Lời nói đầu Xuất phát từ thực tiễn trong công tác chỉ đạo của sở GD & ĐT, BGH nhà trường, việc dạy-học và GD văn hoá truyền thống dân tộc VHTTDT tiêu biểu của một số dân tộc thiểu số tro
Trang 1Sở giáo dục và đào tạo trường ptdt nội trú
trường ptdt nội trú tỉnh Bắc giang tỉnh Bắc giang tỉnh Bắc giang ***
Giáo viênGiáo viênGiáo viên :::: Âm nhạc
Tháng 4, năm 2008
Trang 2Lời nói đầu
Xuất phát từ thực tiễn trong công tác chỉ đạo của sở GD & ĐT, BGH nhà trường, việc dạy-học và GD văn hoá truyền thống dân tộc (VHTTDT) tiêu biểu của một số dân tộc thiểu số trong đại gia đình 54 dân tộc Việt Nam nói chung, Bắc Giang nói riêng qua môn âm nhạc, là một trong những nhiệm vụ trong công tác giáo dục học sinh ở trường phổ thông dân tộc (PTDT) nội trú tỉnh Bắc Giang
Qua nghiên cứu, tìm hiểu và bằng những kinh nghiệm thực tiễn trong giảng dạy, tôi giới thiệu đôi nét văn hoá truyền thống dân tộc Dao nói chung, Bắc Giang nói riêng Từ đó rút ra một số kết luận, biện pháp và kiến nghị phù hợp với tình hình thực tiễn, nhằm nâng cao chất lượng trong dạy-học và GD VHTTDT trong học sinh ở trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Giang
Khi nghiên cứu và viết tôi đR hết sức cố gắng Song do điều kiện và thời gian có hạn, nên chắc chắn còn thiếu sót Vì vậy, rất mong được sự góp ý của các cấp, các đoàn thể, đồng nghiệp và các em học sinh trong nhà trường Đặc biệt với những người làm công tác chuyên nghiên cứu văn hoá dân tộc, để bài viết được đầy đủ và chi tiết hơn
Tôi xin được tiếp thu mọi ý kiến đóng góp quí báu
Xin trân trọng cảm ơn !
Trang 3Ch−¬ng 1: Thùc tr¹ng d¹y–häc vµ gi¸o dôc VHTTDT thiÓu sè
trong häc sinh qua m«n ©m nh¹c
7
1.1.2 C¬ së vËt chÊt, trang thiÕt bÞ d¹y häc 8
Trang 41.3 Kh¶o s¸t mét sè hiÓu biÕt cña häc sinh vÒ VHTTDT thiÓu
sè
18
Ch−¬ng 2: BiÖn ph¸p c¶i tiÕn n©ng cao chÊt l−îng d¹y-häc vµ
gi¸o dôc VHTTDT Dao trong häc sinh qua m«n ©m nh¹c
21
2.1 V¨n ho¸ truyÒn thèng tiªu biÓu d©n téc Dao 21
2.4 C¶i tiÕn ph−¬ng ph¸p d¹y - häc vµ gi¸o dôc VHTTDT Dao
Trang 5a Cở sở lý luận:
Thời đại ngày nay, toàn thể nhân loại đang tiến bước nhanh sang nền văn minh mới Nền văn minh thông tin, văn minh trí tuệ, cùng với việc nước ta hội nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) tác động rất đến nhiều lĩnh vực, trong đó có công tác giáo dục Nên công tác giáo dục cũng cần phải thích ứng với xu thế phát triển chung của thời đại
Hội nghị TW lần thứ V khoá VIII đ` chỉ rõ: “Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, là vấn đề tồn tại hay không tồn tại của từng dân tộc”
Mặt khác: Về dân tộc và bản sắc văn hoá dân tộc, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Như Bác Hồ đ` dạy:
“Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Hồ Chí Minh – Toàn tập – Tập 3 – trang 431 Với vai trò là một một phân môn trong môn học, giúp học sinh hiểu và nắm được những nét văn hoá truyền thống tiêu biểu của một số dân tộc, trong
đó có chính dân tộc của các em Để rồi mỗi mỗi học sinh biết quí trọng, bảo tồn, kế thừa, phát huy những vốn văn hoá truyền thống quí báu mà biết bao thế hệ cha ông đ` để lại
