Trên cơ sở nhìn nhận thể loại thơ ca dân gian không thể đồng nhất với thơ ca bác học nên đề tài này nhằm tổng hợp những vấn đề lý thuyết thi pháp ca dao, phương pháp nghiên cứu văn học,
Trang 1TÍCH HỢP PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG GIẢNG DẠY
CA DAO NGỮ VĂN 10
I Đặt vấn đề
Nhìn lại thực trạng dạy học văn hiện nay ở trường phổ thông, vấn đề phát huy năng lực cảm thụ của học sinh chưa được quan tâm đúng mức Nhiều giáo viên vẫn còn xem học sinh là đối tượng tiếp thu kiến thức Chính vì thế mà học sinh trở nên thụ động, bị lệ thuộc vào giáo viên Điều này dẫn đến hệ quả là nhiều học sinh không có hứng thú với bộ môn này Theo khảo sát, nhiều học sinh học văn chỉ mang tính chất đối phó
Vấn đề mà các công trình về dạy - học tích cực luôn luôn quan tâm là dùng các phương pháp dạy học đa dạng, kiến thức phải được trình bày trong dạng động, nghĩa là giáo viên phải tổ chức cho học sinh hoạt động, dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh tri thức bằng chính hoạt động của chúng Bên cạnh đó, với vai trò dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh tri thức khoa học, người thầy cần phải chọn phương pháp giảng dạy tác phẩm văn học thích hợp với đặc trưng loại thể
Trên cơ sở nhìn nhận thể loại thơ ca dân gian không thể đồng nhất với thơ ca bác học nên đề tài này nhằm tổng hợp những vấn đề lý thuyết thi pháp ca dao, phương pháp nghiên cứu văn học, và phương pháp giảng dạy, làm cơ sở cho việc khảo sát thực tế, để tìm ra những thành công và hạn chế trong dạy - học ca dao theo hướng tích cực Từ đó, người viết đề xuất một số biện pháp phù hợp với lý
luận và thực tế, đồng thời thiết kế chùm “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa”, “Ca dao hài hước” ở lớp 10 theo hướng tích cực để dạy thể nghiệm nhằm
rút ra những kết luận khoa học cần thiết và hiệu quả sư phạm cho những thiết kế đó
Trong đề tài này, người viết chỉ giới hạn nghiên cứu trong chùm bài “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa” và “Ca dao hài hước” thuộc chương trình
ngữ văn 10 ban cơ bản
Trang 2Thực hiện đề tài này, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thực nghiệm
II Thực trạng của việc dạy và học các bài ca dao trong nhà trường
1 Hiện nay nền giáo dục nước ta đang thực thi việc đổi mới chương trình, SGK các cấp học Năm học 2006 - 2007, SGK Ngữ văn 10 mới chính thức đưa vào dạy học đại trà trên toàn quốc Trong cuốn SGK “Văn học 10, tập 1”(Sách chỉnh lý hợp nhất) NXB Giáo dục, 2000 có hai chùm bài ca dao: “Những câu hát thân thân”; “Những câu hát tình nghĩa” Cho đến năm 2006, SGK “Ngữ văn 10”(sách cơ bản) lại gộp hai chùm bài ca dao “Những câu hát than thân”; “Những câu hát tình nghĩa” thành chùm “Ca dao than thân yêu thương, tình nghĩa” và có thêm một chùm “Ca dao hài hước” Trong quá trình thực hiện chương trình SGK mới, giáo viên và học sinh không phải không gặp những khó khăn nhất định Năm
2012, theo chương trình giảm tải của bộ giáo dục, giáo viên chỉ giảng dạy 3 trong
số 6 bài thuộc chùm “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa” (cụ thể là bài 1, 4, 6); 2 trong số 4 bài thuộc chùm “Ca dao hài hước” (bài 1, 2) Các bài còn lại, GV hướng dẫn HS tự học Vì thế, yêu cầu người giáo viên phải thiết kế bài dạy sao cho học sinh cảm thụ được văn bản theo đúng đặc trưng thể loại (qua việc tìm hiểu một vài bài cụ thể có sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh có thể hiểu được ý nghĩa của các bài ca dao khác có cùng chủ đề), biết trân trọng vẻ đẹp tâm hồn người lao động
