Đỗ Kim Hồi- một giáo viên làm công tác dạy văn có nhiều kinhnghiệm đã có nhận xét xác đáng: Về việc giảng dạy văn học sử của giáo viên: - Dạy học đọc chép - Dạy nhồi nhét - Dạy học văn
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU:
I Lí do chọn đề tài:
Trong toàn bộ chương trình của môn Ngữ văn ở trường trung họcphổ thông, văn học sử là phân môn có vị trí chủ đạo, quyết định phươnghướng chung cho việc giảng dạy tất cả các phân môn của văn học vềkhối lượng, nội dung kiến thức và phương pháp học tập
Thế nhưng, trong phong trào đổi mới giảng dạy văn học ở bậc trunghọc nhiều năm qua, hầu như phân môn được quan tâm nhiều nhất là đọcvăn, và việc dạy văn học sử ít được chú ý Về mặt nào đó, kể cũng có lí
do của nó Tiếp cận và tiếp nhận tác phẩm văn chương là một vấn đềnghệ thuật phức tạp và tinh tế Tỉ lệ thời gian dành cho đọc văn trongchương trình lại lớn… Văn học sử, bản thân nó cũng có đầy đủ lí do và
dữ kiện để được nhìn nhận một cách thỏa đáng hơn, nếu không muốnnói là đáng được quan tâm đặc biệt hơn, cả về phương pháp dạy cũngnhư học, về yêu cầu cần đạt tới cũng như hiệu quả thực tế thu lượmđược
II Mục tiêu nghiên cứu:
Xét cả quá trình dạy môn Ngữ văn trong nhà trường, từ phân môn văn học sử, đọc văn cho đến lí luận văn học đều có nhiệm vụ cung cấp kiến thức văn học Với văn học sử thì đó là việc hình thành những kiến thức khái quát về văn học Từ việc nhìn nhận đúng đắn phân môn văn học sử trong mối liên hệ vốn có của nó với các phân môn khác, chúng
ta sẽ xác định một cách sáng tỏ nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng của phân môn này trong việc hình thành kĩ năng văn học và nhân cách cần
có cho học sinh ở trường trung học phổ thông và khi vào đời
III Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh trường trung học phổ thông Long Khánh- Thị xã LongKhánh- Tỉnh Đồng Nai
IV Phương pháp nghiên cứu:
- Sưu tầm, tổng hợp tài liệu, nghiên cứu sách giáo khoa Ngữ văn trunghọc phổ thông
- Áp dụng kinh nghiệm vào thực tế giảng dạy
- Điều tra kiến thức học sinh
V Phạm vi nghiên cứu và ứng dụng
- Chương trình Ngữ văn 10,11,12
- Ứng dụng vào phạm vi dạy học văn học sử
- Sáng kiến chỉ mang tính khái quát, không đi sâu vào từng bài cụ thể
Ở đây chỉ minh họa một bài trong chương trình Ngữ văn 12, bài Tácgiả Hồ Chí Minh ( theo phân phối chương trình chuẩn tiết 4)
Trang 2VI Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:
Lựa chọn phương pháp thích hợp cho môn học Ngữ văn ở phân mônvăn học sử
VII Cấu trúc của đề tài:
Gồm 3 phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
- Kết luận
Trang 3B PHẦN NỘI DUNG:
I Cơ sở lí luận:
“Văn học sử là một phân môn của môn Ngữ văn trong chương trình học văn ở nhà trường bậc trung học Theo đó, việc học văn gắn liền với những hiểu biết về sự hình thành, về quá trình tồn tại và phát triển của văn học qua những thời kì lịch sử khác nhau.” (Phan Trọng Luận)
Vì vậy, văn học sử có nội dung, phương pháp, nhiệm vụ, mục tiêuriêng vừa thống nhất, vừa khác biệt với các phân môn khác trongchương trình văn học Cùng với đọc văn, làm văn, văn học sử góp phầnhoàn chỉnh tri thức cho học sinh trung học phổ thông
“Văn học sử cho chúng ta thấy rõ từng bước đi, nhịp đập, hơi thở của lịch sử xuyên suốt qua từng chặng đường, từng thời kì, từng giai đoạn văn học với những nấc thăng trầm khác nhau.” ( Nguyễn Thụy
Giang Thủy)
Chính điều này mà trong công việc khai thác và truyền thụ các kiếnthức về văn học sử mang ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng
II Cơ sở thực tiễn:
Ở trung học cơ sở không có giờ học văn học sử riêng Trái lại họcsinh ở trung học phổ thông được học các bài văn học sử trước khi họctác phẩm Do đó, những nhận thức về văn học ở trung học phổ thông cótính hệ thống, khái quát, hoàn chỉnh
Ở lớp 10, học sinh được học 8 tiết văn học sử Cụ thể:
- Học kì I:
+Tổng quan văn học Việt Nam ( 2 tiết)
+Khái quát văn học dân gian Việt Nam ( 1 tiết)
+Khái quát văn học Việt Nam từ Thế kỉ X đến hết Thế kỉ XIX (2tiết)
- Học kì II:
+Tác giả Nguyễn Trãi ( 1 tiết)
+Tác giả Nguyễn Du ( 2 tiết)
Lớp 11 có 5 tiết dạy các bài:
+Tác giả Nguyễn Đình Chiểu ( 1 tiết)
+Khái quát văn học Việt Nam từ đầu Thế kỉ XX đến Cách mạngtháng 8-1945 (3 tiết)
+Tác giả Nam Cao ( 1 tiết)
Lớp 12, học sinh tiếp tục học:
+Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng thánh 8-1945 đến hếtThế kỉ XX ( 2 tiết)
+Tác giả Hồ Chí Minh(1 tiết)
+Tác giả Tố Hữu (1 tiết)
Như vậy, phân môn văn học sử chỉ mới được dành một tỉ lệ quá nhỏtrong quỹ thời gian, nhưng cũng đã giới thiệu cho học sinh một khối
Trang 4lượng không nhỏ về các sự kiện, hiện tượng văn học, các nhà văn, nhàthơ tiêu biểu của văn học Việt Nam ở nhiều thời kì lịch sử, nhiều tràolưu văn học khác nhau Văn học sử góp phần làm đa dạng, phong phúthêm sự hiểu biết về văn học cho học sinh.
III Thực trạng:
Một số giáo viên dạy văn chưa thấy được mối liên hệ chặt chẽ biệnchứng giữa văn học và lịch sử Muốn dạy ( và học) một tác phẩm vănhọc, một hiện tượng văn học, ta không thể không đặt tác phẩm đó, hiệntượng đó vào bối cảnh lịch sử xã hội mà tác phẩm hay hiện tượng vănhọc ấy xuất hiện Ngược lại, tác phẩm văn học, hiện tượng văn học giúpcho chúng ta hiểu thêm về diện mạo thời đại, đời sống xã hội và conngười của xã hội đương thời, nhất là về phương diện ý thức, tinh thần.Cũng còn không ít giáo viên thường có xu hướng coi trọng phầnđọc- hiểu văn bản mà xem nhẹ hoặc bỏ qua các bài khái quát,các mụctìm hiểu tác giả, tác phẩm hoặc các kiến thức đó nếu có thì cũng chỉđược nhắc đến một cách qua loa, sơ sài, không liên hệ với phần văn bản
và cũng không phục vụ cho việc đọc- hiểu văn bản
Có thể nói, vết tích của lối dạy văn chưa kỹ lưỡng như đã nói trênvẫn còn khá nặng nề Giáo viên chưa ý thức được đầy đủ yêu cầu rènluyện năng lực cho học sinh qua phân môn văn học sử Một nhận địnhcủa Bộ giáo dục cách đây 10 năm đến nay hầu như vẫn còn có ý nghĩa:
“ Bên cạnh một số giáo viên tận tụy, số đông giáo viên chưa có đầy đủ tinh thần, trách nhiệm trong việc giảng dạy văn học sử cho học sinh.”
( Báo cáo tình hình giảng dạy Văn học trong trường trung học phổthông năm 2002- Bộ Giáo dục)
Đỗ Kim Hồi- một giáo viên làm công tác dạy văn có nhiều kinhnghiệm đã có nhận xét xác đáng:
Về việc giảng dạy văn học sử của giáo viên:
- Dạy học đọc chép
- Dạy nhồi nhét
- Dạy học văn như nhà nghiên cứu văn học
Về phía học sinh:
- Học sinh thụ động, thiếu sáng tạo
- Học sinh không biết tự học
- Học tập thiếu sự hợp tác giữa thầy và trò, giữa trò với trò
- Học thiếu hứng thú, đam mê
Chính phương pháp dạy học theo lối cung cấp kiến thức áp đặt, họcsinh phải học thuộc kiến giải của thầy, chưa xem học sinh là chủ thể củahoạt động học văn là những nguyên nhân sâu xa và trực tiếp gây nênhậu quả giáo dục thấp kém cho học sinh mà giáo viên dạy văn chắc hẳnphải gánh chịu một phần trách nhiệm Học sinh ít được tỏ bày ý kiếncủa mình Nguy hại không phải chỉ trong phạm vi học hành ở nhàtrường, cũng không phải chỉ là chuyện trước mắt, điều đáng lo ngại là
Trang 5trong cuộc sống cá nhân học sinh đã hình thành thói quen sao chép, nóitheo Một yêu cầu mà nhà trường ngày nay đặc biệt coi trọng là việcphát triển khả năng tư duy độc lập và sáng tạo cho học sinh, nhưng tiếcthay đây lại là mặt yếu nhất trong chất lượng đào tạo của chúng ta.