Vì vậy, việc GD cho học sinh hiểu và nắm được bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc thiểu số trong nhà trường là việc làm cần thiết Qua đó, góp phần trong việc bảo tồn, kế thừa, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, và giáo dục toàn diện về: Đức - Trí - Thể - Mỹ trong mỗi học sinh trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Giang
Trang 6Mặt khác, qua việc giáo dục, giúp học sinh hiẻu và biết kết hợp giữa văn hoá truyền thống dân tộc với văn hoá hiện đại, tạo nên cái mới, cái của riêng mình, để rồi mai kia các em trở về đóng góp trong việc xây dựng bản làng, quê hương, đất nước thân yêu của các em
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn âm nhạc trong nhà trường, tôi nhận thấy đó là một trong những nhiệm vụ trong công tác dạy–học và GD học sinh
ở trường PTDT nội trú tỉnh Nên tôi chọn dân tộc Dao là một trong những dân tộc thiểu số có trong địa bàn tỉnh để nghiên cứu Đề tài có tên:
“Dạy - học và GD VHTTDT Dao qua môn âm nhạc ”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng:
- Văn hoá truyền thống dân tộc Dao
- Học sinh trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Giang
* Phạm vi nghiên cứu:
- Do tình hình thực tiễn và thời gian có hạn, nên chủ yếu nghiên cứu trên tài liệu và trong học sinh lớp 10 trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Giang
Trang 74 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, phối hợp sử dụng một số phương pháp chính sau:
- Phương pháp đọc, phân tích, so sánh, thống kê tổng hợp: Nhằm khái quát hoá những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
- Phương pháp điều tra quan sát, đàm thoại, khảo sát thực tiễn trong học sinh, để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một
* Về mặt thực tiễn:
Đề xuất một số biện pháp thiết thực, phù hợp nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy–học và giáo dục học sinh nói chung, môn học nói riêng ở trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Giang
6 Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày thành 2 chương: Chương 1: Thực trạng dạy–học và giáo dục VHTTDT thiểu số trong học sinh qua môn âm nhạc
Chương 2: Biện pháp nâng cao chất lượng dạy–học và giáo dục VHTTDT Dao trong học sinh qua môn âm nhạc
b - phần nội dung
chương 1: thực trạng dạy–học và giáo dục VHTTDT thiểu số trong học
sinh qua môn âm nhạc 1.1 Tình hình nhà trường:
1.1.1 Vài nét về nhà trường:
Trang 8Trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Giang được thành lập ngày11/1/1993 Nhà trường là nơi tập chung con em của 8 dân tộc ( Tày, Nùng, Dao, Sán Chay (Cao lan – Sán chí), Sán Dìu, Hoa, Kinh.) có trong địa bàn tỉnh về học tập và rèn luyện
Qua 16 năm xây dựng và trưởng thành, trường đ` đạt được nhiều thành tích trong công tác day–học, và giáo dục học sinh Trường luôn đạt được danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh Năm học 2002–2003 được nhà nước trao tặng huân chương hạng 3 Năm học 2004–2005 được UBND tỉnh công nhận trường chuẩn quốc gia Nhiều thế hệ học sinh của nhà trường đ` và đang