và yêu quý những sáng tác của họ Đồng thời, nếu giáo viên chỉ đơn thuần giảng dạy dựa trên văn bản ngôn từ, giáo viên dễ rơi vào tình trạng dạy “ướt giáo án” khi
áp dụng chương trình giảm tải
2 Trên thực tế, việc dạy ca dao trường THPT đã có nhiều thuận lợi (đa số học sinh yêu thích ca dao vì thể loại này có đặc điểm giản dị, dễ hiểu), song điều đó không có nghĩa là việc dạy học ca dao đã đạt được hiệu quả như mong muốn Nhiều giáo viên chỉ phân tích một cách cô lập trên văn bản ngôn từ mà không đặt tác phẩm vào đúng môi trường văn học dân gian để khai thác Điều này làm phức
Trang 3tạp hoá sự giản dị của ca dao Một tác phẩm ca dao thường không tồn tại độc lập
mà nó có tính hệ thống Chẳng hạn như bài ca dao than thân thì tồn tại trong hệ thống đề tài những câu hát than thân, trong hệ thống những bài ca dao có sử dụng cùng hình ảnh, cùng công thức mở đầu… Nhận thức được vai trò của phương pháp
hệ thống trong việc giảng dạy ca dao, Bộ Giáo dục đã định hướng phương pháp
giảng dạy trong sách giáo viên (2006): “Dạy bài này cần chú ý đến phương pháp
hệ thống trong việc tiếp cận ca dao: đưa bài ca dao vào hệ thống của nó để tìm
hiểu, cảm nhận; tức là dựa vào cái chung để hiểu cái riêng Ở từng bài cần tiến hành theo hai bước: a) Cho HS phát hiện những nét đặc sắc nghệ thuật của bài ca dao; b) Từ những nét đặc sắc đó, hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung ý nghĩa của bài
ca dao.” Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy, người viết nhận thấy một số giáo viên
vẫn chưa chú ý nhiều đến tính hệ thống của thể loại, nên thiết kế giảng dạy tác phẩm trong sách giáo khoa như một tác phẩm thơ Giáo viên hướng học sinh phân tích từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp nghệ thuật được sử dụng, từ đó rút ra ý nghĩa của bài
III Vận dụng phương pháp dạy học tích cực và phương pháp nghiên cứu hệ thống vào giảng dạy ca dao
1 Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm
- Dạy học lấy học sinh làm trung tâm là đề cao vai trò chủ động của người học nhưng không hạ thấp vai trò của người thầy Người thầy có vai trò thiết kế, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra quá trình dạy học nhưng không làm thay trò, học trò tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức, tự tổ chức, tự thi công và tự kiểm tra việc học dưới
sự chỉ đạo của thầy Đây là phương pháp tổ chức quá trình dạy học thành quá trình
tự học, quá trình cá nhân hóa và xã hội hóa việc học Phương pháp này có những đặc trưng sau:
Học sinh, chủ thể của hoạt động học, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, tức là cá nhân hóa việc học
Trang 4Học sinh tự thể hiện mình và hợp tác với bạn học làm cho kiến thức cá nhân mang kiến thức xã hội, tức là xã hội hóa việc học
Giáo viên là người tổ chức hướng dẫn quá trình tự học của học sinh phù hợp với môn học
Học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá và tự điều chỉnh việc học của mình dựa trên
sự định hướng của GV
- Yêu cầu cụ thể đối với giáo viên và học sinh:
Đối với giáo viên: Trước tiên giáo viên hướng dẫn cho học sinh tự tìm tòi kiến thức, sau đó định hướng cho từng cá nhân học sinh tổ chức tự học và can thiệp đúng lúc những vấn đề, tình huống khó khăn mà học sinh mắc phải Giáo viên có thể thực hiện điều này bằng cách giao đề tài, giới thiệu tài liệu, hướng dẫn học sinh tự lập kế hoạch thực hiện, định hướng chương trình làm việc, tổ chức cho học sinh tự thể hiện mình và hợp tác với bạn học, làm trọng tài hoặc cố vấn trong các cuộc tranh luận của học sinh và kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của học sinh Đối với học sinh: Đầu tiên học sinh phải tự tìm tòi, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, tự tìm ra tri thức mới Tiếp đến, tự thể hiện mình bằng lời nói hoặc văn bản, bảo vệ ý kiến của mình qua sự đối thoại với bạn bè và giáo viên Sau những kết luận của bạn bè và giáo viên, học sinh tự kiểm tra, đánh giá ý kiến của mình và tự sửa sai, điều chỉnh thành kiến thức đúng
