Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh khẳng định sự cam kết của mình đối với: - Sự tự chủ của trường trong việc đảm bảo tự do sáng tạo, thừa nhận tầm quan trọng của những ý tưởng,
Trang 1LỜI GIỚI THIỆU
Nâng cao chất lượng giáo dục đại học nói chung cũng như đại học sư phạm nói riêng đã và đang trở thành một trong những chủ trương lớn và mục tiêu của giáo dục Việt Nam hiện nay, được Đảng, Nhà nước, Bộ chủ quản và dư luận xã hội hết sức quan tâm Để có thể thực hiện được điều đó, các trường cần phải xác định rõ hơn mục tiêu, nhiệm vụ của mình trong giai đoạn mới trước những đổi thay đầy thách thức
Các trường đại học sư phạm trong cả nước hiện nay đang đứng trước các đòi hỏi phải đổi mới toàn diện về nhiều mặt Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập của đất nước, nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các trường sư phạm cần xây dựng rõ hơn các mục tiêu đào tạo trong tương lai Hội thảo này nhằm mục đích tìm ra tiếng nói chung của ngành sư phạm Việt Nam, cũng như giúp các nhà lãnh đạo, quản lý giáo dục, các nhà giáo xác định đúng hướng đi nhằm tìm ra mô hình của các trường sư phạm Việt Nam trong giai đoạn mới
Hội thảo bao gồm các nội dung chính như sau:
1 Triết lý, sứ mạng của trường ĐHSP: mục tiêu giáo dục và mục tiêu sư phạm, đào tạo giáo viên và đào tạo nguồn nhân lực, tính chất của trường ĐHSP trọng điểm (đào tạo giáo viên, mẫu, chất lượng cao)
2 Đào tạo Sư phạm và chất lượng người thầy: yêu cầu và mục tiêu của đào tạo Sư phạm Tiêu chuẩn của người giáo viên tương lai Những hình thức quản lý và đảm bảo chất lượng đào tạo giáo viên (chương trình, phương pháp giảng dạy, kiến tập, thực tập, cơ sở vật chất, chế độ chính sách)
3 Mô hình trường ĐHSP: mô hình đào tạo Sư phạm ở nước ta;
mô hình ĐHSP Việt Nam trong giai đoạn mới; hệ thống và tổ chức đào tạo giáo viên ở trường ĐHSP
Trang 2Ban Tổ chức Hội thảo xin được giới thiệu kỷ yếu của Hội thảo này đến toàn thể quý vị đến tham dự Hội thảo
Kỷ yếu bao gồm các phần chính như sau:
1 Triết lý, sứ mạng của trường ĐHSP
2 Đào tạo Sư phạm và chất lượng người thầy
3 Mô hình trường ĐHSP
4 Tài liệu tham khảo mô hình sư phạm các nước
Ban tổ chức Hội thảo xin trân trọng cám ơn Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và Viện Nghiên cứu Giáo dục đã tài trợ kinh phí tổ chức cho Hội thảo Ban Tổ chức cũng xin chân thành cám ơn tất cả quý vị đại biểu đã dành thời gian quý báu đến tham dự Hội thảo và góp phần cho Hội thảo được thành công Mong được sự góp ý của quý vị cho việc tổ chức Hội thảo cũng như cho nội dung của
kỷ yếu này để chúng tôi được rút kinh nghiệm cho các lần tổ chức sau được thành công hơn Các ý kiến đóng góp xin được gởi về:
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC
Trang 3PHẦN I TRIẾT LÝ, SỨ MẠNG CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC 2005-2009
DỰ THẢO
PGS TS Nguyễn Kim Hồng Trường Đại học Sư Phạm TPHCM
VAI TRÒ VÀ GIÁ TRỊ:
Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh mong muốn là cơ sở giáo dục có nhiệm vụ ứng dụng những kiến thức chuyên ngành trong khoa học cơ bản và khoa học sư phạm thông qua giảng dạy, nghiên cứu khoa học, các công trình nghiên cứu và các hình thức
về học vấn hướng tới việc học tập suốt đời
Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh khẳng định sự cam kết của mình đối với:
- Sự tự chủ của trường trong việc đảm bảo tự do sáng tạo, thừa nhận tầm quan trọng của những ý tưởng, sự tự do về trí tuệ của đội ngũ cán bộ và sinh viên để theo đuổi nghiên cứu, tím tòi một cách tốt nhất để xác định các mối quan hệ giữa các bộ phận trong nhà trường và làm cơ sở cho các tiêu chuẩn cao về hành vi đạo đức
- Hiểu biết những nhu cầu và kỳ vọng của đối tượng mà nhà trường phục vụ với tinh thần trách nhiệm cao đối với người học nói riêng và xã hội nói chung
- Tính trung thực, lòng khoan dung và sự tôn trọng là những đặc trung của nhà trường Nhà trường cố gắng không ngừng tăng cường chất lượng cũngnhư cách thức cung cấp dịch vụ của mình và tạo điều kiện cho mọi đối tượng muốn tiếp cận dịch vụ đó
XÂY DỰNG KẾ HỌCH CHO SỰ THAY ĐỔI
Kế hoạch này vạch ra các mục đích trọng tâm v2 mục tiêu chiến lược cụ thể cho thời kỳ
kỷ niệm 30 năm thành lập Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh (1976-2006) và
50 năm ngày thành lập Trường Su phạm Sài Gòn (1957-2007)- tiền thân của Trường Đại học
sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Kế hoạch này cũng vạch ra các kế hoạch chiế`n lược cho giai đọan 10 năm sắp tới, được bổ sung bằng các bản kế hoạch cụ thể hơn ở các khoa, Viện Nghiên cứu Giáo dục và cấp bộ môn cùng với việc hình thành các bản kế hoạch hành động chi tiết khác
Bảb kết hoạch chiến lược này được xây dựnbg trên cơ sở những kết quả đạt được của bản kết hoạch đầu tiên 2000-2010 nhưng sẽ đề cập đếng những ưu tiên mới về chiến lược Nó giúp cho việc đánh giá lại các kết quả họat động hàng năm và tạo một phần giá trị trong các báo cáo công khai của nhà trường
NHỮNG MỤC ĐÍCH TRỌNGTÂM CHỦ YẾU
Trang 5Mục đích 1: Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu duy trì và nâng
cao vị trí của mình với tư cách là nhà cung cấp xuất sác các dịch vụ đào tạo đại học và sau đại học với chất lược cao ở các tỉnh phía Nam cũng như tòan Việt Nam
Mục đích 2: Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục cung cấp các
dịch vụ học ctập cho sau trunghọc phổ thông, đại học , sau đại học cho mọi đối tượng ó nhu cầu học tập
Mục đích 3: Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh sẽ xây dựng và phát triển
danh tiếng của mình bắt đầu từ những nghiên cứu chuẩn về đào tạo sư phạm (giáo viên và nghiên cứu viên)
Mục đích 4: Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục khẳng định
tên tuổi của mình với tư cách là một trường sư phạm trọng điểm ở Việt Nam và hường tới một
vị trí cao trong lĩng vực sư phạm giáo dục Đông Nam Á và thế giới
Mục đích 5: Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu trở thành một
tổ chức giáo dục họat động có hiệu quả, có tinh thần trách nhiệm cao, đáp ứng những yêu cầu học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên và đội ngũ cán bộ, cam kết đảm bảo chất lượng cho tất cả các họat động của mình
Mục đích 6: Bằng cách cungcấp kiến thức, cơ hội và sự khuyến khích, Trường Đại học
sư phạm thành phố Hồ Chí Minh sẽ duy trì và nâng cao vị trí của mình như là một trường dẫn đầu trong việc đóng góp các quan điểm và ý tưởng về giáo dục và văn hóa, nâng cao vai trò giáo dục và vị thế người thâỳ trong cộng đồng mà trườn phục vụ
BỐI CẢNH BÊN NGOÀI:
1.Hướng tới kỷ niệm thành lập trường:
Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh kỷ niệm 30 năm thành lập Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và 50 năm thành lập trường Sư phạm Sài Gòn vào năm
2006 và 2007, đây là dịp để trình bày các đóng góp của nhà trường đối với đất nước và thể hiện các hướng đi của Trường trong tương lai Họat động kỷ niệm này là cơ hội để trường tự đánh giá sự tiến bộ của mình để hướng tới tương lai với một tầm nhìn và sự đổi thay đáng kể
2.Bối cảnh Việt Nam:
Giáo dục VIệt Nam đangcó sự thay đổi lón để bắt kịp nền kinh ết thị trường Nhiều trường ngoài công lập được thành lập và có thể một số trường công lập sẽ chuyển đổi sang loại hình ngoài công lập Nhu cầu học tập của người Việt Nam còn rất lớn, “thị trường giáo dục”, nhất là giáo dục đại học đang trong giai đọan cung không đủ cầu Viện Nam bắt đầu phải cạnh tranh với các nước trên thế giới trong việc đào tạo giáo viên không chỉ ngoài mà còn ngay trên đất nước mình
3.Vị trí Quốc tế:
Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh mong muốn là trường đứng đầu trong khu vực Nam bộ về đào tạo giáo viên có trình độ cao, đạt chuẩn mực Việt Nam và hướng tới chuẩn giáo viên trong khu vực, xa hơn nữa là đạt chuẩn trình độ đào tạo giáo viên của các nước tiên tiến Chuẩn Quốc tế là hướng mà Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh hướng tới trong tương lai
4 Những thay đổi trong quản lý giáo dục đại học ở Việt Nam
Sự thay đổi đangq kể trong quản lý trong lĩnh vực quản lý đại học đã tác động lớn đến các đại học Việt Nam trong đó có Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh Quyền
Trang 6chủ động trong đại học Việt Nam đang được xác lập và một trong những quyền quan trọng là chủ động xây dựng chương trình học tuyển sinh, nghiên cứu khoa học và tài chính Các trường đại học có quyền chủ động một phần kinh phí như Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh sẽ có điều kiện đầu tư hiệu quả cho các họat động của mình Hàng năm với mức khóan chỉ tiêu ngân sách trong 3 năm và tăng kinh phí hàng năm cao hơn mức tăng GDP cùng chính sach 1đầu tư cho các trường trọng điểm đã tạo cơ hội cho sự phát triển của trườngt Mặt khác, các họat động đào tạo khoa học cơ bản cũng được chú trọng và chúng sẽ góp một phần kinh
phí không nhỏ cho các họat động của trường
5.Sự cạnh tranh Quốc tế và tàn cầu hóa
Hội nhập trong xu thế cạnh tranh và tòan cầu hóa không trừ một lĩnh vực nào, trong đó
có giáo dục, Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh cần phải hiểu rõ điều này và cần phải có chiến lược cạnh tranh trên nhiều lĩnh vực, thu hút sinh viên giỏi vào trường, thu hút đội ngũ giảng viên và công chức giỏi, phấn đấu là nhà cung cấp giáo viên chất lượng cao cho các trường phổ thông có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
6.Các trường đại học trong thiên niên kỷ thứ 3
Sức ép của tòan cầu hóa, của công nghệ thông tin và truyền thông tác động ngày càng mạnh mẽ lên mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có giáo dục Sụ phát triển của công nghệ thông tin đã tạo ra tiềm năng mới cho việc học tập của sinh viên và giảng dạy của giáo viên Một sự thay đổi lớn trong lĩnh vực giảng dạy và học tập từ cơ sở vật chất, đến chương trình ,
cơ hội học tập, sự sáng tạo và tự chủ trong học tập của sinh viên
Việc sử dụng công nghệ thông tin trong giáo dục cần dực trên cơ sở làm tăng sự tương tác giữa giảng viên và sinh viên, giữa sinh viên với sinh viên để tăng cơ hội giao tiếp trực tiếp với những vấn đề khoa học của môn học và vì thế nó sẽ khuyến khích việc học tập theo chiều sâu của sinh viên
7.Chất lượng và tính chịu trách nhiệm
Nhà trường trong bất cứ xã hội và thời đại nào cũng phải cam kết bảo đảm chất lượng đào tạo và chịu trách nhiệm về sự đào tạo của mình Nhà trường chịu trách nhiệm trong việc xây dựng kế hoạch chiến lược, những mục đích trọng tâm nhằm bảo đảo chất lượng của mình với hiệu quả cao nhất
BỐI CẢNH BÊN TRONG
Hướng tới một đại học đa ngành
Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh hiện đã có thêm 4 ngành đào tạo cử nhân ngoải danh mục đào tạo truyền thống Hiện nay, Trường hướng tới việc xây dựng nhiều ngành học khác song song với việc đào tạo giáo viên.Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh cam kết trong một thời gian ngắn sẽ chuyển đổi cách đào tạo giáo viên với việc đào tạo
cử nhân khoa học và cử nhân sư phạm Cử nhân sư phạm cò thể tuyển ngay từ đầu và loại bỏ những sinh viên không có khả năng hoặc không thích hợp với nghề sư phạm sau năm thứ 3 và tuyển sinh tốt nghiệp các ngành cử nhân khoa học đào tạo tiếp 2 năm để lấy bằng cử nhân sư phạm
Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh tổ chức đào tạo giáo viên cho mọi bậc học từ mần non đến trung học, giáo viên cho các trung tâm trẻ khuyết tật và cán bộ quản lý giáo dục
Sinh viên Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh được sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông của trường, hệ thống phòng thí nghiệm, giúp cho
Trang 7việc học tập của sinh viên linh họat hơn Để hỗ trợ cho việc học tập này, một trung tâm phát triểnchuyên môncủa sinh viên (Academic Development Centre) và phòng sử dụng công nghệ mới trong giảng dạy và học tập (a New Technologies in Teaching and Learning Unit) sẽ được thành lập và đưa vào họat động ngay trong những năm đầu của giai đọan kế hoạch chiến lược này
Thay đổi cách quản lý để phát triển giai đọan
Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh sẽ phân cấp quản lý họat động đào tạo
và nghiêncứu khoa học cho các đơn vị trực thuộc trường( Trường trunghọc thực hành, Viện Nghiên cứu giáo dục và trung tâm trẻ khuyền tật Thuận An) Các đơn vị này chịu trách nhiệm
về mặt quản lý nhân lực và tài chính Trường sẽ tiếp tục duy trì cách thức này và đặt hiệu quảcông việc lên trên hết khi đánh giá các họat động của các đơn vị thành viên
Ký túc xá, các Trung tâm Ngoại Ngữ, Tin học và Trung tâm bồi dưỡng văn hóa sẽ chịu
sự chỉ đạo trực tiếp của các Phó Hiệu Trưởng Các đơn vị này chịu trách nhiệm về kinh phí và được giao quyền chủ động , tự chủ về nhân sự và các mối quan hệ kinh doanh dịch vụ giao 1dục cũng như các họat động khác được quy định trong Qui chế họat động của đơn vị