IV Các biện pháp giải quyết vấn đề:
1 Căn cứ vào nguyên tắc dạy học văn học sử ở trung học phổ thông:
a Dạy học văn học sử phải đảm bảo sự kết hợp hữu cơ giữa tri thức khái quát và tri thức cụ thể:
Bảo đảm kết hợp hai loại tri thức khái quát và cụ thể trong giờ dạyvăn học sử thể hiện trình độ và năng lực sư phạm của giáo viên Nếu bàivăn học sử chỉ chú ý loại tri thức là những nhận định có tính chất tổnghợp, khái quát về sự phát triển của văn học ở một thời kì, một giai đoạn,của một tác giả, một tác phẩm, bài học sẽ khô khan, khó hiểu, nặng líthuyết…Hoặc nếu chỉ thiên về những tri thức có tính chất tư liệu, cụthể, minh họa thì bài học dễ rời rạc, liệt kê…
Ở lớp 10 , với bài dạy “ Khái quát Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đếnhết thế kỉ XIX ( phân phối chương trình tiết 34,35), cụ thể là giai đoạnnửa cuối thế kỉ XIX, giáo viên giới thiệu cho học sinh một hệ thống trithức có tính chất khái quát, định hướng quan trọng về diện mạo của vănhọc giai đoạn này, đó là những đặc điểm chính về xã hội, về lịch sử cóảnh hưởng đến nội dung văn học, sự kế thừa và tính chất thời đại củamột giai đoạn phát triển văn học:
“Văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX ra đời trong bối cảnh người dân cả nước kiên cường bất khuất đứng lên chống giặc ngoại xâm nên văn học yêu nước nửa cuối thế kỉ XIX phát triển rất phong phú và nhìn chung mang âm hưởng bi tráng Nguyễn Đình Chiểu với những tác phẩm có giá trị cao như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Ngư tiều y thuật vấn đáp,… được xem là tác gia văn học yêu nước lớn nhất của giai đoạn này… Thơ ca trữ tình- trào phúng đạt được những thành tựu xuất sắc với những sáng tác của Nguyễn Khuyến, Tú Xương- hai tác gia lớn cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam” ( Ngữ văn 10, tập 1, trang
108)
Trên cơ sở đó, học sinh tiếp tục đi vào tìm hiểu những nhận định vừa
cụ thể, vừa khái quát ở cấp độ bài học giới thiệu về tác giả tiêu biểu giaiđoạn nửa cuối thế kỉ XIX là Nguyễn Đình Chiểu (khối 11, phân phốichương trình tiết 20) Học sinh sẽ được học những kiến thức cụ thể vềhai giai đoạn sáng tác, các tác phẩm chính, nội dung của từng giai đoạn
trong sự nghiệp văn chương của Đồ Chiểu Cụ thể: “Nguyễn Đình Chiểu là một trong những nhà thơ đầu tiên ở Nam kì sáng sác chủ yếu bằng chữ Nôm Cuộc đời sáng tác của ông chia làm hai giai đoạn: trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược Ở giai đoạn đầu: ông viết hai truyện thơ dài: truyện Lục Vân Tiên và Dương Từ- Hà Mậu Đến giai đoạn sau, gồm nhiều thơ, văn tế: Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần
Trang 6Giuộc, Thơ điếu Trương Định, Thơ điếu Phan Tòng ” (Ngữ văn 11, tập
1, trang 57)
Ngoài tính chất cụ thể, minh họa cho những nhận định khái quát vềbài học, về giai đoạn văn học nửa cuối thế kỉ XIX, hệ thống tri thức ởbài Nguyễn Đình Chiểu còn có ý nghĩa khái quát, tổng hợp về giá trịnội dung, tư tưởng trong những sáng tác của một tác giả Học sinh cần
được khắc họa số nhận định sau: “ Nguyễn Đình Chiểu viết truyện Lục Vân Tiên nhằm mục đích truyền dạy những bài học về đạo làm người chân chính…Những mẫu người lí tưởng trong tác phẩm là những con người sống nhân hậu, chung thủy, biết giữ gìn nhân cách thẳng ngay, cao cả, dám đấu tranh và có đủ sức mạnh để chiến thắng những thế lực bạo tàn, cứu nhân độ thế”; “Khi cuộc chiến tranh của thực dân Pháp
nổ ra, Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác những tác phẩm đáp ứng xuất sắc yêu cầu của cuộc chiến đấu giữ nước buổi ấy Thơ văn yêu nước chống Pháp của Nguyễn Đình Chiểu đã ghi lại chân thật một thời đau thương của đất nước, khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí cứu nước của nhân dân ta, đồng thời nhiệt liệt biểu dương những anh hùng, nghĩa sĩ
đã chiến đấu, hi sinh vì tổ quốc.” ( Ngữ văn 11, tập 1, trang 57,58)
Với sự kết hợp biện chứng hai loại tri thức khái quát và cụ thể trongcác bài học về giai đoạn văn học và tác giả, học sinh có thể lĩnh hộiđược những tri thức cơ bản về sự phát triển của văn học dân tộc ở giaiđoạn nửa cuối thế kỉ XIX, đồng thời học sinh có thể lí giải được mốiquan hệ giữa hai giai đoạn sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Đó là mộtquá trình phát triển vừa liên tục, vừa nâng cao
