò của từng thành viên của hệ thống GDĐH thì qui chế của từng loại
trường thuộc từng tầng bậc đại học nói chung cũng như kế hoạch chiến lược của từng trường đại học cần phải thể hiện rõ Ở đây chúng tôi chỉ xin nêu một vài ví dụ Chẳng hạn,
các đại học quốc gia, đại học trọng điểm của nước ta nên tập trung nhiệm vụ nghiên cứu và
đào tạo sau đại học đồng thời đào tạo một số ít chương trình đại học chất lượng cao, tức là tập trung vào chất lượng chứ không phải số lượng Các trường này không nên làm các nhiệm vụ đào tạo đại trà của hệ thống tại chức trước đây hoặc hệ thống vừa làm vừa học hiện nay, nên dành nhiệm vụ đó cho các tầng đại học thấp hơn Trong điều kiện hiện nay để tăng thu nhập cho giảng viên các trường đại học tầng cao không nên nhằm vào các hình thức đào tạo của các tầng thấp mà cần nhằm vào kinh phí nghiên cứu khoa học (Nhà nước cũng cần tăng kinh phí nghiên cứu để khuyến khích các trường đại học tầng cao) Các đại học/cao đẳng cộng đồng địa phương thì cần phải thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho phát triển
kinh tế xã hội địa phương, tức là chủ yếu đào tạo theo hướng nghề nghiệp ứng dụng, đồng thời thỏa mãn nhu cầu học tập của nhân dân địa phương, tạo mọi điều kiện để nâng cao số lượng thanh niên ở địa phương có thể đi học đại học [Lâm Quang Thiệp, 2009] Các đại học
mở cần đầu tư xây dựng công nghệ giảng dạy cho số đông và thực hiện chức năng chủ yếu
của mình là đào tạo mở và từ xa, làm nòng cốt để nâng cao chất lượng của hệ đào tạo không chính quy [Lâm Quang Thiệp, 2009,2010]…
Cần quan niệm rõ là, khác với việc xếp hạng có phần nào dựa vào chất lượng, việc phân tầng chỉ thực hiện theo chức năng, sứ mạng chứ không phải theo chất lượng Với quan niệm chất lượng là sự trùng khớp với mục tiêu (fitness for purpose), cơ sở GDĐH ở tầng nào cũng
phải phấn đấu đạt chất lượng cao nhất Do đó không có khái niệm cơ sở GDĐH dịch chuyển
từ tầng này sang tầng khác, trừ phi cơ sở đó được tổ chức lại và quy định lại hoàn toàn về
sứ mạng, chức năng, tức là biến thành một cơ sở GDĐH khác
Về quan hệ giữa các tầng GDĐH và giữa các thành viên trong từng tầng GDĐH: Cần xây
dựng các mối quan hệ hỗ trợ giữa các tầng GDĐH, chẳng hạn các trường đại học ở các tầng cao hỗ trợ phát triển đội ngũ giảng viên cho các trường đại học ở tầng thấp, đồng thời đảm bảo tiếp nhận sinh viên có bằng đại học đại cương từ các trường đại học ở tầng thấp được học chuyển tiếp giai đoạn giáo dục nghề nghiệp v.v Các mối quan hệ như vậy chẳng những đảm bảo sự liên kết trong hệ thống mà còn giúp đảm bảo chất lượng đào tạo trong cả
hệ thống GDĐH Một trường nào đó dù còn yếu nhưng khi nằm trong một hệ thống GDĐH mạnh cũng có thể phát triển thuận lợi nhờ mối quan hệ hỗ trợ trong hệ thống
Trang 38Khi nói về kinh nghiệm phân tầng GDĐH ở Hoa kỳ không thể không nhấn mạnh đến hệ thống các trường đại học/cao đẳng cộng đồng Nhiều học giả Mỹ nhận định rằng trong thế kỷ
20 sự hình thành và phát triển hệ thống đại học/cao đẳng cộng đồng là thành tựu và niềm tự hào to lớn nhất của nền GDĐH Hoa Kỳ (trong khi họ không nhấn mạnh đến việc xây dựng được các trường đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới hàng đầu!) Mô hình về hệ thống đại học/cao đẳng cộng đồng Hoa Kỳ đã giúp Nhật Bản tạo những bước tiến kỳ diệu về kinh tế vào nửa sau thế kỷ 20, cũng như giúp nhiều quốc gia khác (Đài Loan, Hàn Quốc) chuẩn bị nguồn nhân lực để phát triển đất nước
Ở nước ta từ cách đây 18 năm, Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 2 (khoá VIII) năm 1996