Hội đồng khoa học và đào tọa Trường chịu trách nhiệm về chương trình học, định hướng các nghiên cứu, thông qua kế hoạch đào tạo và ngân sách hàng năm của trường, duyệt
và phân bổ kinh phí cho các đề tài nghiên cứu khoa học
Hội đồng trường sẽ giúp Hiệu trưởng thông qu akế hoạch hciến lược, qui hoạch cán bộ, thông qua các chức danh quản lý cấp trường, thông qua chương trình khung đào tạo đại học
Tạo ra và sử dụng các nguồn lực
Trong bối cảnh hiện nay và tương lai, Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh vẫn được Nhà nước bao cấp một phần các họat động đào tạo giáo viên Tuy nhiên , khi thực hiện Nghị định 10,, các đại học phải năng động trong việc tìm kiếm các nguồn thu ngoài ngân sách
Trướng có kế hoạch cùng các trung tâm, các đơn vị có thu cố gắng đảm bảo một phần kinh phí họat động của trường Nguồn thu ổn định là đào tạo các hệ ngoải sư phạm, đào tạo chuyên tu, tại chức, đào tạo theo địa chỉ và đào tạo ngắn hạn Kế tiếp là nguồn thu từ họat động bồi dưỡng Ngoại ngữ (TT ngoại ngữ), Trung tâm bồi dưỡng văn hóa và luyện thi, Trung tâm Tin học Các nguồn thu khác không đem lại lợi ích vật chất cho Trường như nguồn thu từ Trường THTH và ký túc xá
Nhà trường cam kếtt dành một phần kinh phí thích đáng cho việc học tập nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ công chức Việc nghiên cứu đổi mới chương trình học cũng được đặt lên hàng đầu Nhà Trường đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục trong chiến lược này
Nghiên cứu khoa học và thư viện
Ưu tiên hỗ trợ cho tất cả các nghêin cứu khoa học của cán bộ và sinh viên, đặc biệt là nghiên cứu khoa học giáo dục
Mạng internet của trường đã đựoc nâng cấp thường xuyên, đủ để đáp ứng nhu cầu học tập và tra cứu của sinh viên Thư viện nhà trường đã được nối mạng và chuẩn bị cho việc số hóa thư viện Sinh viên của trường và sinh viên của các đại học khác có thể mượn tài liệu tại thư viện trường Việc số hóa sẽ đáp ứng những nhu cầu đào tạo từ xa, đào tạo chuyên tu, tại chức và trực tuyến không những các địa phương Việt Nam mà cả ở nước ngoài
Nhiều tài liệu bằng tiếng Việt, nhiếu giáo trình của cqác trường đại học nổi tiếng trên thế giới đã được mua, một số giáo trình có tính chất nghiệp vụ sư phạm đã và đang được dịch
Trang 8Quan hệ với các sở giáo dục đòa tạo và các đối tác:
Việc đào tạo các ngành khoa học cơ bản và sư phạm sẽ tạo điều kiện để Trường Đại học
sư phạm thành phố Hồ Chí Minh hợp tác chặt chẽ với các sở giáo dục và đào tạo và các cơ sở
sử dụng lao động khác Nhà trường đảm bảo rằng các sản phẩm của mình, sinh viên tốt nghiệp ngành sư phạm sẽ là những giáo viên đạt chất lượng cao trong các trường phổ thông Trường sẽ hợp tác với các sở giáo dục của các địa phương để giải quyết những vấn đề thực tiễn và lý luận đặt ra đối với giáo dục và những vấn đề hợp tác đào tạo đại học và sau đại học… cho các địa phương
Đối với sinh viên
Nhà trường thông qua các họat động của mình sẽ hỗ trợ sinh viên trong cáchọat động tư vấn học tập, chăm sóc sức khỏe và tư vấn việc làm
Nhà trường sẽ hỗ trợ một cách mạnh mẽ các họat động của sinh viên Đại diện Đòan thanh niên và Hội sinh viên học sinh sẽ có những tiếng nói nhất định đối với họat động của trường trong việc phát triển đường lối, chính sách đối với sinh viên và cung cấp sự phản hồi
về chất lượng của việc cung cấp giáo dục
MỤC ĐÍCH TRỌNG TÂM SỐ 1:
Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh duy trì và nâng cao vị trí của mình với tư cách là nhà cung cấp xuất sắc việc giảng dạy đại học và sau đại học với chất lượng cao ở các tỉnh phía nam cũng nhu toàn Việt Nam
Những thông tin ngắn gọn:
Ngày 06 tháng 09 năm 2004, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chũ nghĩe Viêt Nam đã
có công văn gửi Bộ Giáo dục và đào tạo đồng ý xây dựng một số cơ sở đại học trọng điểm (14
cơ sở) trong đó có Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh được Chính phủ Việt Nam quy hoạch là một trong hai trường đại học trọng điểm
Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh hiện đang dào tạo 18 khoa và 26 ngành đào tạo đại học, ngành đào tạo thạc sĩ, ngành đào tạo tiến sĩ
Tỷ lệ sinh viên/cán bộ giảng dạy hiện nay là… và đạt quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo Từ năm 1997, nhà trường đã phát động đổi mới phương pháp giảng dạy, nhiều khoa đã tích cực ủng hộ vịêc đổi mới này Năm 2003 và 2004, công ty Intel đã cùng với trường tổ chức các khóa đào tạo cho giáo viên và sinh viên về những thay đổi trong thế giới công nghệ
và thông thi thuộc chương trình “Intel teach to Future”
- Thúc đẩy đổi mới giảng dạy và học tập hướng tới sự thay đổi chất lượng giảng dạy và học tập Mọi họat động hướng tới sự thay đổi chất lượng giảng dạy và học tập đều được hỗ trợ bởi mọi nguồn lực và được công nhận thỏa đáng
Trang 9- Đưa công nghệ truyền thông và thông tin vào dạy học; phấn đấu để cung cấp môt môi trường tinh thần và vật chất thuận lợi cho các bộ giảng dạy và sinh viên học tập và nghiên cứu khoa học
- Thu hút, phát triển và khen thưởng các cán bộ có trình độ chuyên môn tốt Nhà trường cam kết cung cấp các cơ hội để giảng viên của trường phát triển giảng dạy
Các chiến lược tiếp tục tiến hành:
- Cung cấp một chương trình cho sinh viên tài năng, các kế hoạch về học bổng, các kết hoạch đặc biệt dành cho các sinh viên bị thiệt thòi; đảm bảo các dịch vụ hỗ trợ sinh viên; theo dõi, giám sát tỷ lệ sinh viên lên lớp, tỷ lệ sinh viên thi đậu các học phần
- Đánh giá việc giảng dạy của cán bộ giảng dạy cùng với việc xem xét lại các chương trình
- Cung cấp trên phạm vi rộng các giáo trình giảng dạy; thường xuyên xem xét lại các chương trình học với sự đóng góp của sinh viên tốt nghiệp và các chuyên gia trong lĩnh vực
mà nhà trường đào tạo
- Gắn việc đo lường chất lượng giảng dạy với cơ chế thu chi tài chính nội bộ, cung cấp đầu tư đáng kể cho công nghệ thông tin Bảo đảo rõ ràng trong việc công nhận các khen thưởng giảng dạy và trong việc quyết định bổ nhiệm cũng như thăng cấp
- Cungcấp thêm ngân sách để hổ trợ triển khai công tác đổi mới phương pháp giảng dạy
- Hợp tác với các tổ chức khác để triển khai các nguồn lực dựa trên cơ sở thông tin nhằm hỗ trợ giảng dạy và học tập, thực hiện một chiến lược học tập linh họat Tăng cường cho sinh viên tham gia công nghệ thông tin
- Xây dựng các phòng học đa phương tiện
- Xây dựng trung tâm học liệu và xây dựng phần mềm giáo dục Việc phát triển phần mềm giáo dục đã và đang được các đại học Việt nam chú trọng Trong những năm đầu, Trung tâm học liệu chủ yếu đi vào hướng dẫn các bộ sử dụng các phần mếm tiếng Việt và Việt hóa cac phần mếm nước ngoài có thể cho giáo viên viết bài giảng chuẩn bị cho một chương trình E-Learning Những năm tiếp theo, trung tâm sẽ hướng đến việc xây dựng các phần mềm ứng dụng và sản xuất các học liệu phục vụ giảng dạy và học tập của sinh viên
MỤC ĐÍCH TRỌNG TÂM SỐ 2:
Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục cung cấp việc học tập cho sau trung học phổ thông, đại học và sau đại học cho mọi đối tượng có nhu cầu học tập
Những thông tin ngắn gọn
Mọi sinh viên trên lãnh thổ Việt Nam có nhu cầu học tập để trở thành các nhà sư phạm
và các nhà nghiên cứu khoa học cơ bản đều có cơ hội học tập tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Với những người không có điều kiện học tập tập trung, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh cũng có thể cung cấp các cơ hội học tập cho các bạn dưới hình thức học chuyên tu, tại chức và đào tạo từ xa, trước mắt là ở bậc đại học và sau đại học
Các học sinh học xong trung học phổ thông, nếu chưa có đủ các điều kiện vào các trường đại học và cao đẳng có thể theo học các khóa ngắn hạn để bổ sung kiến thức Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh còn cung cấp các dịch vụ học tập cho học sinh phổ thôngvà mọi người có nhu cầu học ngoại ngữ và tin học
Trang 10Trung tâm ngoại ngữ của trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh tự hào là nơi có đông học sinh lựa chọn theo học để nâng cao trình độ ngoại ngữ và tin học
Hiện nay, sinh viên theo học tại trường đa phần là nữ giới và nhiều học sinh từ vùng nông thôn lần đầu tiên đến đô thị Các sinh viên này có nhiều khó khăn trong học tập, trong sinh hoạt và điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập Đặc biệt, những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đôi khi phải vừa lao động thêm để tự kiếm sống vừa duy trì việc học tập trong khi nhà trường hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu về chỗ ở và tìm kiếm việc làm thêm cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn
- Cung cấp các dịch vụ học tập với thời gian và giá cả phù hợp
- Cố gắng để các sinh viên từ các tỉnh thành về có thể có được chỗ ở để duy trì việc học tập có kết quả
Các chiến lược đang được tiến hành
- Nhà trường sẽ tiếp tục duy trì chế độ tuyển theo khu vực trong lĩnh vực đào tạo đại học
- Cung cấp các dịch vụ để cộng đồng và sinh viên có thể học tập thêm như trung tâm ngoại ngữ, trung tâm tin học
- Có các trung tâm tư vấn việc làm và hướng nghiệp cho học sinh và phụ huynh Hiện nay các chương trình này đang được nhà trường cung cấp miễn phí
- Duy trì cơ chế tài chính với sinh viên có điều kiện khó khăn hoặc những sinh viên thuộc diện chính sách
Các chiến lược cho năm 2006 và tiếp theo
- Kiến nghị với Bộ giáo dục và đào tạo, Bộ tài chính về việc cho sinh viên vay tiền học tập
- Tìm kiếm các học bổng và nhà tài trợ cho sinh viên sư phạm
- Xây dựng quỹ khuyến học để giúp sinh viên nghèo vượt khó
- Thành lập trung tâm hổ trợ việc làm cho sinh viên
- Cung cấp với giá rẻ một chương trình xóa mù cho sinh viên về công nghệ thông tin và ngoại ngữ Sinh viên có thể sử dụng tối đa mạng của trường để theo học các lớp học online trên mạng
MỤC ĐÍCH TRỌNG TÂM SỐ 3:
Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh sẽ phát triển danh tiếng của mình bắt đầu từ những nghiên cứu sư phạm và giáo dục, nghiên cứu cơ bản và ứng dụng theo tiêu chuẩn đã được công nhận chuẩn về giáo viên các bậc học và các nghiên cứu viên
Những thông tin ngắn gọn
Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh có một truyền thống lâu đời về mặt đào tạo giáo viên Hiên nay, trường có một Viện nghiên cứu giáo dục với nhiều cán bộ nghiên
Trang 11cứu có trình độ cao, có nhiều trung tâm có thể đảm bảo việc nghiên cứu giáo dục mọi cấp học Viện nghiên cứu giáo dục có hơn 30 nghiên cứu viên và nhiều công tác viên là những nhà giáo dục danh tiếng tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh còn có một khoa Tâm lý giáo dục Ở đây nhiều đề tài nghiên cứu giáo dục đã được triển khai và ứng dụng có hiệu quả Hiện khoa
có một đội ngũ cán bộ trong tuổi đầu sung sức, sáng tạo
Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh cũng có tất cả các ngành học bậc học,
có thể triển khai nghiên cứu và ứng dụng một cách tốt nhất và nhanh chónh nhất
Các khoa có nhiều cán bộ giảng dạy có trình độ khoa học cao nhưng chưa thực sự phát huy ưu thế của mình trong nghiên cứu khoa học cơ bản trừ một số ngành có truyền thống như Toán và Ngôn ngữ (Tiếng Việt)
Các mục tiêu cụ thể
- Khuyến khích nghiên cứu khoa học ở trình độ quốc gia trong lĩnh vực sư phạm
- Xác định các lĩnh vực nghiên cứu cần ưu tiên, đó là : Nghiên cứu nghiệp vụ sư phạm, cải cách chương trình học, thay đổi phương pháp dạy học, ưu tiên nghiên cứu cơ bản
- Thu hút, khen thưởng cán bộ có thành tích trong nghiên cứu khoa học Công nhận và
đề cao các công trình nghiên cứu khoa học thực sự có giá trị và đóng góp cho danh tiếng của trường (thưởng thêm các công trình được giải của các khoa học chuyên ngành, tăng lương sớm…)
- Tạo điều kiện cho cán bộ giảng dạy và cán bộ nghiên cứu đăng tải và công bố các công trình khoa học của họ Nhà trường có trách nhiệm phổ biến các nghiên cứu có giá trị
- Thu hút các sinh viên giỏi tham gia nghiên cứu khoa học Cung cấp các điều kiện cho sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học
- Xây dựng quan hệ với các tổ chức nghiên cứu khoa học trên thế giới Tăng cường hợp tác nghiên cứu với các đại học trên thế giới
- Khen thưởng những cán bộ có thành tích trong hướng dẫn học viên cao học và nghiên cứu sinh, nhất là với những cán bộ có khả năng đào tạo những học viên cao học và nghiên cứu sinh trở thành cán bộ nghiên cứu và giảng dạy giỏi
Các chiến lược đang được tiến hành
- Thưởng cho cán bộ nghiên cứu có đề tài được đánh giá cao và hoàn thành đúng thời hạn
- Tổ chức nghiên cứu khoa học giáo dục với các địa phương theo đơn đặt hàng
- Sẵn sàng hổ trợ cán bộ trẻ đi sâu nghiên cứu khoa học giáo dục và ứng dụng giáo dục
- Giảm học phí và miễn trong một số trường hợp sinh viên muốn học thêm về ngoại ngữ
và tin học
