Trong quá trình giảng dạy cho học sinh tại trường THPT Sông Ray, hiện nay đã và đang được áp dụng nhiều phương pháp mới, trong phạm vi đề tài này tôi xin trình bày "Một vài phương pháp n
Trang 1
Mã số:
SẢN PHẨM SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Người thực hiện: NGUYỄN HUỲNH THANH TRANG
Lĩnh vực nghiên cứu:
Phương pháp dạy học bộ môn: Tin Học
Có đính kèm:
Mô hình Đĩa CD(DVD) Phim ảnh Hiện vật
Năm học: 2013 – 2014
Trang 2I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Theo các nhà chuyên môn thì một trong những tình trạng học sinh yếu kém đó
là do “Phương pháp giảng dạy chưa tốt” Nghị quyết Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam cũng luôn nhấn mạnh đến cần phải đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy để ngày càng đạt chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước ta
Như vậy, phương pháp giảng dạy trong quá trình lên lớp của giáo viên ở nhà trường có tầm quan trọng đặc biệt, nếu không muốn nói là có ý nghĩa quyết định,
vì người giáo viên dù có chuẩn bị nội dung phong phú và chu đáo đến đâu đi nữa nếu không sử dụng đúng phương pháp giảng dạy thì chắc chắn sẽ làm cho khả năng tiếp thu kiến thức của học trò bị hạn chế và kết quả sẽ không đạt được như mục tiêu đề ra trong tiết học
Đối với bộ môn tin học thì điều đó lại càng cần thiết, vì có những kiến thức trừu tượng, khó hiểu, mà các em lại không có nhiều thời gian cho môn học này và cũng vì các em phải tập trung cho các môn học chính, những môn mà các em sẽ thi tốt nghiệp hay đại học
Tin học là một môn học mới và tương đối khó đối với học sinh THPT trong
đó môn lập trình Pascal trong chương trình lớp 11 lại càng khó Để viết được một chương trình hoàn chỉnh thì phải thỏa mãn yêu cầu của bài toán đặt ra trên máy tính và học sinh cần phải có tư duy lôgic về thuật toán, khả năng sử dụng máy tính thành thạo, sử dụng các câu lệnh và khai báo kiểu dữ liệu một cách hợp lý
Theo thói quen của nhiều em học sinh, học môn tin là học những thao tác sử dụng như cách sử dụng Internet, sử dụng hệ điều hành Windows, chương trình soạn thảo văn bản MS Word, chương trình soạn thảo trình diễn MS PowerPoint … Đây là những phần học không cần đòi hỏi tư duy, mà chỉ cần học kĩ và nhớ các thao tác, thực hành nhiều lần thì sẽ thành thạo Nhưng khi học bộ môn lập trình Passal thì hầu như các em bị “choáng” vì bộ môn này rất “mới”, và cách học cũng
“mới” Học những thao tác và thực hành nhiều không còn tác dụng, học thuộc bài cũng không còn ổn nữa Lúc này các em cần phải học cách tư duy logic, tìm thuật toán và viết những dòng lệnh máy tính chính xác đến từng dấu chấm, dấu phẩy
Với tâm lí thông thường các em học sinh coi tin học là môn học phụ không
Trang 3quan trọng nên nhiều em chủ quan không dành đủ thời gian để học nên không hiểu bài và dần dần bị mất căn bản Đây cũng là lí do mà nhiều em bị điểm kém, thậm chí là phải thi lại hay học lại bộ môn tin học lập trình
Do vậy, để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và gây hứng thú cho học sinh về bộ môn lập trình Pascal, việc đổi mới phương pháp dạy học cần thực hiện theo định hướng hoạt động hoá người học, tức là tổ chức cho học sinh học tập trong hoạt động bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo Đòi hỏi này xuất phát từ nhu cầu của xã hội đối với sự phát triển nhân cách của thế hệ trẻ,
từ những đặc điểm của nội dung mới và từ bản chất của quá trình học tập Để đáp ứng đòi hỏi đó, chúng ta không chỉ dừng ở việc nêu định hướng đổi mới phương pháp dạy học mà cần phải đi sâu vào những phương pháp dạy học cụ thể như những biện pháp để thực hiện định hướng nói trên Trong quá trình giảng dạy cho học sinh tại trường THPT Sông Ray, hiện nay đã và đang được áp dụng nhiều