b Phải phát huy năng lực nhận thức của học sinh để hình thành, khắc họa các nhận định văn học:
Trong quá trình giảng dạy các bài văn học sử, giáo viên cần giúp họcsinh phát hiện, lí giải, ghi nhớ được tri thức trọng tâm Cần thiết yêucầu học sinh đọc bài trước nhằm giúp học sinh nắm được một cách sơlược nội dung của bài học Sự chuẩn bị có tính chất tự giác, tích cực banđầu của học sinh có thể được xem là một phần tri thức cũ, là tiền đề, là
cơ sở để giáo viên phát huy tính chất chủ động, tích cực học tập trongquá trình lĩnh hội bài mới khi lên lớp
Để có thể khắc họa những kiến thức trọng tâm, giáo viên cần chủđộng đặt ra những tình huống có vấn đề, hướng học sinh suy nghĩ vềnhững mối liên hệ bên trong của bài học Từ đó rèn luyện, củng cốnăng lực tư duy tích cực, chủ động, khả năng tìm tòi, phát hiện ở họcsinh
Trong bài dạy văn học sử có một số tình huống như sau:
- Khi giáo viên đã giới thiệu xong các sự kiện và hiện tượng cụ thể,yêu cầu học sinh vận dụng khả năng suy luận để rút ra nhận xét kháiquát Ví dụ: Qua những tác phẩm của Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão,Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi đã học và đọc thêm, các em có thể rút
ra những nhận xét gì về cảm hứng chủ đạo của văn học giai đoạn này?
Trang 7- Khi cần củng cố tri thức cũ và làm nổi bật tri thức mới, giáo viênyêu cầu học sinh liên hệ, so sánh nội dung đang học với nội dung đãhọc Khi giảng bài Nguyễn Trãi, có thể đặt câu hỏi sau: Nguyễn Trãi đã
sử dụng rất thành công thể thơ 8 câu 7 chữ và có khi sáng tạo thêmbằng cách chen vào đôi câu 6 chữ, tạo ra âm điệu mới Em hãy nêu mộtbài thơ hay một câu thơ thể hiện sự sáng tạo đó?
- Khi cần đánh giá tác dụng nhận thức hoặc giáo dục của các hiệntượng, sự kiện văn học, giáo viên có thể yêu cầu học sinh phát biểunhững suy nghĩ của mình Chẳng hạn sau khi dạy phần cuộc đời củaNguyễn Đình Chiểu, giáo viên có thể hỏi: Em có nhận xét gì về cuộcđời của Nguyễn Đình Chiểu?
Lưu ý: Khi nào thấy xuất hiện tình huống có vấn đề trong hoạt
động nhận thức, giáo viên mới nên đặt câu hỏi Không nên đưa ra câuhỏi vụn vặt, vừa không có tác dụng phát triển tư duy của học sinh, vừamất thời gian vô ích
2 Đề xuất một vài phương pháp dạy các kiểu bài văn học sử bậc trung học phổ thông:
Việc phân loại các kiểu bài văn học sử vẫn chưa thật xác định Bảnthân sự sắp xếp trật tự các kiểu bài của chương trình sách giáo khoatrong nhiều năm qua luôn có sự thay đổi
Căn cứ vào sự hiện diện của các kiểu bài văn học sử trong các sáchngữ văn trung học phổ thông hiện nay, ta thấy có những kiểu bài sau:
- Kiểu bài khái quát về lịch sử văn học Việt Nam
- Kiểu bài khái quát về thời kì, về giai đoạn văn học
- Kiểu bài khái quát về tác giả, tác phẩm
- Kiểu bài khái quát về thể loại ( đối với văn học dân gian)
2.1 Kiểu bài khái quát về lịch sử văn học Việt Nam:
a Đặc điểm:
Đây là bài học đầu tiên trong chương trình ngữ văn ở trung học phổthông Bài học bao gồm những tri thức lịch sử văn học, nhất là về lịchtrình phát triển của toàn bộ văn học Việt Nam Đó là những nhận định,những khái niệm về đặc điểm hình thành, phát triển của nền văn học, về
sự phân loại các thành phần cấu tạo của văn học
b Phương pháp giảng dạy:
b.1 Bài học phải giúp cho học sinh có cái nhìn tổng quát về lịch sử văn học Việt Nam Giáo viên hướng dẫn học sinh ghi chép và nắm
được những nhận định có tính chất khái quát về nguồn gốc, đặc điểmcủa văn học, nhất là các nhận định về điều kiện lịch sử xã hội, về quátrình phát triển nội tại cũng như những đặc điểm phát triển có tính quyluật khách quan của văn học trong suốt chiều dài lịch sử
Cụ thể:
- Văn học Việt Nam có một lịch sử hình thành và phát triển lâu đời
Nó gắn liền với lịch sử văn học, lịch sử dựng nước và giữ nước của dântộc
Trang 8- Văn học Việt Nam có hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết,tồn tại song song, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau.