- Tổ chức cho cán bộ và sinh viên năm cuối học ngoại ngữ chuyên sâu đễ sãn sàng trong việc nghiên cứu, hợp tác khoa học và đào tạo
- Hàng năm tổ chức cá hội nghị khoa học trong sinh viên
- Một số khoa tổ chức hội nghị khoa học cán bộ trẻ hàng năm hoặc 2 năm một lần
Các chiến lược cho năm 2006 và tiếp theo
- Hỗ trợ tích cực hơn cán bộ trẻ nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học
Trang 12- Mở cá lớp nâng cao trình độ ngoại ngữ cho sinh viên và cán bộ trẻ
- Có chính sách rõ ràng hơn trong việc khuyết khích nghiên cứu khoa học giáo dục
- Phối hợp chặt chẻ giữa Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương trong cả nước tiến hành các nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục
- Tạo điều kiện cho cán bộ giảng dạy tham gia nghiên cứu khoa học cũng như tạo điều kiện cho cán bộ nghiên cứu của Viện nghiên cứu giáo dục của trường tham gia giảng dạy đại học, cao học và nghiên cứu sinh
- Mở quỹ hổ trợ tài năng trẻ nghiên cứu khoa học
- Tạo điều kiện cho sinh viên giỏi có thể theo học các bậc học cao hơn ngay sau khi tốt nghiệp
MỤC ĐÍCH TRỌNG TÂM SỐ 4:
Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục khẳng định tên tuổi của mình với
tư cách là một trường sư phạm trọng điểm ở Việt Nam và hướng tới một vị trí cao trong học thuật sư phạm khu vực Đông Nam Á và thế giới
Những thông tin ngắn gọn
Hiên nay Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh là trường sư phạm hàng đầu trong các tỉnh phía Nam Trường có nhiều ngành học, có Viện Nghiên cứu giáo dục, Trường Trung học thực hành, Trung tâm Trẻ khuyết tật Thuận An Đó là những cơ sở thực hành sư phạm của trường
Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh hiện có gần 500 cán bộ giảng dạy và nghiên cứu, trong đó gần 30% cán bộ có trình độ tiến sỹ, 70% cán bộ có trình độ thạc sỹ Trong những năm gần đây, trường đã giữ lại nhiều sinh viên giỏi để thay thế đội ngũ cán
bộ đến tuổi nghỉ hưu do những kho khắn nhất định đã không theo học ở các bậc học cao hơn Trường còn có phòng thí nghiệm, nhiều phòng học mutimedia có thể tổ chức dạy học theo các phương pháp thích hợp có chất lượng cao
- Đảm bảo sự tối ưu của nhà trường trong các hợp tác về nghiên cứu và đào tạo quốc tế
- Tự khẳng định mình là nhà cung cấp chủ yếu các chương trình giáo dục, nghiên cứu ứng dụng và triển khai các sản phẩm giáo dục trong vùng
Các chiến lược đang tiến hành
Trang 13- Các dự án hợp tác quốc tế trong đào tạo tiếng Anh
- Các dự án về đào tạo ngoại ngữ cho sinh viên các trường đại học Trung Quốc, dự án hợp tác với các trường đại học của Cộng Hòa Czech
- Tăng cường học tập ngoại ngữ cho cán bộ giảng dạy và cán bộ nghiên cứu
- Ưu tiên cử cán bộ học tập ở nước ngoài
- Mời chuyên gia trong một số lĩnh vực dạy tiếng nước ngoài như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung và tiếng Nga
- Mời chuyên gia một số ngành mới như giáo dục đặc biệt
- Cử cán bộ tham gia giảng dạy và hợp tác với các đại học Thụy Điển, thực tập Vật Lý, Toán ở Pháp
Các chiến lược cho năm 2006 và tiếp theo
- xem xét lại hiệu quả các hợp tác song phương về đào tạo, tăng cường thêm quan hệ phối hợp nghiên cứu
- Tập trung chiến lược hợp tác và phát triển vào các nước đang có quan hệ tốt như Pháp, Trung Quốc, Úc và hướng tới các nước Đông Nam Á
- Cố gắng tạo ra ưu thế trong việc cung cấp các chương trình, giáo trình và việc học tập trực tiếp trên mạng
- Tăng cường tối đa để trường có thể phát triển hợp tác quốc tế vào năm 2005 và 2006 qua chương trình hợp tác đào tạo cao học công nghệ đào tạo với dại học Caen
MỤC TIÊU TRỌNG TÂM SỐ 5:
Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu thành một tổ chức có hiệu quả, có tinh thần trách nhiệm cao, đáp ứng những yêu cầu học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên và đội ngũ cán bộ, cam kết bảo đảm chất lượng với tất cả các khía cạnh và các hoạt động của mình
Những thông tin ngắn gọn
Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã có những thành công nhất định trong việc xây dựng chương trình đào tạo một số ngành mới như cử nhân ngoại ngữ Việc công khai hoá các hoạt động tài chính, thu hút mọi nguồn tài chính có thể có vào các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và đặc biệt là duy trì và làm tăng phần thu nhập của cán bộ công chức
Một phần kinh phí đã được tạo lập và giúp cho việc nâng cao trình độ của cán bộ công chức Các khuyến khích bằng vật chất và khen thưởng trong nhiều năm qua đã giúp cho cán
bộ trong trường phần nào an tâm khi theo học các chương trình nâng cao trình độ chuyên môn các khuyến khích về mặt vật chất cũng đã giúp cho trường ngày một phát triển với các hoạt động của Công Đoàn và Đoàn thanh niên cộng sản Giúp các lớp trưởng hoàn thành vai trò của mình
Ngoài ra sự giúp đỡ về vật chất, Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua đã thực sự làm việc có hiệu quả các chương trình xã hội như xây nhà tình nghĩa, giúp các trường phổ thông còn gặp nhiều khó khăn…
Các mục tiêu cụ thể
Theo đuổi các mục đích về hiệu quả, Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh sẽ:
Trang 14- Tìm mọi cách để xây dựng kế hoạch chiến lược hướng tới các hoạt động như phải đặt mục tiêu hiệu quả bằng cách nhanh chóng mở lớp kế hoạch chiến lược cho các cán bộ chủ chốt Kế hoạch chiến lược sẽ được thoả luận rộng rãi trong cán bộ giảng dạy và công chức trường
- Tìm các biện pháp để đảm bào các quy trình ngân sách chịu trách nhiệm về tài chính của các đơn vị và cá nhân dựa trên các mục đích trọng tâm chiến lược đào tạo và các ưu tiên mới xuất hiện
- Cung cấp các hệ thống quản lý có hiệu quả về đào tạo và tài chính
- Đảm bảo chất lượng các dịch vụ đã được cam kết với cán bộ công chức
- Triển khai và thực hiện các chương trình phát triển cơ bản để cân đối nhu cầu và duy trì sự đổi mới theo sự thay đổi và nhu cầu sử dụng công nghệ mới
- Dảm bảo các thông tin phản hồi trên hệ thống thông tin liên lạc từ cán bộ đến sinh viên
- Đảm bảo một môi trường làm việc thích hợp, dễ chịu và công bằng, hợp lý và an toàn đối với những bộ phận khác nhau trong trường
- Khuyến khích để mọi công chức và sinh viên có ý thức hơn về môi trường và hướng vấn đề này trong giảng dạy nghiên cứu khoa học và cách ứng xử có trách nhiệm của từng cá nhân đố với tổ chức
Các chiến lược đang được tiến hành
- Giao quyền chủ động cho khoa trong việc tổ chức đào tạo
- Giao quyền chủ động tài chính trong phạm vi quy định của trường
- Tiến hành duyệt kế hoạch hàng năm trên cơ sở thảo lụân về tài chính
- Hàng năm đều tiến hành khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ
- Tạo điều kệin cho sinh viên phản ánh và đánh giá hoạt động của các phòn ban chức năng của trường và các khoa
Các chiến lược sẽ tiến hành từ năm 2006 và những năm tiếp theo
- Duyệt kế hoạch giảng dạy của các đơn vị hàng năm
- Cấp mã số cho sinh viên và để cho sinh viên có thể chỉ sử dụng một thẻ sinh viên cho mọi hoạt động
- Thực hiện quản lý và cấp phát điểm cho sinh viên toàn trường
- Thay đổi cách trả lương theo tài khoản của cán bộ công chức
- Thực hiện việc đánh giá cán bộ công chức qua sinh viên
- Thực hiện một chương trình quản lý có kế hoạch, có sự quản lý theo dõi và lưu trữ thông tin
- Xen xét lại cách thức quản lý tài sản và sử dụng tài sản một cách có ích nhất
- Xây xong toà nhà A và chuẩn bị xong phần thiết kế dãy nhà B
MỤC ĐÍCH TRỌNG TÂM SỐ 6:
Bằng cách cung cấp kếin thức, cơ hội và sự khuyến khích, Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh sẽ duy trì và nâng cao vị trí của mính như là một nguời dẫn đầu
Trang 15trong việc đóng góp các quan điểm và ý tưởng về giáo dục và văn hoá, nâng cao vai trò gáio dục và vị thế người thầy trong cộng đồng mà nhà trường phục vụ
Những thông tin ngắn gọn
Nhà trường có nhiều cán bộ giảng dạy và có khả năng viết báo và tuyên truyền văn hoá, xuất hiện trên truyền hình và tham gia vào các diễn đàn thoả luận về các vấn đề xã hội, giáo dục và đạo đức
Các sinh viên Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy hầu hết các tỉnh Nam Bộ và chính họ đã góp phần làm thay đổi diện mạo giáo dục của các tỉnh này
các mục tiêu cụ thể
- Trở thành một tiêu điểm giáo dục và văn hoá của vùng
- Có tiếng nói quan trọng trong các cuộc tranh luận về giáo dục ở địa phương
- Hỗ trợ cộng đồng bằng cách cung cấp các chuyên gia giáo dục
- Đảm bảo các kinh nghịêm của trường sẽ giúp sinh viên mới ra trường có thể nhanh chóng tiếp cận tốt với môi trường mới
- Cung cấp nguồn thông tin miễn phí cho cộng đồng qua trang WEB của trường
- Xây dựng cộng tác với các cựu sinh viên trong và ngoài nước, cùng với họ góp sức xây dựng Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh thành một trường đại học lớn của Việt Nam
Các chiến lược đã được tiến hành:
- Trường luôn hướng tới cộng đồng địa phương với mục tiêu duy trì chất lượng đào tạo cao ở bậc đại học và sau đại học
- Bằng các hoạt động của mình, Viện Nghiên cứu giáo dục của trường đang xúc tiến việc đưa yếu tố văn hoá vào bậc học như là một chuẩn đánh giá trong xã hội hiện đại, góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá dân
tộc Việt Nam và các dân tộc khác trong cộng đồng các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam
Các chiến lược sẽ thực thi từ năm 2006 và các năm tiếp theo
- Nhà trường sẽ tiến hành các hoạt động giáo dục hỗ trợ giáo dục phổ thông bằng cách huy động cán bộ giảng dạy xây dựng chương trình, viết sách giáo khoa và tài liệu cho học sinh các bậc phổ thông Góp phần thay đổi tận gốc quyền lựa chọn cách thức giáo dục và tài liệu giảng dạy ở mọi bậc học
- Đẩy mạnh các nghiên cứu trên cac lĩnh vực khoa học xã hội như văn hoá, văn học dân gian, lịch sử, địa lý của vùng Nam Bộ Góp phần đẩy nhanh giáo dục văn hoá trong nhà trường
Phối hợp với các sở giáo dục và đào tạo, sở văn hoá thông tin, bảo tàng tổ chức tốt chương trình nghiên cứu tổng hợp với định hướng
Trang 16MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ
HAI NHIỆM VỤ CHỦ YẾU NHẤT CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRỌNG ĐIỂM TP HCM
NGƯT PGS TS Đào Trọng Hùng Viện Nghiên cứu Giáo dục - ĐHSP TP.HCM Trường Đại học Sư phạm (ĐHSP) Thành phố Hồ Chí Minh khi chuyển thành trường ĐHSP trọng điểm có nhiều việc lớn phải làm Mỗi việc, mỗi nhiệm vụ là một tế bào sống động và gắn kết chặt chẽ với nhau Vậy trọng điểm ở đây là gì? Nó thể hiện thế nào để gợi cho chúng ta ý tưởng định hướng tác nghiệp giành được hiệu quả? Với suy nghĩ của mình thông qua việc tìm hiểu thực tiễn và thông tin thu nhận được Xin mạnh dạn bàn thêm về hai nhiệm vụ mà chúng tôi coi là chủ yếu nhất của trường ĐHSP trọng điểm Thành phố Hồ Chí Minh theo tinh thần nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII Đó là:
- Đào tạo đội ngũ giáo viên chất lượng cao
- Nghiên cứu khoa học giáo dục đạt trình độ tiên tiến
Để đi sâu làm rõ thêm hai nhiệm vụ lớn này trong quá trình xây dựng trường ĐHSP trọng điểm, chúng tôi muốn đề cập tới một vài dẫn liệu làm cơ sở phương pháp luận cho việc bàn thêm về hai nhiệm vụ chủ yếu nhất mà nhà trường phải lãnh đạo và tổ chức các biện pháp thực hiện trong nhiều năm tới
Chúng ta biết rằng, hiện tượng nổi bật hiện nay của sự phát triển khoa học đương đại là
xu thế “hoà nhập”, “đan xen” giữa khoa học xã hội (KHXH) và khoa học tự nhiên (KHTN)
Sự “hoà nhập”, “đan xen” này có quan hệ hữu cơ gắn kết với Giáo dục – Đào tạo (GD-ĐT)
Giáo dục và Đào tạo lại là động lực của phát triển kinh tế – xã hội (KT – XH)
Sự “hoà nhập”, “đan xen” này trước hết thể hiện là toán học ngày càng xâm nhập lĩnh vực khoa học xã hội, làm cho khoa học xã hội nhuốm màu “lượng hoá” qua phép phân tích
định lượng như ở các bộ môn kinh tế học (KTH), xã hội học (XHH), tâm lý học (TLH), giáo dục học (GDH), thống kê giáo dục (TKGD) đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục và đào tạo, khoa học quản lý, khoa học hành vi v.v
Thứ hai là khái niệm phương pháp của KHTN và KHXH đang di thực và hấp thụ lẫn
nhau Thí dụ khái niệm “Entropy trong nhiệt động lực học đang du nhập vào kinh tế học; khái niệm “ngưỡng” trong điện tử hoặc được vận dụng vào TLH để nghiên cứu biến đổi xã hội …
Thứ ba, những vấn đề ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, khủng hoảng năng lượng, bùng nổ dân số và các vấn đề đô thị chỉ có thể giải quyết được khi có sự hợp tác nghiên cứu giữa KHTN và KHXH
Thứ tư là cùng với sự phát triển của máy tính điện tử thì việc nghiên cứu “trí năng nhân tạo” đạt được bước phát triển đáng mừng, nó sẽ mở ra một kỷ nguyên mới trong tư duy của loài người – một trong những tố chất quan trọng của việc tạo lập và phát triển kinh tế tri thức,
mà đặc điểm của nó là cả xã hội học tập
Sự đan xen giữa KHTN và KHXH trong đó có khoa học giáo dục (KHGD) là một xu thế lớn không đảo ngược được GS Tamano Iyoshi, nhà khoa học nổi tiếng Nhật Bản còn có