là những cán bộ, giáo viên, bộ đội, công an, sinh viên học tập và công tác trong tỉnh và ngoài tỉnh
Từ khi thành lập trường cho tới nay, được sự quan tâm, giúp đỡ, chỉ đạo, của các cấp các ngành, cùng với lòng say mê, tinh thần quyết tâm cao cuả thày và trò, trong những năm qua nhà trường đ` vượt qua mọi khó khăn để đạt
được những mục tiêu giáo dục chung
1.1.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học:
Những năm đầu mới thành lập, trường còn nghèo nàn về cơ sở vật chất như: Phòng học, bàn ghế… không đủ cho học sinh, không đáp ứng được việc dạy–học và các hoạt động GD khác
Đến nay cùng với su hướng phát triển chung, được sự quan tâm của các cấp, các ngành, cũng như sự cố gắng của các bậc phụ huynh, nhà trường đ` có nhiều thay đổi Trường đ` có phòng học khang trang, sạch sẽ, trang bị đầy đủ
ánh sáng, bàn ghế đúng quy cách Diện tích sử dụng của nhà trường đủ và
đạt so với yêu cầu của trường chuẩn quốc gia Điều đó đ` thực sự đáp ứng nhu cầu học tập, vui chơi giải trí trong mỗi học học sinh
Phòng làm việc của giáo viên khá đầy đủ Trường có sân chơi, b`i tập TDTT, nhà đa chức năng, phòng nghe nhìn, phòng thí nghiệm bộ môn, thư viện
Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện trên còn tồn tại khó khăn chưa khắc phục được đó là: Năm học 2003–2004 đến năm 2006 trường có phòng học bộ môn âm nhạc riêng Đến năm học 2006–2007 Phòng học âm nhạc
được sử dụng vào việc khác Từ đó cho tới nay, trường chưa có phòng học âm
Trang 9nhạc riêng, có khi học trên lớp, có khi học ở nhà đa chức năng, nhà nghe nhìn
Về trang thiết bị làm việc, phục vụ cho công tác dạy–học và GD học sinh khá đầy đủ như: đồ dùng thí nghiệm của các bộ môn, máy tính, máy chiếu
Như vậy về cơ sở vật chất, trang thiết bị trong nhà trường, cơ bản đáp ứng được việc dạy-học của thày và trò trường PTDT nội trú tỉnh
1.1.3 Đội ngũ giáo viên:
Hiện nay nhà trường có 27 thày cô giáo đang trực tiếp giảng dạy, trong
đó 100% đ` đạt chuẩn và trên chuẩn (3 thạc sĩ, 24 đại học.) Trong đó có 23 thày cô dạy các môn văn hoá, 2 thày cô dạy thể chất, 1 cô dạy tin học, 1 thày dạy âm nhạc Nhiều thày cô giáo đ` đạt giáo viên giỏi cấp tỉnh và có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và trong công tác quản lí
Hầu hết các thày cô có tâm huyết với nghề nghiệp, tất cả vì học sinh thân yêu, gương mẫu, tận tình giúp đỡ học sinh trong học tập và rèn luyện tu dưỡng đạo đức trong nhà trường
1.1.4 Đặc điểm, khả năng học sinh
Học sinh trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Giang tập chung ở 5 huyện: Sơn
Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang Các em là người dân tộc: Tày, Nùng, Dao, Sán chay, Sán Dìu, Hoa, Kinh
Hiện nay tổng số học sinh toàn trường: 342 em, trong đó:
Dân tộc Tày: 87 em (Nam: 22 em; Nữ 65 em.)
Dân tộc Nùng: 127 em (Nam: 58 em; Nữ: 69 em)
Dân tộc Dao: 14 em (Nam: 5 em; Nữ 9 em)
Dân tộc Sán Chay: 40 em (Nữ 25 em; Nam 15 em.)
Dân tộc Sán Dìu: 46 em (Nữ 27 em; Nam 19 em.)