- Văn học Việt Nam là một nền văn học đa dân tộc, vừa mang nhữngnét bản sắc dân tộc độc đáo, riêng biệt, vừa tiếp thu những tinh hoa củadân tộc, cộng đồng văn học thế giới, ngày càng phát triển đầy đủ, phongphú
- Văn học Việt Nam có những đặc điểm mang ý nghĩa truyền thống,nổi bật là tư tưởng nhân đạo và yêu nước
b2 Qua bài giảng, giáo viên cần giúp học sinh hiểu và nắm một số khái niệm đầu tiên, cơ bản của bài văn học sử đó: những khái niệm
về thời kì văn học, giai đoạn văn học, bộ phận văn học, về giá trị nộidung, hình thức, về khái niệm yêu nước, nhân đạo…
Cụ thể :
Thời kì văn học: chỉ một khoảng thời gian phát triển nhất định xảy ra
những hiện tượng, sự kiện văn học dưới sự ảnh hưởng, tác động củanhững điều kiện lịch sử, xã hội nhất định
Căn cứ vào đặc điểm phát triển của văn học Việt Nam, người ta chia
bộ phận văn học viết ở nước ta qua ba thời kì phát triển:
- Thời kì thứ nhất: đầu thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, còn được gọi làthời kì văn học trung đại
- Thời kì thứ hai: từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8-1945, cònđược gọi là văn học cận đại
- Thời kì thứ ba: từ Cách mạng tháng 8-1945 đến hết thế kỉ XX, cònđược gọi là văn học hiện đại
Giai đoạn văn học: là khoảng thời gian phát triển nhỏ hơn, ngắn hơn
so với thời kì văn học Theo đó thời kì thứ nhất của văn học có 4 giaiđoạn:
+ Giai đoạn từ thế kỉ XX- hết thế kỉ XIV
+ Giai đoạn từ thế kỉ XV- hết thế kỉ XVII
+ Giai đoạn thế kỉ XVII – nửa đầu thế kỉ XIX
+ Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX
-Thời kì thứ hai có 3 giai đoạn:
+Đầu thế kỉ XX-khoảng năm 1920
+Khoảng năm 1920-năm 1930
văn 10, tập 1, trang 5)
Trang 9Lưu ý:Nên xóa bỏ định kiến học sinh THPT chưa đủ trình độ để tiếp
nhận kiến thức khái quát về văn học.Thực tế, học sinh THPT đã có hơn 8năm học văn học ở nhà trường Khối lương đọc sách ngoài trường khôngphài là nhỏ.Đó là chưa nói đến trí tuệ học sinh ngày nay đã khác nhiều.Giáo viên không thể coi nhẹ việc tân dụng kiến thức THCS trong tiến trìnhgiảng dạy văn học sử ở THPT
2.2 Kiểu bài khái quát về thời kì, giai đoạn văn học:
a. Đặc điểm: Kiểu bài này giới thiệu khối lượng lớn về tư liệu và nhậnđịnh văn học sử có tính chất tổng hợp, khái quát cao Chẳng hạn ở bài
“Khái quát Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX”, học sinhđược giới thiệu một dung lượng tri thức lớn về diện mạo của văn học dântộc trong suốt 9 thế kỉ Đó là những nhận định về lịch sử phát triển của nềnvăn học trung đại; sự hình thành chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ qua cácgiai đoạn, các thể loại văn học như hịch, cáo, thơ, văn xuôi, truyện thơNôm, kịch, tuồng…
Một đặc điểm quan trọng của kiểu bài khái quát về thời kì, giai đoạnvăn học là hai phần nội dung của bài, bao gồm bối cảnh lịch sử và tìnhhình văn học luôn luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau Tri thức củamỗi phần trong bài giảng luôn hướng vào nhau, quy định nhau
b Phương pháp giảng dạy:
b.1 Giáo viên cần nắm vững cấu tạo và mối quan hệ giữa các phần trong bài giảng, định hướng kiến thức, lựa chọn dẫn chứng sao cho làm
nổi bật sự liên kết, chi phối giữa bối cảnh lịch sử và tình hình văn học, giữanội dung và hình thức của văn học trong một giai đoạn
Khi trình bày phần bối cảnh lịch sử, giáo viên cần hướng dẫn học
sinh chú ý các biến cố lịch sử, kinh tế, chính trị có ý nghĩa là nguyên nhântrực tiếp (hay gián tiếp) của sự hình thành, phát triển của hiện tượng vănhọc Muốn vậy, giáo viên cần phải đưa ra một số câu hỏi nêu vấn đề, từ đókhắc họa những nội dung chính về lịch sử và văn học
Ví dụ 1:
- Khi dạy về giai đoạn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV, giáo viên cần cho