ý tưởng xa hơn rằng “khoa học tự nhiên còn có thể gọi là khoa học xã hội tự nhiên”, “khoa học xã hội có thể gọi là khoa học tự nhiên xã hội”(1) Và từ đó vấn đề “khoa học tự nhiên đi tới khoa học xã hội, khoa học xã hội đi tới khoa học tự nhiên” đang ngày càng sôi động mạnh
Trang 17mẽ ở các trường đại học, ở các Viện và các trung tâm nghiên cứu khoa học trong nhiều nước trên thế giới
Trên cơ sở mô hình cấu trúc trường ĐHSP trước đây phát triển lên thành trường ĐHSP trọng điểm, trong đó có đủ các ngành học, môn học đều nằm trong lĩnh vực khoa học xã hội
và khoa học tự nhiên với những thông tin mới và dẫn liệu về sự “hoà nhập”, “đan xen” giữa
hai ngành khoa học này, sẽ gợi ý cho chúng ta ý tưởng mới trong việc tổ chức thực hiện
nhiệm vụ “đào tạo đội ngũ giáo viên chất lượng cao và nghiên cứu khoa học giáo dục đạt trình độ tiên tiến”(2)
Tuy là hai nhiệm vụ nhưng ở trường ĐHSP trọng điểm nó là một thể thống nhất có quan hệ hữu cơ, gắn kết và hỗ trợ nhau trong sự nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên
cứu khoa học Nếu KHTN và KHXH là hai lĩnh vực rộng, rất rộng đã và đang “hoà nhập”,
“đan xen” để tạo nên sức mạnh to lớn trong việc đạt đến những thành công của tiến bộ khoa
học – công nghệ (KH-CN), và phát triển KTXH mang tính nhân văn, thì hai nhiệm vụ chủ yếu
đó trong nhà trường ĐHSP trọng diểm lại càng phải “hoà nhập”, “đan xen” để tạo nên sức
mạnh đạt tới nhà trường chúng ta là một trung tâm đào tạo chất lượng cao
Là thể thống nhất song giải pháp để thực hiện mỗi nhiệm vụ trong chừng mực nhất định lại có tính riêng và độc lập để thực hiện triệt để yêu cầu của mỗi nhiệm vụ
Để đào tạo đội ngũ giáo viên chất lượng cao thì điều kiện và phương thức đào tạo của ĐHSP trọng điểm phải có những cái khác các trường ĐHSP không phải là trọng điểm Cái khác đó có thể được biểu hiện ở những yêu cầu cụ thể sau:
(1) Thông tin khoa học xã hội, số 5/1999, trang 32-38 do Viễn Phố tổng luận
(2) Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII
- Đội ngũ thầy cô giáo đang sống, làm việc ở trường ĐHSP trọng điểm phải là đội ngũ thầy cô giáo giỏi theo hướng chuẩn hoá không chỉ thể hiện ở văn bằng, học hàm, học vị mà
cần thể hiện cụ thể theo 04 tiêu chí (chúng tôi đề xuất): chiều rộng và chiều sâu kiến thức, nhân cách nhà sư phạm; nghiệp vụ và kỹ năng sư phạm; năng lực quản lý và hoạt động xã hội Rất cần thiết có sự chọn lọc theo định kỳ hàng năm trên cơ sở các tiêu chí chuẩn hoá và
hoạt động thực tiễn của nhà sư phạm, của chuyên gia giáo dục Lực lượng thầy cô giáo giỏi phải được tập trung chủ yếu ở các khoa, các ngành để đào tạo giáo viên cho bậc trung học Nhà trường cần có chính sách để thu hút mạnh mẽ lực lượng này vào công việc chính của nhà trường, trong nhà trường chứ không ở ngoài nhà trường, không để cho các loại hình đào tạo khác thu hút lực lượng này như đang diễn ra hiện nay
- Mặt khác, để trở thành thầy cô giáo giỏi đích thực, chính là tinh thần học tập suốt đời, tích hợp những kiến thức mới, thông tin của nền giáo dục đương đại đang phát triển và đang đổi mới để từ đó sáng tạo ra các chương trình mới để truyền đạt cho người học của mình biết cách tự học, biết khai thác những gì mới nhất của KH-CN và GDĐT mang tính thời đại Trong hoạt động này, nhà trường cần lập ra những êkíp giỏi chuyên sâu, chủ động xây dựng chương trình khung, chương trình đặc thù của ngành sư phạm, từ đó viết các giáo trình của trường theo quy định của Luật giáo dục đặt rõ lộ trình hoàn thành việc soạn thảo, in ấn kịp thời đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục ngay từ trong nhà trường sư phạm – điểm tựa quan trọng của việc đổi mới GD và ĐT ở các bậc học khác
- Việc định hướng đào tạo đội ngũ giáo viên có trình độ cao (thạc sĩ, tiến sĩ) để đảm nhận những nhiệm vụ chủ yếu nhất của trường ĐHSP trong điểm trong lĩnh vực đào tạo giáo viên chất lượng cao và nghiên cứu KHGD đạt trình độ tiên tiến là hết sức cần thiết, song trước mắt để khắc phục được những bất cập hụt hẫng thì ngay từ bây giờ rất cần trân trọng, có lý, có tình và bằng những giải pháp cụ thể mời giữ lại các nhà giáo lớn tuổi đã tích luỹ được nhiều
Trang 18kinh nghiệm quý báu không chỉ về phương pháp giáo dục, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, về nêu những ý tưởng mới và sâu sắc trong việc xây dựng mục tiêu, chương trình, biên soạn sách giáo khoa, bài giảng, mà còn có kinh nghiệm phong phú về thiết lập các mối quan hệ xã hội trong việc quản lý giáo dục và góp phần đào tạo các thế hệ kế cận các lĩnh vực chuyên môn Đồng thời chúng ta cũng cần nhanh chóng có kế hoạch với những biện pháp cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng lực lượng trẻ đang có sức bật và sáng tạo, nhạy cảm trong tiếp cận thông tin, tiếp thu nhanh và thành thạo kỹ năng sử dụng phương tiện hiện đại trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học để trường ĐHSP trọng điểm chúng ta sớm có đội ngũ nhà giáo, nhà sư phạm thực sự giỏi, góp phần đào tạo các thế hệ sinh viên thành những thế hệ thầy cô giáo giỏi ở các bậc học, cấp học từ mầm non đến phổ thông và đến các trường sư phạm khác
- Để có đội ngũ cán bộ, giảng dạy thực giỏi theo các chuẩn chung của Bộ và các tiêu chí chúng tôi đề xuất, trường ta cần có cơ sở kiểu mẫu về thực hành sư phạm để đánh giá kiểm định Một trường THPT thực hành chưa đủ, cần kết hợp với các cơ sở giáo dục địa phương để xây dựng các trường thực hành sư phạm cho các giáo sinh ở bậc học mầm non, bậc học phổ thông, để giáo sinh có điều kiện thể nghiệm năng lực của mình theo các chuẩn đề ra Cùng với việc tổ chức trường thực hành còn phải quan tâm tới việc cải cách tổ chức kế hoạch, quy trình kiến tập, thực tập để ngày càng có kinh nghiệm tốt hơn trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ và kỹ năng sư phạm
- Nếu đội ngũ thầy cô giáo giỏi của trường ĐHSP trọng điểm chỉ hoàn thành tốt nhiệm
vụ giảng dạy trong việc đào tạo giáo viên chất lượng cao là chưa đủ mà còn phải là những nhà khoa học năng động, say mê với các công trình nghiên cứu KHGD cả về lý luận và thực tiễn theo các lĩnh vực chuyên môn của mình Có như vậy mới có đủ bản lĩnh tự tin trong việc xác định giá trị của chính mình trước yêu cầu ngày càng cao của nghề dạy học
Những vấn đề nghiên cứu KHGD trong trường ĐHSP trọng điểm sẽ trực tiếp góp phần quan trọng trong việc đào tạo giáo viên chất lượng cao Vậy chúng ta sẽ nghiên cứu cái gì? Nghiên cứu lĩnh vực nào? Phạm vi giới hạn và phương thức tổ chức chỉ đạo hoạt động ra sao?
Đó cũng là một vấn đề mới ở trường ĐHSP trọng điểm Thành phố Hồ Chí Minh, khác hẳn với các hệ thống sư phạm khác trong các tỉnh phía Nam
Chúng tôi thấy trường chúng ta có những điều kiện thuận lợi nhất định vì ở mỗi bộ môn, mỗi ngành học đã hình thành và có nề nếp trong việc tổ chức nghiên cứu phương pháp
bộ môn, lại có khoa Tâm lý - giáo dục và Viện nghiên cứu giáo dục đã có những đóng góp nhất định trong nghiên cứu khoa học, mặc dù nó còn dừng lại ở mức độ đơn lẻ chưa tập hợp thành hệ thống để chuyển thành sản phẩm khoa học mang tính phổ biến Hội nghị khoa học
mà chủ yếu là đổi mới phương pháp dạy, phương pháp học của trường cách đây vài năm là một thành công bước đầu, song bước tiếp theo triển khai nó trong thực tiễn cuộc sống ở ngay trong trường và lan toả đến các bậc học khác còn chững lại ở mức độ khiêm tốn
Xoay quanh những vấn đề phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu khoa học giáo dục đạt trình dộ tiên tiến, chúng tôi có những đề xuất sau đây:
1 Trong công tác quản lý khoa học và tổ chức các hoạt động khoa học rất cần thiết phải
có những quan điểm rộng mở và thực tiễn Đây là một cơ quan không chỉ tham vấn định hướng mà còn có sức thu hút động viên, tổ chức đông đảo lực lượng giảng viên và giáo sinh hướng vào khoa học, nảy sinh những ý tưởng hướng tới đề tài và tích cực thực hiện các chương trình đề tài khoa học Trong hoạt động này cần có những lực lượng nòng cốt và lấy các đơn vị nghiên cứu của Viện, các tổ bộ môn chuyên môn làm đơn vị chủ động
2 Là trường ĐHSP trọng điểm nên phải quan tâm đồng bộ việc nghiên cứu cơ bản về KHGD trong xu thế hội nhập, nghiên cứu những vấn đề về nghiệp vụ và kỹ năng sư phạm cập nhật với những đổi mới của ngành sư phạm thế giới và gắn kết với giáo dục phổ thông ở nước
Trang 19ta kể cả về lý luận lẫn phương pháp Tạo ra những điều kiện đủ lớn về tài chính, thiết bị, tư liệu thông tin và thời gian vật chất, thầy và trò cùng vào cuộc thực hiện có hiệu quả và dứt điểm các cụm chương trình, cụm đề tài khoa học
3 Xây dựng bằng được các cụm đề tài lớn ở cấp nhà nước hoặc độc lập cấp Nhà nước
để tập hợp đông đảo những người có kinh nghiệm cùng tham gia chủ trì thực hiện Ví dụ như nghiên cứu đổi mới mục tiêu đào tạo, chương trình, sách giáo khoa, bài giảng Để nghiên cứu thành công các cụm đề tài trong các chương trình khoa học lớn, cần thu hút được lực lượng các nhà khoa học cùng bộ môn, liên bộ môn trong trường và ở các trường ĐH, các viện nghiên cứu trong và ngoài thành phố cùng thực hiện tạo ra kết quả thiết thực, và sản phẩm khoa học cần được nghiệm thu để chuyển giao
4 Nghiên cứu những vấn đề liên thông gắn kết chương trình đào tạo giáo viên chất lượng cao với chương trình và sách giáo khoa các bậc học, tạo điều kiện cho giáo sinh tiếp cận các vấn đề nghiên cứu thực tiễn
5 Tiếp tục nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy của giảng viên dẫn đến đổi mới phương pháp học của sinh viên để họ tự chủ và sáng tạo, để phát sinh ý tưởng mới, tiếp cận với định hướng và nội dung kinh tế tri thức ngay từ trong giảng đường đại học sư phạm trọng điểm
6 Nghiên cứu những vấn đề GD&ĐT ở phía Nam, đặc biệt ở các vùng dân cư mới, vùng sâu, vùng xa, vùng ngập lũ, các vấn đề giáo dục dân tộc, giáo dục chuyên biệt (khuyết tật), v.v để giúp Ngành phát hiện sớm những vấn đề bất cập trong quá trình phát triển giáo dục theo chủ trương của chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010
7 Nghiên cứu triển khai và phát triển về các chủ trương chính sách đối với GD&ĐT nhằm giúp Ngành và Nhà nước hoạch định các chủ trương chính sách và biện pháp phát triển GD&ĐT ở những thập niên đầu thế kỷ 21
8 Nghiên cứu về phương thức đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục trong giảng dạy, học tập, trong thi cử, tuyển sinh, tốt nghiệp và các vấn đề theo dõi đánh giá quá trình trưởng thành và bất cập của giáo sinh ra trường, để định hướng đào tạo lại, đào tạo thêm để có giáo viên chất lượng cao ở các trường phổ thông
Rõ ràng những vấn đề đặt ra trên đây mà chúng ta phát huy được nội lực, đồng tâm cộng sức
để khắc phục những tồn tại khó khăn, chắc chắn với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sẽ nâng tầm trường ĐHSP hiện nay không chỉ thành trường ĐHSP trong điểm của phía Nam, là trung tâm chất lượng cao về sư phạm và chuyên môn, mà còn là một trường kiểu mẫu gắn bó với hệ thống sư phạm trong vùng và cả nước
Trang 20VÀI SUY NGHĨ VỀ MỤC TIÊU CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRỌNG ĐIỂM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐẾN 2020
TS Hồ Thiệu Hùng Viện Nghiên cứu Giáo dục – ĐHSP TPHCM
Chỉ thị 40 của Ban Bí thư về xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục ký ngày 15/6/2004 cĩ xác định nhiệm vụ “ đẩy nhanh hơn việc xây dựng hai trường đại học sư phạm trọng điểm ở Hà Nội và thành phố Hồ chí Minh để vừa đào tạo giáo viên cĩ chất lượng cao, vừa nghiên cứu khoa học cơ bản và khoa học giáo dục đạt trình độ tiên tiến Nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới cần tập trung vào đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy; các trường sư phạm phải tích cực chủ động thực hiện nhiệm
vụ này, đồng thời tham gia vào việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp giảng dạy trong hệ thống giáo dục; xây dựng chương trình, quy hoạch, kế hoạch đào tạo đội ngũ nhà giáo cho các trường ngồi khối sư phạm, đặc biệt là đội ngũ giảng viên các trường đại học, giáo viên dạy nghề”
Căn cứ vào những ý kiến chỉ đạo trên, cĩ thể thấy trước hết Trường Đại học Sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh cần phải lựa chọn 1 mục tiêu phát triển thích hợp cho mình đến giai
đoạn 2020 từ 2 mục tiêu phát triển sau đây:
o Một là phát triển theo chiều rộng thành trường đào tạo cả cử nhân sư phạm lẫn cử nhân khoa học cơ bản;
o Hai là phát triển theo chiều sâu trở thành trường đào tạo cử nhân sư phạm vững vàng biết nghiên cứu khoa học giáo dục
Theo tơi, trong giai đoạn đến 2020 Trường Đại Học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh nên lựa chọn hướng phát triển theo chiều sâu trước, đến khi đạt được mục tiêu là trường đào tạo cử nhân sư phạm vững vàng biết nghiên cứu khoa học giáo dục rồi thì mới nên phát triển tiếp theo chiều rộng Tại sao?