về phát triển giáo dục - đào tạo đã nêu nhiệm vụ “xây dựng một số trường cao đẳng công đồng ở các địa phương để đào tạo nhân lực tại chỗ” Quyết định 121/2007/QĐ-TTg ngày
27/07/2007 về quy hoạch mạng lưới trường đại học - cao đẳng 2006-2020 của Thủ tướng Chính phủ lại nêu: “trường cao đẳng cộng đồng là loại trường có nhiều chương trình dạy nghề với thời hạn khác nhau, và chương trình 2 năm đào tạo giai đoạn đầu đại học để chuyển tiếp học giai đoạn giáo dục nghề nghiệp ở các trường đại học có các chương trình chuyên nghiệp.” Thế nhưng cho đến nay hệ thống cao đẳng cộng đồng/đại học địa phương
vẫn chưa được chú ý đúng mức, chưa có những quy định rõ về chức năng và cơ chế hoạt động cho hệ thống này, đặc biệt chưa xây dựng được một cơ chế đào tạo chuyển tiếp như Quyết định 121/2007/QĐ-TTg đã nêu Để xây dựng được một hệ thống GDĐH mạnh tất yếu phải khắc phục các thiếu sót nêu trên
Tóm lại, từ việc học tập ý tưởng phân tầng GDĐH của California, Hoa Kỳ, chúng ta nên:
Ngoài việc xây dựng một vài trường ĐH “đẳng cấp thế giới”, nước ta cần chú ý nhiều hơn đến việc xây dựng một “hệ thống đẳng cấp thế giới về GDĐH”, hiểu theo nghĩa là
một hệ thống GDĐH mạnh, có nhiều tầng bậc, mỗi tầng bậc làm tốt sứ mạng và chức
năng của mình
Ở tầng cao (các đại học nghiên cứu) nên tuyển chọn một số ít sinh viên chất lượng cao, đào tạo nặng về chất lượng hơn là số lượng, chấp nhận sinh viên xuất sắc chuyển tiếp từ các tầng thấp, đồng thời tập trung nghiên cứu và giúp đào tạo giảng viên cho các tầng thấp
Ở tầng trung (các trường đại học định hướng ứng dụng) tuyển chọn sinh viên chất lượng trung bình, đào tạo nghiêng về ứng dụng và chỉ nên dừng lại đào tạo ở bậc thạc sĩ, chấp nhận sinh viên giỏi chuyển tiếp từ tầng thấp hơn
Ở tầng thấp, các trường cao đẳng/đại học cộng đồng địa phương tập trung đào tạo
nghề, đào tạo một số ngành phục vụ địa phương và đào tạo theo chương trình đại học đại cương để sinh viên chuyển tiếp học giai đoạn nghề nghiệp ở các trường đại học tầng trên
Các đại học mở tập trung vào giáo dục mở và từ xa để làm nòng cốt tăng chất lượng
hệ đào tạo không chính quy cho cả hệ thống
QUẢN LÝ ĐẦU TƯ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới, hoạt động nghiên cứu thường được trển khai ở ba môi trường: các trường đại học, các viện nghiên cứu chuyên biệt ngoài trường đại học, và các tập đoàn sản xuất kinh doanh, trong đó hoạt động nghiên cứu nhận kinh phí của Nhà nước quan trọng nhất là ở hai môi trường đầu tiên
Trang 39Hiện nay trên thế giới hệ thống nghiên cứu của Hoa Kỳ được công nhận là hệ thống đạt hiệu quả cao nhất Vì vậy, để xem xét mô hình quản lý đầu tư nghiên cứu, trước hết cần xem xét
và so sánh mô hình của hệ thống GDĐH và viện nghiên cứu của Việt Nam với Hoa Kỳ
Về tổ chức hệ thống trường đại học và viện nghiên cứu ở Việt Nam và ở Hoa Kỳ
Mô hình GDĐH và nghiên cứu ở Việt Nam
Trước khi thống nhất đất nước, mô hình GDĐH và nghiên cứu ở miền Bắc nước ta chịu ảnh hưởng của Liên Xô, ở miền Nam chịu ảnh hưởng của Pháp và Mỹ Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, mô hình GDĐH Liên Xô được xác lập trong cả nước và tồn tại cho đến khi quá trình “đổi mới” GDĐH bắt đầu có tác dụng, khoảng vào đầu thập niên 1990
Mô hình GDĐH và nghiên cứu của Liên Xô mà nước ta chịu ảnh hưởng có các đặc điểm sau đây: 1) Về cấu trúc vĩ mô: Hệ thống GDĐH tồn tại song hành và tách biệt với hệ thống các
viện nghiên cứu mạnh Đối với hệ thống các trường ĐH, mô hình phổ biến là các trường đơn ngành đơn lĩnh vực, thường gọi là các “institute” Bên trên hệ thống các viện nghiên cứu