học sinh chú ý những biến cố, sự kiện lịch sử quan trọng sau: “Dân tộc ta giành được quyền độc lập tự chủ vào cuối thế kỉ X, lập nhiều kì tích trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược (chống quân Tống thế kỉ XI, chống quân Mông-Nguyên thế kỉ XIII) Sau cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc là công cuộc xây dựng đất nước trong hòa bình Chế độ phong kiến Việt Nam nhìn chung đang ở thời kì phát triển” (Ngữ văn 10, tập 1, trang 105).
- Khi dạy về giai đoạn từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII, giáo viên cần
nhấn mạnh ở hoàn cảnh lịch sử: “Nhân dân ta tiếp tục làm nên kì tích trong cuộc kháng chiến chống quân Minh ở nửa đầu thế kỉ XV, đưa chế độ phong kiến Việt Nam đạt tới đỉnh cao cực thịnh ở nửa cuối thế kỉ đó Bước
Trang 10sang thế kỉ XVI, tuy chế độ phong kiến đã có những biểu hiện khủng hoảng dẫn đến nội chiến và đất nước bị chia cắt, song nhìn chung tình hình xã hội vẫn ổn định.” (Ngữ văn 10, tập 1, trang 106).
- Hoặc cho học sinh ghi nhớ đặc điểm của xã hội Việt Nam giai đoạn từ
thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX: “Trong hoàn cảnh đất nước có nhiều biến động bởi nội chiến phong kiến và bão táp của phong trào nông dân khởi nghĩa mà đỉnh cao là khởi nghĩa Tây Sơn Chế độ phong kiến đi từ khủng hoảng đến suy thoái Cuộc khởi nghĩa của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã cùng một lúc lật đổ các tập đoàn phong kiến Đàng Trong (chúa Nguyễn), Đàng Ngoài (vua Lê, chúa Trịnh), đánh tan các cuộc xâm lược của quân Xiêm ở phía Nam, quân Thanh ở phía Bắc Phong trào Tây Sơn suy yếu, triều Nguyễn khôi phục chế độ phong kiến chuyên chế và đất nước nằm trước hiểm họa xâm lăng của thực dân Pháp” (Ngữ văn 10,
tập 1, trang 107)
- Khi dạy bối cảnh lịch sử giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, giáo viên cần làm
rõ một số nội dung cơ bản sau: “Thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam Nhân dân cả nước kiên cường bất khuất đứng lên chống giặc ngoại xâm Nhưng rồi đất nước dần rơi vào tay giặc Xã hội Việt Nam chuyển dần từ xã hội phong kiến sang thực dân nửa phong kiến Văn hóa phương Tây bắt đầu có những ảnh hưởng tới đời sống xã hội Việt Nam.” (Ngữ văn
10, tập 1, trang 108)
Ví dụ 2: Ở bài “Khái quát về văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cáchmạng tháng 8 -1945” (Khối 11, phân phối chương trình tiết 32), giáo viêncần khắc họa cho được những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu xã hội ViệtNam từ khi thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa về mặt kinh tế Đó
là những đặc điểm nội dung:
- Một số thành phố công nghiệp ra đời, đô thị, thị trấn mọc lên ở nhiều nơi
- Những giai cấp, tầng lớp xã hội mới: tư sản, tiểu tư sản, công nhân, dânnghèo thành thi, xuất hiện ngày càng đông đảo
- Một lớp công chúng có đời sống tinh thần và thị hiếu mới đã hình thành,đòi hỏi một thứ văn chương mới
- Văn hóa Việt Nam bắt đầu mở rộng tiếp xúc với văn hóa phương Tây(văn hóa Pháp)
- Hoạt động kinh doanh văn hóa với những hình thức: in, xuất bản, làmbáo theo kĩ thuật hiện đại phát triển khá mạnh
Những điều kiện về kinh tế, xã hội trên giúp học sinh hiểu được vì sao vănhọc Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 là văn học của thời kì hiệnđại hóa
Trang 11 Trong phần tình hình văn học, giáo viên cần nêu ra những đặc điểm của
văn học về nội dung, đề tài, hệ thống các tác giả, tác phẩm tiêu biểu, mốiquan hệ giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật…
“Phò giá về kinh” của Trần Quang Khải, “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão,
“Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu,… tiêu biểu cho nội dung yêu nước mang hào khí Đông A.” (Ngữ văn 10, tập 1, trang 105, 106).