Dân tộc kinh: 23 em
Dân tộc Hoa: 5 em
Gia đình các em sống chủ yếu ở vùng cao, vùng sâu trong tỉnh Bản thân các em sống xa gia đình, vì thế các em rất cần sự yêu thương đùm bọc của các thày cô
Trang 10Căn cứ vào tâm lý lứa tuổi, cùng với quá trình quan sát trong giảng dạy, trong cuộc sống nội trú cho thấy: Nhìn chung các em đều mang những nét chung của lứa tuổi thanh niên Song nhiều em mang những nét riêng của người dân tộc đó là: Nét mặt, giọng nói, khiêm tốn, thật thà, ngoan, lễ phép
và có ý thức trong hành vi đạo đức cá nhân
Mặt khác, do đặc thù riêng về mặt địa lý, khí hậu, x` hội… dẫn đến các
em có một số nét không giống với học sinh ở thị x`, thành phố như: Tính nhút nhát, thiếu mạnh dạn, thiếu tự nhiên khi đứng trước đông người, hay khi tham gia hoạt động tập thể
Các em đang ở giai đoạn phát triển hoàn thiện về mọi mặt, ham thích hiểu biết, luôn khát vọng sáng tạo và tìm đến cái mới Có tính tự lập, hưng phấn cao về mặt cảm xúc, dễ bị tác động, kích động dẫn đến tâm trạng hay bị thay đổi (Nhất là thời gian các em mới nhập trường)
Trong mỗi em đều có những biểu hiện hứng thú, tự giác trong học tập Ham muốn vươn tới cái đẹp trong cuộc sống Mức độ tập chung chú ý nhận thức vấn đề phát triển Song do đầu vào của các em không đồng đều (Do tuyển theo vùng) dẫn đến khả năng nhận thức, tiếp thu kiến thức của các em cũng không đều Đặc biệt số em có khả năng tham gia hoạt động âm nhạc rất ít (Phần nhiều các em không hát được dân ca, không biết sử dụng loại nhạc cụ nào )
Mặt khác do sống và học tập ở vùng cao, vùng sâu, hoặc trong môi trường nội trú, điều kiện để các em được tiếp xúc với x` hội, với các loại hình thông tin, văn hoá ít, nên khả năng hoạt bát và sự phát triển về mọi mặt của các em, có phần nào bị hạn chế và chậm hơn so với học sinh ở các trường PT khác
Qua đó cho thấy: Học sinh trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Giang nói chung, lớp 10 nói riêng đang ở giai đoạn phát triển hoàn thiện cả về thể chất
và tinh thần Tuy nhiên các em có những nét riêng của người dân tộc thiểu số Khả năng tiếp thu kiến thức cũng như khả năng âm nhạc, mức độ hiểu biết về VHTTDT của các em không đồng đều và còn nhiều hạn chế Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay các em giành nhiều thời gian cho việc học các môn văn hoá nhằm đạt được tương lai của các em Đó là những vấn đề liên quan
Trang 11nhiều đến việc dạy-học và GD VHTTDT trong mỗi học sinh ỏ trương PTDT nội trú tỉnh Bắc Giang
1.2 Dạy–học và giáo dục VHTTDT thiểu số trong học sinh qua môn
Thày và trò có nhận thức đúng về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của bộ môn Trang thiết bị cơ bản đáp ứng được cho việc dạy–học
1.2.2 Khó khăn:
Do điều kiện thực tiễn nên thời lượng cho môn học còn ít
Học sinh chưa tự giác học và tự học đối với bộ môn vì coi đây là môn phụ, hơn nữa lại không đánh giá trong quá trình học tập
Năng khiếu học sinh không đồng đều, nhiều học sinh không biết hoặc không thích hát dân ca
Tài liệu phục vụ cho việc dạy-học giáo viên tự sưu tầm
Chưa có phòng học bộ môn riêng, chưa thành lập câu lạc bộ văn nghệ 1.2.3 Mục tiêu, chương trình, nội dung
* Mục tiêu:
Dạy-học và giáo dục VHTTDT thiểu số nói chung, dân tộc Dao nói riêng, thông qua môn âm nhạc ở trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Giang, nhằm tạo sân chơi bổ ích góp phần tích cực trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm,
đạo đức, lối sống trong sáng lành mạnh, phát triển năng lực tư duy, sáng tạo, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần trong học sinh, làm thăng bằng, hài hoà các nội dung học tập trong nhà trường