phương pháp mới, trong phạm vi đề tài này tôi xin trình bày "Một vài phương pháp nhỏ giúp học sinh học tốt lập trình Cấu trúc rẽ nhánh”
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Cấu trúc rẽ nhánh là cấu trúc điều khiển hoạt động trong lập trình, đây là một
bộ phận quan trọng trong chương trình tin học 11 ở trường THPT Đề tài này đi sâu vào việc phân bậc hoạt động trong giảng dạy bài “Cấu trúc rẽ nhánh” nhằm giúp cho học sinh hiểu thế nào là cấu trúc rẽ nhánh, các dạng rẽ nhánh (dạng thiếu
và dạng đủ) và việc sử dụng cấu trúc rẽ nhánh trong lập trình
Hoạt động sử dụng hữu hiệu cấu trúc rẽ nhánh trong lập trình tạo điều kiện cho các em khả năng phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện tính độc lập, tính quy cũ
và tính kỹ luật Do đó việc sử dụng hữu hiệu cấu trúc rẽ nhánh chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, nội dung này vẫn chưa hoàn toàn đạt kết quả như mong muốn thể hiện ở chỗ:
- Học sinh chưa có kỹ năng, chưa thành thạo trong việc sử dụng cấu trúc rẽ nhánh để lập trình
- Học sinh chưa linh hoạt, sáng tạo trong việc vận dụng cấu trúc rẽ nhánh vào xây dựng chương trình Chưa thấy rõ mối quan hệ của cấu trúc rẽ nhánh với dữ liệu cơ sở Không thấy hết những ứng dụng của cấu trúc rẽ nhánh trong kiến thức
cơ bản Nói chung, các ứng dụng trong lĩnh vực tin học nói riêng và trong cuộc sống nói chung Nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng này là quan điểm hoạt động hoá người học chưa được quán triệt trong khi dạy học nội dung cấu trúc rẽ nhánh
Mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ nhận thức với tri thức và kinh nghiệm sẵn
có là động lực thúc đẩy học sinh hoạt động học tập, thúc đẩy quá trình phát triển của các em
Về mặt tâm lý học, học sinh tích cực tư duy còn nảy sinh nhu cầu tư duy, do vậy đứng trước khó khăn về nhận thức: Học sinh tự kiến tạo hoặc tham gia vào
Trang 4việc kiến tạo tri thức cho mình hoặc dựa vào tri thức đã có, bổ sung và làm cho những tri thức cũ được hoàn chỉnh hơn
Học sinh tự giác, tích cực, vừa kiến tạo được tri thức, vừa học được cách giải quyết vấn đề, lại vừa rèn luyện được những đức tính quý báu như kiên trì, vượt khó Đó chính là những cơ sở lý luận của dạy học giải quyết vấn đề Những cơ sở lý luận này có thể được diễn đạt khái quát như sau:
1 Cơ sở triết học
Theo triết học duy vật biện chứng, mâu thuẫn là động lực thúc đẩy quá trình phát triển Một vấn đề được gợi cho học sinh học tập chính là mâu thuẫn giữa yêu cầu nhiệm vụ nhận thức với tri thức và kinh nghiệm sẵn có Tình huống này phản ánh một cách logic và biện chứng quan hệ bên trong tri thức cũ và kinh nghiệm cũ đối với yêu cầu giải thích sự kiện mới hoặc đổi mới hình thể
2 Cơ sở tâm lý
Theo nhà tâm lý học, con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi nảy sinh nhu cầu tư duy, tức là khi đứng trước một khó khăn về nhận thức cần phải khắc phục, một tình huống gợi vấn đề “Tư duy sáng tạo luôn luôn bắt đầu bằng một tình huống gợi vấn đề”
3 Cơ sở giáo dục học
Dạy học phát triển và giải quyết vấn đề phù hợp với nguyên tắc tự giác và tích cực, vì nó khêu gợi được hoạt động học tập mà chủ thể được hướng đích, gợi động
cơ trong quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề cũng biểu hiện sự thống nhất giữa kiến tạo tri thức, phát triển năng lực trí tuệ và bồi dưỡng phẩm chất Những tri thức mới được kiến tạo nhờ quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề
Với tư cách là một ngành khoa học giáo dục, phương pháp dạy học tin học sử dụng những phương pháp chung của khoa học giáo dục vận dụng vào phương pháp dạy học tin học
Do khái quát của những sự kiện từ tất cả các khoa học và trên cơ sở đó phát hiện ra những quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật là cơ sở của phương pháp luận cho mọi ngành khoa học, trong đó có phương pháp dạy học tin học Nó cung cấp cho chúng ta những quan điểm cơ bản