- Giáo viên có thể đặt câu hỏi để làm nổi bật đặc điểm văn học từ thế kỉXVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX Ra đời trong một hoàn cảnh “xã hội phongkiến bị khủng hoảng trầm trọng” nhưng văn học giai đoạn này lại “phát
triển rực rỡ nhất trong quá khứ.” “Văn học phát triển mạnh cả về văn xuôi
và văn vần, cả chữ Hán và chữ Nôm “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn, “Cung oán ngâm” của Nguyễn Gia Thiều, thơ Hồ Xuân Hương, thơ
Bà huyện Thanh Quan, “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô Gia Văn Phái… Nguyễn Du với các tập thơ chữ Hán và đặc biệt là kiệt tác “Truyện Kiều” được coi là đỉnh cao nhất của văn học trung đại Việt Nam Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… vẫn tiếp tục tinh thần nhân đạo truyền thống.” (Ngữ văn 10, tập 1, trang 107).
Ví dụ 2: Về những đặc điểm cơ bản của văn học từ đầu thế kỉ XXđến năm 1945, bài dạy cần làm rõ những nội dung:
- Quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cáchmạng tháng 8 - 1945 đã diễn ra qua 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Từ đầu thế kỉ XX - khoảng năm 1920
+ Giai đoạn 2: Khoảng từ năm 1920 – năm 1930
+ Giai đoạn 3: Khoảng từ năm 1930 – năm 1945
- Sự phân hóa thành nhiều xu hướng văn học khác nhau Đại thể chia thành
2 bộ phận:
+ Bộ phận văn học công khai – phân hóa thành 2 xu hướng chính:
Văn học lãng mạn với các tác giả: Tản Đà, các nhà thơ mới, Hoàng NgọcPhách, Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam…
Văn học hiện thực với các tên tuổi: Hồ Biểu Chánh, Ngô Tất Tố, NguyễnCông Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao…
- Bộ phận văn học không công khai, gồm:
Trang 12 Thơ văn cách mạng bí mật, thơ ca trong tù với một số tác giả: Nguyễn ÁiQuốc, Tố Hữu, Sóng Hồng…
Thơ văn nửa hợp pháp gồm thơ văn vô sản thời kì Mặt trận dân chủĐông Dương 1935 – 1939 như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, HuỳnhThúc Kháng
- Văn học thời kì này có nhịp độ phát triển hết sức nhanh chóng, do 3nguyên nhân:
+ Do sự thúc bách của thời đại
+ Sự vận động tự thân của nền văn học dân tộc
+ Sự thức tỉnh, trổi dậy mạnh mẽ của cái tôi cá nhân
Về thành tựu văn học của thời kì này, bên cạnh việc cho học sinh tìmhiểu, làm việc với sách giáo khoa, giáo viên cần làm rõ:
- Văn học từ đầu thế kỉ XX đến 1945 một mặt tiếp tục phát huy nhữngtruyền thống tư tưởng lớn của văn học dân tộc các thời kì trước như lòngyêu nước, tinh thần nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng, mặt khác, văn họcthời kì này có những đóng góp mới Đó là truyền thống yêu nước gắn liềnvới tinh thần dân chủ Lòng nhân đạo trong văn học thời kì này gắn liềnvới sự thức tỉnh về ý thức cá nhân, sự đấu tranh với luân lý, lễ giáo phongkiến, sự thấm thía về nỗi thống khổ của con người trong xã hội thực dân…
- Thành tựu thứ hai của văn học thời kì này gắn liền với kết quả phát triểncủa các thể loại và ngôn ngữ văn học, Đó là sự phát triển mạnh mẽ củatruyện ngắn, tiểu thuyết, thơ với nhiều tên tuổi: Hồ Biểu Chánh, KháiHưng, Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, NamCao, Xuân Diệu, Thế Lữ, Huy Cận, Hàn Mặc Tử…
Lưu ý: Sau các bài lịch sử văn học ở các thời kì, giáo viên cần thiết cho
học sinh ôn tập các nội dung cơ bản sau:
- Tiến trình phát triển của văn học trong thời kì
- Các giai đoạn, các chặng phát triển của văn học
- Đặc điểm của bối cảnh lịch sử cả thời kì, từng giai đoạn
- Đặc điểm nội dung, hình thức của văn học
- Hệ thống các tác giả, tác phẩm chính…
b.2 Bên cạnh việc khắc họa một hệ thống tri thức cơ bản về lịch sử phát