Trang 12Giáo dục VHTTDT tác động vào tư tưởng, thái độ học sinh, đồng hành cùng với môn học khác thực hiện mục tiêu giáo dục chung Trang bị cho học sinh kiến thức, hiểu biết nhất định về những nét văn hoá truyền thống tiêu biểu của chính dân tộc các em Đến chừng mực nào đó, các em có thể tham gia vào các hoạt động chung trong lớp, trong nhà trường và của cộng đồng
Mặt khác, đem đến cho học sinh niềm vui, lạc quan, yêu đời, thu hút học sinh vào những hoạt động tập thể, xây dựng thói quen mạnh dạn, tự tin, thể hiện năng lực sáng tạo của bản thân giúp học sinh mở rộng hiểu biết, quí trọng cái hay, cái đẹp trong văn hoá truyền thống qua môn âm nhạc Phát triển trong học sinh những phẩm chất, kiến thức, kỹ năng cơ bản để làm cơ sở tiếp tục học cao lên hoặc đi vào cuộc sống lao động
Qua đó, giúp cho học sinh tự hào về VHTTDT Việt Nam, tinh hoa âm nhạc trên thế giới Đồng thời, giúp cho học sinh có ý thức rõ ràng, lòng ham muốn thực hiện lý tưởng cao đẹp của mình, có niềm tin và quyết tâm cao trong học tập Biết quý trọng lao động, tự do, bình đẳng và công bằng; Có ý thức và quyền hạn, nghĩa vụ, sống có ích với mọi người, với bè bạn, có trách nhiệm về mọi quyết định hành vi của mình trong học tập, lao động, sinh hoạt nội trú và trong cuộc sống ở mọi nơi, mọi lúc
Tóm lại, dạy-học và giáo dục VHTTDT thiểu số trong học sinh, qua môn
âm nhạc ở trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Giang, nhằm tạo cho học sinh có một trình độ hiẻu biết nhất định, tham gia vào các hoạt động chung Qua đó giúp học sinh biết tôn trọng, bảo tồn, kế thừa, phát huy những bản sắc văn hoá mà nhiều thế hệ cha ông đ` để lại Đồng thời nhằm phát hiện, bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu để tham gia các hoạt động phong trào trong nhà trường
và làm nền tảng chuẩn bị cho các hội thi
* Chương trình:
Để đáp ứng yêu cầu dạy-học và giáo dục VHTTDT qua môn âm nhạc ở trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Giang, việc nghiên cứu lên chương trình giảng dạy đối với giáo viên là công việc đầu tiên Giúp giáo viên nắm được: Yêu cầu, mục tiêu đối với môn học
Các phân môn được dạy và GD phối kết hợp với nhau trong năm học Thời gian mỗi tuần một tiết học / lớp Năm học có 35 tuần, toàn bộ là 35 tiết
Chương trình cụ thể đối với lớp 10
Trang 13Cả năm: 35 tuần x 1 tiết / tuần =35 tiết trong đó : Học kỳ 1: 1 tiết / tuần x 18 tuần = 18 tiết Học kỳ 2: 1 tiết / tuần x 17 tuần = 17 tiết
1 1 Luyện tập - Ôn luyện Quốc ca - Đoàn ca
- Giới thiệu nhạc sĩ Văn Cao – Sự ra
đời của Quốc ca
2 2 Nhạc lí - Ký hiệu ghi cao độ – trường độ
- Nhịp, phách, số chỉ nhịp
- Học ca khúc : Bài ca trường dân tộc nội trú
5 5 Luyện tập -.Học hát dân ca Sán Dìu (Tiết 2)
- Giới thiệu một số thể loại âm nhạc : Cổ điển, dân gian, nhạc trẻ
- Học ca khúc : Lên Đàng - Lưu Hữu Phước
Trang 14- Học hát dân ca Nùng: Quê hương tươi đẹp
- Học ca khúc : Cô giáo vùng cao - Hoàng Long – Hoàng Lân
- Học ca khúc: Cô giáo vùng cao (Tiết 2)
14 14 Luyện tập - Học dân ca Tày : Phát tàng
15 15 Luyện tập - Học dân ca Tày : Phát tàng (Tiết 2)
- Thưởng thức một số làn điệu dân
ca : Tày- Nùng, Sán Chay, Sán Dìu
Trang 1529 29 LuyÖn tËp - Häc h¸t quan hä (TiÕt 2)
30 30 V¨n ho¸ d©n téc Hrª - Vµi nÐt v¨n ho¸ d©n téc Hrª
+ VÒ nh¹c lý : Häc trong 6 tiÕt nh»m cung cÊp cho häc sinh:
- Nh÷ng kh¸i niÖm, s¬ l−îc vÒ thuéc tÝnh cña ©m nh¹c
Trang 16- Những ký hiệu ghi chép âm nhạc ở mức độ đơn giản, thường gặp trong các bản nhạc và ca khúc thông thường
- Các loại nhịp thông dụng như : 2/4, 3/4, C
+ Về ký xướng âm: Học trong 5 tiết
- Nghe, ghi và tập đọc, những bài nhạc ngắn ở giọng C dur, đối với loại nhịp thộng dụng, có giai điệu và tiết tấu đơn giản
- Làm quen với phương pháp đọc xướng âm giọng C dur trưởng