về con đường nhận thức của thế giới, nhận thức của chân lý Nó quyết định những quan điểm xuất phát, chiến lược nghiên cứu, quyết định việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu và giải thích kết quả Những tư tưởng cơ bản của phương pháp duy vật biện chứng
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Dạy học là một nghệ thuật, áp dụng nhiều phương pháp dạy học cho có hiệu quả là một công việc khoa học Nhiệm vụ của người giáo viên hiện nay là dạy cho học sinh không những biết tri thức, thành thạo kĩ năng, kĩ xảo mà còn dạy cho học sinh biết kỹ năng sống, biết tư duy, biết sáng tạo để phát triển trí tuệ trong thời đại khoa học phát triển như vũ bão hiện nay
Trang 5Vì vậy lối học nhồi nhét khiến học sinh tiếp thu thụ động không phù hợp nữa Quá trình dạy học phải đảm bảo cho học sinh tính độc lập, chủ động, sáng tạo Việc áp dụng phương pháp phân bậc hoạt động trong dạy học nhằm đem lại hiệu quả học tập cao Học sinh từng bước hiểu vấn đề từ dễ đến khó giúp cho các
em dễ dàng tiếp thu tri thức theo một trình tự logic
Chúng ta biết rằng trong hoạt động kết quả đạt được ở mức độ nào đó có thể
là tiền đề cho luyện tập để đạt được kết quả cao hơn Do đó cần phải sử dụng phương pháp phân bậc hoạt động theo những mức độ khác nhau Trong dạy học thì chúng ta có thể dựa vào tính phân bậc để giải quyết các bài tập khác nhau, các bài tập của môn học đó Trong tin học cũng vậy, chúng ta sử dụng tính phân bậc để giảng dạy và làm bài tập lập trình
Mục đích nghiên cứu là góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học
“Cấu trúc rẽ nhánh” tin học 11 ở trường THPT, giúp học sinh hướng những quyết định và hoạt động vào mục đích đặt ra Đồng thời giúp học sinh có ý thức về ý nghĩa của những hoạt động và của những đối tượng hoạt động từ đó học sinh có thể liên hệ chặt chẽ giữa kiến thức thực tế xung quanh, giữa nhà trường, gia đình
và xã hội
- Xây dựng những căn cứ để phân bậc hoạt động với dữ liệu “Cấu trúc rẽ nhánh” và vận dụng sự phân bậc đó vào quá trình dạy học lập trình trên cơ sở bài học cấu trúc rẽ nhánh
- Xây dựng hệ thống bài tập lập trình với dữ liệu cấu trúc rẽ nhánh ở tin học lớp 11
- Thực hiện sư phạm để xác định tính hiệu quả và tính khả thi của bài dạy Nếu quán triệt quan điểm sử dụng phương pháp phân bậc hoạt động vào dạy học lập trình với dữ liệu cấu trúc rẽ nhánh sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học nội dung này Bởi vì những kiến thức và kỹ năng được hình thành và hoàn thiện thông qua hoạt động của học sinh theo những yêu cầu ngày càng được nâng cao
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các giải pháp nghiên cứu sau:
+ Nghiên cứu lý luận dạy học chung
+ Nghiên cứu lý luận về phân bậc hoạt động
+ Nghiên cứu nội dung chương trình về cấu trúc rẽ nhánh trong tin học 11 trường THPT
+ Thu thập kiến thức từ các giáo viên trực tiếp giảng dạy môn tin Các chuyên gia trong lĩnh vực tin học và nội dung các bài tập về cấu trúc rẽ nhánh
Điều căn bản của phương pháp dạy học là khai thác những hoạt động tiềm tàng trong mỗi nội dung làm cơ sở cho việc tổ chức quá trình dạy học đạt được mục tiêu đề ra
Từ những định hướng học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, phân tích các thành phần của hoạt động lý luận và thực tiễn, ta rút ra được những thành tố cơ
sở của phương pháp dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình điều khiển hoạt động và giao lưu của học sinh nhằm đạt được những mục tiêu dạy học Đây là quá trình điều khiển con
Trang 6người chứ không phải điều khiển máy móc, vì vậy cần phải quan tâm đến những yếu tố tâm lý, chẳng hạn những học sinh có sẵn sàng, có hứng thú thực hiện hoạt động này, hoạt động khác hay không
Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ với những hoạt động nhất định mà ta có thể khai thác để tổ chức trong quá trình dạy học có hiệu quả Những hoạt động như vậy được coi là tương thích với những nội dung cho trước Xuất phát từ một nội dung dạy học, ta cần phát hiện những hoạt động tương thích với nội dung đó rồi căn cứ vào mục tiêu dạy học mà lựa chọn để luyện tập cho học sinh một số hoạt động thành phần cũng giúp cho ta tổ chức cho học sinh tiến hành những hoạt động với độ phức tạp vừa sức
Trong hoạt động, kết quả đạt được ở mức độ nào có thể lại là tiền đề để tập luyện và đạt được kết quả cao hơn Do đó cần phân bậc hoạt động theo những mức
độ khác nhau là cơ sở cho việc chỉ đạo quá trình dạy học
Như vậy, quan điểm hoạt động luyện tập những hoạt động trong phương pháp dạy học có thể được thể hiện ở các tư tưởng chủ đạo sau đây:
- Cho học sinh thực hiện và luyện tập những hoạt động và hoạt động thành phần tương thích với nội dung và mục tiêu dạy học
- Gợi động cơ cho các hoạt động học tập
- Dẫn dắt học sinh kiến tạo tri thức, đặc biệt là tri thức phương pháp như phương tiện và kết quả hoạt động
- Phân bậc hoạt động là căn cứ điều khiển quá trình dạy học
Những tư tưởng chủ đạo này giúp giáo viên điều khiển quá trình học tập của học sinh Muốn điều khiển phải đo những đại lượng đặt ra so sánh với mẫu yêu cầu
và khi cần thiết phải có sự điều chỉnh Trong dạy học việc đo và so sánh này căn
cứ vào những hoạt động của học sinh Việc điều chỉnh được thực hiện nhờ tri thức, trong đó những tri thức phương pháp và dựa vào sự phân bậc hoạt động
Những tri thức chủ đạo này phân ranh giới rõ ràng với quan điểm thực dụng phiến diện chỉ quan tâm tới những hành động thụ động, máy móc Khác với quan điểm đó, ở đây ta chú ý đến mục tiêu, động cơ, tri thức phương pháp, đến trải nghiệm thành công, nhờ đó đảm bảo tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của hoạt động, một yếu tố phát triển không thể thiếu của sự phát triển nói chung và của
sự hoạt động học tập nói riêng
Những tư tưởng chủ đạo trên cũng thể hiện tính toàn diện của mục tiêu dạy học Việc kiến tạo một tri thức, rèn luyện một kỹ năng, hình thành một thái độ học tập của học sinh cũng như trong đời sống Như vậy những mục tiêu thành phần được thống nhất trong hoạt động, điều này thể hiện mối liên hệ hữu cơ giữa chúng với nhau Tri thức kỹ năng, thái độ một mặt là điều kiện và mặt khác là đối tượng biến đổi của hoạt động Hướng vào hoạt động theo các tư tưởng chủ đạo trên không làm phiến diện mục tiêu dạy học, mà trái lại còn đảm bảo tính toàn diện của mục tiêu đó
Từ những tư tưởng chủ đạo trên hướng vào việc luyện tập cho học sinh những hoạt động và hoạt động thành phần, gợi động cơ học tập, kiến tạo tri thức mà đặc
Trang 7biệt là tri thức, phương pháp phân bậc hoạt động như những thành phần phương pháp dạy học là:
- Hoạt động và hoạt động thành phần
- Động cơ hoạt động
- Tri thức trong hoạt động
- Phân bậc hoạt động
Chúng được coi là những thành tố cơ sở của phương pháp dạy học bởi vì bản thân chúng ta là những thành tố của phương pháp dạy học mà dựa vào đó ta có thể
tổ chức cho học sinh hoạt động một cách tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo, đảm bảo sự phát triển nói chung và kết quả học tập nói riêng
Sử dụng phương pháp thuyết trình hay vấn đáp cũng là để nhằm vào một mục tiêu nào đó, chẳng hạn để học sinh kiến tạo một tri thức, nói riêng là một tri thức phương pháp Dùng phương tiện dạy học như mô hình hay phim ảnh là để đạt được một ý đồ sư phạm nào đó
Các yếu tố trên là những thành tố cơ sở của phương pháp dạy học, một mặt là nói lên vai trò quan trọng của chúng nhưng mặt khác cũng nói lên sự hạn chế của chúng