Trước hết vì nhiệm vụ đào tạo cử nhân khoa học cơ bản hiện nay đã cĩ một số trường đại học trong và ngồi cơng lập, trong đĩ cĩ 2 trường ĐHQG được đầu tư rất lớn, đảm nhiệm Với điều kiện và đội ngũ cán bộ giảng dạy và trang thiết bị hiện cĩ, hai trường ĐHQG cĩ thể làm tốt hơn ĐHSP nhiệm vụ đào tạo cử nhân khoa học cơ bản ĐHSP TpHCM nên tập trung lực của mình vốn đang cịn mỏng để giải quyết nhiệm vụ mà những ĐH khác chưa thể làm tốt trong lúc này - đào tạo cử nhân sư phạm vững vàng biết nghiên cứu khoa học giáo dục
Lý do thứ hai là việc đào tạo cử nhân sư phạm vững vàng biết nghiên cứu khoa học giáo dục sẽ là mũi đột kích nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ở các trường mầm non, phổ thơng, dạy nghề và đại học- đây chính là mặt yếu kém về chất lượng rõ ràng nhất của đội ngũ giáo viên mà khơng cĩ trường nào ngồi khối sư phạm cĩ điều kiện khắc phục nhanh và cơ bản bằng Làm tốt việc này chính là đĩng gĩp cĩ tính quyết định trong việc nâng cao chất lượng giáo dục ở nước ta trong giai đoạn hơn chục năm tới đây, nâng cao chất lượng đội ngũ lao động phục vụ sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hĩa đất nước khi mà mốc thời gian trở thành nước cơng nghiệp hố vào năm 2020 đã khơng cịn quá xa
Lựa chọn mục tiêu phát triển theo chiều sâu trước để đến khoảng sau năm 2020 mới mở tiếp hướng phát triển theo chiều rộng chính là lượng đúng sức mình để làm thật tốt nhiệm vụ
trọng tâm, thực hiện chức năng máy cái của Đại Học Sư Phạm trọng điểm cấp quốc gia
Trang 21Để thực hiện mục tiêu phát triển theo chiều sâu trình bày ở trên, trong điều kiện đội ngũ giáo viên các trường phổ thơng đã khơng cịn thiếu nhiều về số lượng và chất lượng tuyển sinh ngày càng được nâng cao, Đại Học Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh nên tập trung sức vào những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
1 Tập hợp đội ngũ giảng viên cĩ trình độ cao, cĩ nghiệp vụ sư phạm vững vàng nhất (đang ở trong và ngồi trường SP) lại để xây dựng đội ngũ dạy giáo học pháp bộ mơn thật mạnh, đưa đi bồi dưỡng (ở trong hoặc ngồi nước) các lý luận và phương pháp dạy học cho đội ngũ này, tạo điều kiện để những người này sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học hiện đại nhất Đội ngũ này sẽ đảm nhận trách nhiệm chủ yếu trong việc bồi dưỡng tay nghề của giảng viên, giáo viên các trường theo đúng tinh thần Chỉ thị 40 So với đội ngũ giảng viên các trường đại học khác, giảng viên Đại Học Sư Phạm trọng điểm phải trở thành những người đi đầu trong việc ứng dụng các lý luận dạy học hiện đại, các phương pháp dạy học hiện đại
2 Phấn đấu đào tạo được giáo viên Mầm Non và Tiểu học cĩ trình độ đại học cĩ thể dạy song ngữ tiếng dân tộc (các dân tộc vùng núi phía Nam, và dân tộc Chăm, Kh-me, Hoa), sau này phấn đấu đào tạo được giáo viên THCS, THPT dạy bằng song ngữ Việt –Anh, Việt –Pháp Việc trường ĐHSP tp HCM đào tạo được đội ngũ giáo viên kiểu này sẽ cĩ ý nghĩa khơng chỉ đĩng khung trong ngành giáo dục mà cịn cĩ ý nghĩa chính trị -kinh tế-xã hội lớn lao
3 Nâng cao chất lượng giáo dục nhân cách, đạo đức, chính trị tư tưởng cho sinh viên sư phạm, coi đây là tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu trong chất lượng sinh viên Sớm đưa sinh viên vào tham gia các hoạt động thực tiễn, thâm nhập đời sống các trường phổ thơng ngay từ năm thứ nhất Muốn vậy, cần củng cố chất lượng đảng bộ trường và các khoa, chất lượng Phịng cơng tác sinh viên và tăng kinh phí cho hoạt động Đồn Hội Việc thực hiện nguyên lý giáo dục “học đi đơi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội” phải được thấu suốt trong từng bài giảng, từng hoạt động của giảng viên trường sư phạm Trường ĐHSP trọng điểm quốc gia phải là trường thực hiện tốt nhất Chỉ thị 34-CT/TW về tăng cường cơng tác chính trị, tư tưởng, củng cố tổ chức đảng, đồn thể quần chúng và phát triển đảng trong trường học
4 Bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho cử nhân các ngành khác muốn chuyển qua sư phạm dạy ở các cấp học, bậc học Đào tạo sinh viên sư phạm cho các nước Đơng dương, ASEAN
5 Đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế với các trường sư phạm danh tiếng trên thế giới (trao đổi giảng viên- sinh viên, hợp tác cùng nghiên cứu đề tài khoa học, lập thư viện qua mạng, mở hội thảo qua mạng…)
6 Đào tạo các chuyên gia (trình độ sau đại học) về xây dựng chương trình, sách giáo khoa, kiểm định và đánh giá chất lượng, quy hoạch phát triển giáo dục, thanh tra hoạt động giáo dục, hướng nghiệp, tư vấn, giáo dục khơng chính quy và giáo dục người lớn v.v…
7 Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục và triển khai các chương trình, phương pháp mới vào thực tiễn giáo dục sau một thời gian thực nghiệm tại trường Nghiên cứu khoa học phải là một nội dung học bắt buộc đối với sinh viên trong thời gian được đào tạo tại trường sư phạm và là nội dung hoạt động bắt buộc đối với mọi giảng viên
8 Để làm tốt nhiệm vụ nghiên cứu khoa học giáo dục, trường ĐHSP tp HCM cần ra sức củng cố, nâng cấp Viện Nghiên cứu Giáo dục hiện cĩ, tạo điều kiện thuận lợi để Viện này thành lập các Trung tâm mới như Trung tâm nghiên cứu giáo dục chuyên biệt (trẻ khuyết tật), Trung tâm nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa tiếng dân tộc thiểu số phía Nam
Trang 22Có lẽ sẽ thiếu sót nếu cuối cùng không nói đến một vấn đề hết sức khó nói, nhưng không nói lại không được- đó là cheá độ chính sách đối với đội ngũ nhà giáo dạy trường sư phạm trọng điểm Nhiệm vụ nhà giáo dạy trường sư phạm trọng điểm rõ ràng là nặng nề hơn, vậy không thể không có một vài chính sách nào đó nhằm tạo động lực cho những nhà giáo đang phải đáp ứng những yêu cầu cao hơn những nhà giáo bình thường Nếu như chỉ thị 40 có nêu rõ “tạo động lực thu hút, động viên đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục toàn tâm, toàn ý phục
vụ sự nghiệp giáo dục” thì trong khi thực hiện Chỉ thị này, nên có những ưu tiên nhất định cho giảng viên trường trọng điểm Có chức năng trọng điểm thì phải được đầu tư trọng điểm, mà đầu tư trọng điểm thì trước hết là đầu tư cho con người
Trang 23TỪ MỤC TIÊU ĐÃ XÁC ĐỊNH CẦN CÓ NHỮNG GIẢI PHÁP THÍCH HỢP ĐỂ THỰC HIỆN
ThS Tạ Quang Lâm Phòng Đào tạo - Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, do đó đòi hỏi chúng ta phải có một nguồn nhân lực trình độ cao phù hợp với cơ cấu kinh tế - xã hội Giáo dục đại học là bộ phận chủ yếu tạo ra nguồn nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Chất lượng giáo dục hiện nay đang là vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đặc biệt quan tâm, vì chất lượng giáo dục có ý nghĩa quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Theo báo cáo thống kê của Bộ giáo dục và Đào tạo hiện nay cả nước có 22,7 triệu học sinh và đội ngũ giáo viên đã lên đến 1 triệu người Chúng ta biết rằng trong lĩnh vực đào tạo, sản phẩm là “con người lao động” Chất lượng đào tạo là kết quả đầu ra của quá trình đào tạo, nó được thể hiện thật cụ thể ở phẩm chất, giá trị sức lao động, khả năng hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của nhà trường, của từng ngành nghề đào tạo Do đó các trường đào tạo cần phải xác định rõ hơn mục tiêu, nhiệm vụ của mình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với tư cách là một trường Đại học Sư phạm trọng điểm, một trong các trường Sư phạm lớn của cả nước, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã đưa ra mục tiêu của trường dưới đây
Đề án xây dựng Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, thành Trường Đại học
Sư phạm trọng điểm đã nêu mục tiêu đào tạo của Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới là:
“Xây dựng ĐHSP TP Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm đào tạo đại học và sau
đại học chuẩn mực và có chất lượng cao , trước hết là đào tạo những giáo viên nắm vững tri
thức chuyên môn, có khả năng giảng dạy và học tập suốt đời, có nhân cách và những phẩm chất của người thầy giáo, nhằm cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội, đặc biệt
đáp ứng nhu cầu học tập và giảng dạy ở các tỉnh phía Nam; đồng thời là Trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ tiên tiến, bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nhân văn; có quan hệ quốc tế rộng rãi, giữ vai trò nòng cốt và đầu tàu trong hệ thống các trường
sư phạm Trường đào tạo các trình độ: Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ, đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ giáo viên các trường từ mầm non đến trung học
và cao đẳng”
Với những mục tiêu và nhiệm vụ đào tạo nêu trên chúng tôi cho rằng Trường Đại học
Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ và cụ thể mục tiêu và nhiệm vụ chính trong trong quá trình xây dựng một trường Sư phạm trọng điểm trong giai đoạn mới và cũng đã xác định vị thế của mình trong hệ thống giáo dục của cả nước và đặc biệt là ở phía Nam Để thực hiện được mục tiêu, và nhiệm vụ của Trường, chúng tôi nghĩ bước quan trọng của Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh là phải có những giải pháp thiết thực, cải tiến cách thức tổ chức mô hình của trường trên cơ sở kinh nghiệm đào tạo của Trường trong gần 30 năm qua
Chúng ta cần phải khẳng định lại một lần nữa: Giáo dục và đào tạo là nền tảng của quá trình hình thành và phát triển chất lượng của nguồn nhân lực, nó trang bị cho con người những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm của loài người để phát triển xã hội, để tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho các thế hệ kế tiếp Người được giao nhiệm vụ quan trọng
Trang 24truyền thụ lại những kiến thức, những kinh nghiệm của loài người cho các thế hệ kế tiếp, đó chính là đội ngũ giáo viên các cấp Một mục tiêu quan trọng và nhiệm vụ chính của các trường sư phạm là đạo tạo đội ngũ giáo viên các cấp từ mầm non đến trung học phổ thông
Với việc giữ vai trò nòng cốt và đầu tàu trong hệ thống các trường sư phạm, Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh cần nhìn lại và đánh giá hiệu quả đào tạo của trường theo
mô hình đào tạo trong thời gian qua và hiện nay
Chúng ta có thể khẳng định rằng: “Một nền giáo dục không thể phát triển cao hơn trình độ của những người xây dựng nó” (GS Dương Thiệu Tống) Người thầy giáo có một vị
trí cực kỳ quan trọng, nhất là trong thời kỳ mới Muốn có trò giỏi phải có thầy giỏi Vì thế
trong chiến lược phát triển giáo dục mà chúng ta đang xây dựng phải nêu lên được những yêu cầu mới đối với người thầy giáo Xây dựng một kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và tổ chức đào tạo đội ngũ giáo viên chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
Từ ngày thành lập đến nay (năm 2004), Trường đã đào tạo và cấp bằng cử nhân cho
41.176 sinh viên, trong đó có 21.392 sinh viên chính qui; 19.754 sinh viên không chính qui
(hệ chuyên tu và tại chức), qui mô đào tạo của Trường đã gia tăng nhanh chóng từ chổ mới có
10 ngành học ban đầu, đến nay Trường đã và đang đào tạo 28 chuyên ngành Liên kết đào tạo
với các trường Đại học ở Trung Quốc và Cộng hòa Sec hàng trăm sinh viên Để tìm hiểu chất lượng đào tạo của Trường chúng tôi thống kê kết quả tốt nghiệp trong vòng 10 năm gần đây như sau:
Bảng thống kê xếp loại sinh viên tốt nghiệp hệ chính qui học tại trường
(Chính qui có ngân sách Nhà nước)
sư phạm, hầu hết các trường sư phạm đều có số thí sinh đăng ký dự thi khá đông, do đó điểm chuẩn xét vào các trường sư phạm, các khoa sư phạm khá cao so với các ngành khác Các trường Sư phạm đã chọn được những học sinh có học lực khá giỏi ở bậc học phổ thông vào học, đó là cơ sở quan trọng để đào tạo đội ngũ giáo viên có chất lượng Nhìn vào bảng 01: thống kê kết quả xếp loại sinh viên của trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh trong vòng
Trang 2510 năm gần đây ta thấy rất rõ Những sinh viên tốt nghiệp từ năm 2002 đến 2004 là khoá tuyển sinh từ khi có chính sách đối với ngành sư phạm, đạt tỷ lệ tốt nghiệp khá, giỏi và trung bình khá cao hơn hẵn các khóa trước, số sinh viên tốt nghiệp loại trung bình ít đi nhiều Kết quả thực tập sư phạm cũng được đánh giá cao hơn
Về mặt sử dụng: Qua thống kê ta thấy rằng sinh viên do Trường Đại học Sư phạm TP
Hồ Chí Minh đã đào tạo, cung cấp cho các tỉnh phía Nam so với sự phát triển giáo dục của