- Bước đầu biết áp dụng và sử lý những ký hiệu đơn giản trong ca khúc
- Trong số những bài ca khúc và dân ca trong chương trình, giáo viên
có thể được thay thế, bổ xung bằng bài mới cho phù hợp với tình hình thực tiễn
+ Về âm nhạc thường thức :
- Giới thiệu những nét văn hoá truyền thống tiêu biểu của dân tộc Tày, Nùng, Dao, Sán Chay, Sán Dìu, quan họ, Thái, Hơ Rê
- Thưởng thức một số ca khúc, dân ca dân tộc thiểu số tiêu biểu
- Giới thiệu thể một số thể loại âm nhạc, thể loại ca khúc
1.2.4 Tổ chức dạy-học và kết quả giáo dục VHTTDT thiểu số qua môn âm nhạc
* Về tài liệu:
Đối với giáo viên: Ngoài những kiến thức được đào tạo, GV tự sưu tầm, nghiên cứu, tự học, và tự bồi dưỡng thêm
Đối với học sinh: Do chưa có chương trình dạy-học theo qui định của
bộ, nên học sinh không có sách giáo khoa Chủ yếu dùng tài liệu phô tô do
GV biên soạn hoặc tự ghi chép
Trang 17* Về việc dạy:
Do yêu cầu trong thực tiễn đối với nhà trường, được sự nhất trí của sở
GD & ĐT Bắc Giang, việc dạy-học VHTTDT qua môn âm nhạc được bắt đầu thực hiện từ học kỳ 2 của năm học 2000 – 2001 cho đến nay
Thời gian đầu bộ môn được phổ cập trong cả 3 khối 10, 11, 12, với thời lượng 1 tiết / lớp / tuần Chương trình được tổ chức dạy-học trong chính khoá
Về sau không phổ cập khối 12, còn khối 10, 11 Hiện nay chỉ còn khối 10 và
được tổ chức dạy vào buổi chiều Trong quá trình giảng dạy không kiểm tra và không đánh giá học sinh dẫn đến chất lượng giảm di rất nhiều
Với đặc thù riêng của bộ môn, giáo viên chủ động trong việc biên soạn nội dung, chương trình dưới sự chỉ đạo của sở GD & ĐT và BGH nhà trường (Hiện nay có chương trình theo qui đinh của bộ GD&ĐT.)
Trong quá trình giảng dạy và GD, giáo viên có sự chuẩn bị kỹ về nội dung và có sự luyện tập trước đối với phần dạy thực hành sử dụng trang thiết
bị dạy học đều, đủ, đúng trong chương chình
Mặt khác trong giảng dạy cho thấy: Để hướng dẫn học sinh hát chính xác được một bài dân ca ở mức độ trung bình, nhưng cũng không đơn giản đối với học sinh, bởi dân ca phải luyến láy nhiều và cần có nhiều thời gian luyện tập Trong khi đó thời lượng giành cho môn học lại không nhiều
âm nhạc, học ca khúc truyền thống để phục vụ các hoạt động thiết thực, bị giảm đi và ít hiệu quả hơn
Khối lớp 11 các em không được học cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng các hoạt động phong trào và mũi nhọn để tham gia các hội thi
Mặt khác, do đặc thù riêng của trường PTDT nội trú như: Số lượng học sinh ít, để có nhân tài ngẫu nhiên là điều hiếm có Trong khi đó việc tự học, tự
Trang 18bồi dưỡng trong mỗi học sinh hầu như không có, đó là những vấn đề liên quan rất lớn đến phong trào và việc tạo nguồn
* Kết quả:
Trong những năm qua, nhà trường được các cấp, các ngành quan tâm, về
đội ngũ cán bộ, giáo viên, trang thiết bị dạy học cùng với việc chỉ đạo sát sao của chi bộ đảng, BGH trường, nên đ` tạo được bầu không khí vui tươi lành mạnh, yêu đời, phấn khởi trong học sinh
Học sinh đ` hát được các ca khúc truyền thống, ca khúc cách mạng, một
số làn điệu dân ca, tham gia vào các hoạt động múa, hát tập thể Đối với những học sinh chăm học, các em có thể sử dung được một số loại nhạc cụ như : Ghi ta, sáo, đàn tính
Các em đ` được tham dự, được thưởng thức, nhiều hoạt động văn hoá văn nghệ trong lớp, trong nhà trường, trong năm học Đặc biệt, nhiều học sinh
đ` được đi biểu diễn phục vụ các hội nghị trong tỉnh và đạt được nhiều giải cá nhân và tập thể cao khi tham gia các hội thi cấp trường, cấp tỉnh, toàn quốc như:
Năm học 2001–2002 tham dự hội thi toàn quốc khối các trường dự bị đại học và các trường PTDT nội trú, đạt 1 huy chương đồng (Do điều kiện khách quan.)