GIẢI PHÁP 1: PHÂN BẬC HOẠT ĐỘNG
1 Phân bậc hoạt động là gì?
Phân bậc: Làm căn cứ cho việc điều khiển quá trình dạy học Theo ý nghĩa
của chiến lược thì phân bậc trong bài “Cấu trúc rẽ nhánh” là mức độ kiến thức trong cả quá trình dạy học, còn theo ý nghĩa chiến thuật thì được hiểu là mức độ khó khăn của việc hiểu và sử dụng đúng hai dạng cấu trúc rẽ nhánh trong lập trình
và bài tập đối với học sinh Trên cơ sở ấy, trong quá trình dạy học người giáo viên cần vận dụng linh hoạt để có thể giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức theo yêu cầu của bộ môn
Dạy học: Xác định được những mức độ yêu cầu thể hiện ở những kiến thức
mà học sinh phải đạt được trong bài học
Hướng dẫn: Quá trình giúp đỡ học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập, cụ thể là
trong bài học “Cấu trúc rẽ nhánh”
2 Những căn cứ của phân bậc hoạt động
Trước khi nghiên cứu đến “Cấu trúc rẽ nhánh” trong chương trình tin lớp 11 trường THPT Trong các bài học trước, học sinh đã được biết đến một số khái niệm về lệnh, chương trình và ngôn ngữ lập trình, các thành phần của ngôn ngữ lập trình, từ khoá và tên biến, cấu trúc của chương trình, một số kiểu dữ liệu chuẩn, sử dụng biến trong chương trình, phép toán, biểu thức, câu lệnh gán, các thủ tục chuẩn vào ra, soạn thảo, dịch, hiệu chỉnh và thực hiện chương trình…Sau khi kiểu
dữ liệu và các lệnh trên học sinh đã vận dụng trong lập trình Đồng thời kết hợp cấu trúc lệnh và kiểu dữ liệu đã học, học sinh đã nắm được một số bài toán trong
Trang 8lập trình Chính vì vậy, đối với bài “Cấu trúc rẽ nhánh” tôi thực hiện phân bậc hoạt động dựa vào những căn cứ sau đây:
a Căn cứ vào độ phức tạp của đối tượng hoạt động
Đối tượng hoạt động càng phức tạp thì hoạt động đó càng khó thực hiện Vì vậy ta có thể dựa vào sự phức tạp của đối tượng để phân bậc
Trong bài dạy “Cấu trúc rẽ nhánh” có thể dựa vào sự phức tạp của số biến để phân bậc hoạt động
Ví dụ 1: Viết chương trình cho máy nhận vào giá trị của hai biến a, b sau đó
sắp xếp theo thứ tự tăng dần và in ra màn hình giá trị của a, b sau khi sắp xếp
Program sapxep1;
uses crt;
var a,b,tg:integer;
Begin
clrscr;
write('nhap vao 2 so a,b: '); readln(a,b);
if a>b then
begin
tg:=a;
a:=b;
b:=tg;
end;
writeln (a:5,b:5);
readln;
end
Ví dụ 2: Viết chương trình cho máy nhận vào giá trị của ba biến a, b, c sau
đó sắp xếp theo thứ tự tăng dần và in ra màn hình giá trị của a, b, c sau khi sắp xếp
Program sapxep2;
uses crt;
var a,b,c,tg:integer;
Begin
clrscr;
write('nhap vao 3 so a,b,c: '); readln(a,b,c);
if a>b then
begin
tg:=a;
a:=b;
b:=tg;
end;
if b>c then