2 Vai trò của phương pháp hệ thống trong tìm hiểu ca dao
Hệ thống là một tập hợp gồm nhiều thành tố Những thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và có quan hệ với môi trường xung quanh Văn học dân gian là một thành tố trong hệ thống văn hóa dân gian Bản thân văn học dân gian cũng là một hệ thống chứa nhiều thành tố Chính vì vậy, văn học dân gian cần được tiếp cận theo phương pháp hệ thống
Hiện nay, tiếp cận hệ thống được xem là một trong những phương pháp nghiên cứu thích hợp và có hiệu quả đối với văn hóa dân gian, văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng Ứng dụng phương pháp hệ thống trong nghiên cứu
Trang 5ta có thể tìm hiểu thông qua một đối tượng mà biết được nhiều đối tượng, phát hiện
ra nét đặc trưng của đối tượng nghiên cứu Đỗ Bình Trị cho rằng: “Đặt bài ca dao
bình giảng vào hệ thống của nó, ta sẽ dựa vào cái chung để hiểu được cái riêng, lấy sự hiểu về cái toàn thể để suy ra ý nghĩa cái bộ phận…” Vì ca dao là sáng tác
tập thể của người bình dân mang tư duy cộng đồng nên không thể dạy một cách cô lập trên văn bản ngôn từ Nếu xem một tác phẩm ca dao là thành tố của hệ thống văn hóa dân gian thì khi tìm hiểu phải đặt tác phẩm trong môi trường văn hóa dân gian Nếu xem tác phẩm ca dao là hệ thống bao gồm nhiều thành tố thì khi hướng dẫn HS đọc hiểu, GV cần hướng dẫn, tổ chức học sinh tự tìm ra các hệ thống như
hệ thống môtip, hệ thống biểu tượng, hệ thống các bài ca dao cùng sử dụng biện pháp tu từ giống nhau… rồi đặt bài ca dao trong hệ thống đó để phân tích
3 Thực nghiệm giảng dạy 2 bài ca dao trong chương trình ngữ văn 10 với phương pháp dạy học tích cực và phương pháp nghiên cứu hệ thống
3.1 Thực nghiệm giảng dạy bài ca dao:
“Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”(bài số 1) 3.11 Mục tiêu bài học
- Cảm nhận được nỗi niềm và tâm hồn của người bình dân xưa qua những câu hát than thân
- Nhận thức rõ thêm nghệ thuật đậm màu sắc dân gian trong ca dao
3.1.2 Tìm hiểu bài ca dao theo phương pháp hệ thống
Nghiên cứu bài ca dao: “Thân em như tấm lụa đào; Phất phơ giữa chợ biết
vào tay ai.” theo phương pháp hệ thống có nghĩa là đặt đối tượng trong nhiều hệ
thống khác nhau Trước hết là hệ thống đề tài, đặt trong hệ thống đề tài than thân
thì mới thấy được điểm chung và nét riêng của bài này Cụm từ mở đầu được xem
là một công thức ngôn từ mà người xưa dùng để than thở cho số phận của mình
Nó trở thành môtip than thân quen thuộc Vì thế, khi tiếp cận bài ca dao số 1 thì
phải đặt nó trong hệ thống môtip “thân em như ” Đồng thời, hệ thống biểu
Trang 6tượng trong văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng là sản phẩm của một nền văn hóa dân tộc, nên khi nghiên cứu ca dao không thể không xác định biểu tượng nên thơ được dùng trong bài ca ấy Ý nghĩa của một biểu tượng cụ thể mang
tính hệ thống nên khi nghiên cứu hình ảnh tấm lụa đào phải đặt nó trong hệ thống biểu tượng “tấm lụa đào” Về mặt nghệ thuật, nhờ so sánh tu từ (thể tỉ) mà thân
phận bị phụ thuộc của nhân vật “em” mới trở nên cụ thể, vì thế, người viết đã đặt
bài ca dao này trong hệ thống các bài ca dao theo thể tỉ