triển của văn học trong từng giai đoạn, giáo viên cần chú ý coi trọng các kết luận, các đánh giá về vị trí của từng giai đoạn, thời kì trong toàn
bộ quá trình phát triển của văn học dân tộc Đó là những kết luận, nhận
định hết sức khách quan, tổng hợp, được diễn đạt vừa logic, khoa học, vừabiểu cảm, hàm súc, có tác dụng giúp học sinh hiểu được một cách toàndiện về đặc điểm, vị trí của văn học từ khi hình thành, phát triển, kết thúc.Các kết luận cũng còn là những đề bài làm văn nghị luận cho học sinh
Ví dụ 1: Giai đoạn văn học từ thế kỉ X - hết thế kỉ XIX: “Văn học chữ Nôm đặt những viên gạch đầu tiên trên con đường phát triển của văn
Trang 13học viết bằng ngôn ngữ dân tộc với một số bài thơ, bài phú Nôm” (Ngữ văn 10, tập 1, trang 106) Hoặc giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX: “Thơ ca trữ tình – trào phúng đạt được những thành tựu xuất sắc với những sáng tác của Nguyễn Khuyến, Tú Xương – hai tác giả lớn cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam” (Ngữ văn 10 , tập 1, trang 108)
Ví dụ 2: “Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng
8 – 1945 có vị trí hết sức quan trọng trong toàn bộ tiến trình văn học dân tộc: kế thừa tinh hoa truyền thống dân tộc trong suốt 10 thế kỉ, đồng thời
mở ra một thời kì văn học mới - thời kì văn học hiện đại, có khả năng hội nhập với nền văn học của thế giới.” (Ngữ văn 11, tập 1, trang 90).
Ví dụ 3: Khi đánh giá toàn diện về thời kì văn học Việt Nam từ 1945
– 1975, giáo viên cần lưu ý học sinh một số nét sau đây: “Văn học Việt Nam từ 1945 – 1975 đã kế thừa và phát huy mạnh mẽ những truyền thống
tư tưởng lớn của văn học dân tộc: chủ nghĩa nhân đạo, đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hung Văn học giai đoạn này cũng đạt được nhiều thành tựu về nghệ thuật ở nhiều thể loại, đặc sắc hơn cả là thơ trữ tình và truyện ngắn.
Văn học Việt Nam từ năm 1945 – 1975 phát triển trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn, vì thế, bên cạnh những thành tựu to lớn cũng còn một số hạn chế… Tuy vậy, thành tựu của văn học giai đoạn này là cơ bản
và to lớn.” (Ngữ văn 12, tập 1, trang 17).
2.3 Kiểu bài khái quát về tác giả, tác phẩm:
a Đặc điểm: Đây là kiểu bài dạy ngay sau bài khái quát về giai đoạn vănhọc Sự xuất hiện của tác giả văn học, nhất là những tác phẩm tiêu biểuđánh dấu sự phát triển của một thời kì, một giai đoạn văn học Bằng laođộng nghệ thuật, những nhà văn, nhà thơ, đặc biệt là những nhà văn, nhàthơ thiên tài đã góp phần hình thành hoặc hoàn thiện một thể loại, mộtkhuynh hướng
Ví dụ 1: “Quốc âm thi tập” gồm 254 bài, là tập thơ Nôm sớm nhất hiện còn Với tập thơ này, Nguyễn Trãi là một trong những người đặt nền móng và mở đường cho sự phát triển của thơ Tiếng Việt.” (Ngữ văn 10,
tập 1, trang 117)
Ví dụ 2: Về “Truyện Kiều” của Nguyễn Du: “Trên một nền tảng nhân đạo chủ nghĩa vững chãi, với tài năng điêu luyện, với sự lựa chọn thể loại truyện thơ kết hợp nhuần nhuyễn cả chất tự sự và chất trữ tình, với sự
am hiểu đồng thời cả ngôn ngữ bình dân cũng như ngôn ngữ văn học bác học, Nguyễn Du đã sáng tạo nên một kiệt tác độc nhất vô nhị của văn học trung đại Việt Nam.” (Ngữ văn 10 , tập 2 , trang 96).
Ví dụ 3: Trong thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, đặc biệt
là với “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”: “Có thể nói, lần đầu tiên trong văn học dân tộc, người nông dân nghĩa sĩ chống ngoại xâm đã được dựng một bức tượng đài nghệ thuật bất tử.” (Ngữ văn 11, tập 1, trang 60).
b.Phương pháp giảng dạy :