mạnh tách biệt với hệ thống GDĐH có Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đóng vai trò lãnh đạo Ngoài công việc nghiên cứu, các viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên
Xô là nơi triển khai đào tạo sau đại học cấp các bằng “kandidat nauk” và “doktor nauk” Vì tồn taị hệ thống viện nghiên cứu mạnh tách biệt với trường đại học, các hoạt động nghiên cứu được triển khai trong hệ thống viện nghiên cứu cũng thường mạnh hơn trong các trường ĐH 2) Về quản lý hệ thống GDĐH, tính kế hoạch hóa tập trung của hệ thống GDĐH
Liên Xô thể hiện rất rõ rệt: chỉ tiêu đào tạo được Nhà nước quyết định theo kế hoạch, ngân sách đào tạo và nghiên cứu được Nhà nước cấp theo chỉ tiêu sinh viên, chương trình đào tạo được Nhà nước ban hành, sản phẩm đào tạo được Nhà nước tiếp nhận và phân phối theo kế hoạch cho kinh tế quốc doanh và biên chế nhà nước
Ở Việt Nam, từ thập niên 1990 sau “đổi mới” trong hệ thống GDĐH có một số mô hình ĐH
đa lĩnh vực được xây dựng, trong đó có các “ĐH” quốc gia và “ĐH” vùng Về mặt quản trị, 2
ĐH quốc gia không “trực thuộc” Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) mà trực thuộc Chính phủ, còn 3 ĐH vùng và các trường ĐH khác trực thuộc Bộ GD&ĐT và các bộ khác phụ trách từng lĩnh vực Về hệ thống văn bằng, ba cấp văn bằng chính của bậc ĐH là cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ đã hình thành và được chính thức đưa vào Luật Giáo dục đầu tiên năm 1998 Chương trình và quy trình đào tạo ĐH cũng có nhiều thay đổi Tuy nhiên, về nghiên cứu, cho đến thập niên 1990 ở cấp độ vĩ mô hệ thống nghiên cứu của Việt Nam vẫn tồn tại theo mô hình Liên Xô: cơ quan quản lý nhà nước về nghiên cứu là Ủy ban Khoa học Nhà nước, hai
cơ quan nghiên cứu lớn bao trùm là Viện Khoa học Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Nhận thức được sự cần thiết phải hợp nhất lực lượng nghiên cứu và giảng dạy ĐH, năm 1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ) đã chỉ đạo trong Quyết định
số 324-CT ngày 11/9/1992 về việc “tổ chức lại mạng lưới các cơ quan nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ” với ý đồ: “Gắn nghiên cứu khoa học với đào tạo: coi các trường ĐH
và các cơ quan KH&CN là một hệ thống thống nhất, cần có sự sắp xếp, phân công hợp lý và kết hợp chặt chẽ nhằm phát huy tối đa năng lực của lực lượng cán bộ KH&CN của cả nước, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học” Trên cơ sở đó Thủ tướng (Võ Văn Kiệt) chỉ đạo: “1) Thành lập hai trung tâm khoa học quốc gia (về khoa học tự nhiên và công nghệ, về khoa học xã hội và nhân văn) và một số trường ĐH trọng điểm quốc gia, trên cơ sở sắp xếp lại các viện quốc gia và một số trường ĐH hiện có 2) Tổ chức lại các bộ môn, khoa, viện trong các trường ĐH với sự phân công hợp lý giữa các trường ĐH và các cơ quan KH&CN khác” Tuy nhiên, do sức ỳ của hệ thống tổ chức cũ, đặc biệt từ phía các viện nghiên cứu, ý đồ muốn hợp nhất hai hệ thống GDĐH và nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ không thành Mô hình Liên Xô vẫn tiếp tục duy trì sự ảnh ưởng sâu sắc và dai dẵng trong hệ thống nghiên cứu của nước ta, và gần đây hai tổ chức nghiên cứu quan trọng nhất lại được nâng lên thành hai viện hàn lâm: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Như vậy là ý tưởng hợp nhất hai hệ thống
Trang 40GDĐH và nghiên cứu trước đây từ thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt không được kế thừa mà sự
tách biệt ở cấp vĩ mô về GDĐH và nghiên cứu còn trở nên nặng nề hơn
Hệ thống GDĐH và nghiên cứu ở Hoa Kỳ:
Hoa Kỳ là nước có một hệ thống GDĐH đồ sộ Theo [Chronicle of Higher Education, 2012] Hoa Kỳ có 4.495 trường ĐH và cao đẳng các loại (trong đó có 2211 ĐH 4 năm, 1721 ĐH 2 năm) với gần 20,5 triệu sinh viên Theo phân loại Carnegie, vào năm 2005 Hoa Kỳ có 282 trường ĐH nghiên cứu (96 trường hoạt động nghiên cứu rất mạnh, 103 trường hoạt động nghiên cứu mạnh, 83 trường nghiên cứu và đào tạo tiến sĩ), đó là các trường ĐH trong hệ thống GDĐH mà hoạt động nghiên cứu là chủ yếu Như vậy, trong hệ thống GDĐH Hoa Kỳ
có gần 300 viện đại học nghiên cứu (research universities), cho nên có thể nói đào tạo đại học và nghiên cứu được kết hợp chặt chẽ trong hệ thống GDĐH Hoa Kỳ
Ngoài các viện đại học nghiên cứu nêu trên ở Hoa Kỳ còn có các cơ quan nghiên cứu đặc biệt như NASA (National Aeronautics and Space Administration), phần nội bộ của các Viện Nghiên cứu Y tế quốc gia (National Institutes of Health NIH), Viện nghiên cứu quốc gia về Tiêu chuẩn và Công nghệ (National Institute of Standards and Technology - NIST)… được Nhà nhước cấp kinh phí và tự triển khai nghiên cứu Còn một số lớn các trung tâm R&D khác, bao gồm các Phòng thí nghiệm quốc gia (National Labolatories), phần ngoại bộ của các Viện Nghiên cứu Y tế quốc gia (National Institutes of Health NIH), các Dự án nghiên cứu quốc phòng tiên tiến (Defense Advanced Research Projects Agency - DARPA), Cơ quan nghiên cứu Hải quân (Office of Naval Research - ONR), Cơ quan Nghiên cứu khoa học Không quân (Air Force Office of Scientific Research - AFOSR) …là các cơ quan nhận kinh phí Nhà nước nhưng tài trợ cho các cơ quan và các nhà nghiên cứu từ bên ngoài, trong đó
đặc biệt quan trọng là từ các viện đại học nghiên cứu Như vậy, các viện, trung tâm nghiên cứu và các giáo sư danh tiếng trong các viện ĐH nghiên cứu Hoa Kỳ là lực lượng hoạt động nghiên cứu quan trọng hàng đầu ở Hoa Kỳ
Về các mô hình quản lý đầu tư nghiên cứu ở Việt Nam và Hoa Kỳ
Về mô hình quản lý kinh phí nghiên cứu của Việt Nam
Trong cố gắng chung cải tiến luật pháp, Luật Khoa học và công nghệ mới số 29/2013/QH13
đã được Quốc hội thông qua Sau đây là tóm lược một số quy định quan trọng của Luật có liên quan đến việc quản lý hoạt động nghiên cứu Về tổ chức KH&CN, Luật quy định gồm có
3 loại: 1) Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; 2) Cơ sở GDĐH; 3) Tổ chức dịch vụ KH&CN Về loại thứ nhất các tổ chức cấp cao nhất “thuộc chính phủ” bao gồm Viện Hàn lâm KH&CN và Viện Hàn lâm KHXH Về loại tổ
chức thứ 2 là các cơ sở GDĐH thì quan trọng nhất là 2 ĐH quốc gia, được công nhận “là đầu mối được giao các chỉ tiêu về ngân sách và kế hoạch” Tuy nhiên các ĐH quốc gia và
viện hàn lâm vẫn là các tổ chức tách biệt
Theo các nghị định của Chính phủ thì Viện Hàn lâm KHXN&CN “thực hiện chức năng nghiên cứu cơ bản về khoa học tự nhiên và phát triển công nghệ” và “đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ có trình độ cao” còn Viện Hàn lâm KHXH thì “nghiên cứu những vấn đề cơ bản
về khoa học xã hội” và “đào tạo sau đại học về khoa học xã hội”
Ở Việt Nam Theo Luật KH&CN chức năng quản lý nhà nước về nghiên cứu và triển khai (R&D) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Hàng năm Bộ KH&CN đề xuất dự toán chi ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính lập dự toán, sau đó các cơ quan tài chính các cấp cấp phát kinh phí Kinh phí nhà nước về R&D được Bộ Tài chính phân phối cho các bộ ngành, các tỉnh thành, việc phân phối này được gọi là phân phối kinh phí “cấp một” Hai viện hàn lâm, hai 2 ĐH quốc gia, Bộ GD&ĐT và các bộ ngành khác và các tỉnh thành là các đầu mối được nhận kinh phí R&D