begin
Trang 9tg:=b;
b:=c;
c:=tg;
end;
if a>b then
begin
tg:=a;
a:=b;
b:=tg;
end;
writeln (a:5,b:5,c:5);
readln;
end
Ta thấy ví dụ 2 là ở hoạt động bậc cao hơn so với ví dụ 1
b Sự trừu tượng, khái quát của đối tượng
Trong giáo dục nói chung, trong quá trình dạy tin học nói riêng nhất là việc dạy về cấu trúc rẽ nhánh việc giáo viên muốn nâng cao trình độ nhận thức của học sinh thì từ một vấn đề cụ thể của đối tượng hoạt động của đối tượng hoạt động chúng ta có thể nâng cao bằng cách trừu tượng hoá, khái quát hoá đối tượng hoạt động Việc trừu tượng hoá, khái quát hoá sẽ cho học sinh nâng cao kiến thức, nâng cao tính sáng tạo, sự hào hứng Nhưng việc trừu tượng, khái quát cũng phải phụ thuộc vào từng đối tượng học sinh
Ví dụ: Nhập 3 số thực a, b, c
a Xét xem a, b, c có lập thành 3 cạnh của tam giác hay không?
b Nếu lập thành tam giác, hãy tính diện tích của tam đó?
Để giải bài toán này ta phải:
- Nhập vào 3 số thực a, b, c
- Điều kiện cần và đủ để a, b, c lập thành một tam giác là a+b>c và b+c>a và c+a>b
- Diện tích được tính theo công thức: s= p* (p a) * (p b) * (p c)
Trong đó: p=(a+b+c)/2
Ta có chương trình:
Program tamgiac;
var a,b,c,p,s:real;
Begin
Write('Nhap vao 3 so thuc:');
Readln(a,b,c);
if (a+b>c) and (b+c>a) and (c+a>b) then
Begin
Writeln('Ba so lap thanh 3 canh cua tam giac ');
Trang 10p:=(a+b+c)/2;
s:=sqrt(p*(p-a)*(p-b)*(p-c));
Writeln('Dien tich tam giac la:',s:0:2);
end
else
Writeln('Ba so khong lap thanh 3 canh cua tam giac');
readln;
end
c Căn cứ vào nội dung hoạt động
Nội dung của hoạt động chủ yếu là những tri thức liên quan tới hoạt động và những điều kiện khác của hoạt động Nội dung hoạt động càng gia tăng thì hoạt động càng khó thực hiện cho nên nội dung hoạt động cũng là căn cứ để phân bậc
Ở bài: “Cấu trúc rẽ nhánh” nội dung chủ yếu là dạy cho học sinh biết cách sử dụng câu lệnh rẽ nhánh trong lập trình
Ví dụ: Tìm nghiệm thực của phương trình bậc hai: ax2 + bx + c = 0, với (a <>0)
Ta có chương trình như sau:
program ptb2;
var a,b,c:real;
D,x1,x2:real;
Begin
write('Nhap vao a, b, c');
Readln(a,b,c);
D:=b*b-4*a*c;
if D<0 then writeln('Phuong trinh vo nghiem')
else
Begin
x1:=(-b-sqrt(D))/(2*a);
x2:=-b/a-x1;
writeln('x1= ',x1:8:3, 'x2= ', x2:8:3);
end;
readln;
end
d Căn cứ vào sự phức hợp của đối tượng
Một hoạt động phức hợp bao gồm nhiều hoạt động thành phần Gia tăng những thành phần này cũng có nghĩa là nâng cao yêu cầu đối với hoạt động
Theo sự phức hợp của hoạt động ta có thể phân thành 2 bậc theo mức độ khó dần như sau:
Ví dụ: Nhập vào m số tự nhiên
a Kiểm tra xem có bao nhiêu số nguyên tố