những năm qua, đã phần nào tạm đủ Tuy nhiên việc sử dụng sinh viên tốt nghiệp trong thời gian qua, đặc biệt là hơn 10 năm gần đây là chưa hợp lý, chưa hiệu quả Tại sao chúng tôi lại
nói như vậy? Bởi vì sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, những sinh viên tốt nghiệp Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, lên đường nhận nhiệm vụ với tinh thần ba sẵn sàng Căn cứ vào nhu cầu của các điạ phương và đơn tình nguyện của sinh viên, Trường tiến nhành phân công nhiệm sở, do đó đại đa số sinh viên tốt nghiệp đều được về một trường phổ thông nào đó để giảng dạy, sau hai năm sinh viên mới được xét cấp bằng tốt nghiệp Nhưng từ năm 1990 đến nay, khi có quyết định số 1994/QĐ-ĐH ký ngày 23-11-1990 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế văn bằng Đại học, sinh viên tốt nghiệp được cấp bằng ngay để tạo điều kiện cho sinh viên kiếm việc làm Trường Đại học
Sư phạm TP Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục chủ trương phân công sinh viên về các điạ phương theo địa chỉ khi tuyển sinh vào Trường Việc sử dụng sinh viên tốt nghiệp là do các Sở Giáo
dục và Đào tạo Tuy nhiên một thực tế hiện nay là số sinh viên tốt nghiệp hàng năm phần lớn
có hộ khẩu ở thành phố, thị xã mà ở đó số giáo viên cần bổ sung hàng năm không nhiều có thể nói tạm đủ, ngoại trừ một số môn đặc thù như nhạc họa, giáo dục thể chất, giáo dục chính
trị Ngược lại số sinh viên tốt nghiệp có hộ khẩu ở các vùng sâu, vùng xa, những vùng khó khăn rất ít, nhưng ở những nơi này thì nhu cầu hàng năm cần bổ sung nhiều giáo viên Trong
dịp tham gia đề tài “ Dự án Giáo dục Đại học” của Bộ giáo dục và Đào tạo, chúng tôi đã
thực hiện một số điều tra về tình hình sinh viên tốt nghiệp tại Trường Đại học Sư phạm TP
Hồ Chí Minh, đang công tác tại các Sở Giáo dục và Đào tạo, kết quả là chỉ có 65,5% sinh viên tốt nghiệp được phân công nhiệm sở và 34,5% sinh viên không được phân Số sinh viên
không được phân công theo điều tra của chúng tôi gồm các nguyên nhân sau:
- Phần lớn số này không đến các Sở Giáo dục và Đào tạo để dự thi công chức theo qui định hiện hành của Nhà nước
- Một số ít thi rớt công chức (theo yêu cầu và tiêu chuẩn của các địa phương)
- Một số ngành sinh viên tốt nghiệp không có nhu cầu phân công giảng dạy ở các địa phương
Mặt khác, một thực tế hiện nay có rất nhiều trường Sư phạm đang phải hợp đồng với các địa phương để đào tạo giáo viên theo địa chỉ, riêng Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí
Minh từ năm 1997 trở lại đây đã và đang đào tạo 4745 giáo viên theo địa chỉ cho những tỉnh
vùng sâu vùng xa và những vùng còn thiếu nhiều giáo viên các bộ môn đặc thù, những bộ
môn chủ yếu đang bắt buộc phải dạy ở các trường phổ thông Trong số trên đã có 1581 sinh
viên tốt nghiệp Hầu hết các sinh viên tốt nghiệp hệ này đều được các Sở Giáo dục và Đào tạo phân công nhiệm sở Đó là những bộ môn hiện nay đang thiếu giáo viên cụ thể:
Trang 26Bảng thống kê sinh viên tốt nghiệp hệ chính qui đào tạo giáo viên
cho các địa phương từ năm 2002 đến 2004
c
Bình Thuậ
n
Lâm Đồn
n
Tây Nin
h
Tiền Gian
g
Đồn
g Thá
p
Trà Vin
Một vấn đề khác, trong những năm vừa qua, chúng tôi nhận được khá nhiều thông tin
về việc sinh viên đã tốt nghiệp các trường khác, muốn học nghiệp vụ sư phạm để tham gia giảng dạy ở các trường phổ thông Từ những thực tế đó Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã làm đề án mở thêm một loại hình đào tạo nữa đó là đào tạo bằng Cử nhân II, gồm các ngành: Toán học, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Điạ lý, Anh văn, Pháp văn, Trung văn Mục tiêu đào tạo của laọi hình này là: Đào tạo các sinh viên đã tốt nghiệp một bằng đại học có trình độ cử nhân thuộc chuyên ngành tương ứng với chuyên ngành đó của Đại học Sư phạm, trở thành nhà giáo có phẩm chất và năng lực tương đương với mục tiêu đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Riêng về năng lực, họ phải nắm vững các khoa học giáo dục và khoa học cơ bản đã được đào tạo, được trang bị kiến thức nghiệp vụ sư phạm… để làm tốt nhiệm vụ giảng dạy của người giáo viên Rất tiếc cho đến nay đề án nay vẫn chưa được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép mở, mặc dù hiện nay có rất nhiều giáo viên được tuyển dụng từ các trường đào tạo khoa học cơ bản, chưa qua một lớp đào tạo khoa học giáo dục và nghiệp
vụ sư phạm
Từ những vấn đề đã đề cập trên, chúng tôi xin nêu lên một số giải pháp sau:
1- Về tuyển sinh: Nhà nước cần tiếp tục và có chính sách ưu đãi, chính sách đào tạo giáo
viên phổ thông để thu hút những học sinh giỏi thi tuyển vào các trường sư phạm để có thể chọn lựa được đầu vào có chất lượng cao Các trường Sư phạm xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm phải căn cứ và nhu cầu dự báo về đội ngũ giáo viên trong vòng 4 đến 5 năm tới Muốn như vậy cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các trường sư phạm với các Sở giáo dục và đào tạo Chúng tôi đề nghị xem xét và áp dụng loại hình đào tạo giáo viên theo địa chỉ, loại hình này thực sự mang lại hiệu quả đào tạo và sử dụng, tránh được sự lảng phí như hiện nay Tất nhiên về mặt kinh phí đào tạo là ngân sách Nhà nước cấp cho các trường sư phạm
Trang 272- Trường Đại học Sư phạm phải xây dựng được một chương trình thích hợp với mục
tiêu đào tạo của trường, trên cơ sở đó phải luôn luôn cập nhật những thông tin giáo dục hiện đại của khu vực và trên thế giới Nâng cao chất lượng kiến thức, đặc biệt cần chú trọng và cương quyết đổi mới phương pháp giảng dạy đại học
3- Đối với sinh viên: cần phải nghiên cứu nội dung giảng dạy cho phù hợp với nhiệm vụ
đứng lớp sau khi ra trường Cụ thể là sinh viên các ngành Mẫu giáo, Tiểu học, Giáo dục đặc biệt, cần đào tạo kỹ về nghiệp vụ sư phạm, còn các ngành khác trước tiên phải được đào tạo nắm vững về chuyên môn khoa học cơ bản rồi mới bổ túc kiến thức và nghiệp vụ sư phạm 4- Thu hút những sinh viên giỏi các trường đại học để đào tạo trở thành đội ngũ giáo viên
có chất lượng cao theo đề án đào tạo bằng Cử nhân II
5- Hiện nay đã có nhiều trường Sư phạm đã thay đổi tên gọi có nghĩa là đã thay đổi mục tiêu đào tạo và chức năng nhiệm vụ Trong giai đoạn mới trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh nên chăng thay đổi mô hình đào tạo của mình đó là đào tạo đa ngành trong đó có khoa sư phạm chuyên lo về khoa học sư phạm và nghiệp vụ giảng dạy Tức là thay đổi cách đào tạo ở trường sư phạm Đối với giáo viên thời gian đào tạo phải 5 năm Tăng thêm thời gian thực tập ở các trường phổ thông cho sinh viên
Trong các yếu tố quyết định chất lượng giáo dục, người thầy chính là yếu tố quan trọng nhất do đó, mục tiêu và nhiệm vụ chính của các trường sư phạm nói chung và trường Đại học
Sư phạm TP Hồ Chí Minh là đào tạo được những người thấy giáo, cô giáo có đầy đủ bản lĩnh
và phẩm chất, yêu nghề, tận tâm với sự nghiệp giáo dục Muốn được như vật tôi rất hoan nghênh những vấn đề mà hội thảo đặt ra Hy vọng hội thảo sẽ mang lại được những kết quả
bổ ích giúp cho các trường sư phạm xác định đúng đắn hướng đi của mình trong giai đoạn mới
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Đề án xây dựng Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh thành trường đại học Sư phạm trọng điểm- TP Hồ Chí Minh năm 2002
2) Kết quả khảo sát việc làm của sinh viên tốt nghiệp - Bộ GD&ĐT - Dự án giáo dục Đại học – Hà Nội 2/2002
3) Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo đến năm 2010 phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước – Hà nội 9/2000
4) Một số bài báo đăng trên mạng Internet của các nhà giáo dục
Trang 28MỘT SỐ PHÁC THẢO VỀ SỨ MẠNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
MỚI XUẤT PHÁT TỪ NHU CẦU THỰC TẾ
TS Huỳnh Văn Sơn Khoa Tâm lý Giáo dục - Trường ĐHSP TPHCM
Bài viết này chỉ là một số phác thảo rất cụ thể và đơn nét dựa trên những suy nghĩ khá chủ quan của các quan niệm cá nhân như sau:
- Trường sư phạm không chỉ có nhiệm vụ duy nhất và nhiệm vụ “độc tôn” là đào tạo ra giáo viên
- Trường sư phạm trọng điểm phải là trường có yếu tố “trọng” và “điểm” đích thực
- Trường sư phạm trọng điểm và “chất lượng cao” không thể bỏ qua việc đào tạo những chuyên viên nghiên cứu giáo dục
- Trường sư phạm trọng điểm không thể “bỏ quên” nhu cầu dài hơi, nhu cầu đích thực
“ngắn hạn” của các đối tượng khác nhau từ thực tế
Một số phác thảo về sứ mạng đào tạo của trừơng Đại học sư phạm Việt Nam trong giai đoạn mới:
1 Đào tạo sau đại học phải trở thành thế mạnh thực sự, trở thành mũi nhọn và đây là hướng đi chiến lược Muốn cạnh tranh với các trường đại học thuộc khu vực thì bên cạnh hướng đi Didactic đã và đang làm thì hướng đi các khoa học chuyên ngành (không phải là nghiệp vụ) là vô cùng cần thiết vì nó đáp ứng cả chiều rộng và chiều sâu
2 Phải thực sự xác định việc bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng sư phạm cao cấp cho nhiều đối tượng khác nhau (giáo viên, giảng viên) là nhiệm vụ khá trọng yếu của trường
sư phạm trọng điểm Nếu không làm được việc này thì chiến lược xác lập thương hiệu sẽ rất
dễ chông chênh
3 Không thể không thử nghiệm những lớp Cử nhân Sư phạm tài năng trong một trường sư phạm trọng điểm (dẫu rằng để phấn đấu) Muốn như vậy, chiến lược tuyển đầu vào- công cụ thi tuyển- chương trình đào tạo- chế độ cho người học, người đào tạo và đặc biệt là hướng đầu ra phải được hoạch định một cách nghiêm túc và dài hơi
4 Xác định cho ra được đâu là mũi nhọn, đâu là cơ quan gây tiếng vang cho thế mạnh
“nghiệp vụ sư phạm” của nhà trường Nếu đã xác định được thì càng phải lưu trú chính xác vùng trọng điểm để đầu tư và xây dựng
5 Phải nhanh chóng và kịp thời chú ý những chuyên ngành có liên quan gần với ngành sư phạm, ngành giáo dục mà đặc biệt là công tác giáo dục con người Không thể bỏ qua các ngành vốn là thế mạnh của lực lượng nghiên cứu giáo dục như: công tác xã hội, công tác phong trào, Đặc biệt, việc bỏ qua nhu cầu của giáo viên cấp hai, giáo viên tiểu học đang dạy nhạc họa- kỹ thuật là một thiếu sót rất đáng trách Nghiên cứu về sư phạm, về giáo dục, không thể có chuyện chia mảng để “cát cứ” mà vấn đề quan trọng là làm sao có một cái nhìn “toàn diện” trong công tác giáo dục Đây là cái lý dứt khoát phải cần được tôn trọng
6 Không thể bỏ qua lứa tuổi trước tuổi đến trường nên chắc chắn việc nghĩ đến một trung tâm nghiên cứu về giáo dục mầm non (cả trên phương diện lý luận và ứng dụng) hoặc nghiên cứu về trẻ em trước tuổi đến trường là việc làm rất cần kíp Đấy không phải là sự giẫm đạp lên những gì đã có
Trang 297 Phải chú trọng đến việc xây dựng chiến lược đào tạo cử nhân nghiên cứu giáo dục (gốc chính là Giáo dục học) một cách bài bản dựa trên nguồn lực đã có Sẽ thật là lãng phí nếu không sớm hoạch định chiến lược này
8 Nhanh chóng hoàn thiện chương trình đào tạo cả hệ chính qui và hệ tại chức cho chuyên ngành Quản lý Giáo dục (Cử nhân Khoa học) vì không thể có chuyện không có Cử nhân Quản lý Giáo dục mà lại đào tạo Thạc sĩ một cách đứt ngọn như vậy
9 Phải chú ý hoàn thiện việc đào tạo bằng hai cho tất cả các chuyên khoa (dựa trên nhu cầu của xã hội đang cần) Không được quan niệm rằng chỉ có những ngành nào đang thực
sự thiếu giáo viên mới chú trọng đào tạo vì nhu cầu của xã hội đang chuyển hướng học ngành
sư phạm “kép” nhưng không chắc là sẽ đi dạy
Phải thực tâm mà thừa nhận rằng, làm được những sứ mạng sau đây đòi hỏi phải thực sự tâm huyết và nỗ lực thật nhiều Tuy nhiên, vấn đề còn lại không chỉ là tâm lực mà là trí lực Với những suy nghĩ rất tâm huyết, mong được chia sẻ và thông cảm
Trang 30NHỮNG CƠ SỞ XÁC LẬP MỤC TIÊU GIÁO DỤC –ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
TS Lê Thị Thanh Thảo
Khoa Vật lý – Trường ĐHSP TP HCM I- PHÂN TÍCH HỆ THỐNG MỤC TIÊU GIÁO DỤC QUỐC GIA
Mục tiêu giáo dục (GD) nhân cách tổng quát của VN được chính thức hóa trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần II khóa VIII năm 1996 như sau:
Xây dựng những con người và thế hệ thiết tha với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; có tư duy sáng tạo, tính độc lập và tích cực cá nhân; có năng lực thực hành giỏi, yêu nghề, làm chủ khoa học, kỹ thuật hiện đại; có ý thức tổ chức kỉ luật; tác phong công nghiệp; ý thức cộng đồng và tinh thần hợp tác; có ý thức bảo vệ mội trường; có nếp sống lành mạnh và có sức khoẻ tốt.”