Ngoài ra, để làm sáng tỏ ý nghĩa và giá trị của bài ca dao này, người nghiên cứu còn có thể đặt chúng trong hệ thống văn hóa dân tộc, hệ thống dị bản… Đồng thời, cần phải xem xét bài ca dao là một hệ thống mà trong đó có chứa nhiều thành
tố, liên kết với nhau tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật độc đáo của người bình dân
* Hệ thống biểu tượng- biểu tượng lụa đào
Ngày xưa, lụa đào là loại lụa quý, được dệt từ chất liệu tốt, mình vải lụa mịn màng Thời bấy giờ, người bình dân chỉ được mặc vải thô, còn vải lụa dùng cho những người giàu sang, quý phái
Hình ảnh tấm lụa đào trong ca dao:
Em là con gái nhà giàu
Mẹ cha thách cưới ra mào sinh sao
Cưới em trăm tấm gấm đào, Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời (bài 1) Thân em như tấm lụa điều
Đã đông nơi chuộng lại nhiều nơi thương (bài 2)
Tình anh như nước dâng cao
Tình em như dải lụa đào tẩm hương (bài 3)
Trang 7Cả ba bài ca dao đều có sử dụng hình ảnh tấm lụa đào (lụa điều) Lụa đào dùng làm vật thách cưới của con gái nhà giàu (bài 1); hình ảnh được dùng để
khẳng định vẻ đẹp toàn mỹ của mình: “đông nơi chuộng”, “nhiều nơi thương”
(bài 2), để khẳng định tình cảm sâu đậm, nồng nàn (bài 3) Như vậy, trong ca dao, hình ảnh tấm lụa đào là biểu tượng cho vẻ đẹp hoàn hảo: vừa quý phái, sang trọng
vẻ bề ngoài, vừa tốt đẹp trong tâm hồn Cô gái ví mình như tấm lụa đào có nghĩa là
cô gái ý thức được vẻ đẹp của mình
* Hệ thống các bài ca dao mở đầu bằng công thức “Thân em như”, và các bài ca dao theo thể tỉ (so sánh tu từ)
Bảng liệt kê một số câu ca dao tiêu biểu có sử dụng lối so sánh bổ sung, dùng môtip “thân em”
Thân em
như/ Em
như
- con cá giữa
vời
- cánh bèo
- Quả bí trên
cây
- Cái cọc
rào
- Giếng
giữa đàng
- Hạt mưa
rào
Hạt mưa sa
- Lọn nhang
trầm
- Miềng cau
khô
Ai nhanh thì được chậm lời thì thôi
Theo chiều nước trôi
mẹ ngắt những ngày còn non
mọt thời anh đổi chớ sao anh phiền
người khôn rửa mặt người phàm rửa chân
hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa; vào đài các, ra ruộng cày
không cha, mẹ muôn phần cậy anh
kẻ thanh tham mỏng người thô tham dày
Thở than cho số phận
và chấp nhận tình cảnh
“trong nhờ đục chịu”
- Cánh bèo Gió dạt sóng dồi biết tấp Lo lắng cho tương lai
Trang 8trôi
- Cá trong
lờ
- Tấm lụa
đào
- Tấm
lụa đào
- Quả xoài
trên cây
- Trái bần
trôi
- Cánh buồm
trước gió
- đồng bạc
vào đâu?
Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu?
Đương đông buổi chợ không biết vào tay ai?
phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?
Rụng xuống biết vào tay ai?
Sóng dập gió dồi biết tấp vào đâu?
Biết đâu nhân nghĩa đặng vào gửi thân?
Lăng xăng buổi chợ biết gửi mình vào đâu?
hạnh phúc về sau
Con hạc đầu
đình
Muốn bay không cất nổi mình
mà bay
Phản kháng
người
con gái
sự vật bị phụ thuộc không
tự quyết định cuộc đời mình
tiếng nói than thân; tiếng nói chung của người phụ nữ trong xã hội phong kiến chứ không là nỗi lòng của riêng ai
Bảng 1 Đặt bài ca dao trong cùng hệ thống công thức ngôn từ: “thân em như”, chúng ta nhận thấy “thân em” là lời than thân của các cô gái trong xã hội xưa, chứ không phải là của một cá nhân Đặt trong bảng hệ thống, người đọc sẽ thấy được tiếng nói chung của các các bài ca dao cùng công thức và sắc thái riêng của bài ca dao đang là đối tượng đọc hiểu
Trong bài ca dao số 1, người phụ nữ ví mình như tấm lụa đào đẹp đẽ cao
sang quý phái biết bao Nếu như câu bát trong câu ca dao “Thân em như tấm lụa
điều; Đã đông nơi chuộng lại nhiều nơi thương” đã khẳng định vẻ đẹp ấy ở chỗ
“đông nơi chuộng”, “nhiều nơi thương” thì lối bổ sung của bài ca dao này lại gây