Năm học 2002–2003 đạt giải nhì cấp tỉnh
Năm học 2004-2005 đạt giải nhất cấp tỉnh
Năm học 2005–2006 đạt giải nhất toàn quốc trong hội thi văn hoá thể thao khối các trường dự bị đại học và các trường PTDT nội trú
Năm học 2006–2007 đạt giải nhất cấp tỉnh Cũng trong năm học này 2 tiết mục văn nghệ của trường được đi tham dự hội thi toàn quốc khối các trường PTTH đều đạt được 2 huy chương bạc
Đầu năm học 2007-2008 cho đến nay cho thấy: Khi tăng thời lượng giáo dục VHTTDT thiểu số trong chương trình dạy–học âm nhạc của lớp 10 lên, nhằm giúp cho học sinh mở rộng hiểu biết hơn, nhưng số tiết vẫn gữ nguyên Do đó thời lượng học âm nhạc, học ca khúc truyền thống, dân ca sẽ giảm đi dẫn đến kém hiệu quả trong các hoạt động thực tiễn
Đối với lớp 11 các em không được học nên rất hạn chế trong các hoạt
động phong trào Mặt khác, học sinh chưa được bồi dưỡng mũi nhọn riêng về
Trang 19các thể loại nh−: Ca, múa, nhạc trong bộ môn để tạo nòng cốt cho các phong trào và trong việc tạo nguồn chuẩn bị tham gia các hội thi
1.3 Khảo sát một số hiểu biết của học sinh về VHTTDT thiểu số Trong quá trình giảng dạy, qua điều tra khảo sát, đàm thoại, quan sát trong thực tiễn cho thấy nh− sau:
Biểu
Biểu mẫu mẫu mẫu 1111: : : : khảo sát hiểu biết Về nguồn gốc dân tộc
Tày và Dao:
Khối Lớp T số Dân tộc
Số l−ợng
đ−ợc khảo sát
Biết nguồn gốc
Không biết nguồn gốc
Biểu mẫu mẫu mẫu 2: 2: 2: khảo sát hiểu biết Về trang phục truyền
thống:
Khối Lớp T số Dân tộc
Số l−ợng
đ−ợc điều tra
Trả lời
đúng
Trả lời sai
Trang 20em trả lời còn thiếu các chi tiết nhỏ
Đối với khối 10 các em được học và được nghe giới thiệu về VHTTDT, song còn một số em quên Khối 11, 12 tuy các em không được học nhưng qua thực tiễn được xem và được tham gia các hoạt động văn nghệ của lớp, của trường, do đó các em cũng nắm được phần nào
Biểu
Biểu mẫu mẫu mẫu 3: 3: 3: Điều tra về biết hát dân ca: tày, dao
Số lượng học sinh
Số hát được Lớp Số
được
điều
tra
Dân
ca
Tày Dao
Biết hát
D C dân tộc mình
Không biết hát D.C dân tộc mình
Dân tộc khác
Đúng sai
Số không hát
Trang 21Kết quả trên cho thấy số học sinh biết hát dân ca cuả chính dân tộc mình rất ít Các em dân tộc khác hầu như không biết, không hát được dân ca dân tộc của bạn
Như vậy, có thể khẳng định rằng học sinh hiểu và biết về những nét VHTTDT thiểu số còn nhiều hạn chế Đặc biệt là về hát dân ca dân tộc thiểu
số
Kết luận chương 1 Tóm lại, trường PTDT nội trú tỉnh Bắc Giang về cơ bản đáp ứng được cơ sở vật chất, đội ngũ thày cô giáo, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy-học và
GD nói chung
Những năm qua, thày và trò trong nhà trường đ` vượt qua mọi khó khăn
để đạt được những thành tích đáng kể và mục tiêu giáo dục chung Tuy nhiên còn một sổ khó khăn, tồn tại chưa khắc phục được trong công tác dạy-học nói chung và đối với từng bộ môn nói riêng như phòng học bộ môn âm nhạc, tài liệu cho thày và trò.đối với bộ môn