Đây có thể xem là lần đầu tiên mục đích tổng quát của nền GD Việt Nam được đề ra
trên cơ sở các nghiên cứu chiến lược toàn diện và thuyết phục, nó đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của GD VN Mặc dù mục tiêu này trên văn bản là mục tiêu GD tới năm 2010, nhưng nhiều tư tưởng mới mẻ thể hiện rõ xu thế phát triển GD của thời đại có ý nghĩa định hướng cho cả giai đoạn phát triển tiếp theo của GD VN Có thể coi đây là hệ thống những giá trị cơ bản mà GDVN hướng tới
Sau văn bản “Mục tiêu và kế hoạch đào tạo” năm 1986 và 1990 của ngành giáo dục thì mục tiêu GD cấp quốc gia tiếp theo là mục tiêu GD của từng cấp học phổ thông, các bậc học
cụ thể (đại học, cao đẳng…) lần đầu tiên được đề ra trong văn bản cấp quốc gia là trong Luật giáo dục (1) đầu tiên của VN chính thức ban hành vào năm 1998 trên cơ sở định hướng của mục đích GD tổng quát đề ra trong nghị quyết Đại hội Đảng lần 2 khóa VIII và chiến lược phát triển GD đến 2010 (Các mục tiêu tổng quát này đến lượt nó sẽ là cơ sở định hướng cho việc xác lập các mục tiêu cụ thể của từng môn học trong từng cấp học phổ thông, từng khối ngành GD-ĐT trong các bậc học sau phổ thông) Với một ngành, một khối ngành GD-ĐT cụ thể mục tiêu tổng quát này có ý nghĩa như mục đích mà các chương trình đào tạo (CTĐT) cụ thể mà một ngành, một khối ngành hướng tới trong từng giai đoạn phát triển nhất định và là
cơ sở định hướng cho sư phát triển bền vững của CTĐT ở các giai đoạn tiếp theo
Đây là một bước tiến quan trọng có tính chất định hướng cho sự phát triển GD VN Tuy nhiên thực tế cho thấy, đã qua một khoảng thời gian dài sau Hội nghị BCH TW Đảng lần II khóa VIII và sau khi có chiến lược phát triển GD, sau khi đã có Luật GD, GD VN vẫn chưa vượt qua được những khó khăn cơ bản để có thể vững vàng trên con đường phát triển và hội nhập Trong các kỳ họp Quốc hội, các kỳ Đại hội Đảng gần đây khi bàn về vấn đề GD đã có nhiều ý kiến thống nhất về việc cần phải sửa đổi nhiều điều trong Luật GD, cần phải xác định lại định hướng phát triển GD dài hơn, đến 2020 hoặc 2030, cần làm cho mục tiêu GD phản ánh được xu thế phát triển của thế giới và của VN Trong nhiều nghiên cứu GD cũng chỉ ra những điều chưa sáng tỏ về triết lý GD, về hệ thống giá trị… Trong các đánh giá GD tầm quốc gia (các báo cáo của Bộ trưởng GD tại các kỳ họp Quốc hội gần đây) cũng chỉ ra những kết quả rất thấp, rất xa so với mục tiêu GD đề ra, nhất là về mặt GD nhân cách… Tất cả những điều này cho thấy cần phải rà soát lại các mục tiêu (MT) GD ở tất cả các cấp độ (quốc gia, khối ngành, ngành, cơ sở,…) để MTGD phản ánh được yêu cầu thực tiễn, yêu cầu phát
(1) Điều 19, 23, 29, 35
Trang 31triển c nhn và yu cầu pht triển mọi mặt của đời sống xã hội, để MTGD thực sự là cơ sở định hướng cho sự phát triển GD-ĐT Điều đó cũng cho thấy những khó khăn khi các cơ sở GD-
ĐT xác lập mục tiêu GD-ĐT của các CTĐT cụ thể ở giai đoạn này khi mà mục tiêu GD các cấp độ cao hơn thực sự là chưa xác đáng
Mục tiêu GD cấp độ tiếp theo là mục tiêu các khối ngành đào tạo Tháng 4/2005 vừa qua Bộ đã gửi về các trường đại học và cao đẳng chương trình khung của các khối ngành được biên soạn bởi các Hội đồng khối ngành dựa trên tinh thần của mục tiêu GD tổng quát và mục tiêu GD bậc đại học được ban hành trong Luật GD để đảm bảo việc thống nhất thực hiện các MTGD chung và thống nhất quản lý theo tinh thần của Luật GD
Trên cơ sở mục tiêu và chương trình khung của khối ngành và các mục tiêu các cấp độ quốc gia cao hơn thì từng ngành xây dựng mục tiêu và các chương trình đào tạo cụ thể của ngành mình dựa trên mục tiêu GD của ngành Đây là một cơ hội cho các ngành đổi mới chương trình đào tạo một cách cơ bản nếu các ngành xác lập được mục tiêu GD –ĐT một cách xác đáng Tuy nhiên nhiều ngành nghề, trong đó có đào tạo GV từ trước tới nay chưa quan tâm xây dựng mục tiêu nên vẫn duy trì từ lâu chương trình đào tạo xây dựng chủ yếu theo cách tiếp cận nội dung lạc hậu vì thế rất dễ dàng rơi vào tình trạng phải đón nhận yêu cầu đổi mới lần này một cách bị động và sẽ lại xây dựng chương trình đào tạo theo cách tiếp cận nội dung lạc hậu như từ trước tới nay
Có thể nói: Mục tiêu không rõ ràng, hoặc mục tiêu xa rời yêu cầu của thực tiễn, yêu cầu phát triển của cá nhân và xã hội, xa rời mục tiêu GD tổng quát được đề ra trong Chiến lược phát triển GD VN phổ biến ở các chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành, nghề
cụ thể là một trong nhiều nguyên nhân chính có thể giải thích những kết quả nghiên cứu thực trạng chất lượng, những đánh giá từ nhiều phía về chất lượng GD đại học nói riêng và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực nói chung của GD VN (Riêng về CTĐT giáo viên vật lý chúng tôi sẽ có những nghiên cứu thực trạng cụ thể ở phần sau để minh chứng cho nhận xét trên)
II-TÌNH HÌNH VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRÊN THẾ GIỚI:
Thế giới hiện nay đang ở trong thời kì biến đổi cực kì nhanh chóng đi cùng sự phát triển mang tính xu thế tất yếu của kinh tế thị trường và sự phát triển bùng nổ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là công nghệ truyền thông, đòi hỏi phải luôn có sự đổi mới tư duy giáo dục kịp thời Trong thế giới biến động ấy mỗi người nói riêng và mỗi dân tộc nói chung muốn tồn tại và phát triển được thì điều đầu tiên là phải biết thích nghi, chủ động thích nghi, chủ động tham gia một cách sáng tạo vào sự phát triển và góp phần thúc đẩy sự phát triển Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng triệt để thì bất cứ ai hay dân tộc nào không muốn hay không kịp đổi mới tư duy, không muốn tham gia vào xu thế chung sẽ nhanh chóng tụt hậu
Thích nghi và sáng tạo là hai phẩm chất quan trọng của con người trong thời đại ngày nay và GD phải giúp cho con người hình thành và phát huy các phẩm chất ấy
UNESCO đã đưa ra 4 trụ cột quan trọng của giáo dục (Báo cáo của Uỷ ban quốc tế về
giáo dục TK 21): Theo ý tưởng thế kỉ 21 sẽ là xã hội học tập, nền văn minh và quyền lực của tri thức, giáo dục vừa phải cung cấp tri thức vừa phải dạy công nghệ “Giáo dục không những phải cung cấp bản đồ của toàn cục trong thế giới luôn náo động vừa phải cung cấp la bàn để tìm đường đi trong đó”
Dạy học là dạy cả tri thức, kĩ năng và thái độ để khi ra đời có thể học tập suốt đời, có thể thích nghi và tham gia một cách chủ động, sáng tạo vào thế giới phong phú, luôn biến đổi
và phụ thuộc lẫn nhau Giáo dục giúp mỗi người phát hiện và làm giàu tiềm năng sáng tạo của bản thân – năng lực nội sinh của mỗi người, đó là vốn liếng để mỗi người trở nên giàu có, đó
Trang 32là quá tình phát triển của mỗi con người và cũng là quá trình con người tự khẳng định mình,
tự thể hiện mình trong cộng đồng, trong xã hội
“Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình” là 4 trụ cột
của GD thế kỷ XXI mà Ủy ban GD thế kỷ XXI của UNESCO đã đúc kết
Giao tiếp, hợp tác, quản lý làm việc với thông tin và khả năng học tập suốt đời là các mục tiêu nhân văn cơ bản bên cạnh những mục tiêu giáo dục truyền thống mà bất lỳ chương trình đào tạo nguồn nhân lực thế kỷ XXI nào cũng phải hướng tới
Giáo dục nhân cách đa dạng, độc lập, đó là cơ sở của sáng tạo và canh tân xã hội Thế
kỷ XXI là thế kỷ của tài năng và nhân cách đa dạng Học để tự khẳng định mình là tạo ra sự phát triển toàn diện con người với toàn bộ sự phong phú, đa dạng vốn có của nhân cách cá nhân
Các trường Đại học sư phạm, nơi đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống GDPT có vai trò động lực quyết định chất lượng nguồn nhân lực cần xác định cho mình mục tiêu GD – ĐT phản ánh rõ sứ mạng cao cả của mình
MỤC TIÊU GD – ĐT GIÁO VIÊN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM: Mục tiêu giáo dục – đào tạo giáo viên của trường ĐHSP là đào tạo giáo viên có trình độ đại học cho hệ thống GDPT hiện tại và tương lai, đó là những người có phẩm chất chính trị vững vàng; có lập trường tư tưởng đúng đắn; có tư cách đạo đức tốt; yêu nghề và sẵn sàng công hiến cho sự nghiệp GD-ĐT; có khả năng chuyên môn và nghiệp vụ; có óc sáng tạo; có khả năng và sự say mê tự học, tự nghiên cứu; vừa có khả năng đáp ứng nhanh chóng yêu cầu của thực tiễn GDPT ngay sau khi tốt nghiệp vừa được chuẩn bị tiềm năng cơ bản cho sự thích ứng để có thể đương đầu và không ngừng phát triển nghề nghiệp, hoàn thiện nhân cách trong tương lai GD được dự báo là biến đổi không ngừng
Đối với việc phát triển mỗi CTĐT GV cụ thể, các mục tiêu trên đây có thể xem là định
hướng cho việc xác lập các MTGD-ĐT cụ thể
Mục tiêu GD – ĐT GV dạy môn học cụ thể bên cạnh các mục tiêu GD đạo đức, tư cách, lòng yêu nghề là các mục tiêu riêng mà mỗi chương trình đào tạo phải tự mình xác lập:
- Mục tiêu đáp ứng yêu cầu thực tiễn được xác lập trên cơ sở quán triệt mục tiêu GD của môn học ở phổ thông trong từng giai đoạn phát triển nhất định
- Các mục tiêu nhân văn hướng tới sự phát triển của cá nhân trong quá trình đào tạo nhằm tạo tiềm năng cho sự thích ứng và phát triển nghề nghiệp trong tương lai như: các kỹ năng nghiên cứu khoa học, khả năng tự học, giao tiếp, hợp tác, tổ chức, quản lý, làm việc với các nguồn thông tin,…
- Mục tiêu đáp ứng yêu cầu của sự phát triển mang tinh xu thế của việc dạy - học môn học tương ứng như: Xu thế đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy và học môn học; xu thế đổi mới hệ thống GD phổ thông Việt nam (dạy đa hệ, đa cấp, đa môn…)…
Trang 33- 33 -
MỤC ĐÍCH GD TỔNG QUÁT (Mục đích của
những mục đích): Mô hình nhân cách chung nhất
trong giai đoạn phát triển tương đối dài
(cấp quốc gia)
Mục tiêu giáo dục đào tạo nghề
Mục tiêu giáo dục Đại học và Cao đẳng
Mục tiêu giáo dục phổ thông
MỤC TIÊU GIÁO DỤC TỔNG QUÁT:
mô hình nhân cách chung của một lớp
người trong một giai đoạn phát triển tương
đối dài (cấp quốc gia)
Dạy nghề
TH chuyên nghiệp
Sư phạm
Kỹ thuật
Kinh tế
Trung học phổ thông
Tiểu học
MỤC ĐÍCH VÀ MỤC TIÊU GD-ĐT
CHUNG : của một khối ngành
(cấp quốc gia, vùng, miền)
GV Sinh
GV Hóa
GV Lý
MÔN SINH
MÔN HOÁ
MÔN LÝ
MỤC TIÊU GIÁO DỤC -ĐÀO TẠO: của
một ngành, nghề cụ thể); MTGD - ĐT của
một CTĐT cụ thể)
MỤC TIÊU DẠY HỌC – GIÁO DỤC (các mục
tiêu cụ thể của các học phần, chương trình rèn
luyện trong một CTĐT cụ thể)
Trang 34MỐI QUAN HỆ GIỮA MỤC TIÊU GIÁO DỤC MÔN HỌC
Ở PHỔ THÔNG VÀ MỤC TIÊU GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN
TS Lê Thị Thanh Thảo
Khoa Vật lý – Trường ĐHSP TPHCM Mục tiêu giáo dục của môn học ở phổ thông liên hệ chặt chẽ đến một phần quan trọng của
mục tiêu GD – ĐT giáo viên dạy môn học đó Trong thực tế việc đào tạo GV từ trước đến nay
chủ yếu hướng tới đào tạo GV đáp ứng các mục tiêu này mà chưa quan tâm đầy đủ đến việc đáp
ứng yêu cầu phát triển của GDPT Chúng ta thử xem ngay cả ở mức độ này việc đào tạo GV ở
các trương sư phạm đã thực hiện tốt hay chưa:
Ta biết mục tiêu GD của mỗi môn học ở phổ thông trên lý thuyết là hướng tới các mục
tiêu trong ba lĩnh vực: nhận thức, kỹ năng và thái độ Lấy ví dụ cụ thể là môn vật lý: chương trình
và nội dung của môn vật lý ở trung học phổ thông của Việt nam từ trước đây vài chục năm được
biên soạn theo chương trình và SGK của Liên xô cũ và duy trì cho đến tận lần cải cách này với
những thay đổi không căn bản Theo các nhà GD Xô viết trước đây thì hệ thống kinh nghiệm xã
hội cần truyền thụ cho thế hệ trẻ (học sinh phổ thông) bao gồm:
- Hệ thống kiến thức: Toán, Khoa học tự nhiên và xã hội nhằm giúp người học có bức
tranh chân thực về thế giới tự nhiên và xã hội; Hệ thống kỹ năng về phương pháp nhận thức thế
giới và tư duy,
- Hệ thống kiến thức, kỹ năng về phương pháp tái tạo thế giới,
- Hệ thống kiến thức, kỹ năng về phương pháp sáng tạo thế giới,
- Hệ thống kiến thức, kỹ năng về quan hệ của con người với thế giới xung quanh (tự
nhiên, xã hội) và với con người
Nhưng trong thực tế, mục tiêu môn học vật lý phổ thông ở Việt nam nhiều năm nay chủ
yếu hướng tới truyền thụ một dung lượng kiến thức và mức độ đồng hóa kiến thức (thể hiện rõ
nét cả ở việc duy trì nội dung và hình thức các kỳ thi quan trọng), dẫn tới việc đào tạo GV lâu
nay cũng chủ yếu quan tâm tới việc trang bị kiến thức và các phương pháp truyền thụ kiến thức
Có nghĩa là việc đào tạo GV thực ra chưa đáp ứng được một cách đầy đủ các mục tiêu GD môn
học ở phổ thông mặc dù mục tiêu ấy cho đến nay đã quá lạc hậu
Mục tiêu giáo dục môn học vật lý ở lần đổi mới này vẫn không có thay đổi gì đáng kể so
với mục tiêu trên và rất xa với mục tiêu GD của các môn khoa học về tự nhiên ở nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới trong giai đoạn hiện nay
Hãy thử tham khảo mục tiêu giáo dục các môn khoa học về tự nhiên của Australia, một
quốc gia có nền GD tương đối phát triển hiện nay (mục tiêu của các nước trong khu vực như Thái
lan, Singapore, Malaysia….không khác đáng kể) để thấy rõ sự khác biệt có tính cơ bản giữa mục
tiêu các môn học tự nhiên ở phổ thông mà chúng ta đang có với xu thế đổi mới chung trên thế
Trang 353- Phát triển các kỹ năng tiến trình khoa học: làm cho HS biết cách tiến hành các hoạt động
khoa học, đó là các kỹ năng cần thiết đối với sự phát triển trí tuệ của HS nhằm nắm bắt các thông tin KH: quan sát, thu thập thông tin, so sánh, sắp xếp, phân loại, liên hệ, suy luận , áp dụng…
4- Sự phát triển kiến thức khoa học: Xu hướng thay đổi lớn là coi trọng việc phải biết làm thế
nào tiếp cận và sử dụng thông tin khoa học hơn là hiểu biết số lượng nhất định các khái niệm chủ chốt, cơ bản Việc này gây ra nhiều tranh luận về nội dung cốt lõi của khoa học là gì
