Ở các nước đang phát triển thuế quan thực hiện hai chức năng cơ bản là bảo hộ sản xuất trong nước điều tiết xuất nhập khẩu và thu nép cho ngânsách, chính sách thuế quan nhằm đánh vào nhữ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, khi đất nước chuyển sang giai đoạn mới,nền kinh tế có nhiều khởi sắc với sự phát triển nhịp độ khá cao, dần dần hoànhập với kinh tế khu vực và trên thế giới hàng loạt các chính sách đúng đắncủa Đảng và Nhà nước đã tạo ra các tiền đề cho quan hệ giao lưu thươngmại được mở rộng giữa nước ta và các nước trên thế giới Cùng với tốc độphát triển thương mại Quốc tế, là tình trạng buôn lậu và gian lận thương mạidiễn ra rất phức tạp và đa dạng Nhiều vụ buôn lậu lớn có tổ chức, có đườngdây liên quan đến nhiều người, nhiều tổ chức, nhiều địa phương, cả ở trongnước và ngoài nước Hành vi gian lận thương mại, trèn thuế với những thủđoạn ngày càng trắng trợn, tinh vi do dùa vào một số kẽ hở của luật thuếhoặc cố tình phạm pháp Số vụ buôn lậu, gian lận thương mại ngày càng có
xu hướng gia tăng, gây thất thu cho NSNN Đõy chớnh là một trong nhữngkhó khăn và thách thức lớn đối với Tổng cục thuế, Tổng cục Hải quan nóichung và với Cục Hải quan thành phố Hà Nội nói riêng
Trước tình hình này, Cục Hải quan thành phố Hà Nội đã thực hiệnnhiều biện pháp nhằm chặn đứng những vụ việc buôn lậu và những hành vigian lận thương mại của chủ hàng để quản lý tốt công tác thu thuế, tránh thấtthu cho Nhà nước
Tuy nhiên, trong công tác quản lý thu thuế tại Cục hải quan thành phố
Hà Nội vẫn còn những mặt tồn tại cần khắc phục Những mặt tồn tại này donhiều nguyên nhân : khách quan (do luật thuế XNK chưa hoàn chỉnh …),chủ quan (do tinh thần trách nhiệm, do trình độ nghiệp vụ của cán bộ nhânviên trong Cục …) Dẫn đến tình trạng gây thất thu thuế tại Cục Hải quanthành phố Hà Nội vẫn còn nhiều
Nhận thức được vấn đề trên, với những kiến thức quản lý tài chính
Trang 2vào tìm hiểu và nghiên cứu đề tài "Một số giải pháp tăng cường quản lý chống thất thu thuế XNK tại Cục hải quan thành phố Hà Nội ".
NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI GỒM 3 CHƯƠNG :
Chương 1 : Thuế XNK và sự cần thiết phải chống thất thu thuế XNK Chương 2 : Thực trạng công tác quản lý thu thuế XNK và tình hình
thất thu thuế XNK tại Cục Hải quan thành phố Hà Nội
Chương 3 : Những kiến nghị và giải pháp nhằm khắc phục những tồn
tại để tăng cường quản lý chống thất thu thuế XNK tạiCục Hải quan thành phố Hà Nội
Do kiến thức của bản thõn còn hạn chế và thời gian nghiên cứu có hạnnên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự quantâm tham gia góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn để luận văn được hoànthiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo : Thạc
sỹ Nguyễn Văn Hồng cựng cỏc cán bộ, nhân viên phòng quản lý thuế XNKCục Hải quan thành phố Hà Nội tạo điều kiện, cung cấp cho em những tàiliệu tham khảo để hoàn thành luận văn
Trang 3CHƯƠNG I THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ SỰ CẦN THIẾT CHỐNG THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU
1.1 NHỮNG NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU: 1.1.1 Khái niệm về thuế xuất nhập khẩu :
Thuế xuất nhập khẩu là loại thuế gián thu đánh vào hàng hóa đượcphép xuất nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới, kể cả hàng hóa từ thị trườngtrong nước đưa vào khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa ra thị trường trongnước để tiêu thụ
Thuế xuất nhập khẩu có tên gọi chung mà các nước thường dùng gọi
là thuế quan Thuế quan là một khoản thu để nép vào ngân sách quốc gia đã
có từ lâu đời nó được hình thành từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ và đặc biệt làphát triển ở các nước tư bản vào thế kỷ XVIII - XVIII
Lịch sử thuế quan trên thế giới được tổ chức theo hai xu hướng tráingược nhau :
- Xu hướng 1 : Những nước theo chủ trương tự do thương mại thì chủ
trương xoá bỏ các hàng rào thuế quan ngăn cách giữa các quốc gia với nhautrong buôn bán thương mại
- Xu hướng 2 : Mét số quốc gia phát triển chủ trương bảo hộ nền sản
xuất trong nước hạn chế việc nhập khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu bằng cáchban hành những đạo luật, những chính sách thuế quan nhằm điều tiết hoạtđộng xuất nhập khẩu Trong giai đoạn Chủ nghĩa Tư bản độc quyền pháttriển, một số nước sử dụng hàng rào thuế quan như là một công cụ cơ bảntrong chính sách quan hệ ngoại thương với các nước khác
Ở các nước đang phát triển thuế quan thực hiện hai chức năng cơ bản
là bảo hộ sản xuất trong nước điều tiết xuất nhập khẩu và thu nép cho ngânsách, chính sách thuế quan nhằm đánh vào những mặt hàng nhập khẩu màtrong nước đã sản xuất được hoặc đó cúđiều kiện để phát triển sản xuất
Trang 4Đánh thuế thấp đối với những mặt hàng là nguyên vật liệu nhập khẩu để sảnxuất hoặc gia công hàng xuất khẩu, ban hành các chính sách cấm một số mặthàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu một số mặt hàng đểbảo hộ sản xuất trong nước
Qua nghiên cứu những nét khái quát về thuế quan ở những thời kỳ lịch sử khác nhau trên thế giới để rót ra kết luận :
+ Thái độ sử dụng thuế quan là tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế - chínhtrị xã hội và giai đoạn lịch sử của một nước
+ Việc tổ chức thuế quan trong quan hệ buôn bán Quốc tế đều xuấtphát từ lợi Ých và lợi thế so sánh có lợi ở một quốc gia
+ Xu hướng chung của tất cả các nước là khi nền kinh tế phát triểnkhả năng cạnh tranh lớn thì hàng rào thuế quan không được coi trọng, đặcbiệt đối với các nước có nền kinh tế phát triển
Xuất phát từ đặc điểm, vai trò mục đích của hàng rào thuế quan trên thế giới cho thấy cú cỏc hình thức tổ chức thuế quan sau đây :
* Thuế quan trong các nước thực hiện chính sách tự do thương mại ởcác nước phát triển
* Thuế quan theo mục đích thu thuế cho ngân sách quốc gia
* Thuế quan theo mục đích bảo họ sản xuất trong nước
* Thuế quan trong đàm phán thương mại
* Thuế quan dùng để trừng phạt
* Thuế quan được áp dụng trong tối huệ quốc
1.1.2 Vai trò của thuế xuất nhập khẩu trong nền kinh tế thị trường :
Trong nền kinh tế thị trường, cùng với sự trao đổi giao lưu kinh tếngày càng mở rộng, vai trò của thuế xuất nhập khẩu ngày càng trở nên vôcùng quan trọng và được thể hiện qua các mặt sau :
Thứ nhất : Thuế xuất nhập khẩu là nguồn thu lớn trong tổng số thu
NSNN Hoạt động XNK ở Việt Nam ngày càng được mở rộng, các mặt hàngxuất nhập khẩu ngày càng thêm phong phú đa dạng, tăng về số lượng, chất
Trang 5lượng Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm không ngừng tăng lên tươngứng với nó là số thu về thuế XNK ngày một tăng, chiếm một vị trí quantrọng trong tổng số thu về thuế của NSNN Do vậy thuế xuất nhập khẩu luônđược coi là nguồn thu lớn trong tổng số thu NSNN.
Thứ hai : Thuế xuất nhập khẩu là công cụ góp phần quản lý Nhà nước
về Hải quan, kiểm tra các hoạt động xuất nhập khẩu và điều tiết những môhình hoạtđộng xuất nhập khẩu, vừa kích thích hoạt động xuất nhập khẩu vừahướng dẫn tiêu dùng
Thứ ba : Thuế xuất nhập khẩu góp phần bảo hộ sản xuất trong nước,
giúp cho các thành phần kinh tế đứng vững và vươn lên trong cơ chế mớiđồng thời tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Thứ tư : Thuế xuất nhập khẩu góp phần thực hiện chính sách đối
ngoại của Đảng, góp phần thực hiện công bằng bình đẳng xã hội
Tóm lại : Thuế xuất nhập khẩu có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng về
1.1.3.1 Đối tượng chịu thuế và đối tượng nép thuế :
* Đối tượng chịu thuế :
Đối tượng chịu thuế xuất khẩu, nhập khẩu : là tất cả các hàng hóađược phép xuất khẩu, nhập khẩu qua các cửa khẩu và biên giới Việt Namtrong các trường hợp cụ thể sau :
Trang 6- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của các tổ chức kinh tế Việt Namthuộc các thành phần kinh tế được phép mua bán, trao đổi, vay nợ với nướcngoài.
- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của các tổ chức kinh tế nước ngoài,của các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
- Hàng hóa nói trên được phép xuất khẩu vào các khu chế xuất khẩutại Việt Nam và hàng hóa của các Xí nghiệp trong khu chế xuất được phépnhập khẩu vào thị trường Việt Nam
- Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu để làm hàng mẫu, quảng cáo, dự hộichợ, triển lãm
- Hàng viện trợ hoàn lại và không hoàn lại
- Hàng hóa vượt quá tiêu chuẩn hành lý được miễn thuế mnag theongười của cá nhân người Việt Nam và người nước ngoài khi xuất nhập cảnhqua cửa khẩu biên giới Việt Nam
- Hàng là quà biếu, quà tặng vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế của các tổchức, cá nhân ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài manghoặc gửi về cho các tổ chức, cá nhân ở Việt Nam và ngược lại
- Hàng hóa xuất nhập khẩu vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế của các tổchức quốc tế, cơ quan ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam và của cá nhânngười nước ngoài làm việc tại các tổ chức nói trên hoặc tại các hình thứcđầu tư nước ngoài tại Việt Nam
- Hàng là tài sản di chuyển vượt quá tiêu chuẩn miễn thuế của các tổchức, cá nhân nước ngoài xuất khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam dohết thời hạn cư trú và làm việc tại Việt Nam và của cá nhân người Việt Namđược chính phủ Việt Nam cho phép xuất cảnh để định cư ở nước ngoài
* Đối tượng nép thuế :
- Các tổ chức, cá nhân có hàng hóa thuộc đối tượng nép thuế nói trênkhi có hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới thì phải népthuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Trang 7- Trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu uỷ thỏc thỡ tổ chức nhận uỷ thácxuất nhập khẩu chịu trách nhiệm nép thuế xuất nhập khõủ.
1.1.3.2 Căn cứ tính thuế xuất nhập khẩu :
Số thuế xuất nhập khẩu được xác định theo công thức sau :
Giá tính thuế đơn
vị từng mặthàng XK, NK
Thuế suất từng mặt hàng
XK, NK
Tỷ giángoại tệ
Tính thuế xuất nhập khẩu là căn cứ vào : sè lượng hàng hóa, giỏ tớnhthuế và thuế suất của mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu
* Sè lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu làm căn cứ tính thuế là sốlượng từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong tê khai hànghóa xuất khẩu, nhập khẩu (gọi tắt là tờ khai Hải quan) của các tổ chức, cánhân có hàng xuất khẩu, nhập khẩu
* Giỏ tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được quy định cụ thể là :+ Giỏ tính thuế đối với hàng xuất khẩu là giá bán cho khách hàng tạicửa khẩu xuất không bao gồm chi phí vận tải (F) và chi phí bảo hiểm (I)theo hợp đồng bán phù hợp với các chứng từ khác có liên quan đến việc bánhàng
+ Giỏ tính thuế đối với hàng nhập khẩu là giá mua của khách hàng tạicửa khẩu nhập, bao gồm cả phí vận tải (F) và phí bảo hiểm (I) theo hợp đồng
ua bán hàng với các chứng từ khác có liên quan đến việc mua hàng
+ Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo hợp đồng mua bánngoại thương có đủ nội dung chủ yếu quy định tại điều 50 luật thương mạingaỳ 10/5/1997 (trừ các mặt hàng thuộc danh mục mặt hàng Nhà nước quản
lý giỏ tớnh thuế) và các chứng từ hợp lệ để đủ điều kiện xác định giỏ tớnhthuế theo quy định thì giá tính thuế được tính theo giá ghi trên hợp đồng
Trang 8+ Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu không đủ điều kiện xác địnhgiỏ tớnh thuế theo hợp đồng hoặc hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theophương thức khỏc khụng thông qua hợp đồng mua bán (hàng biếu, tặng xuấtnhập khẩu phi mậu dịch, xuất, nhập khẩu của cư dân biên giới), không thanhtoán quan ngân hàng như hàng đổi hàng, hàng trả công thì giá tính thuếđược thực hiện theo bảng giá tính thuế của Bộ tài chính quy định (đối vớicác mặt hàng Nhà nước quản lý giá) hoặc của Tổng cục hải quan quy định(đối với mặt hàng Nhà nước không quản lý giá)
+ Đối với những mặt hàng Nhà nước quản lý giá thì giá tính thuế làgiá theo bảng giá của Bộ tài chính quy định Trường hợp giá ghi trên hợpđồng ngoại thương cao hơn giá quy định tại bảng giá của Bộ tài chính thỡtớnh theo giá hợp đồng
* Tỷ giá : dùng để xác định giỏ tớnh thuế xuất nhập khẩu bằng đồngViệt Nam
- Tỷ giá được dùng để xác định giỏ tớnh thuế xuất khẩu, nhập khẩubằng đồng Việt Nam là tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng tiền nước ngoài
do ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố được đăng dựng trờn bỏo nhândân hàng ngày và theo thông báo của Tổng cục Hải quan
- Đối với trường hợp hợp đồng mua bán theo phương thức trả tiềnchậm giá mua bán ghi trên hợp đồng mua bán gồm cả lãi suất phải trả thì giátính thuế được xác định bằng giá mua Giá bán trừ (-) lãi suất phải trả theohợp đồng mua bán
Trang 9- Hàng hóa xuất khẩu phải là hàng của Việt Nam sản xuất hoặc sảnxuất tại quốc gia có ký điều khoản ưu đãi trong quan hệ thương mại với ViệtNam (nếu là hàng nhập khẩu).
- Bé thương mại Việt Nam khi cấp giấy phép xuất nhập khẩu đã ghi rõ
số lượng mặt hàng được áp dụng thuế ưu đãi vào giấy phép chuyển hàng.Hải quan căn cứ vào giấy phép để thu thuế xuất nhập khẩu theo mức thuế ưuđãi
1.1.3.4 Miễn thuế, giảm thuế và hoàn thuế :
* Miễn thuế :
Điều 10 của luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định các trườnghợp được miễn thuế và thủ tục hồ sơ miễn thuế như sau :
- Hàng viện trợ hoàn lại
- Hàng tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập để dự hội chợ triển lãm,bao gồm những hàng hóa được phép tạm xuất khẩu hoặc tạm nhập khẩu để
dự hội chợ triển lãm Hết thời hạn hội chợ triển lãm phải nhập về Việt Namđối với hàng tạm xuất và phải xuất khẩu ra nước ngoài đối với hàng tạmnhập
- Hàng và tài sản di chuyển của tổ chức cá nhân Việt Nam hay nướcngoài di chuyển vào Việt Nam hay đưa ra nước ngoài theo mức quy định :
Trang 10- Hàng hóa mang theo hoặc gửi về của công dân Việt Nam đi hợp táclao động, hợp tác chuyên gia, công tác và học tập ở nước ngoài thực hiệntheo tiêu chuẩn hành lý xuất nhập cảnh.
- Hàng xuất khẩu, nhập khẩu của tổ chức cá nhân, người nước ngoàiđược hưởng tiêu chuẩn miễn trừ ngoại giao theo điều ước Quốc tế
- Hàng là vật tư nguyên liệu nhập khẩu để gia công cho nước ngoài rồixuất khẩu theo hợp đồng đã ký theo các hình thức nhận vật tư nguyên liệu
về sản xuất rồi giao toàn bộ thành phẩm, hoặc trả tiền một phần hay toàn bộvật tư nguyên liệu để bán lại toàn bộ thành phẩm cho nước ngoài theo hợpđồng gia công đã ký
* Xét miễn thuế :
- Hàng nhập khẩu chuyên dùng cho tổ chức an ninh và quốc phòng, có
kế hoạch danh mục cụ thể về số lượng chủng loại hàng hóa nhập khẩu dolãnh đạo Bộ chủ quản duyệt căn cứ vào công văn xin miễn thuế của đơn vị.Giấy phép nhập khẩu, tờ khai hàng nhập khẩu đã được cơ quan hải quan tínhthuế Bộ tài chính xét miễn giảm thuế
- Hàng nhập khẩu giành cho mịch nghieen cứu khoa học và giáo dục :+ Quyết định phê duyệt đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước
+ Bảng kê hàng nhập khẩu để thực hiện đề tài
+ Văn bản xin miễn thuế
+ Giấy phép nhận khẩu do Bộ thương mại cấp, tờ khai Hải quan đótớnh thuế … căn cứ vào hồ sơ trên Bộ tài chính quyết định
- Hàng là quá biểu, quà tặng của các tổ chức, cá nhân người nướcngoài cho cá nhân người Việt Nam và ngược lại theo mức quy định của Bộtài chính
- Hàng tạm nhập để bán tại cửa hàng miễn thuế XNK
+ Giấy phép kinh doanh cửa hàng miễn thuế do Bộ thương mại cấpghi rõ đối tượng được mua hàng và phạm vi kinh doanh
+ Giấy phép nhập khẩu của lô hàng do Bộ thương mại cấp
Trang 11+ Tê khai Hải quan đã kiểm hoá và tính thuế
+ Bảng quyết toán số lượng hàng, giá trị hàng đó bỏn tại cửa hàngmiễn thuế của Công ty được cơ quan Hải quan xác nhận
+ Công văn xin miễn thuế của Công ty kinh doanh cửa hàng miễn thuếgửi Bộ tài chính quyết định
* Xét giảm thuế :
Đối với hàng hóa xuất nhập khẩu trong quá trình vận chuyển bốc xếp(hàng hóa còn nằm trong sự giám sát quản lý của cơ quan Hải quan bị hưháng, mất mát có lý do xác đáng), do cơ quan Hải quan tỉnh, thành phố raquyết định xử lý căn cứ vào mức độ tổn thất, hư hỏng đó được giám định,đối chiếu hồ sơ có liên quan để giảm thuế tương ứng với từng trường hợp cụthể
- Đối với hàng đó nộp thuế xuất khẩu nhưng không xuất nữa
- Đối với các đại lý của Việt Nam được phép nhập hàng để làm đại lýgiao bán hàng cho nước ngoài có đăng ký với Bộ tài chính
- Đối với hàng tạm nhập để tái xuất hoặc tạm xuất để tái nhập
- Đối với hàng là vật tư nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuấtkhẩu, hồ sơ phải có :
+ Công văn đề nghị xin hoàn lại thuế nhập khẩu đó nộp (cú phương ángiải trình định mức tiêu hao nguyên vật liệu, có xác nhận của cơ quan cóthẩm quyền)
+ Giấy phép xuất nhập khẩu do Bộ thương mại cấp
+ Tê khai hàng nhập khẩu đã thanh khoản của Hải quan
+ Thông báo thuế nhập khẩu
Trang 121.2 THẤT THU THUẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI CHỐNG THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU :
1.2.1 Thất thu thuế và các nguyờn nhân gõy thất thu :
Thất thu thuế là những tổn thất về tài chính mà lẽ ra Nhà nước độngviên được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua hệ thống chínhsách pháp luật về thuế
Hiện tượng thất thu về thuế là hiện tượng khá phổ biến ở tất cả cácnước trên thế giới Ngay cả ở các nước phát triển với sự hoàn thiện cao củapháp luật và những kỹ thuật quản lý tiên tiến, người ta cũng dự đoán rằng sốthuế thực thu được chỉ đạt khoảng 80% số thuế phải thu theo luật định ỞViệt Nam ta tuy không có số liệu thống kê đầy đủ về tình hình thất thu thuếnói chung, song ai cũng hiểu con số thất thu thuế là rất lớn Bởi lẽ, có rấtnhiều nguyên nhân gõy lờn tình trạng thất thu thuế, và sau đây xin nêu mộtvài nguyên nhân chính :
Thứ nhất : Hệ thống chính sách thuế chưa thật hoàn chỉnh, còn nhiều
chỗ bất hợp lý, tạo ra những kẽ hở để đối tượng nép thuế có thể "luồn",
"lỏch" trỏnh thuế gây thất thu cho ngân sách Nhà nước
Thứ hai : Về phía đối tượng nép thuế, họ luụn tỡm mọi thủ đoạn gian
lận để trèn thuế Vấn đề trèn lậu thuế ở nước ta đã, đang diễn biến rất phứctạp, nó lan tràn thành một hiện tượng phổ biến của xã hội : có thể bắt gặphiện tượng này ở bất kỳ một doanh nghiệp, một thợ sửa chữa hay một nhàkinh doanh lặt vặt nào Do vậy mà người ta có cảm giác là "Tất cả mọingười đều trèn thuế" Nguy hiểm hơn nữa có những doanh nghiệp hay cánhân còn coi đây là phương châm để tồn tại và làm giàu , còn việc trèn lậuthuế được coi là hành động tất nhiên Chính hiện tượng trèn lậu thuế tràn lantrong xã hội đó gõy thất thu lớn cho ngân sách Nhà nước
Thứ ba : Về phía cơ quan thuế : trình độ cán bộ thuế nói chung và cán
bộ kiểm tra, thanh tra thuế nói riêng còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầucủa tình hình kinh tế xã hội ngày càng phức tạp như hiện nay Do vậy chất
Trang 13lượng của công tác thanh tra còn rất hạn chế, thêm nữa số lần kiểm tra,thanh tra cũng chưa phải là nhiều, do số lượng cán bộ và nguồn tài lực chocông tác này vẫn còn hạn hẹp làm cho xác suất của các vô vi phạm trèn thuế
bị phát hiện và xử lý cũn quỏ nhỏ Ngoài ra, một số cán bộ ngành thuế cũn
cú biểu hiện tiêu cực với đối tượng nép thuế cũn cú biểu hiện tiêu cực với đốitượng nép thuế Chính vì thế để xảy ra hiện tượng trèn lậu thuế, gây thất thu choNSNN
Hiện tượng trèn lậu thuế tràn lan trong xã hội gây thất thu lớn về thuếcho ngân sách Nhà nước đang là vấn đề nhức nhối được mọi cấp, mọi ngànhquan tâm để tìm biện pháp khắc phục
Muốn hạn chế hiện tượng thất thu thuế, thì không còn cách nào khác làphải áp dụng các biện pháp cần thiết để giảm tối thiểu hiện tượng trèn lậu thuế
Các giải pháp này không chỉ dừng ở những giải pháp tình thế như :tăng cường tuyên truyền, giáo dục về thuế cho các đối tượng nép thuế : tăngcường công tác kiểm tra, thanh tra, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngòcán bộ nhân viờn thuế … mà hướng tới bổ xung, xây dựng một hệ thốngchính sách thuế hoàn chỉnh, tối ưu hơn Hệ thống thuế đó phải vừa đảm bảonguồn thu cho NSNN, vừa đảm bảo tính trung lập, công bằng, lại vừakhuyến khích đối tượng nép thuế dám nói lên sự thật về thu nhập từ hoạtđộng kinh doanh của mình
1.2.2 Tình hình thất thu thuế XNK và các hình thức biểu hiện của thất thu thuế XNK ở nước ta thời gian qua :
Việc trèn lậu thuế thường hay tập trung vào các loại thuế có thuế xuấtcao như thế XNK, thuế TTĐB nhưng trong đó nổi cộm nhất là thuế XNK.Chính vì thế, tình hình thất thu thuế XNK ở nước ta thời gian qua rất nghiêmtrọng Theo số liệu ước tính, bình quân hàng năm NSNN thất thu từ 3000-
3200 tỷ đồng tiền thuế XNK do nhập khẩu lậu
Thất thu thuế XNK được biểu hiện thông qua 3 hình thức chủ yếusau : buôn lậu, gian lận Thương mại và nợ đọng thuế kéo dài
Trang 14Xét về góc độ quản lý Nhà nước về Hải quan và điều 97 - Bé luật hình
sự, những hành vi sau đây sẽ bị quy vào tội danh "buôn lậu"
- Vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ, hàng quốc cấm qua biên giớitrái với quy định của Hải quan
- Không khai báo hoặc khai báo gian dối, giả mạo giấy tờ, giấu diếmhàng hóa, tiền tệ trái phép, không có giấy phép hợp lệ của cơ quan có thẩmquyền đã được Nhà nước quy định
- Mang hàng húa không đi qua cửa khẩu, cố tình trốn trỏnh sự kiểmtra, kiểm soát của cơ quan Hải quan, của cơ quan quản lý cửa khẩu
"Gian lận Thương mại" có thể hiểu như sau : Thông qua hoạt độngXNK các chủ hàng đã có hành vi, thủ đoạn không khai báo hoặc khai báo saitên hàng, số lượng, trọng lượng, chủng loại, xuất xứ … hàng hóa để đượchưởng thuế suất ưu đãi hoặc bằng không Mục đích cuối cùng của họ là trốntrỏnh nghĩa vụ nép thuế và thu lợi bất chính ngày càng nhiều Đối tượnggian lận thương mại hoạt động dưới vỏ bọc cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh
tế, xã hội nên việc phát hiện được hành vi gian lận thương mại là rất khókhăn, phức tạp Hiện nay Nhà nước ta chưa có quy định tội danh "gian lậnthương mại" tại Bộ luật hình sự nên nếu cá nhân, tổ chức vi phạm thì cơquan quản lý Nhà nước về Hải quan sẽ áp dụng xử lý theo Luật thuế XNK,hoặc Nghị định 16/CP về xử phạt vi phạm hành chính về Hải qun
"Nợ đọng thuế kéo dài" có thể hiểu đó là các hành vi chây ỳ của mộtsúo doanh nghiệp, cố tình không thực hiện nghĩa vụ nép thuế XNK đúngthời hạn quy định của Luật thuế XNK, gây tình trạng nợ đọng thuế kéo dài ởcác cục Hải quan
Nợ đọng thuế cũng đang là một vấn đề bức xúc hiện nay, ngành Hảiquan đã áp dụng nhiều biện pháp nhưng kết quả thu được không cao
* Qua số liệu đưa ra ở trên cho thấy số thất thu thuế XNK qua buônlậu, nợ đọng, gian lận thương mại là rất lớn Do vậy vấn đề đặt ra cho ngànhthuế, ngành Hải quan … hiện nay là phải cú cỏc giải pháp tình thế để có thể
Trang 15hạn chế bớt được số đối tượng trèn, lậu thuế Về lõu dài cần có những kiếnnghị, bổ xung … làm hoàn thiện hơn hệ thống chính sách thuế nói chung vàthuế XNK nói riêng nhằm chống thất thu cho NSNN.
1.2.3 Ý nghĩa của công tác chống thất thu thuế XNK :
- Thực hiện tốt công tác thu thuế XNK và chống thất thu thuế sẽ tăngnguồn thu cho NSNN và bảo hộ nền sản xuất trong nước phát triển Nhưchúng ta đã biết thuế XNK là một nguồn thu rất quan trọng của NSNN,chiếm khoảng 1/4 tổng số thu về thuế nép NSNN Thuế XNK cũn cú vai trò
to lớn trong việc bảo hộ nền sản xuất trong nước tồn tại và phát triển, tạođiều kiện cho các thành phần kinh tế trong nước đứng vững và vươn lêntrong cơ chế kinh tế thị trường, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh trên thịtrường quốc tế
- Thực hiện tốt công tác chống thất thu thuế XNK sẽ góp phần thựchiện công bằng xã hội giữa các thành phần kinh tế và các tầng líp dân cư,đảm bảo sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân, góp phầntạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệptrong nước và nước ngoài
- Quản lý tốt công tác thu thuế XNK cũn giỳp Nhà nước quản lý vĩ mônền kinh tế Trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế nước ta chuyển sang cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, do đó việc tăng cường quản lýthu thuế XNK và chống thất thu thuế XNK có một ý nghĩa hết sức quantrọng trong điều hành công tác XNK, điều tiết cân đối cán cân thương mại,
từ đó có cơ sở hoạch định chính sách kinh tế cho cả nước
1.3 TÌNH HÌNH ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH THUẾ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA.
Trong thời đại ngày nay, khi toàn cầu hoá khu vực hoá đang trởthành một xu thế khách quan thì bất kể một quốc gia nào kể cả các quốcgia có nền kinh tế phát triển cao như Mỹ, Nhật Bản đều không thể phát
Trang 16triển nhanh được nếu không có sự hợp tác với các nước khác đồng thờimột nước cũng không thể cô lập mỡnh nờn cần có sự hợp tác Đó cũng là
xu thế mở rộng sự hợp tác song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực,
xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra trên khắp thế giới từ Châu
Á, Châu Âu đến Châu Mỹ La Tinh Một quốc gia muốn tham gia vào hợptác kinh tế quốc tế thì tất yếu phải thực hiện theo các nguyên tắc, chuẩnmực và các cam kết chung của khu vực và thế giới Để thực hiện các camkết quốc tế đòi hỏi mỗi quốc gia phải tiến hành cải cách hệ thống cơ chếchính sách cho phù hợp vừa đảm bảo thực hiện đúng các cam kết quốc tế,vừa phù hợp với thực tiễn của từng quốc gia Việt Nam là một quốc giađang phát triển, thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế và đang tham giahội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới do đó việc học hỏi kinhnghiệm của các nước trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế là việc làmcần thiết nhằm rút ngắn khoảng cách và thời gian hội nhập tránh đượcnhững rủi ro có thể xảy ra
Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài, em đi sâu vào nghiêncứu, tìm hiểu chính sách quản lý thuế nói chung, thuế XNK nói riêng củamột số nước có hoàn cảnh và điều kiện tương đồng với Việt Nam nhưTrung Quốc, các nước ASEAN và một số nước quốc gia công nghiệp mớiChâu Á (NICS) quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh như Mỹ
1.3.1 Tình hình áp dụng chính sách thuế ở Trung Quốc
Cũng như Việt Nam, Trung Quốc là một quốc gia XHCN đã duy trì
cơ chế quản lý hành chính bao cấp trong một thời gian tương đối dài, nềnkinh tế Trung Quốc trước những năm 1980 còn gặp nhiều khó khăn vàchậm phát triển Tuy nhiên do nhận thức sớm được vai trò tích cực của cơchế thị trường, Trung Quốc đã tiến hành chiến lược kinh tế mở cửa vàphát triển theo cơ chế thị trường từ đầu những năm 1980, tuy nhiên dovẫn duy trì chính sách bảo hộ sản xuất trong một thời gian dài cho nên
Trang 17thuế nhập khẩu luôn ở mức cao Theo số liệu tổng hợp cho thấy đến đầunhững năm 1990 thuế suất thuế nhập khẩu của Trung Quốc vẫn còn ở mứccao bình quân khoảng 50% Đến năm 1994 Trung Quốc đã phát động mộtđợt cải cách thuế rộng lớn theo hướng mở rộng diện đánh thuế và hạ thấpmức thuế suất Thuế nhập khẩu được giảm xuống còn khoảng 35% vàonăm 1995 và từ năm 1996 còn khoảng trên 20%, Biểu thuế được xây dựngtrên cơ sở hệ thống điều hoà (HS) của tổ chức Hải quan Thế giới và thựchiện xác định trị giá theo quy định của Hiệp định trị giá GATT bên cạnh
đó dụng bảng giá tối thiểu đối với các trường hợp không đủ điều kiện theoquy định của Hiệp định và đối với các mặt hàng nhà nước quản lý giá.Việc xây dựng chính sách thuế XNK của Trung Quốc trong tiến trình hộpnhập kinh tế quốc tế theo hướng: giảm mạnh thuế nhập khẩu đối với máymóc, thiết bị kỹ thuật hình thành nên tài sản cố định mà trong nước chưasản xuất được nhằm tạo thuận lợicho các doanh nghiệp sản xuất trongnước đổi mới công nghệ, hiện đại hoá sản xuất, từ đó giảm giá thành sảnxuất của các doanh nghiệp sản xuất trong nước, nâng cao khả năng cạnhtranh với sản phẩm cùng loại nhập khẩu Thuế nhập khẩu đối với hàngnông sản thực hiện theo phương pháp thuế quan hạn ngạch, đồng thờithực hiện mức thuế nhập khẩu tương đối thấp đối với một số mặt hàng màTrung Quốc đang cố gắng phát triển sản xuất hoặc một số thiết bị, nguyênvật tư kỹ thuật mà trong nước cần nhập khẩu để phục vụ sản xuất nhưngvẫn được duy trì mức thuế nhập khẩu cao nhằm ổn định nguồn thu ngânsách cũng như thực hiện việc giảm dần mức độ bảo hộ sản xuất trongnước bằng chính sách thuế nhập khẩu Về chính sách ưu đãi thuế nhậpkhẩu, Chính phủ Trung Quốc thực hiện việc miễn giảm thuế nhập khẩuđối với việc chuyển giao công nghệ, hàng hoá nhập khẩu vào các đặc khukinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hàng hoá là nguyên vậtliệu nhập khẩu để gia công hàng xuất khẩu có thể nói đợt cải cách thuế
từ năm 1994 đã mang lại thành công to lớn cho nền kinh tế Trung Quốc,
Trang 18tạo điều kiện cho hàng của Trung Quốc xuất khẩu ra Thế giới và thúc đẩynhanh quá trình cải cách kinh tế Kết quả đó thể hiện ở chỗ tốc độ tăngtrưởng kinh tế của Trung Quốc luôn ở mức cao trong nhiều năm liên tục ởmức trên dưới 10% (10% năm 1995, 8% năm 1998), lạm phát giảm từmức hai con số xuống còn mức một con số (năm 1994: 21%, 3% năm1998) sè thu ngân sách Nhà nước tăng ổn định năm sau so với năm trước,kim ngạch XNK tăng lên mạnh mẽ, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốcvào Mỹ thời gian những năm đầu của thập kỷ 80 chỉ mức vài chục triệuUSD đã tăng lên khoảng 70 - 80 tỷ USD vào những năm cuối thế kỷ 20.Kết quả cho thấy chính sách thuế XNK của Trung Quốc đã tạo điều kiệncho các doanh nghiệp Trung Quốc thích ứng nhanh trước sự cạnh tranhcủa hàng hoá nhập khẩu từ bên ngoài, nhằm tạo thuận lợi cho việc dànhlợi thế cho hàng hoá xuất khẩu của Trung Quốc.
Đồng thời với việc cải cách chính sách thuế XNH, Trung Quốc còntập trung đi sâu vào vấn đề cải cách quản lý thu thuế theo hướng xây dựng
cơ chế tự tính thuế, tự nép thuế, phát triển mạng lưới tư vấn về thuế, triểnkhai việc giám sát thu thuế bằng mạng vi tính, sắp xếp lại bộ máy thu thuếtheo nguyên tắc tinh giảm và hiệu quả Với kết quả đạt được trong quátrình cải cách thuế nói chung, thuế XNK núi riờng Trung Quốc đã đạtđược một bước quan trọng là chính thức trở thành thành viên chính thứccủa tổ chức thương mại Thế giới WTO vào năm 2001 và ký Hiệp địnhTrung Quốc - EU vào năm 2000, và đạt được qui chế quan hệ thương mạibình thường dài hạn Trung Mỹ vào năm 2000 Để có được kết quả nàyTrung Quốc đã phải nỗ lực rất nhiều trên nhiều lĩnh vực, mà đặc biệt là nỗlực giảm thuế nhập khẩu và loại bỏ hàng rào phi thuế
1.3.2 Tình hình áp dụng chính sách thuế ở các nước ASEAN.
Trong những năm qua có thể nói ASEAN là khu vực có nền kinh tếphát triển năng động nhất Thế giới, chính sách phát triển kinh tế của
Trang 19ASEAN thời gian qua tập trung chủ yếu vào việc thu hót vốn đầu tư nướcngoài; khuyờn khớch sản xuất sản phẩm xuất khẩu, từng bước tự do hoáthương mại, và bảo vệ sản xuất trong nước có mức độ Do đó chính sáchthuế XNK của các nước ASEAN mang những nét chủ yếu sau:
- Thực hiện việc thu hót đầu tư nước ngoài thông qua việc miễnthuế nhập khẩu đối với máy móc thiết bị và nguyên vật liệu nhập khẩutheo các dự án đầu tư nước ngoài
- Thóc đẩy tự do hoá thương mại và đầu tư trong và ngoài khu vựcASEAN bằng việc đưa ra lộ trỡnh cắt giảm thuế và từng bước loại bỏ cáchàng rào phi thuế
- Từng bước giảm tỷ trọng thuế nhập khẩu trong tổng thu NSNN từthuế nhằm tạo điều kiện thúc đẩy tụ do hoá thương mại và thúc Ðp cácdoanh nghiệp sản xuất trong nước đổi mới công nghệ, nâng cao khả năngcạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước
Thái Lan giảm tỷ trọng thuế nhập khẩu trong tổng thu ngân sách nhànước từ khoảng 25% xuống còn 18%, Malaysia giảm từ 26 xuống còn19%, Inđụnờxia cú tỷ trọng thuế nhập khẩu thấp khoảng 5%
- Tuy mức độ có khác nhau nhưng nhìn chung các nước ASEAN đềuthực hiện chính sách bảo hộ hợp lý, giảm dần mức thuế suất cao đối vớihàng hoá tiêu dùng
- Biểu thuế XNK được xây dựng trên cơ sở hệ thống điều hoà của tổchức Hải quan Thế giới, trị giá tính thuế từng bước thực hiện theo quyđịnh của Hiệp định trị giá GATT Thuế suất thuế nhập khẩu được xác địnhdựa trờ cơ sở tính chất của hàng hoá, những nội dung này cơ bản phù hợpvới thông lệ quốc tế
1.3.3 Tình hình áp dụng chính sách thuế ở một số nước Mỹ la tinh.
Trang 20Để phát triển kinh tế các nước Mỹ la tinh đã đề ra chiến lược cải cáchthuế theo hướng đơn giản hoá để dễ quản lý, dễ áp dụng, chống thất thu, hạthấp thuế suất Việc thực hiện ở từng nước có sự khác nhau có nước chútrọng cải cách thuế gián thu bằng việc giảm đáng kể thuế nhập khẩu, giảm
cả số lượng thuế suất và giảm thuế suất cao đồng thời coi trọng việc áp dụngthuế VAT, có nước coi trọng cải cách thuế trực thu bằng việc hạ thấp thuếsuất cao đi đôi với mở rộng diện đánh thuế, trong giai đoạn đầu của nhữngnăm 1990 hầu hết các nước trong khu vực đã bỏ thuế xuất khẩu và hạ thuếnhập khảu để đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu Trong giai đoạn này mộttrong những nước thực hiện việc cải cách thuế đạt kết quả cao là Achentina,Chính phủ nước này đã thực hiện những thay đổi cơ bản trong chính sáchthuế và công tác quản lý thuế Về chính sách thuế, thực hiện loại bỏ nhữngloại thuế đang hạn chế sự đầu tư và tăng trưởng kinh tế như thuế xuất khẩu,
hạ thấp thuế đánh vào các hoạt động ngoại thương, đồng thời củng cố và mởrộng diện đánh thuế VAT Về công tác quản lý thuế, chính phủ tập trung chỉđạo ba việc trọng tâm đó là: phát triển các dịch vụ thông tin, tạo điều kiệnthuận lợi cho các đối tượng nép thuế, những vấn đề về chứng từ sổ sách kếtoán trở thành vấn đề bắt buộc trong kinh doanh đồng thời công tác kiểm trađược chú trọng đặc biệt Những đơn vị kinh doanh chậm kê khai khôngtrung thực thì lập tức phải ngừng kinh doanh trong 3 ngày để kiểm tra vàphạt Năm 1990 có 7000 đơn vị bị phạt, đến năm 1992 có tới 12000 đơn vị
bị phạt nhờ áp dụng biện pháp này đã làm giảm đáng kể tình trạng trèn lậuthuế, việc ghi chép hoá đơn, sổ sách kế toán và thanh toán qua ngân hàngđạt nhiều tiến bộ hơn trước, công tác kiểm tra được tăng cường thườngxuyên số thu thuế năm 1985 đạt 14% GDP, năm 1989 giảm xuống còn 11%thì đến năm 1993 sè thu từ thuế đã đạt tới 16% so với GDP
Trang 22CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ
XUẤT NHẬP KHẨU VÀ TÌNH HÌNH THẤT THU THUẾ XUẤT
NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN HÀ NỘI 2.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU VÀ THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN HÀ NỘI
2.1.1 Khái quát về Cục Hải quan thành phố Hà Nội :
Ngày 20/10/1984 Chủ tịch HĐBT Phạm Văn Đồng đã ký nghị định139/HĐBT quyết định thành lập Tổng cục Hải quan với nhiệm vụ, quyềnhạn và tổ chức bộ máy Hải quan Việt Nam theo nguyên tắc tập trung thốngnhất theo 3 cấp :
* Tổng Cục Hải quan
* Hải quan tỉnh, thành phè
* Hải quan các cửa khẩu và các đội kiểm soát Hải quan
Căn cứ vào thực tế yêu cầu quản lý, ngày 3/8/1985, Tổng cục Trưởnghải quan đã ra quyết định số 101/TCHQ-TCCB chính thức thành lập Cục hảiquan Hà Nội, khẳng định vị trí then chốt của Hải quan thủ đô trước nhiệm
vụ nặng nề của Đảng và Nhà nước giao cho ngành Hải quan nói chung vàCục hải quan thành phố Hà Nội nói riêng
Hà Nội là một trong những thành phố lớn, là thủ đô của cả nước, làđầu mối giao lưu văn hoá, Khoa học kỹ thuật, chính trị, giữa Việt Nam và tất
cả các nước trong khu vực và trên toàn thế giới Tại Hà Nội, sân bay quốc tếNội Bài là cửa khẩu tương đối lớn thường xuyên có lưu lượng hàng hóa xuấtnhập khẩu làm thủ tục Đồng thời tại Cục hải quan thành phố Hà Nội chủyếu là hàng chuyển từ Hải Phòng và các cửa khẩu thuộc các tỉnh khỏc, cỏcloại hình đủ loại, đa dạng về thành phẩm, phong phú về mục đích như : hàngkinh doanh xuất nhập khẩu, hàng gia công xuất nhập khẩu, đầu tư liêndoanh, hàng hội chợ, triển lãm; hàng quà biếu, quà tặng của các cá nhân, các
tổ chức, hàng dịch vụ chuyển phát nhanh … ngày càng mở rộng, hay xuất
Trang 23nhập khẩu về mỹ nghệ, lâm sản dược liệu ngày một gia tăng Trước tìnhhình đó, Cục Hải quan thành phố Hà Nội xác định cho mình quyết tâm và nỗlực lớn trên cơ sở quán triệt đường lối chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước, và chỉ thị của cấp trên trong việc tăng cường quản lý hoạt độngxuất nhập khẩu thông qua quản lý thuế.
Quyết định số 278/TCHQ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạncủa Cục hải quan thành phố Hà Nội như sau :
* Tiến hành thủ tục Hải quan, thực hiện kiểm tra, giám sát, kiểm soátHải quan, đảm bảo chặt chẽ đồng thời bảo đảm hàng hóa xuất nhập khẩu,hành khách xuất cảnh, nhập cảnh nhanh chóng kịp thời, tạo thông thoángtrong thủ tục Hải quan, tránh phiền hà, chậm trễ
* Bảo đảm thực hiện quy định của Nhà nước về xuất nhập khẩu, nhậpkhẩu, về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các phạm vi khác trong thẩmquyền do pháp luật quy định
* Tiến hành những biện pháp điều tra phát hiện, ngăn ngõa và xử lýhành vi buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại hối, tiền Việt Namqua biên giới, hành vi vi phạm các quy định khác của Nhà nước về Hải quantrong phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định
* Thực hiện thống kê Nhà nước về Hải quan
Ngoài 4 nhiệm vụ cơ bản trên, Hải quan còn một số nhiệm vụ cơ bảnkhác :
- Nghiên cứu, kiến nghị các chính sách, chủ trương, biện pháp quản lýcủa Nhà nước đối với hàng xuất khẩu, nhập khẩu … hướng dẫn các cá nhân
tổ chức thực hiện các quy định của Nhà nước về Hải quan
- Đào tạo đội ngò nhân viên Hải quan
- Hợp tác quốc tế về hải quan với các nước
Bộ máy tổ chức Cục hải quan thành phố Hà Nội được thể hiện trong
sơ đồ sơ đồ phụ lục số 1
Trang 242.1.2 Vị trí của Cục hải quan thành phố Hà Nội trong công tác quản lý hoạt động xuất khẩu :
Xuất phát từ vị trí của thủ đô Hà Nội - Trung tâm kinh tế - thương mạicủa cả nước, là đầu mối giao lưu kinh tế - văn hoá - xã hội của Việt Nam vớicác nước trên thế giới, Cục Hải quan Hà Nội đã xác định cho mình mộtquyết tâm và nỗ lực, trên cơ sở quán triệt những chủ trương đường lối củaĐảng và Nhà nước
Với tư cách là người "gác cửa" nền kinh tế đất nước, Hải quan là mộttrong những nhân tố quan trọng vừa phải góp phần bảo vệ và thúc đẩy sảnxuất trong nước phát triển, bảo vệ chủ quyền kinh tế và an ninh quốc gia,vừa phải thông thoát thuận tiện tạo thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoạithu hót được các nhà đõự tư nước ngoài vào Việt Nam
Chớnh vì xác định rõ nhiệm vụ, phương hướng cùng với những cốgắng đáng khích lệ trong công tác quản lý xuất nhập khẩu, Cục hải quanthành phố Hà Nội đã khẳng định được mình, phát huy vai trò chủ đạo trongviệc thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổimới, đảm bảo chức năng quản lý Nhà nước về Hải quan Những kết quả đạtđược trên các mặt sau sẽ chứng minh điều này :
* Về kết quả thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu :
Nhìn lại thời gian thực hiện kế hoạch 5 năm (1996-2000) ta thấy quychế quản lý xuất nhập khẩu có nhiều thay đổi, bổ sung, hoạt động buôn lậu,gian lận thương mại có chiều hướng gia tăng và ngày càng phức tạp Nhưngvới sự nỗ của toàn ngành Hải quan nên số thu thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu không ngừng tăng lên, hoàn thành chỉ tiêu thu nép được giao Tính đếnnăm 2001, sè thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đạt 3.137 tỷ đồng, gópphần thực hiện tốt nhiệm vụ hàng đầu của ngành "Thu đúng, thu đủ, kịp thờinép vào ngân sách Nhà nước"
Trang 25* Về công tác giám sát quản lý về Hải quan :
Nhiệm vụ trọng tâm của công tác giám sát quản lý của Cục hải quanthành phố Hà Nội năm 2001 là tiếp tục tăng cường cải cách hành chính tronglĩnh vực quản lý Nhà nước về hải quan, tổ chức quán triệt những văn bảnmới ban hành về chính sách điều hành hoạt động xuất nhập khẩu, sắp xếp
mô hình tổ chức, phù hợp với các luật thuế và quy trình thu thuế mới
Trong năm 2001, Cục hải quan thành phố Hà Nội đã làm thủ tục cho486.435 lượt khách xuất nhập cảnh, lượng hành khách tăng 10% so với năm
2000, đã tiếp nhận đăng ký làm thủ tục hàng ngày bộ hồ sơ hàng hóa xuấtnhập khẩu, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 5.866 triệu USD
Việc phân luồng hàng hóa theo luồng (luồng xanh, luồng vàng, luồngđỏ) tại các cửa khẩu, nơi làm thủ tục Hải quan đã tạo sự thông thoáng tại cửakhẩu, giảm bớt sự chờ đợi, giải phóng hàng nhanh hơn đồng thời giỳp cỏc
bộ kiểm hoá kiểm tra hàng hóa nhanh chóng, chính xác và xử lý kịp thờinhững hành vi vi phạm pháp luật Hải quan
* Về công tác điều tra chống buôn lậu và gian lận thương mại :
Tình hình buôn lậu, gian lận thương mại năm 2001 trên địa bàn cóchiều hướng giảm về số vụ, nhưng xuất hiện nhiều phương thức thủ đoạnmới, đáng chú ý như : trên tuyến đường hàng không ngoài việc vận chuyểntrái phép ngoại tệ, văn hoá phẩm độc hại … nổi lên là tình trạng nhập lậuđiện thoại di động và thuốc tân dược dưới hình thức hành lý gửi chậm, tên
và địa chỉ người nhận giả để trèn thuế và truy cứu trách nhiệm khi bị pháthiện, văn hoá phẩm có nội dung phản động đồi trụy, thuốc tân dược khụngnhón mỏc gửi qua đường bưu điện trong đó có nhiều loại thuốc gây nghiện
và hướng tâm thần, hàng chuyển tiếp qua đường biển có nhiều lô nhập khẩuphụ tùng ụtụ đã qua sử dụng, lên mặt hàng cấm nhập khẩu, gian lận thươngmại qua khai báo, sử dụng nguyên liệu nhập khẩu sản xuất hàng xuất khẩuvào mục đích khác kiếm lời trèn thuế
Trang 26- Trên cơ sở phương án đấu tranh đã xây dựng, qua những bài họckinh nghiệm thực tế, công tác đấu tranh chống buôn lậu đã tiếp tục có nhữngchuyển biến và đổi mới Kết quả năm 2001 đã phát hiện lập biên bản 245 vô
vi phạm pháp luật Hải quan, trị giá tang vật ước tính 16,5 tỷ đồng Đã raquyết định xử lý 240 vô, trong đó phạt tiền 193 vô thu phạt 467 triệu đồng,tịch thu sung công quỹ 47 vụ chuyển Sở tài chính vật giá bán hoặc tiêu huỷ
Những kết quả trờn đó khẳng định Hải quan thành phố Hà Nội là công
cụ sắc bén của Nhà nước, đóng vai trò chủ yếu trong việc thực hiện chínhsách xuất nhập khẩu
2.1.3 Các loại hình xuất nhập khẩu tại Cục hải quan Hà Nội :
Hà Nội là một trong những thành phố lớn, là thủ đô của cả nước, làđầu mối giao lưu văn hoá, khoa học kỹ thuật, kinh tế, chính trị giữa ViệtNam và cả nước trong khu vực và trên toàn thế giới Do vậy hoạt động xuấtnhập khẩu diễn ra tại Cục hải quan Hà Nội rất phong phú và đa dạng vớinhiều loại hình khác nhau
* Loại hình kinh doanh xuất nhập khẩu theo hợp đồng thương mại :
Đây là hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệpViệt Nam được phép xuất nhập khẩu trực tiếp ký hợp đồng mua bán vớinước ngoài Đây là hoạt động xuất nhập khẩu chủ yếu, là nguồn thu chongân sách Nhà nước thông qua công tác thu thuế xuất nhập khẩu
Loại hình này có chủng loại hàng hóa xuất nhập khẩu rất đa dạng từmáy móc thiết bị, nguyên liệu sản xuất đến hàng tiêu dùng … Còn xuất khẩuchủ yếu là hàng nông hải sản, nguyên liệu thô …
* Loại hình gia công cho nước ngoài :
Chủ yếu tập trung vào ngành công nghiệp nhẹ giầy da và may mặc.Đối tác nước ngoài cung cấp nguyên vật liệu, vật tư từ nước ngoài Đối tácViệt Nam sau khi gia công thành sản phẩm sẽ xuất khẩu theo hợp đồng đã
ký kết với bên nước ngoài Trong hợp đồng gia công ghi rõ các điều khoản
Trang 27về nguyên liệu nhập khẩu, định mức nguyên liệu cho một sản phẩm, thời hạngia công, tiền gia công Loại hình này được miễn thuế nhập khẩu.
* Loại hình nhập khẩu nguyên liệu sản xuất hàng nhập khẩu :
Đây là hoạt động nhập nguyên liệu, vật tư để sản xuất hàng xuất khẩu.Những doanh nghiệp tìm được thị trường tiêu thụ xuất khẩu thì họ sẽ nhậpnguyên vật liệu từ nước ngoài vào Việt Nam để sản xuất, khi ra được thànhphẩm thì xuất khẩu
* Loại hình tạm nhập, tái xuất
* Loại hình hàng chuyển tiếp
* Loại hỡnh khác
2.1.4 Quy trình thu thuế xuất nhập khẩu tại Cục hải quan Hà Nội
Hiện nay Cục hải quan thành phố Hà Nội đang cùng toàn ngành Hảiquan tích cực triển khai quy trình hàng thu mới với hàng hóa xuất nhập khẩuban hành kèm theo quyết định số 383/1998/TCHQ-QĐ ngày 17/11/1998 vàquy trình có hiệu lực ngày 1/1/1999 Với quy trình mới sẽ rút ngắn thời gianthông quan tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đẩy mạnh kinh
tế đối ngoại phát triển
Sau đây là trình tự các bước trong quy trình thu thuế hàng hóa xuấtnhập khẩu tại Cục hải quan Hà Nội
Bước 1 : Khai báo Hải quan
(Do doanh nghiệp tự thực hiện việc kê khai, ỏp mó, tớnh thuế)
Bộ hồ sơ khai báo với Hải quan gồm các loại giấy tờ phải nép hoặcxuất trình khi làm thủ tục Hải quan theo quy định bao gồm :
* Đối với hàng hóa xuất khẩu :
- Tê khai Hải quan
- Hợp đồng thương mại
- Bản kê chi tiết (hàng không đồng nhất)
- Các giấy tờ khác (đối với hàng xuất khẩu có điều kiện hoặc quy định riêng)
* Đối với hàng hóa nhập khẩu :
Trang 28- Tê khai Hải quan
- Hợp đồng thương mại
- Bản kê chi tiết (hàng không đồng nhất)
- Hoá đơn thương mại
- Vận đơn (bản sao)
- Các giấy tờ khác (đối với hàng nhập khẩu có điều kiện hoặc quy định riêng)Người khai báo Hải quan tự kê khai đầy đủ, chính xác nội dung nhữngtiêu thức ghi trên tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu theo như bản hướng dẫnđính kèm tờ khai Dùa vào căn cứ tính thuế đã kê khai và xác định mã số,thuế suất, giỏ tớnh thuế theo quy định để tự tính toán số thuế phải nép củatừng loại thuế
Bước 2 : Tiếp nhận đăng ký tê khai
(Do cơ quan Hải quan thực hiện)
- Tiếp nhận hồ sơ
- Phân loại hồ sơ hàng hóa theo luồng (luồng xanh, luồng vàng, luồng đỏ)
- Kiểm tra bộ hồ sơ và tờ khai Hải quan đã đầy đủ chính xác đảm bảohợp pháp, hợp lệ cho một bộ chứng từ làm thủ tục Hải quan theo quy địnhcủa từng loại hình xuất nhập khẩu
- Nếu bộ hồ sơ đủ điều kiện thì cho đăng ký tê khai
- Chuyển bộ hồ sơ cho bộ phận thuế
- Chuyển những nghi vấn, lập biên bản vi phạm đến các bộ phận cóliên quan để xử lý
Bước 3 : Thu thuế - Kiểm hoá - Giải phóng hàng
(Do cơ quan Hải quan thực hiện)
Trang 29- Căn cứ các quy định của pháp luật về thời gian nép thuế, trên cơ sởthuế phải nép do người khai báo Hải quan dự tính, cơ quan Hải quan rathông báo thuế và yêu cầu đối tượng nép thuế thực hiện theo đúng quy định.
- Bé hồ sơ được chuyển đến bộ phận kiểm hoá và tiến hành kiểm hoátheo đúng nguyên tắc quy định
- Chuyển những nghi vấn, lập biên bản vi phạm đến các bộ phận cóliên quan để xử lý
- Giải phóng hàng sau khi đã :
+ Nép thuế hoặc bảo lãnh nép thuế được chấp nhận đối với hàng phảinép thuế ngay
+ Có thông báo thuế đối với hàng được ân hạn về thời gian nép thuế
- Giám sát việc giải phóng hàng
- Chuyển hồ sơ tới bộ phận thuế
Bước 4 : Kiểm tra - xử lý vi phạm
(Do cơ quan Hải quan thực hiện)
- Kiểm tra kết quả tính thuế, tự tính thuế của người khai báo Hải quan
- Căn cứ kết quả kiểm hoỏ, cỏc nguyên tắc xác định mã số, thuế suất,giỏ tớnh thuế và khai báo của người khai báo Hải quan xác định đúng sốthuế phải nép
- Xử lý các vi phạm về thuế
- Ra quyết định điều chỉnh số thuế phải nép
- Kế toán thu nép thuế
- Phóc tập, xác định hồ sơ phải kiểm tra cỏc khõu có liên quan sauthông quan
- Sắp xếp lưu trữ hồ sơ
Trang 30Quy trình hành thu này đã được đưa vào thực hiện 1/1/1999, Hải quanthành phố Hà Nội đó cú sự chuẩn bị kĩ cho việc thực hiện theo quy trình làmthủ tục mới Cục đó cú những hướng dẫn kịp thời giải quyết những vướngmắc từ các địa điểm làm thủ tục hải quan trong quá trình thực hiện Theoquy trình hành thu mới này thì việc kiểm tra hàng hóa được tiến hành saukhi thông báo thuế, nó "ngược" với quy trình trước đây, do vậy gây khókhăn trong quản lý, cùng với đó việc để các doanh nghiệp tự khai báo tínhthuế cũng dễ tạo cơ hội cho doanh nghiệp thực hiện gian lận qua việc khaibáo sai Trong quá trình thực hiện, Hải quan Hà Nội nhận thấy việc áp thuế,tính thuế của chủ hàng xảy ra nhiều sai sót, nhưng Hải quan chỉ yêu cầu,hướng dẫn họ khai báo lại cho đúng Tuy nhiên, trong quá trình thực hiệnthực hiện hành thu mới đến nay thì Cục mới tiến hành xử lý mét vô vi phạm,điều đó yêu cầu tăng cường kiểm hoá để đối chiếu tờ khai.
2.1.5 Đánh giá kết quả thu thuế xuất nhập khẩu trong thời gian qua tại Cục Hải quan thành phố Hà Nội :
Trong những năm qua Cục Hải quan thành phố Hà Nội đó cú một sốđòi hỏi mới và chuyển biến theo hướng tích cực Cục Hải quan Hà Nội thựchiện đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực Hải quan, giảmphiền hà sách nhiễu cho khách hàng, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩuphát triển và tăng thu cho Ngân sách Nhà nước Bên cạnh công tác cải cáchthủ tục hành chính, Cục hải quan Hà Nội hết sức chú trọng công tác quản lýthu thuế xuất nhập khẩu, thực hiện đúng đắn chính sách chế độ về thuế xuấtnhập khẩu Đặc biệt chú ý áp dụng các biện pháp để chống các sai phạm quacỏc khõu trong quy trình thu thuế XNK
Nhờ sự phấu đấu nỗ lực không ngừng đó, mà số thu thuế xuất nhậpkhẩu của Cục hải quan thành phố Hà Nội không ngừng tăng lên chiếm tỷtrọng lớn trong tổng số thu thuế Bên cạnh đó, sau 3 năm triển khai quy trìnhhành thu mới và các đề án cải cách thủ tục Hải quan Cục Hải quan thành
Trang 31phố Hà Nội đã thu được một số kết quả nhất định góp phần hoàn thành chỉtiêu thu nép thuế được giao
Trang 32Bảng 1 : Tình hình thu nép thuế của Cục hải quan thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ 1999 đến 2001 :
Đơn vị : Tỷ đồng VNĐ
Năm Chỉ tiêu
pháp lệnh
Số thực nép NSNN
Số thực nép so với chỉ tiêu (%)
(Nguồn : Báo cáo tổng kết công tác năm của Cục HQHN)
Nhìn vào biểu trên thấy số thu thuế xuất nhập khẩu của Cục hải quan
Hà Nội ngày càng tăng Cụ thể :
Năm 2000 : sè thu thuế xuất nhập khẩu là 2394 tỷ đồng, tăng 1201,6
- Năm 2000 : chỉ tiêu Nhà nước giao là 1000 tỷ đồng, số thu thuế xuấtnhập khẩu của Cục hải quan Hà Nội đạt 239,4% vượt mức 139,4% so với chỉtiêu Nhà nước giao
- Năm 2001 : chỉ tiêu Nhà nước giao là 2.200 tỷ đồng, số thu thuế xuấtnhập khẩu của Cục Hải quan Hà Nội đạt 142,6%, vượt mức 42,6% so với chỉtiêu Nhà nước giao
Trang 33* Trong những năm qua, cùng với giao lưu và mở rộng quan hệ giữaViệt Nam và các nước, đã có nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước traođổi buôn bán, trong đó xuất nhập khẩu hàng hóa qua Cục hải quan thành phố
Hà Nội luôn được mở rộng Cụ thể :
Biểu sè 2 : Trị giá hàng hoá xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Hà Nội (1999 - 2001)
Đơn vị : Triệu USD
Năm Tổng kim ngạch hàng hóa
XNK làm thủ tục HQ Xuất khẩu Nhập khẩu
Như vậy : qua phân tích và đánh giá như trên nhận thấy rằng : ba nămqua sè thu thuế xuất nhập khẩu của Cục hải quan thành phố Hà Nội đều vượtmức chỉ tiêu Nhà nước giao nhưng chúng ta nhận thấy kim ngạch xuất nhậpqua Cục hải quan Hà Nội không phải là nhỏ Thiết nghĩ số thu này có thể lớnhơn nếu Cục hải quan Hà Nội quản lý tốt hơn số lượng hàng hóa xuất nhậpkhẩu qua Cục hải quan Hà Nội ngăn chặn và đẩy lùi buôn lậu, gian lậnthương mại trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 34Mặt khác, chỉ tiêu thu thuế do Nhà nước giao và số thực theo Cục Hảiquan Hà Nội là chưa bám sát Có sự chênh lệch rất lớn giữa chỉ tiêu thuthuế do Nhà nước giao và số thực thu cụ thể : năm 2001 chênh lệch (vượtmức) là 42,6% Do vậy, trong khâu lập dự toán Nhà nước cần phải xác địnhchỉ tiêu giao một cách chính xác hơn.
2.2 TèNH HèNH THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN QUA :
Từ công thức :
Sè thu thuế
XNK
Số lượng hànghoá XNK Tỷ giá
Giá tính thuế Thuế suất
Ta thấy : muốn thu đúng, thu đủ số thuế XNK thì phải nắm bắt đượcchính xác số lượng, áp dụng đúng thuế suất, giỏ tớnh thuế của từng loạihàng hóa XNK Nếu mỗi một yếu tố trong công tác trên thay đổi thì dẫn đến
số thu thuế thu được cũng thay đổi Do đó nếu xác định đúng số lượng hànghóa xuất nhập khẩu Ýt hơn so với thực tế, xác định giá tính thuế hoặc thuếsuất nhỏ hơn so với quy định của Nhà nước sẽ gõy lờn tình trạng thất thuthuế cho ngân sách Nhà nước
Một số năm gần đây, một số không Ýt các Cục hải quan trong toànngành Hải quan (do những nguyên nhân khách quan và chủ quan) đã để gây
ra tình trạng thất thu thuế xuất nhập khẩu cho ngân sách Nhà nước Nguyênnhân gây thất thu thuế thì nhiều, nhưng có thể đưa ra vài nguyên nhân chínhsau :
* Do các Cục hải quan địa phương chưa quản lý được số lượng hànghóa xuất nhập khẩu vào địa phương Ngoài lượng hàng được nhập chínhthức qua các cửa khẩu, còn một lượng không nhỏ hàng hóa nhập lậu vàothành phố
* Do một số mặt tồn tại của luật thuế xuất nhập khẩu, do một sốhướng dẫn, chỉ đạo của Tổng cục hải quan chưa sâu sát, kịp thời và do một
Trang 35số các nhân viên Hải quan thiếu tinh thần trách nhiệm, trình độ nghiệp vụcòn yếu, một số nhân viên cũn cú biểu hiện tiêu cực đối với chủ hàng, dẫnđến việc gây thất thu thuế lớn cho ngân sách Nhà nước.
* Do một số các doanh nghiệp có hành vi trèn thuế, buôn lậu gian lậnthương mại, kéo dài thời gian nép thuế …
Qua đây ta sẽ đi sâu phân tích công tác quản lý ở từng khâu nghiệp vụ
để thấy được cụ thể những nguyên nhân gây ra tình trạng thất thu thuế xuấtnhập khẩu tại Cục hải quan thành phố Hà Nội và từ đó tìm ra các giải pháphạn chế tối đa số thuế thất thu
2.2.1 Tình hình thất thu thuế xuất nhập khẩu qua công tác tính thuế :
Trước đây, việc tính thuế hoàn toàn do cơ quan Hải quan thực hiện.Mặc dù hạn chế được những sai sót trong khõu ỏp giỏ, ỏp mó vì trình độnghiệp vụ của cán bộ Hải quan cao hơn doanh nghiệp song không tạo chodoanh nghiệp sự chủ động và trách nhiệm khai báo Vì vậy sau khi nép thuếxong, doanh nghiệp coi như hoàn tất công việc, hết nghĩa vụ của mình Thực
tế đã có nhiều trường hợp cơ quan chức năng phát hiện sai phạm trong đó cólỗi của doanh nghiệp nhưng không quy được trách nhiệm cho doanh nghiệpđược vì doanh nghiệp cho rằng họ đã thực hiện đúng theo thông báo thuếcuả Hải quan, vẫn nép thuế theo đúng quy định của pháp luật Như vậy saukhi hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được giải phóng rất khó phân định tráchnhiệm pháp lý của doanh nghiệp để xử lý nhằm chống gian lận thương mại
và thất thu thuế
Theo cơ chế hành thu mới (theo quyết định 383/1998/TCHQ-quyếtđịnh ngày 17/11/1998 của Tổng cục trưởng Tổng cục hải quan và có hiệulực ngày 1/1/1999) thì doanh nghiệp sẽ không chịu sự áp đặt của cơ quanHải quan mà chủ động về số thuế phải nép cho lô hàng xuất nhập khẩu củamình Đây là cơ sở để ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp từ khâu khai
Trang 36báo đến nép thuế, cán bộ Hải quan không tham gia trực tiếp vào việc tínhthuế ban đầu như trước đây mà chỉ tham mưu, hướng dẫn và kiểm tra Việc
kê khai thuế hoàn toàn dựa trờn tinh thần tự giác khai báo của doanh nghiệpsong với việc nâng cao ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp trong khai báoviệc quy định thời gian hồi tố là 5 năm, là một trong những cơ sở pháp lýcủa cơ quan Hải quan trong xác định số thuế phải nép, nhưng qua thực tếviệc thực hiện, Cục hải quan thành phố Hà Nội cũng gặp phải một số khókhăn nhất định :
* Do sự biến động liên tục của giá cả thị trường nên bảng giá mua tốithiểu do các cấp có thẩm quyền ban hành cũng phải thay đổi liên tục chophù hợp với giá cả trên thị trường và chỉ trong một thời gian ngắn có thể tồntại đến mấy bảng giá mà những bảng giá trên lại không hoàn toàn có tínhthay thế lẫn nhau, nên đôi khi áp dụng đồng thời hai bảng gõy khụng Ýt khókhăn trong việc giám sát kiểm tra, lại tạo kẽ hở cho nhiều chủ hàng trèn thuế
và tránh thuế Thông thường những bảng giá mới ban hành chỉ thay đổi một
số không tạo tính thống nhất khi áp dụng giỏ tớnh thuế
* Do việc xây dựng và ban hành biểu giá tính thuế có khi không baoquát được hết các chủng loại hàng hóa, nhiều loại hàng do Nhà nước quản lýtính thuế nhưng lại khụng có trong bảng giá tính thuế của Bộ tài chính hoặcTổng cục Hải quan ban hành
Đối với những mặt hàng do Nhà nước quản lý giá và quy định giá tạibảng giá tối thiểu, có ưu điểm là đã tạo điều kiện để Nhà nước có thể quản
lý được giá những mặt hàng thiết yếu, phục vụ cho công tác quản lý và điềuhành xuất nhập khẩu Nhưng thường thì sự thay đổi của bảng giá tối thiểukhông theo kịp sự biến động của giá cả thị trường, không mang tính xácthực Vì khi xây dựng biểu giá tại thời điểm này nhưng đến khi ra đượcquyết định thì giá cả trên thị trường lại biến động khác Do đó cũng là một
Trang 37kẽ hở đẻ chủ hàng có những hành vi gian lận trốn trỏnh thuế, gây thất thucho Ngân sách Nhà nước.
Đối với những mặt hàng không thuộc diện quản lý giỏ tớnh thuế củaNhà nước, công tác xây dựng giá gặp không Ýt khó khăn Những năm gầnđây danh mục mặt hàng cần xây dựng giỏ tớnh thuế nhập khẩu rất phongphú và đa dạng luôn luôn có sự đổi mới mà việc xây dựng giá đòi hỏi phảitheo sát sự biến động của thị trường Do vậy nhiều trường hợp khi đã hoànthành thủ tục xây dựng giá thị trường lại thay đổi, gây khó khăn cho việctính thuế Với một số mặt hàng mới được nhập khẩu vào Việt Nam, có cảitiến kỹ thuật nâng cao tính năng sử dụng so với mặt hàng đó cú trong bảnggiá, thì cán bộ Hải quan luôn phải xác định giá lại, gây khó khăn cho côngtác tính thuế Dẫn đến tình trạng cùng một mặt hàng, cùng một thời điểmtính thuế, song mỗi địa phương lại áp dụng một giỏ tớnh thuế nhập khẩukhác nhau, không thống nhất
Trên thực tế các chủ hàng thường lợi dụng kẽ hở trong một số quyđịnh chưa chặt chẽ của Nhà nước để mà "luồn", "lách" gian lận trong khõu
ỏp giỏ nhằm giảm bớt số thuế xuất nhập khẩu phải nộp gõy thất thu thuế chongân sách Nhà nước Sau đây là một số hình thức gian lận về giá và thựctrạng thất thu thuế qua giá tại Cục hải quan thành phố Hà Nội :
Thứ nhất : Các chủ hàng thường gian lận thuế qua khai xuất xứ hàng
hóa : Căn cứ theo bảng giá tính thuế của Tổng cục Hải quan và Bộ tàichính : các hàng hóa có xuất xứ khác nhau thì có giá tính thuế khác nhau
và giỏ tớnh thuế của một loại hàng hóa cao hay thấp phụ thuộc vào xuất xứ,chất lượng … của hàng hóa đó Do vioệc quy định cơ quan quản lý xuất xứhàng hóa chưa rõ ràng, chưa mang tính quản lý cao nên công tác tính thuếtại Cục Hải quan thành phố Hà Nội gặp rất nhiều khó khăn
Dưới đây là một số mặt hàng có xuất xứ khác nhau (theo bảng giá 64)
Tên hàng Giá do nước G7 Giá do các nước Chênh lệch
Trang 38ám, bởi đây là hàng góp vốn vào liên doanh được miễn thuế Hơn nữa xét vềmặt kinh tế, nếu khai báo Hải quan là hàng khu vực ASEAN … trong khithực chất là hàng Mỹ, Anh, Nhật … thì trị giá góp vốn của phía nước ngoài
sẽ bị hạ thấp hơn so với thực tế Điều này thật vô lý, các đối tác nước ngoài
sẽ không bao giê làm thế Vậy thì chắc chắn các doanh nghiệp này nhậphàng những nước như Mỹ, Anh, Nhật để bán ra thị trường Việt Nam rồimua hàng của Singapo về để góp vốn theo đúng hợp đồng Như vậy, nghiễmnhiên các doanh nghiệp này được hưởng khoản thuế chênh lệch giữa 2 loạihhh có xuất xứ khác nhau còn Nhà nước thì lại thất thu thuế khá lớn từ cácnhà đầu tư, Công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài này Bên cạnh đútrờn thị trường nước ta hiện nay đang bầy bán nhiều nguyên vật liệu cao cấpcủa nước ngoài mà Nhà nước Việt Nam không cho phép nhập khẩu Phảichăng chúng được buôn bán qua sù gian lận về giá của các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài
Vì vậy Nhà nước và các cơ quan chức năng (trong đó có Hải quan)cần phải có những biện pháp đồng bộ để quản lý tốt vấn đề xuất xứ hàng hóa