Trang 9bất ngờ “Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?” Cô gái thật sự có dự cảm về nỗi bất
hạnh, không làm chủ được cuộc đời mình Lối bổ sung là một tiếng thở dài ngao ngán, đồng thời cô gái cũng rất có ý thức giữ gìn phẩm hạnh của mình qua lối bổ sung này Người phụ nữ ví mình như tấm lụa đào thật ý vị: vừa cao sang, vừa tốt đẹp, vừa tươi tắn nhưng lại không làm chủ được đời mình, số phận chông chênh, không có gì đảm bảo Đây là cách nói độc đáo làm nổi bật thân phận bị phụ thuộc của người phụ nữ trong xã hội xưa
3.1.3 Vận dụng phương pháp dạy học tích cực để giảng dạy bài ca dao Hoạt động 1: Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà
GV yêu cầu học sinh:
- Tìm các bài ca dao có cùng lời mở đầu “thân em như”, rút ra điểm chung của các bài ca dao
- Sưu tầm khoảng 5 bài ca dao có sử dụng hình ảnh “Tấm lụa đào”, từ đó rút ra ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh này
- Xác định biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài ca dao và tác dụng của biện pháp đó
Hoạt động 2 Tiến trình đọc hiểu bài ca dao trên lớp
Bước 1:
Khởi động vào tìm hiểu bài ca dao bằng một trò chơi để tạo không khí cho lớp học Thể lệ chơi: giáo viên chia lớp học thành 2 đội chơi Mỗi đội sẽ lần lượt
cử đại diện đọc các bài ca dao có cùng công thức ngôn từ “thân em” Đội 1 đọc một bài, đến đội 2 tiếp lời, rồi quay lại đội 1…Cứ như thế đến khi nào đối phương không thể tiếp lời thì đội còn lại sẽ thắng (Giáo viên trao phần thưởng cho đội thắng cuộc)
Bước 2:
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc văn bản (Giáo viên cho học sinh nghe đĩa
ca dao và 1 số bài dân ca/ gợi ý cách đọc bài - đọc nhịp chẵn, giọng tha thiết)
Trang 10Bước 2: Tìm hiểu văn bản
- Giáo viên đặt ra câu hỏi: Cụm từ “thân em” gợi cho người đọc suy nghĩ
về điều gì? (định hướng: suy nghĩ đến thân phận đau khổ của nhân vật “em”)
- Giáo viên ghi lại một số bài ca dao có cùng công thức “Thân em như…”
lên bảng phụ mà học sinh đã đọc trong trò chơi khởi động và yêu cầu học sinh rút rút ra điểm chung của các bài ca dao (sau khi học sinh trình bày, giáo viên định
hướng nội dung: cụm từ “thân em như” không phải là tiếng nói của một cá nhân
mà là tiếng nói chung của người phụ nữ trong xã hội xưa)
- Giáo viên dẫn dắt học sinh tìm hiểu hình ảnh biểu tượng “tấm lụa đào”:
Giáo viên tiếp tục yêu cầu các nhóm trình bày phần sưu tầm các bài dao có cùng hình ảnh tấm lụa đào Từ đó rút ra ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh này
Sau khi học sinh trình bày, giáo viên đặt câu hỏi phát hiện: “Biện pháp nghệ
thuật được sử dụng chủ yếu trong bài ca dao này là gì? Tác dụng của biện pháp đó.” Khi học sinh đáp ứng được câu hỏi, GV nêu thêm vấn đề: “Câu thứ hai
là ý bổ sung cho hình ảnh được so sánh ở câu 1 làm cho nội dung của bài trọn
vẹn Ở ý bổ sung “phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.” Cho thấy cô gái ý thức về
điều gì?” (định hướng: Cô gái ý thức về thân phận bị phụ thuộc, không làm chủ
cuộc đời mình.)
- Giáo viên cho học sinh xem bảng hệ thống các bài có sử dụng môtip “thân em” (bảng 1, trang 8); giảng nhanh cho học sinh thấy đặt bài ca dao trong hệ thống sẽ thấy được tính chung và nét độc đáo của bài ca dao trên cơ sở đối chiếu so sánh
Hoạt động 3 Luyện tập, củng cố kiến thức
- Sau khi tiến hành bước đọc hiểu chùm bài ca dao than thân, tình nghĩa, GV phát cho học sinh một phiếu khảo sát theo hình thức trắc nghiệm, học sinh làm nhanh trong 5 phút để củng cố kiến thức (GV khơi gợi tính tích cực của HS bằng điểm số với 3 đến 5 HS làm nhanh nhất)