Một quan điểm được tranh luận nhiều hơn là: nội dung kiến thức không quan trọng bằng
kỹ năng tiến trình khoa học và sự hiểu biết về tiến trình khoa học
Hướng đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học thích ứng với
các mục tiêu đó cũng thật khác với quan niệm phổ biến của chúng ta:
- Quan niệm nội dung môn học, hệ thống các khái niệm chủ chốt là cần thiết nhưng đồng thời phải chú ý cân bằng với việc rèn luyện các kĩ năng tiến trình khoa học,
- Tích hợp là xu thế dạy khoa học hiện nay: Tích hợp theo chủ đề và tích hợp liên môn học,
- Phương pháp dạy-học: Chú trọng đến các phương pháp tạo tình huống, tạo điều kiện cho người học tích cực, chủ động, đặc biệt là quan điểm kiến tạo trong dạy học nhằm đạt tới các mục tiêu phát triển cá nhân,
- Tổ chức học tập: không đơn thuần theo lối truyền thống mà nên tổ chức theo nhóm hợp tác nhằm rèn luyện các kỹ năng nhân văn quan trọng làm tiềm năng cho sự thích ứng và phát triển của cá nhân như: giao tiếp, hợp tác, tổ chức, làm việc với thông tin…
Phân tích sơ bộ trên phần nào cho thấy nguyên nhân của sự chậm đổi mới phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp đánh giá ở phổ thông là do chương trình, nội dung môn học được biên soạn từ mục tiêu GD lạc hậu, xa rời xu thế đổi mới hiện nay Phân tích này cũng chỉ ra nguyên nhân của nhiều khó khăn khi cố gắng áp dụng các phương pháp dạy học tích cực vào thực tiễn GDPT Việt nam, đó là do có sự khác biệt mang tính cơ bản của mục tiêu
GD của chúng ta với các mục tiêu GD có tính xu thế chung hiện nay
Khi các trường sư phạm không xác định hoặc xác định một cách không xác đáng, không thuyết phục sứ mạng, mục tiêu giáo dục của mình, không thấy hết sứ mạng đi trước, đón đầu, tạo động lực cho sự đổi mới GDPT mà chỉ chạy theo yều cầu từ thực tiễn GD hiện nay vốn đã rất lạc hậu trong thực tế, đã làm cho chất lượng đào tạo GV không đáp ứng cả yêu cầu thực tiễn hiện nay, chứ chưa nói đến yêu cầu của sự phát triển GDPT Người GV được đào tạo từ các chương trình đào tạo có mục tiêu như thế chắc chắn sẽ không được chuẩn bị tốt tiềm năng cho sự thích ứng, đương đầu với sự đổi mới GDPT theo xu thế phát triển tất yếu của GD, chắc chắn sẽ khó lòng đáp ứng các yêu cầu đổi mới đang diễn ra với nhịp độ ngày càng nhanh hiện nay Diễn biến trong những ngày vừa qua xung quanh chương trình SGK phân ban mới đang thí điểm cho phép dự báo
sẽ có sự đổi mới học vấn phổ thông một cách căn bản, triệt để hơn, tiệm cận hơn với xu thế phát triển chung trong thời gian tới Người GV tương lai nếu không được chuẩn bị tốt tiềm năng để thích ứng sẽ không thể đổi mới và dễ dàng trở thành trở lực lớn và lâu dài cho công cuộc đổi mới GDPT
Trang 36PHẦN II ĐÀO TẠO SƯ PHẠM
VÀ CHẤT LƯỢNG NGƯỜI THẦY
Trang 37ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC Ở ĐẠI HỌC
BẰNG VIỆC SỬ DỤNG INTERNET
ThS Nguyễn Hồng Anh Viện Nghiên Cứu Giáo Dục – Trường ĐHSP TPHCM Trong những năm gần đây số lượng giáo viên và sinh viên các trường đại học ở nước ta sử
dụng máy vi tính trong việc dạy và học tăng lên một cách đáng kể Điều này đóng một vai trò rất
quan trọng trong sự nghiệp giáo dục của nước ta ở thế kỷ 21 này Một trong những ứng dụng của
máy tính vào quá trình dạy và học là việc sử dụng Internet
Tình hình thực tế cho thấy, chúng ta đã và đang bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên
của công nghệ thông tin mà trong đó Internet là một tiềm năng rất lớn có thể làm thay đổi bộ mặt
giáo dục của nước ta, nhất là giáo dục đại học Sự phát triển của công nghệ này đã mở ra một
cuộc cách mạng đẩy mạnh quá trình cải cách giáo dục trên toàn quốc để hội nhập với thế giới, và
Internet ngày càng được các nhà giáo dục và sinh viên tin dùng do những lợi ích sau đây
Trước tiên phải nói rằng Internet là một công cụ phục vụ học tập hoàn hảo Những trang
web có thể truy cập được trên toàn cầu giúp sinh viên tiếp cận những ý tưởng cũng như những
kinh nghiệm quý báu của loài người Qua đó sinh viên có thể tư duy sáng tạo hay tiếp nối những
công trình, những khám phá mới tiếp tục phục vụ cho sự phát triển của xã hội, và nó cũng giúp
cho sinh viên đi xa hơn, vượt qua những hạn chế của bài giảng trong sách giáo khoa ở trường
học
Ngoài ra Internet còn tạo hưng phấn cho người học cũng như giúp họ học tập, nghiên cứu
chăm chỉ hơn Trên mạng hiện nay có vô số các trò chơi giải trí dành cho họ sau những giờ học
căng thẳng Hoặc giáo viên có thể truyền đạt kiến thức cho người học bằng cách thiết kế những
câu đố vui hay các trò chơi về bộ môn mình đang giảng dạy nhằm làm giảm bớt sự đơn điệu
trong việc dạy và học
Internet cũng giúp nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên Các quí vị có đồng ý với tôi
rằng việc giảng dạy qua mạng Internet giúp chúng ta nâng cao những kỹ năng về ngôn ngữ
không? Việc dạy và học qua mạng Internet có thể ảnh hưởng tích cực đến thái độ dạy và học
Giáo viên thì có thể tự xây dựng các chiến lược giảng dạy của mình còn sinh viên thì tự tin hơn
trong việc học Ngoài ra cả người dạy lẫn người học đều có thể nâng cao kiến thức của mình một
cách triệt để qua các tài liệu lúc nào cũng sẵn có trên mạng dù cho họ ở bất kỳ nơi đâu hay cần nó
trong bất cứ thời gian nào
Một ích lợi to lớn nữa của việc sử dụng Internet trong giáo dục là giúp cho việc nâng cao
khả năng giao tiếp giữa người dạy và người học – điều này rất quan trọng đối với các sinh viên ở
nước ta vì họ bị cho là quá thụ động trong lớp học, chỉ biết nghe giảng và ghi bài một cách máy
móc Bằng cách trao đổi qua thư điện tử (E-mail), tham gia các diễn đàn (forums) trên mạng,
những người học nhút nhát nhất cũng có thể bày tỏ ý kiến hay quan điểm của mình, điều mà họ ít
dám làm trong các lớp học truyền thống
Tuy nhiên Internet cũng có những mặt hạn chế mà người dạy và người học nên chú ý
Điểm hạn chế đầu tiên là sinh viên sẽ dễ dàng bị bối rối và lạc lối trên “xa lộ thông tin” với vô số
các trang web Để tránh tình trạng này giáo viên nên cung cấp cho sinh viên những địa chỉ trang
web cụ thể để sinh viên có thể nhanh chóng vào được trang web mình cần
Trang 38Hạn chế tiếp theo là khả năng sử dụng công nghệ thông tin cũng như kiến thức về nó Cho nên trước khi tiến hành sử dụng Internet vào quá trình dạy và học, các giáo viên nên hướng dẫn những động tác cũng như những kiến thức cơ bản về Internet để sinh viên tránh bỡ ngỡ trong quá trình sử dụng Hơn nữa hầu hết những tài liệu trên Internet thường được viết bằng tiếng Anh Điều này có thể là một trở ngại lớn đối với giáo viên và sinh viên Việt Nam Tuy nhiên có thể khẳng định là các hạn chế đó không ảnh hưởng nhiều đến các lợi ích to lớn mà Internet đem lại cho giáo dục
Tóm lại Internet là một công cụ dạy và học hết sức hiệu quả trong thời kỳ cải cách giáo dục, phát triển và hội nhập với nền giáo dục của thế giới hiện nay Với tình hình dạy và học ở nước ta như hiện nay, tôi tin chắc rằng trong tương lai không xa, tất cả các trường đại học trong nước đều có thể sử dụng Internet trong giảng dạy học tập và nghiên cứu, góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy và học ở các trường đại học
Trang 39PHẨM CHẤT TÂM LÝ CỦA GIÁO VIÊN DƯỚI GÓC ĐỘ MỤC TIÊU ĐÀO TẠO
TS Đoàn Văn Điều Khoa Tâm lý Giáo dục – Trường ĐHSP TPHCM Bài viết này bàn về các phẩm chất tâm lý mà người giảng viên trong các trường sư phạm cần phải có Cần phải nhấn mạnh rằng các phẩm chất đó được nhìn dưới góc độ mục tiêu đào tạo Trước hết, chúng ta tìm hiểu về các loại mục tiêu trong nhà trường Trong nhà trường thường có hai loại mục tiêu:
• Mục tiêu chương trình:
Mục tiêu chương trình xuất phát từ các mục đích của trường hoặc của địa phương nơi trường đóng, thường được được viết ra ở mức độ môn học và lớp học Mặc dù nó thường không xác định nội dung hoặc khả năng cụ thể, nhưng nó nhấn mạnh trên nội dung và hành vi Giống như mục đích, chúng nói đến sự hoàn thành nhiệm vụ học tập chung của tất cả học sinh, chứ không phải của những cá nhân học sinh nào
• Mục tiêu khóa học:
Mục tiêu khóa học nảy sinh từ mục tiêu chương trình và được hình thành ở mức độ môn học và khoa Nó được xếp vào phạm trù và kết cấu nội dung và đôi khi khái niệm, vấn đề hoặc hành vi, nhưng không cụ thể hóa nội dung chính xác để xem xét hoặc phương pháp giảng dạy và nội dung chính xác để sử dụng Mục tiêu khóa học được xác định dưới hình thức chủ đề, khái niệm hoặc hành vi tổng quát
Việc đào tạo giáo viên đáp ứng được yêu cầu giáo dục và dạy học của thực tiễn phát triển sinh động là điều mong muốn của toàn xã hội Để thực hiện được việc này, trước hết những nhà quản lý và các cơ sở đào tạo phải xác định được những đặc điểm nhân cách mà một giáo viên cần
có Việc làm này đã được thực hiện từ xưa đến nay và các phẩm chất của giáo viên được xác định theo yêu cầu của từng giai đoạn của xã hội Hiện nay, ở Việt Nam, đứng trước yêu cầu của sự phát triển và hội nhập, chúng ta thử tìm hiểu một số phẩm chất tâm lý cần thiết của giáo viên trong giai đoạn hiện nay
1.1 Mục đích đào tạo của nhà trường:
Trong một xã hội thay đổi nhanh chóng và toàn diện, chúng ta mong chờ vào nhà trường để giải quyết những vấn đề trong tương lai Để đạt được điều này, chúng ta đặt ra những mục đích
mà nhà trường cần phải đạt tới Khi nói tới mục đích, chúng ta nói tới một hoặc những mức độ:
cả nước, tỉnh (thành phố), quận (huyện), trường học, môn học hoặc lớp học, kế hoạch giảng dạy
bộ môn, giáo án, …Tuy chưa có sự nhất trí hoàn toàn, nhưng các thuật ngữ dưới đây được sử dụng để chỉ các mức độ từ tổng quát đến cụ thể nói lên cái đích mà chúng ta muốn đạt đến: tôn chỉ, mục đích và mục tiêu
Việc xác định mục tiêu, cần phải dựa trên cơ sở tôn chỉ và mục đích Các địa phương và các trường thực hiện nhiệm vụ của mình thông qua những mục tiêu cụ thể
Sau đây, ta tham khảo thêm mục đích chính của nhà trường ở các nước có nền kinh tế phát triển:
• Thông thạo những kỹ năng hoặc những quá trình căn bản Trong nền văn minh công
nghệ, khả năng của mỗi cá nhân tham gia vào các hoạt động xã hội tùy thuộc vào sự thông thạo những quá trình căn bản này
Trang 40• Giáo dục nghề nghiệp hoặc hướng nghiệp Sự thỏa mãn riêng của cá nhân trong đời
sống sẽ liên hệ một cách đáng kể đến sự thỏa mãn nghề nghiệp của người đó Những quyết định nghề nghiệp thông minh đòi hỏi tri thức về khả năng và hứng thú của bản thân trong mối tương quan với các khả năng nghề nghiệp
• Phát triển trí tuệ Khi cuộc sống văn minh trở nên phức tạp hơn, con người từ trước đến
nay phải tùy thuộc nhiều hơn vào khả năng lý trí của mình Sự phát triển đầy đủ trí tuệ của mỗi thành viên trong xã hội là điều cần thiết
• Trau dồi văn hóa Các kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ mối quan hệ giữa cuộc sống của
chúng ta với quá khứ tạo ra sự hiểu biết sâu sắc về xã hội và các giá trị của nó; sâu xa hơn, những điều này củng cố ý thức của cá nhân sống trong xã hội nhất định, khẳng định được bản thân và hướng đi đối với cuộc sống riêng
• Các mối quan hệ liên nhân cách lành mạnh Nhà trường cần giúp người học hiểu biết,
ngưỡng mộ và đánh giá con người của các nhóm xã hội, văn hóa và dân tộc khác
• Tính tự giác Nếu nhà trường không đào tạo được các công dân tự định hướng cho mình,
thì nhà trường đã thất bại về cả mặt xã hội lẫn về mặt cá nhân Khi xã hội ngày càng trở nên phức tạp, những yêu cầu đối với cá nhân rất đa dạng Nhà trường giúp người học chuẩn bị sống trong một thế giới thay đổi nhanh chóng bằng cách phát triển trong bản thân họ các khả năng như tinh thần trách nhiệm đối với những nhu cầu riêng của mình
• Đào tạo các công dân Để chống lại khuynh hướng của một số người muốn phá hủy
nhân loại và môi trường cần có sự tham gia của công dân vào đời sống xã hội và chính trị của một đất nước Một nền dân chủ chỉ có thể tồn tại khi có sự tham gia của các thành viên trong xã hội
• Tính sáng tạo và sự nhận thức thẩm mỹ Khả năng tạo ra những thứ mới và có ý nghĩa
cũng như tôn trọng sự sáng tạo của những người khác là điều quan trọng cho việc nhận ra bản ngã của bản thân và cho lợi ích của xã hội
• Khái niệm về bản ngã Khái niệm về bản ngã của một cá nhân tạo ra cơ chế hướng tham
khảo và phản hồi với mục đích và sự kích thích của cá nhân Môi trường học đường có thể tạo ra các yếu tố thúc đẩy khái niệm về bản ngã lành mạnh
• Giáo dục sức khỏe thể chất và cảm xúc Sự ổn định về cảm xúc và sự cường tráng về
thể chất được coi như là những điều kiện cần thiết để đạt đến những mục đích khác, nhưng chính
đó cũng là những kết quả có giá trị
• Tính cách, luân lý và đạo đức Các cá nhân cần phát triển sự phán đoán cho phép đánh
giá các sự kiện đúng hoặc sai Nhà trường cần tập trung sự phát triển về sự đánh giá cũng như sự chấp nhận sự thật, sự toàn vẹn về luân lý cũng như hành vi luân lý
• Tự công nhận Các cố gắng phát triển về bản ngã tốt hơn sẽ đóng góp vào sự phát triển
một xã hội tốt hơn
Ngoài việc xác định được mục đích, mục tiêu của nhà trường, các nhà giáo dục cũng cần phải xác định các phương pháp và phương tiện để thực hiện các mục đích và mục tiêu đó
2.1 Mục tiêu đào tạo của trường đại học:
Như đã nói ở trên, việc đào tạo sinh viên ở các trường đại học để đáp ứng được yêu cầu của một xã hội luôn luôn phát triển dưới tác động của khoa học kỹ thuật là một việc làm khó khăn Hơn nữa, ngành nghề ngày nay cũng biến động không kém Do đó, việc xác định được