Năm học 2007-2008 học sinh khối 11 không được học âm nhạc, khối
10 tăng lượng học văn hoá truyền thống dân tộc, số tiết vẫn giữ nguyên, lịch học thay đổi Mặt khác trong quá trình dạy học giáo viên không được kiểm tra
đánh giá học sinh, dẫn đến thực tiễn là học sinh coi thường, không tự giác học tập đối với môn học, chât lượng giảm đi nhiều so với những năm học trước
Đặc biệt phần thực hành chưa được coi trọng (học phải đi đôi với hành, nhất là đối với học âm nhạc rất cần phải có âm thanh vang ) đó cũng là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến các hoạt động phong trào trong nhà trường nội trú
chương 2
Biện pháp cải tiến nâng cao chất lượng dạy - học và giáo dục VHTTDT dao trong học sinh qua môn âm nhạc
2.1 Văn hoá truyền thống tiêu biểu dân tộc Dao
2.1.1 Một số nét khái quát chung
a Tên gọi và nguồn gốc lịch sử
* Tên gọi:
Trang 22Người Dao có tên gọi khác là “Mán” được bắt nguồn từ âm Man (Hán Việt), là tên miệt thị các tộc người nhỏ bé trong x` hội phong kiến Trung Quốc xưa kia sống cư trú ngoài địa bàn của người Hán
Tên tự gọi: Kiềm Miền, Kìêm Mùn (Kiềm nghĩa là rừng, Miền nghĩa
là người.)- Người ở rừng núi Họ tự nhận là con cháu của “ Bàn Hồ” (Là nhân vật truyền thuyết Ông thuỷ tổ của người Dao.)
Như vậy, “Dao” là tên tự nhận của người Dao từ xa xưa, các tên gọi khác không chính xác và có tính kì thị dân tộc
Gọi theo nhóm địa phương: Qua điều tra khảo sát của các nhà nhiên cứu VHDT căn cứ vào tiếng nói giống nhau chia thành 2 nhóm lớn (Nhóm 1 là Kiềm miền, nhóm 2 là Kim Mun.)
Trong đó nhóm 1 có 4 nhóm nhỏ: Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt
và Thanh Phán Nhóm 2 có 3 nhóm nhỏ; Quần trắng, Thanh y và áo Dài Nhưng ở Tuyên Quang có thêm 2 nhóm khác đó là: Coóc mùn, Ô Giang *.Nguồn gốc:
Người Dao di cư từ tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam Trung Quốc sang cư trú ở nước ta từ thế kỉ thứ 13, 15 và nửa đầu thế kỉ 20 theo
đường biển, đường bộ qua Quảng Ninh, Tuyên Quang, Bắc Cạn rồi sang các tỉnh khác
b Dân số, địa bàn cư trú:
* Dân số:
Trong số 54 dân tộc Việt Nam, dân tộc Dao là một trong những dân tộc
có truyền thống văn hoá khá đậm nét Với dân số khoảng 620.538 nghìn người (Theo số liệu điều tra dân số 1/4/1999.)
* Cư trú:
Địa bàn cư trú chủ yếu ở dọc biên giới Việt Trung và vùng trung du miền núi phía bắc gồm các tỉnh : Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Cạn Quảng Ninh, Lai Châu, Lạng Sơn, Hoà Bình, Bắc Giang Thanh Hoá trong những năm gần đây một bộ phận người Dao di cư vào phía nam, tập chung chủ yéu ở các tỉnh như: Đắc Lắc, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước