Việc dạy học, nghiên cứu, so sánh tiếngHán và tiếng Việt càng nhận được sự quan tâm của nhiều người.Nghiên cứu tiếng Hán, cụ thể là nghiên cứu ngữ cố định tiếng Hán cócác từ chỉ bộ phận
Trang 1NGHIÊN CỨU NGỮ CỐ ĐỊNH TIẾNG HÁN
CÓ TỪ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ VÀ VẬN DỤNG TRONG DẠY HỌC TIẾNG HÁN CHO SINH VIÊN
CHUYÊN NGỮ VIỆT NAM
TS CẦM TÚ TÀI
PHẦN MỞ ĐẦU 0.1 Lý do lựa chọn đề tài và mục đích của nghiên cứu
Tiếng Hán đã ghi chép lại những đặc trưng nổi bật của nền vănhóa Trung Hoa, trong đó không thể không kể đến sự góp mặt của ngữ
cố định Thông qua tiếng Hán nói chung và ngữ cố định tiếng Hán có
từ chỉ bộ phận cơ thể nói riêng, chúng ta sẽ quan sát được một số biểuhiện đặc sắc trong bức tranh sinh động của nền văn hóa Trung Hoa,qua đó có thể tiến sâu hơn vào việc nghiên cứu bản sắc văn hóa truyềnthống, mối liên hệ tích hợp của lịch sử văn hóa Trung Hoa và tiếngHán
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng có mối quan hệtruyền thống lâu đời Trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, bản sắcvăn hóa của mỗi nước đều được lưu dấu ấn rõ nét trong tiếng Việt vàtiếng Hán Sự giao lưu văn hóa giữa hai nước luôn luôn được thể hiệntrong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ Những năm gần đây, số lượngngười Việt Nam học tiếng Hán và số lượng người Trung Quốc họctiếng Việt ngày càng nhiều Việc dạy học, nghiên cứu, so sánh tiếngHán và tiếng Việt càng nhận được sự quan tâm của nhiều người.Nghiên cứu tiếng Hán, cụ thể là nghiên cứu ngữ cố định tiếng Hán cócác từ chỉ bộ phận cơ thể, ở một khía cạnh nhất định có thể hỗ trợ côngviệc đối chiếu hai ngôn ngữ Hán-Việt và góp phần tăng cường sự hiểubiết về văn hóa của Việt Nam và Trung Quốc Ở Việt Nam từ trước đếnnay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ, văn hóa, tấtnhiên trong đó bao gồm cả thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca củatiếng Việt và tiếng Hán Tuy vậy, vẫn chưa có công trình nào chuyên đisâu vào nghiên cứu so sánh đặc trưng văn hóa Việt-Hán thông qua cácngữ cố định có các từ chỉ bộ phận cơ thể Chính vì vậy, chúng tôi lựachọn đề tài này để thông qua những kết quả đạt được, tiếp tục bổ sung
Giảng viên Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Trung Quốc, Trường Đại họcNgoại ngữ - ĐHQGHN
129
Trang 2tri thức chuyên ngành và vận dụng nâng cao hiệu quả thực hành giaotiếp ngôn ngữ Bước đầu đặt cơ sở cho việc đi sâu tìm hiểu về ngôn ngữ
cử chỉ với các đặc trưng văn hóa dân tộc của người Trung Quốc Bêncạnh đó, ở một mức độ nhất định nào đó cũng có tác dụng gợi mở đốivới những người Việt Nam đang học tập, dạy học, nghiên cứu tiếngHán và văn hóa Trung Quốc tiếp tục tìm hiểu những đặc trưng của nềnvăn hóa Trung Hoa; Củng cố thêm kiến thức tiếng Hán, đặc biệt lànhững tri thức về ngữ cố định; Thử nghiệm ứng dụng trong dạy học,phiên dịch, giao tiếp, nghiên cứu tiếng Hán và văn hóa Trung Quốc
0.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu
Việt Nam và Trung Quốc bên cạnh những nét tương đồng về vănhóa, còn có đặc trưng văn hóa dân tộc mang đặc thù của riêng mình,đặc biệt từ sự ảnh hưởng của phong tục tập quán, phương thức tổ chứcsinh hoạt, thói quen sử dụng ngôn ngữ, sẽ dẫn đến sự khác biệt trong ýnghĩa của lớp từ vựng trong tiếng Việt và tiếng Hán Ngôn ngữ của mộtdân tộc luôn gắn bó mật thiết với văn hóa, từ góc độ ngôn ngữ của mộtdân tộc, chúng ta có thể quan sát thấy các đặc trưng văn hóa của dân tộc
đó Vì vậy, nét khác biệt văn hóa giữa các dân tộc sẽ được phản chiếuqua hệ thống ngôn ngữ, đặc biệt là qua lớp từ vựng, mà trong đó có sựhiện diện của ngữ cố định Kết quả nghiên cứu trong tiếng Hán sẽ đặt
cơ sở cho việc tiến hành so sánh ý nghĩa ví von các ngữ cố định tiếngHán và tiếng Việt có từ chỉ bộ phận cơ thể, góp phần làm rõ hơn sựgiống nhau và khác nhau giữa ngôn ngữ-văn hóa Trung Quốc và ViệtNam Đây chính là giả thiết khoa học làm xuất phát điểm để đề tài tậptrung vào hướng nghiên cứu và đối tượng cụ thể sau:
Nghiên cứu ngữ cố định tiếng Hán, chú trọng tới những đặc trưngvăn hóa dân tộc Trung Hoa được biểu hiện trong tầng sâu lớp từ vựngtiếng Hán - các ngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể
Tư liệu phục vụ nội dung nghiên cứu là các công trình nghiên cứu
về ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc, các nghiên cứu về từ chỉ bộphận cơ thể và ngữ cố định tiếng Hán, đặc biệt là những nghiên cứu vềngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể xuất hiện trong Thành ngữ, Ngạnngữ, Quán ngữ, Yết hậu ngữ Cơ sở tham chiếu là các sách, các từđiển thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt, từ điển ngôn ngữ đất nước họctiếng Hán, từ điển tiếng Hán, từ điển tiếng Việt, tham khảo ý kiến củamột số học giả Việt Nam và Trung Quốc
0.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
130
Trang 3Nội dung nghiên cứu tập trung vào các nhiệm vụ cụ thể sau đây:0.3.1 Nghiên cứu về ngữ cố định tiếng Hán;
0.3.2 Phân tích, miêu tả một số ngữ cố định tiếng Hán có từ chỉ bộphận cơ thể;
0.3.3 Từ một số ngữ cố định Hán có từ chỉ bộ phận cơ thể liên hệ vớitiếng Việt, để thấy được các đặc điểm giống và khác nhau, qua
đó nhìn nhận sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa trong hai ngôn ngữViệt-Hán;
0.3.4 Khảo sát việc vận dụng ngữ cố định tiếng Hán của sinh viênKhoa Ngôn ngữ & Văn hóa Trung Quốc tại trường ĐHNN -ĐHQGHN, qua đó nắm bắt tình hình học tập, nêu lên một sốphương pháp thích ứng trong dạy học tiếng Hán cho sinh viênchuyên ngữ Việt Nam
0.4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận nền tảng tri thức của ngôn ngữ học, ngôn ngữhọc xã hội, ngôn ngữ học tâm lý, ngôn ngữ học văn hóa và giao tiếpphi ngôn ngữ (ngôn ngữ cử chỉ), đồng thời dựa trên kết quả phân loạicủa ngành sinh lý học giải phẫu về cấu tạo cơ thể người, vận dụngphương pháp thống kê, miêu tả để khảo sát các ngữ cố định tiếng Hán
có từ chỉ bộ phận cơ thể; Phân tích các ngữ cố định thông qua các ví
dụ cụ thể để làm rõ các đặc trưng văn hóa dân tộc Trung Hoa; Sửdụng phương pháp qui nạp để rút ra các đặc điểm nổi bật thuộc đặctrưng văn hóa dân tộc Trung Hoa Bên cạnh đó, thông qua các ngữ cốđịnh tiếng Hán có chứa từ chỉ bộ phận cơ thể làm ngôn ngữ nền, sửdụng phương pháp đối chiếu để qui chiếu sang ngôn ngữ so sánh làtiếng Việt, tìm ra sự giống nhau và khác nhau, qua đó chỉ ra các nétđặc trưng trong giao lưu văn hóa và ngôn ngữ giữa hai dân tộc Hán-Việt
Để đảm bảo tính khoa học và chính xác, các ví dụ minh họa, đềuđược trích dẫn, tham chiếu và biên soạn trên cơ sở tài liệu từ nhữngvăn bản gốc do Trung Quốc ấn hành, các kết quả trắc nghiệm điều trađều được thực hiện thông qua những sinh viên đang trực tiếp học tiếngHán ở trường ĐHNN - ĐHQGHN
0.5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
- Tăng cường tri thức về ngôn ngữ và văn hóa Hán-Việt
- Củng cố tri thức về từ vựng học, ngữ nghĩa học và ngôn ngữ học
xã hội, đặc biệt là kiến thức về ngữ cố định Hán-Việt
- Tạo cơ sở cho việc đi sâu tìm hiểu về nghĩa từ và trường ngữnghĩa của các từ chỉ bộ phận cơ thể Hán-Việt
131
Trang 4- Xem xét việc vận dụng trong dạy học, giao tiếp tiếng Hán nóichung và ngữ cố định nói riêng cho sinh viên chuyên ngữ ở Việt Nam.
- Bước đầu hỗ trợ việc sưu tập, thống kê ngữ liệu để biên soạn sổtay (từ điển) đối chiếu “Từ ngữ văn hóa Hán-Việt”, “Ngữ cố địnhHán-Việt”
- Đặt cơ sở cho việc nghiên cứu, so sánh, đối chiếu ngôn ngữ cửchỉ, ca dao trong tiếng Hán và tiếng Việt trong các công trình nghiêncứu sau này
- Rèn luyện phương pháp luận nghiên cứu khoa học, thực hànhphương pháp nghiên cứu độc lập và tổ chức nghiên cứu theo nhóm
0.6 Nội dung mới của đề tài
Miêu tả được một số nội hàm văn hóa, so sánh được đặc điểmgiống và khác nhau của ngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể trong haingôn ngữ Hán-Việt Bước đầu lập bảng thống kê, đối dịch một số các
từ, ngữ cố định chỉ bộ phận cơ thể trong hai ngôn ngữ Hán-Việt Khảosát, điều tra, nắm bắt tình hình dạy-học ngữ cố định tiếng Hán củasinh viên chuyên ngữ Việt Nam, tìm hiểu các lỗi có liên quan, nguyênnhân phát sinh lỗi, từ đó nêu ra các biện pháp khắc phục lỗi để nângcao hiệu quả dạy học và giao tiếp ngôn ngữ
0.7 Cấu trúc
Phần mở đầu
Nội dung chính:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và tổng quan nghiên cứu
- Chương 2: Nghiên cứu ngữ cố định tiếng Hán có từ chỉ bộ phận
cơ thể
- Chương 3: Ngữ cố định Hán có từ chỉ bộ phận cơ thể trong sự liên
hệ với tiếng Việt
- Chương 4: Những ứng dụng và việc tổ chức dạy học Ngữ cố địnhtiếng Hán cho sinh viên chuyên ngữ Việt Nam
Kết luận
Tài liệu tham khảo
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Ngôn ngữ với đặc trưng văn hóa dân tộc
Ngôn ngữ mang bản chất của một xã hội, vì vậy đặc trưng văn hóa
132
Trang 5của một dân tộc luôn được thể hiện trong ngôn ngữ của dân tộc đó.Xét từ góc độ tích luỹ tri thức của loài người thì ngôn ngữ chính làphương tiện truyền tải văn hóa của nhân loại Chính vì lẽ đó, thôngqua ngôn ngữ chúng ta có thể nhìn thấy được cả một hệ thống lịch sử,văn hóa của toàn thể xã hội loài người Ngôn ngữ của một dân tộcngoài việc miêu tả tri thức chung của nhân loại ra, đồng thời cũngmiêu tả một cách đầy đủ nhất, chính xác nhất những tri thức văn hóacủa chính dân tộc mình Tiếng Hán và tiếng Việt là công cụ giao tiếp
và công cụ tư duy được hai dân tộc sử dụng từ xa xưa trở lại đây Haingôn ngữ này đã ghi nhận lại những dấu ấn của lịch sử văn minh nhânloại mà trong đó bao gồm cả lịch sử văn hóa Trung Quốc và ViệtNam Quan hệ giao lưu giữa hai nền văn hóa Hán-Việt đã có lịch sử từlâu đời, vì vậy đặc điểm giống nhau hoặc gần giống nhau trong haingôn ngữ là điều khó tránh khỏi Tuy nhiên sự khác biệt về đặc điểmtâm lý dân tộc và truyền thống lịch sử văn hóa, đặc biệt là sự ảnhhưởng của phong tục tập quán, phương thức tổ chức sinh hoạt, quanđiểm nhìn nhận vạn vật trong thế giới khách quan, thói quen sử dụngngôn ngữ, v.v… dẫn đến những nét khác biệt trong ngôn ngữ hai dântộc Hán- Việt Sự giống nhau và khác nhau được phản chiếu thôngqua việc nghiên cứu và so sánh, đối chiếu lớp từ vựng Hán-Việt, trongphạm vi các ngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể, chúng tôi phân tích
rõ nét hơn các nội dung nêu trên
1.2 Từ cấu tạo các bộ phận cơ thể nhận diện các từ ngữ biểu đạt tương ứng
1.2.1 Cấu tạo các bộ phận cơ thể
Ngành sinh lý học giải phẫu đã phân chia cơ thể người một cáchkhá chi tiết: từ tế bào, các tổ chức, các cơ quan bộ phận đến các hệthống Trong đó tế bào, các tổ chức và các hệ thống là những đơn vị tổhợp mang tính trừu tượng, mắt thường của chúng ta rất khó quan sát,chỉ có các bộ phận cơ thể là chúng ta rất dễ dàng quan sát và hìnhdung ra được Xét từ góc độ chỉnh thể, cơ thể người phân thành cácphần đầu, cổ, thân (mình) và tứ chi (chân tay) Phân chia cụ thể hơn,phần đầu bao gồm: tóc, đầu lâu, sọ, não/óc (đại não, các bán cầu não
…), mặt (mắt, mũi, tai, trán, thái dương, má, cằm, mồm (miệng), mép,môi, lông mi, lông mày, con ngươi, râu, tóc, lưỡi, răng, lợi, ngạc,khoang miệng …); Phần cổ bao gồm: cổ họng, yết hầu, thực quản, khíquản, gáy; Phần thân bao gồm: phía trước là ngực (vú), bụng (thai, rốn
133
Trang 6và bộ phận sinh dục), phía sau là lưng (cột sống), hông (mông, cật,hậu môn), hai bên cạnh là vai, sườn, nách, vòng quanh là eo, bên trong
là lục phủ ngũ tạng (tim, gan, phổi, mật, ruột/lòng/tràng; thận, dạ dày);Phần chi bao gồm: tay (cánh tay, bắp tay, khuỷu tay, cùi tay, cổ tay,bàn tay, lưng bàn tay, lòng bàn tay, các ngón tay, các đốt ngón tay,vân tay, móng tay), chân (đùi, đầu gối, cẳng chân, khuỷu chân, cổchân, mắt cá chân, gót chân, mu bàn chân, lòng bàn chân, ngón chân,đốt ngón chân, móng chân, vân chân) Ngoài ra còn có xương, sụn,tủy, tụy, khớp, cơ, gân, mạch, vành, da, lông, máu, mỡ, mồ hôi, thấtkhiếu (hai lỗ tai, hai lỗ mũi, hai mắt và mồm/miệng) Các bộ phận trên
cơ thể động vật cũng được lưu ý tới, như: đuôi, cánh, mào, mang, vây,vẩy, móng/vuốt, sừng, trứng Tuy nhiên chỉ xét tới ở góc độ thamchiếu, tần suất xuất hiện cũng không nhiều Trên cơ sở phân chia này,xem xét chức năng của các bộ phận cơ thể kết hợp với khả năng cấutạo từ và hiện diện trong các ngữ cố định, từ góc độ ngôn ngữ học,tâm lý học, ngôn ngữ và văn hóa, chúng tôi tiếp tục đi sâu miêu tả,phân tích về các từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán và tiếng Việt
1.2.2 Nhận diện các từ chỉ bộ phận cơ thể
Từ chỉ bộ phận cơ thể là những từ, bao gồm cả các cụm từ cố địnhgọi tên các bộ phận cơ thể Trong tiếng Hán và tiếng Việt, từ vựngbiểu đạt các bộ phận cơ thể thuộc về lớp từ vựng cơ bản Căn cứ theo
sơ đồ phân chia ở phần trên, chúng tôi đã tiến hành thống kê và phânchia từ chỉ bộ phận cơ thể theo các cấp độ từ cao tới thấp, từ tổng thểđến bộ phận Cụ thể các tầng bậc như sau:
(4) Lớp từ vựng tầng thứ tư: 脑膜/màng não, 头顶/đỉnh đầu, 发根/
chân tóc, 额头/前额/trán, 耳朵/tai, 眼睛/目 mắt, 鼻子/mũi, 口/嘴巴mồm/miệng, 唇/môi, 太阳/thái dương, 颊/脸颊/má, 下巴/颏/下巴 颏儿/cằm, 颌/quai hàm, 上颌/hàm trên, 下颌/hàm dưới
(5) Lớp từ vựng tầng thứ năm: 脑/não; 眉毛/lông mày; 耳轮/vànhtai, 耳门/lỗ tai, 耳垂/dái tai, 耳鼓/màng nhĩ, 耳根子/mang tai; 睫毛/lông mi, 眼皮/mí mắt, 上眼皮/mí trên, 下眼皮/mí dưới, 眼角/khóe
134
Trang 7mắt, 眼眶/vành mắt, 眼窝/hốc mắt, 眼肌/cơ mắt, 结膜/kết mạc, 视网
膜 /võng mạc, 眼球 /cầu mắt, 眼 珠 /tròng mắt; 鼻 梁 /sống mũi, 鼻翼/cánh mũi, 鼻眼/鼻孔/lỗ mũi, 鼻窦/hốc mũi, 鼻腔/xoang mũi, 鼻毛/lông mũi; 嘴角/khóe miệng, 牙齿/răng (门牙/răng cửa, 臼牙/ rănghàm, 知牙/răng khôn, 犬牙/răng nanh, 奶牙/răng sữa), 牙龈/lợi, 舌头/lưỡi (舌尖/đầu lưỡi, 舌面/mặt lưỡi, 舌根/gốc lưỡi, 小舌/lưỡi con), 口腔/khoang miệng, 颚/ngạc, 硬颚/ngạc cưng, 软颚//ngạc mềm; 上唇/môi trên, 下唇/môi dưới; 颊颧/gò má, 酒窝/lúm đồng tiền; 胡子/须子/râu, 连鬓胡/落腮胡/râu quai nón, 八字须/髭/ria mép
(6) Lớp từ vựng tầng thứ sáu: 白眼珠/lòng trắng, 黑眼珠/lòng đen,
眸子/con ngươi; 牙缝儿/kẽ răng, 牙根/chân răng, 牙髓/tủy răng
(B) Phần cổ
(3) Lớp từ vựng tầng thứ ba: 咽喉/yết hầu, 咽头/cổ họng, 上颚/vòm
họng, 食管/thực quản, 气管/khí quản, 颈背/后脑勺/gáy
(5) Lớp từ vựng tầng thứ năm: 乳头/đầu vú, 乳腺/tuyến sữa, 肺膜/
màng phổi, 肺叶/lá phổi, 肺管/cuống phổi, 小肠/ruột non, 大肠/ ruộtgià, 盲肠/ruột thừa, 直肠/trực tràng, 结肠/kết tràng, 十二指肠/tátràng
(D) Tứ chi (tay, chân)
(3) Lớp từ vựng tầng thứ ba: 手/tay, 脚/足/chân
(4) Lớp từ vựng tầng thứ tư: 手臂/cánh tay, bắp tay, 肘子/khuỷutay, 手腕/cổ tay, 手掌/bàn tay; 大腿/đùi, 膝盖/đầu gối, 小腿/cẳngchân, 脚腕/cổ chân, 脚踝/mắt cá chân, 脚跟/gót chân, 脚掌/bàn chân
(5) Lớp từ vựng tầng thứ năm: 手心/lòng bàn tay, 手背/mu bàn tay,
手指/ngón tay, 手纹/vân tay; 脚心/lòng bàn chân, 脚背/mu bàn chân,脚趾/ngón chân
135
Trang 8(6) Lớp từ vựng tầng thứ sáu: 拇指/ngón cái, 食指/ngón trỏ, 中指/
ngón giữa, 无名指/ ngón áp út, 小指/ngón út, 指尖/指头/đầu ngóntay, 指节/đốt ngón tay, 指甲/móng tay; 大脚趾/ngón chân cái, 二趾/ngón thứ hai, 中趾/ngón giữa, 无名趾/ngón áp út, 小趾/ngón út, 趾尖/đầu ngón chân, 趾节/đốt ngón chân, 趾甲/móng chân
Những từ biểu thị 骨头/xương, 软骨/sụn, 髓/tủy, 胰/tụy, 关节/khớp, 肌/cơ, 筋/gân, 脉/mạch, 皮肤/da, 毛/lông, 血/máu, 油脂/mỡ, 汗水/mồ hôi, 唾沫/口水/nước bọt, 液体/dịch, /七窍/thất khiếu, 疮/ mụn,黑痣/nốt ruồi, 疙瘩/伤痕/vết sẹo được gắn liền với toàn bộ cơ thể
và xuất hiện trong tất cả các bộ phận thuộc các tầng bậc, bên cạnh đócòn có một số từ biểu thị ý nghĩa tương đối trừu tượng như: 样子/个子/模样/dáng, dạng, 外表/外貌/mã, 影子/bóng, 身影/hình, 尸体/thithể, xác, 魂/灵魂/hồn, vía, linh hồn, 气味/hơi, 声音/tiếng Một số bộphận trên cơ thể động vật, như: 尾巴/đuôi, 翅膀/cánh, 冠子/mào, 鳃/mang, 翅/vây, 鳞/vẩy, 爪/móng/vuốt, 角 sừng, 蛋/trứng, 羽毛/lông vũ chúng tôi không xếp vào cấp độ cụ thể nào
Kết quả phân tầng trên đây cho thấy, khi nghiên cứu về từ vựng,
từ vựng học thông qua nghiên cứu chi tiết các đơn vị từ vựng để tậphợp từ loại, giới hạn phạm vi và cấu tạo từ, tổng kết ra tính hệ thốngcủa từ vựng Trên cơ sở phân chia thứ bậc và chức năng ngữ nghĩa của
hệ thống các từ chỉ bộ phận cơ thể, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu, phântích chiều sâu nội hàm văn hóa trong đó để tạo tiền đề nghiên cứu sựgóp mặt của lớp từ này trong các ngữ cố định
Trong lịch sử phát triển, từ vựng biểu đạt các bộ phận cơ thể cũngtrải qua quá trình đi từ từ chỉ thực thể đến từ mang ý nghĩa trừu tượng,đồng thời những từ chỉ thực thể sẽ ngày càng được mở rộng nghĩa,ngày càng trở nên trừu tượng hóa và khái quát hóa Nhà nhân loại học
Weillker đã nói: “trong tất cả các ngôn ngữ, phần lớn các hình thức biểu đạt có liên quan tới sự vật vô sinh đều vay mượn qua sự ẩn dụ từ
cơ thể người, qua sự cảm nhận và ý muốn của con người”1 Khi biểuđạt các khái niệm trừu tượng, mọi người sẽ vay mượn các từ chỉ thựcthể, trong đó đương nhiên là có sự hiện diện của các từ chỉ bộ phận cơthể để diễn đạt Cơ thể người được chúng ta tiếp xúc, cảm nhận trựctiếp và thường xuyên nhất trong sinh hoạt hàng ngày Con người sinhtồn, tiến hóa trong tự nhiên và xã hội thì lẽ đương nhiên là phải có sự
1 转引自:古敬恒 “人体词语与人类的秘密” 团结出版社 2000 (6 页)
(Sđd: Cổ Kính Hằng Từ chỉ bộ phận cơ thể và bí mật của con người Nxb
Đoàn kết, 2000 Tr.6)
136
Trang 9tồn tại của các từ ngữ để biểu đạt các bộ phận cơ thể người Trái đất làtrung tâm của vũ trụ, con người lại là trung tâm của sự sống trên tráiđất, vì vậy lớp từ chỉ bộ phận cơ thể người mang một sức sống mạnh
mẽ Lớp từ này không những biểu đạt cho bản thân con người, mà cònbiểu đạt những động tác, hành vi, trạng thái, tính chất, tình cảm, nhậnthức của con người về chính bản thân mình và mối liên hệ với vạn vậtxung quanh Vì vậy lớp từ vựng chỉ bộ phận cơ thể đã trở thành hiệntượng xã hội - bộ phận phản chiếu đặc trưng văn hóa dân tộc Ngôn
ngữ học xã hội đã nhận định: “Bất cứ xã hội nào cũng đều không thể tách rời khỏi văn hóa Văn hóa là cơ sở sinh tồn và phát triển của xã hội loài người Kết hợp ngôn ngữ và văn hóa lại với nhau, đi sâu vào nghiên cứu tính ứng chiếu giữa chúng, càng có thể miêu tả sâu sắc hơn và rộng hơn về thuộc tính xã hội của ngôn ngữ, đồng thời cũng giúp con người hiểu biết sâu hơn về các chức năng văn hóa của ngôn ngữ”2 Trước đây, người Trung Quốc đã từng nói “心之官则思” (con”tim tức là tư duy) Vì vậy chúng ta có thể thấy người Trung Quốcthường coi “tim” là cơ quan tư duy, chỉ đạo, điều khiển các hoạt động
tư duy, tinh thần và tình cảm của con người Trong khái niệm củanhững từ tố có từ “心/tim” thường ẩn chứa các trạng thái tâm lý cóliên quan tới tư duy, tinh thần và tình cảm, kéo theo sự ảnh hưởng tớicác từ cùng biểu thị lục phủ ngũ tạng khác như “肝/gan”, “胆/mật”,
“肠 /ruột/lòng/tràng” cũng cùng mang theo nội hàm ý nghĩa trên.Chúng ta thường thấy các từ và ngữ được cấu tạo, như: 心思”/tâm tư,
有心 có tâm/có lòng, 贴心/quan tâm, 热心/nhiệt tâm, 心慌/tâm trạnghoang mang, 愁肠/sầu lòng, 柔肠/mềm lòng, 胆大/to gan, 胆小/ 胆怯/nhát gan Thể diện, uy danh, tình cảm yêu ghét, tâm trạng vui buồn,danh vọng uy tín của con người cũng thường được biểu lộ qua gươngmặt Vì vậy các từ tố có cấu tạo liên quan tới “脸面/mặt” sẽ chuyển tảicác nội hàm ý nghĩa văn hóa này Ví dụ: 体面/thể diện, 脸面/面子/bộmặt, được người Trung Quốc coi là quan trọng hơn tất cả, kể cả 士可杀,不可辱 (kẻ sĩ có thể bị giết, không thể chịu nhục) Các bộ phận眉/lông mày, 眼/mắt trên mặt thường truyền đạt thông tin về tình cảm,tâm trạng của con người Khi giận dữ, mọi người sẽ diễn tả qua từ: 怒
目 /trợn mắt/quắc mắt/trừng mắt, 横 眉 /quắc mắt Khi buồn tủi, ưuphiền, sẽ diễn đạt bằng từ: 愁眉/nhăn mặt nhăn mày, 眼泪/nước mắt
1996 (2页) (Sđd: Cố Gia Tổ, Lục Thăng Ngôn ngữ và văn hóa Nxb Giáo
dục ngoại ngữ Thượng Hải, 1996 Tr.2)
137
Trang 10Miêu tả tâm trạng vui vẻ sẽ có từ: 笑眼/mắt cười, 展眉/giãn mày/nởmày Khi chán ghét, sẽ xuất hiện các từ: 白眼/mắt trắng, 颦眉/chaumày/nhăn mày/nhíu mày Mọi người còn căn cứ theo chức năng củacác bộ phận cơ thể để cấu tạo từ Ví dụ chức năng của môi, răng,mồm/miệng có liên quan tới sự phát âm tạo nên lời nói, vì vậy xuấthiện các từ: 快嘴/nhanh mồm/ nhanh miệng, 口碑/bia miệng, 舌战/斗口/顶嘴/đấu khẩu, 开口/mở miệng, 启齿/cạy răng, 牙慧/răng khôn,
嘴严/kín mồm kín miệng, 守口如瓶/giữ miệng như bình: giữ mồm giữ miệng, giữ kín như bưng Khả năng hoạt động của chân tay là rất
linh hoạt, vì vậy xuất hiện các từ: 出手/ra tay, 劈手/chém tay, 甩手/vung tay, 罢手/dừng tay, 手记/chép tay, 手写/viết tay, 歇脚/nghỉchân, 蹑手蹑脚/nhón chân nhón tay: rón ra rón rén, 手忙脚乱/ chân
tay luống cuống: lúng túng như thợ vụng mất kim, 笨手笨脚/ vụng
chân vụng tay: chân tay vụng về
Kết quả phân loại và phân tích trên tạo tiền đề để chúng tôi tiếptục nghiên cứu sự hiện diện của từ chỉ bộ phận cơ thể trong ngữ cốđịnh tiếng Hán và có sự liên hệ tới ngữ cố định tiếng Việt
Hướng nghiên cứu cụ thể sẽ xuất phát từ các bộ phận cơ thể Từvựng chỉ các bộ phận cơ thể Đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữdụng của lớp từ vựng, bao gồm ngữ cố định có chứa từ chỉ bộ phận cơthể Tri thức triết học, ngôn ngữ và văn hóa trong chiều sâu ngữnghĩa của lớp từ vựng, bao gồm ngữ cố định có chứa từ chỉ bộ phận cơthể So sánh ngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán vàtiếng Việt Liên hệ với thực tiễn tổ chức dạy học ngữ cố định tiếngHán
1.3 Nhận diện về ngữ cố định
Có một số tên gọi khác như: từ tổ cố định, tổ hợp từ cố định, cụm
từ cố định, thục ngữ, đặc ngữ Trong nội dung của đề tài này, chúngtôi lấy tên gọi chung là “Ngữ cố định” Được định nghĩa như sau:Theo định nghĩa trong “辞海 (Từ hải), một cuốn từ điển ghi chép”
tương đối đầy đủ về tiếng Hán đã ghi: Ngữ cố định là chỉ các cụm từ hoặc câu được định hình trong ngôn ngữ Khi sử dụng thường không được tùy tiện thay đổi kết cấu của chúng Gồm có các chủng loại như thành ngữ, ngạn ngữ, cách ngôn, yết hậu ngữ (熟语是指 “语言中定
型的词组或句子 使用时一般不能任意改变其组织 包括成语, 谚
语, 格言, 歇后语等.”) “辞海 ”
Từ điển “现代汉语词典” (Từ điển tiếng Hán hiện đại Thương vụ”
ấn thư quán Xuất bản lần thứ 5, 2005 Tr.1269) đã đưa ra định nghĩa:
138
Trang 11Ngữ cố định là “cụm từ cố định, chỉ có thể sử dụng toàn bộ, không được tùy ý thay đổi các thành phần trong đó, và không thể phân tích chúng theo phương pháp cấu tạo từ nói chung” (熟语是 “固定的 词
组, 只能整个应用, 不能随意变动其中成分, 并且往往不能按照 一般的构词法来 )
Còn có cách định nghĩa về ngữ cố định theo phạm vi nghĩa rộng và
hẹp sau: Ngữ cố định hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm thành ngữ trong
đó, là một hình thức ngôn ngữ có tần suất sử dụng cao trong sinh hoạt,
có cấu trúc cố định và ý nghĩa đặc thù Ngữ cố định hiểu theo nghĩa hẹp là hình thức ngôn ngữ được lưu truyền trong dân gian qua thời gian dài, trong đó bao gồm các dạng thức ngôn ngữ được định hình như quán ngữ, tục ngữ, ngạn ngữ dân gian, yết hậu ngữ (广义的熟语
是一种包括成语在内的, 具有一定固定结构, 特定含义的, 在生活中使用频率很高的语言形式 狭义的熟语是一种长时期 在民间流传
Đỗ Hữu Châu định nghĩa về ngữ cố định là: “Các cụm từ (ý nghĩa
có tính chất là ý nghĩa của cụm từ, cấu tạo là cấu tạo của cụm từ), nhưng đã cố định hóa cho nên cũng có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc, có tính xã hội như từ”4
Nguyễn Như Ý đã đưa ra định nghĩa về ngữ cố định/cụm từ cố
định là cụm từ sẵn có (có chức năng như từ) với thành phần từ vựng
và ngữ nghĩa ổn định (“Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”.
Nxb Giáo dục, 2003:64)
Tổng hợp từ các định nghĩa và nội dung trên, chúng tôi sơ bộ rút
ra nhận xét: ngữ cố định được định hình từ thói quen sử dụng thườngxuyên của mọi người Xét theo đặc tính ngôn ngữ của từ vựng ta thấynằm trong tổng hòa lớp từ vựng phổ thông và từ vựng cơ bản Đây làđơn vị ngôn ngữ với đầy đủ chức năng của đơn vị từ, thậm chí là đạttới chức năng của câu, đặc biệt khi sử dụng chúng có cấu trúc ổn định,
ý nghĩa hoàn chỉnh, không được tùy tiện bóc tách ra để sử dụng, dovậy có thể coi đây là một đơn vị từ vựng đặc biệt, được xếp vào trongđối tượng nghiên cứu của từ vựng học Phần lớn ngữ cố định có nguồngốc cổ xưa, lịch sử lâu dài, ý nghĩa biểu đạt phong phú, ghi nhậnnhững trầm tích lịch sử văn hóa của một dân tộc Phạm vi sử dụng của
3 王勤 “谈论汉语熟语” 山东教育出版社, 2006 (9 页) (Sđd: Vương
Cần, Bàn về ngữ cố định tiếng Hán Nxb Giáo dục Sơn Đông, 2006 Tr 9)
4 Đỗ Hữu Châu, Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Việt Nxb Giáo dục, 1999.
Tr 71
139
Trang 12ngữ cố định trải trên diện rộng, đặc điểm rõ nét, giúp cho phong cáchbiểu đạt của ngôn ngữ thêm chau chuốt và đa dạng Ngữ cố địnhthường được phân chia thành: Thành ngữ, quán ngữ, ngạn ngữ (tụcngữ)5, trong tiếng Hán còn có thêm yết hậu ngữ (cách nói/câu/bỏ lửng)
và cách ngôn, trong tiếng Việt còn có thêm cách gọi khác về ngữ cốđịnh định danh, các đơn vị cụm từ trung gian6 Tần suất sử dụng củachúng trong giao tiếp hàng ngày rất cao Chúng tôi sẽ tập trung miêu
tả chi tiết những chủng loại lớn có tính đại diện tiêu biểu trong nộidung các chương tiếp theo
1.4 Sự hiện diện của từ chỉ bộ phận cơ thể trong ngữ cố định
Mục này chỉ mang tính chất liệt kê ví dụ minh họa, nhằm nhấnmạnh ngữ cố định cũng là một đại diện trong hệ thống từ vựng chỉ bộphận cơ thể
1.4.1 Tầng thứ nhất: 人高马大/người cao ngựa to, 身强力壮/thân
khỏe sức mạnh: sức dài vai rộng.
1.4.2 Tầng thứ hai: 人头马面/đầu người mặt ngựa, 耸肩缩颈/nhúnvai rụt cổ
1.4.3 Tầng thứ ba: 有眼不识泰山/có mắt không nhận ra Thái Sơn: có
mắt như mù; có mắt mà không biết bậc thầy, 胸有成竹/ngực cósẵn cây tre, 手舞足蹈/tay múa chân nhảy: khoa tay múa chân1.4.4 Tầng thứ tư: 唇亡齿寒/môi mất răng lạnh: môi hở răng lạnh; máu chảy ruột mềm, 心乱如麻/tim loạn như hạt vừng: lòng rối như tơ vò, 大手拗不过小腿/tay to không bẻ quặt được đùi nhỏ: yếu trâu hơn khỏe bò
1.4.5 Tầng thứ năm: 赤舌烧城/lưỡi trần (không) đốt thành: uốn ba tấc lưỡi, 丰乳肥臀/vú nở mông béo (mông to ngực nở), 了如指
掌 /hiểu như ngón tay bàn tay: rõ như lòng bàn tay; rõ từng chân tơ kẽ tóc
1.4.6 Tầng thứ sáu: 牙缝里的肉——没多大一点——没多大一点/thịt trong kẽ răng
-chẳng bõ giắt răng, 明眸皓齿/con ngươi long lanh răng trắng
bóng (kiều nữ); 大拇指头瘙痒, 随上随下/đầu ngón tay cái gãi ngứa, tùy lên tùy xuống (tự do hoạt động); 十个指头不一般齐/ mười ngón tay không đều như nhau: mỗi người mỗi vẻ; 十个指
5 Ghi chú: Một số học giả Trung Quốc đưa ra nhận định về sự khác nhau
giữa Tục ngữ và Ngạn ngữ tiếng Hán, tuy nhiên đa số học giả nghiên cứuđều ủng hộ ý kiến qui về cùng một chủng loại
6 Nguyễn Thiện Giáp, Lược sử Việt ngữ học - Tập 1. Nxb Đại họcQuốc gia Hà Nội, 2004 Tr 215
140
Trang 13头咬着都疼/mười ngón tay cắn vào đều đau: tay đứt ruột đau.
1.5 Tổng quan nghiên cứu về Ngữ cố định tiếng Hán
1.5.1 Nghiên cứu về Ngữ cố định tiếng Hán
Các học giả Trung Quốc đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vềngữ cố định tiếng Hán7 Bắt đầu từ đời nhà Hán - Thời kỳ sơ khai(năm 206 - năm 317) đã xuất hiện những tài liệu nghiên cứu, tập hợpnhững ngôn từ lưu hành trong dân gian có liên quan đến ngạn ngữ/tụcngữ trong ngữ cố định Tác phẩm tiêu biểu gồm có “通俗文/Thông tục văn” của Phục Kiềm (đời Hán), được đánh giá như một cuốn “Tự
điển Tục ngữ” tiếng Hán cổ của Trung Quốc
Thời kỳ từ năm 420-1644 được gọi là: Thời kỳ phát triển tronglĩnh vực nghiên cứu ngữ cố định tiếng Hán Xuất hiện tác phẩm “齐民
要术/Tề dân yếu thuật” của Giả Tư Hiệp (đời Bắc Ngụy) đã đề cập
đến những ngạn ngữ/tục ngữ tiếng Hán có liên quan đến lĩnh vực đờisống sản xuất nông nghiệp Thời kỳ phát triển đỉnh cao về ngôn ngữ,văn học nghệ thuật đời nhà Đường xuất hiện tuyển tập “义山 杂纂
/Nghĩa sơn tạp soạn” của Lý Thương Ẩn Cuốn sách đã sưu tầm, tập
hợp được một số lượng lớn (khoảng 392 mục) ngữ cố định tiếng Hánlưu truyền trong dân gian có liên quan đến các hành vi, sự việc trongcuộc sống, đặc điểm gần giống với Yết hậu ngữ ngày nay Tương tự,đời Tống có “杂纂续/Tạp soạn tục” của Vương Quân Ngọc đã thu
thập, miêu tả, giải thích hơn 139 ngữ cố định Đời Thanh có “杂纂三
续/Tạp soạn tam tục” của Hoàng Doãn Giao đã thu thập, miêu tả, giải
thích hơn 241 ngữ cố định “杂 纂 新 俗 /Tạp soạn tân tục” của Vi
Quang Phát đã thu thập, miêu tả, giải thích 95 ngữ cố định “广杂纂/
Quảng tạp soạn” của Cố Thiết Khanh đã thu thập, miêu tả, giải thích
32 ngữ cố định “纂得确/Soạn đắc xác” của Thạch Thành Kim đã thuthập, miêu tả, giải thích 241 ngữ cố định Các tác giả trên đã góp sứctạo dựng nên một hệ thống “杂纂/Tạp soạn” có giá trị rất lớn trong
việc nghiên cứu ngữ cố định (Yết hậu ngữ) tiếng Hán thời kỳ thế kỷ
IX đến XVII Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác vềngữ cố định tiếng Hán thuộc đời Minh, như: “俚言解/Lí ngôn giải”
của Trần Sĩ Nguyên, “雅俗稽言/Nhã tục kê ngôn” của Trương Tồn
Khôn, “世事通考/Thế sự thông khảo” của Trần Hư Vân, “常谈 考误/
Thường đàm khảo ngộ” của Chu Mộng Dịch, “俗言/Tục ngôn”, “古今
7 王勤 “谈论汉语熟语” 山东教育出版社 2006 (78-132 页) (Sđd: Vương
Cần, Bàn về ngữ cố định tiếng Hán Nxb Giáo dục Sơn Đông, 2006 Tr.78-132
141
Trang 14谚/Cổ kim ngạn” của Dương Thận.
Thời kỳ hưng thịnh (từ đời Thanh đến Trung Hoa dân quốc, 1948): Những thành tựu phát triển, hoàn thiện của tiếng Hán đã thúcđẩy công việc nghiên cứu ngữ cố định xuất hiện một diện mạo mới,vượt xa thời kỳ trước về cả chất lượng và số lượng công trình nghiêncứu, như: “通俗编/Thông tục biên” của Địch Hạo (1751) Cuốn sách đãsưu tầm, giải thích được hơn 1500 ngữ cố định với đầy đủ các thànhviên mà ngày nay chúng ta có thể quan sát thấy “直语补证/ Trực ngữ
1616-bổ chứng” của Lương Đồng (đời Thanh) đã thu thập, dẫn giải 414
thành ngữ, tục ngữ tiếng Hán Trong nội dung cuốn “恒言录/ Hằng ngôn lục” của Tiền Đại Hân (đời Thanh) đã giải thích nguồn gốc, cách
dùng của 79 ngữ cố định tiếng Hán (thành ngữ, tục ngữ và quán ngữ)
“恒言广证 /Hằng ngôn quảng chứng” của Trần Chiên (1814) đã bổ
sung nội dung dẫn chứng về ngữ cố định tiếng Hán cho cuốn “恒言录/
Hằng ngôn lục” “ 迩言/Nhĩ ngôn” của Tiền Đại Siêu (đời Thanh) đã
nói rõ nguồn gốc và giải thích một số quán ngữ, thành ngữ tiếng Hán
“释谚/Thích ngạn” của Bình Bộ Thanh (đời Thanh), “语窦/Ngữ đậu”của Hồ Thức Ngọc (đời Thanh), “古谣谚/Cổ dao ngạn” của Đỗ Văn
Lạn (đời Thanh) ngoài ngạn ngữ ra còn sưu tập cả ca dao tiếng Hán,
“俗说/Tục thuyết” của La Trấn Ngọc (đời Thanh) đã bổ sung nội dungcho một số trước tác trước đó “俗语考源/Tục ngữ khảo nguyên” của
Lý Giám Đường (1937) đã tập hợp, chú giải và dẫn ví dụ của hơn 1280mục từ, thành ngữ, ngạn ngữ, quán ngữ, yết hậu ngữ tiếng Hán và sắpxếp theo thứ tự các bộ chữ Tôn Cẩm Tiêu (1913) đã xuất bản cuốn “通
俗常言疏证/Thông tục thường ngôn sơ chứng” sắp xếp phân loại theo
ý nghĩa các từ và ngữ cố định tiếng Hán (40 loại, 5775 mục từ) “中华
谚海/Trung Hoa ngạn hải” của Tương Tai (1927) đã sưu tầm 12424
ngạn ngữ tiếng Hán thuộc nhiều lĩnh vực và nhiều địa phương khácnhau “国文成语辞典”/Quốc văn thành ngữ từ điển” của Trang Thích(1916), “俗语典”/Tục ngữ điển” của Phổ An (1922) đã chỉ ra xuất xứ
một số ngữ cố định từ trong các văn bản cổ
Giai đoạn hiện đại (từ năm 1949 đến nay): Có thể nói đây là thời kỳphồn vinh trong nghiên cứu ngữ cố định tiếng Hán Hàng loạt bài viếtchuyên khảo, sách nghiên cứu, từ điển về Thành ngữ, Tục ngữ, Yết hậungữ, Quán ngữ đã được phát hành và biên soạn ở Trung Quốc cũngnhư ở nước ngoài Nội dung chuyên sâu, chất lượng rất cao, số lượng
vô cùng lớn Chúng tôi chỉ có thể kể ra một số từ điển, sách tiêu biểu,như: “汉 语 成 语 小 词 典” /Tiểu từ điển thành ngữ tiếng Hán” (Nxb
142
Trang 15Thương vụ quán TQ, 1996) Cuốn từ điển này đã thu thập được 3.559thành ngữ tiếng Hán, đưa ra các chú giải kèm theo các ví dụ minh họa
dễ hiểu Bài nghiên cứu về “Thành ngữ và việc sử dụng thành ngữ” của
tác giả Tùy Thụ Lâm đã góp phần giúp chúng ta củng cố thêm về kháiniệm thành ngữ, đặc trưng kết cấu bốn chữ của thành ngữ, các thànhphần câu do thành ngữ đảm nhận, tìm hiểu về nguồn gốc của thành ngữ,những giá trị ưu việt của thành ngữ, nghiên cứu về phạm vi sử dụngrộng rãi của thành ngữ, cách sử dụng thành ngữ và việc tra cứu xuất xứcủa thành ngữ Những năm 90 của thế kỷ XX, GS Vương Đức Xuân đãcông bố các thành quả nghiên cứu mới về ngôn ngữ đất nước học, với
sự ra đời của cuốn từ điển “汉语国俗词典”/Ngôn ngữ đất nước học”
(Nxb Đại học Hà Hải, 1990) mà trong đó đã thống kê và giải thích rất
cụ thể nội hàm văn hóa dân tộc Trung Hoa trong một số ngữ cố địnhtiếng Hán Đây quả thực là những nghiên cứu quan trọng về mối liên hệgiữa tiếng Hán với văn hóa Trung Quốc, góp phần xây dựng và pháttriển chuyên ngành ngôn ngữ học-xã hội, ngôn ngữ học-văn hóa TrungQuốc và ngôn ngữ đất nước học tiếng Hán Cuốn “中国成语大词典”/
Đại từ điển Thành ngữ Trung Quốc” do Vương Kiện Ân chủ trì biên
soạn năm 1987 được Nhà xuất bản Từ Thư Thượng Hải xuất bản đã thuthập, giải thích, nêu các ví dụ sử dụng các loại Thành ngữ tiếng Hán với
số lượng hơn 18.000 thành ngữ Đây là công trình đóng góp quan trọngtrong việc nghiên cứu từ vựng tiếng Hán Tác giả Dương Tiểu Lệ trong
và văn hóa” (Nxb Đại học Bắc Kinh, 1995) đã thống kê và giải thíchnội hàm ngữ nghĩa về từ “Trái tim/Tim” trong một số một số câu Thànhngữ, Yết hậu ngữ và Tục ngữ tiếng Hán Tác giả Dương Đức Phong đãmiêu tả về nguồn gốc của các Thành ngữ và Tục ngữ tiếng Hán trongtác phẩm “汉语与 交际 文化/Tiếng Hán và giao tiếp văn hóa” (Nxb
Đại học Bắc Kinh, 1999) “汉语惯用语词典”/Từ điển Quán ngữ tiếng Hán” của Mã Trung Lâm và Dương Quốc Phong chủ biên (Nxb Hiện
đại, 1991) thống kê được rất nhiều câu nói quen thuộc dân gian thườngdùng trong tiếng Hán, giúp cho người sử dụng tiếng Hán, nhất là nhữngngười học tiếng Hán ở các nước khác ngoài Trung Quốc nắm bắt và sử
143
Trang 16dụng chính xác những kiểu câu nói quen thuộc dân gian thường dùng
mà người dân Trung Quốc sử dụng trong giao tiếp hàng ngày “Tinh hoa văn hóa Trung Quốc” của tác giả Vương Kiến Huy và Dịch Học
Kim (Nxb Thế giới, 2004) trong nội dung nghiên cứu về văn hóa TrungHoa có đề cập đến Thành ngữ “Muối” trong tiếng Hán “中国熟语 大
典”/Đại từ điển Ngữ cố định Trung Quốc” của tác giả Thẩm Quân chủ
biên, (Nxb Văn nghệ Thượng Hải, 1990) đã thống kê, thông qua cáccâu chuyện lịch sử chú giải nguồn gốc, ý nghĩa của 719 ngữ cố địnhtiếng Hán, trong đó có 85 ngữ cố định xuất hiện từ chỉ bộ phận cơ thể.Nhận xét các công trình nghiên cứu về ngữ cố định tiếng Hán theotuyến lịch đại chúng ta nhận thấy một số đặc điểm như: Thời kỳ đầu
số lượng rất ít, do giai cấp thống trị xuất phát từ thái độ xem thườngngôn ngữ dân gian nên đã không chú trọng việc tổ chức khảo cứu, sưutầm ngôn từ của quần chúng Thời kỳ tiếp theo cùng với sự phát triểncủa xã hội và ngôn ngữ, ngữ cố định tiếng Hán đã được các học giảchú ý sưu tầm nghiên cứu, nhưng chưa thành hệ thống và phân ngànhđộc lập, cũng chưa có sự thống nhất về tên gọi Các nghiên cứu chủyếu là sưu tập, giải thích xuất xứ của các từ trong ngữ cố định theo cácđiển cố, trước tác Bắt đầu từ thế kỷ XVII, việc nghiên cứu ngữ cốđịnh tiếng Hán mới đi vào quĩ đạo Các nghiên cứu mang tính chỉnhthể, nội dung tương đối phong phú, chủng loại mang tính thống nhất
Sự phát triển thịnh vượng thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu
từ những năm 80 thế kỷ trước cho đến nay Các học giả Trung Quốc
đã đề nghị chính thức đặt tên gọi cho phân ngành nghiên cứu này là
“ngữ cố định học”
1.5.2 Nghiên cứu về từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán
Tác giả Lý Huyền Ngọc (Li Xuanyu) (Lưu học sinh Hàn Quốc tạiTrung Quốc) có bài “汉韩熟语中的人体词语之比喻/Ý nghĩa ví von của các từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán và tiếng Hàn Quốc”
nghiên cứu so sánh các câu thành ngữ có từ ngữ chỉ bộ phận tay, đầu trên
cơ thể trong tiếng Hán và tiếng Hàn Quốc, qua đó giúp chúng ta thấyđược những nét giao thoa văn hóa của hai dân tộc Hán và Hàn Quốc
Trình Thục Trinh trong bài viết “Nghiên cứu hiện tượng ẩn dụ trong đặc trưng các từ chỉ bộ phận cơ thể” (Tạp chí dạy học và nghiên
cứu ngữ văn, 1999) dựa vào lý luận ẩn dụ của Lackof và Johnson(1980), tiến hành thống kê và phân tích một số từ chỉ bộ phận cơ thểdùng làm ngữ tố cấu tạo từ, thông qua các biện pháp tu từ như nhâncách hóa, hoán dụ, ví von, so sánh, hình thành nên khái niệm diễn đạt
144
Trang 17các sự vật có liên quan khác ẩn chứa trong các từ chỉ bộ phận cơ thể.Vương Nghinh Xuân căn cứ theo nội dung lý luận ngôn ngữ họcnhận thức để khảo sát, phân tích và qui nạp tính hệ thống qua hiệntượng ẩn dụ của các từ chỉ bộ phận cơ thể tiếng Hán trong “Từ điển
tiếng Hán hiện đại” (1996) “Bàn về hiện tượng ẩn dụ của từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán” (Tạp chí Ngữ văn Số 9/2005).
Ngoài ra còn có rất nhiều bài nghiên cứu về từ chỉ bộ phận cơ thểkhác trong tiếng Hán, ví dụ như nghiên cứu về từ “心 /Tim” trongtiếng Hán từ góc độ ứng dụng của Biên Lập Hồng (Học viện Cáp NhĩTân Tháng 6/2003) và Ngô Ân Phong (Tạp chí dạy học và nghiên cứungữ văn Số 6/2004) Nghiên cứu về hậu tố “手/Tay”trong cấu tạo từtiếng Hán của Cát Giai Tài (Tạp chí nghiên cứu ngôn ngữ Tháng6/2003) Nghiên cứu về danh từ chỉ bộ phận cơ thể từ sự kết hợp vớicác từ “上/Trên” và “下/Dưới” trong tiếng Hán của Lý Huyền Ngọc(Hàn Quốc) (Đại học Tân Cương Tháng 6/2003)
1.5.3 Nghiên cứu đối chiếu về từ và ngữ cố định có từ chỉ bộ phận
cơ thể trong tiếng Hán với các ngôn ngữ khác
Có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu đối chiếu từ chỉ bộphận cơ thể của tiếng Hán với các tiếng nước ngoài khác, trong đó baogồm cả ngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể Yiliman Aimumaiti
trong bài viết “Những liên tưởng văn hóa của từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Nhật và tiếng Hán” (Đại học sư phạm Tân Cương Tháng
12/2003) đã so sánh một số từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Nhật vàtiếng Hán từ góc độ tương đồng giá trị ngữ nghĩa, nhưng khác nhau vềhình thức, những hiện tượng miêu tả diện mạo tưởng chừng giốngnhau nhưng ý nghĩa thực tế lại khác nhau, những hiện tượng ví vonkhác biệt nhau Thông qua nội dung so sánh, tác giả giúp chúng tanắm bắt được đặc trưng văn hóa dân tộc và nhìn nhận ra sự giốngnhau và khác nhau về nội hàm văn hóa giữa hai dân tộc Nhật và Hán
Đạo Nhĩ Cát, Quách Chí Cúc trong bài viết “Bàn về đặc điểm và nội hàm văn hóa của từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán và tiếng Mông Cổ” (Tạp chí Khoa học xã hội Nội Mông Cổ Tháng 11/2003)
đã xuất phát từ những nội dung và hình thức biểu đạt đa dạng mangđặc trưng dụng học khác nhau của từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếngHán và tiếng Mông Cổ để miêu tả những nhận thức của người xưa vềcon người, những ghi nhận về quan niệm, tư tưởng, phong tục tậpquán trong trầm tích văn hóa Hán và Mông Cổ
Vương Mẫn trong bài “Nghiên cứu đối chiếu những nhận thức về
145
Trang 18từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Anh và tiếng Hán” (Đại học kỹ thuật
dạy nghề Kính Môn, tháng 3/2005) xuất phát từ cơ sở lý luận ngônngữ học nhận thức và văn hóa tiến hành nghiên cứu về tư duy nhậnthức chung và sự khác biệt văn hóa trong nội dung chuyển nghĩa củacác từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Anh và tiếng Hán
Thẩm Cảnh Vân trong bài “So sánh ý nghĩa đối dịch thành ngữ, quán ngữ tiếng Hán và tiếng Đức có liên quan đến từ ‘ 手/Tay’Tay’” (Đại
học Đồng Tế Tháng 12/2002) đã tìm ra hình ảnh ví von và ý nghĩatương đồng, hình ảnh ví von gần giống nhau và ý nghĩa giống nhau,hình ảnh ví von khác nhau và ý nghĩa giống nhau, hình ảnh ví vonkhác nhau và ý nghĩa khác nhau Qua kết quả nghiên cứu liên hệ tớiviệc dạy học tiếng Hán và tiếng Đức cho người nước ngoài
Còn có những nghiên cứu đối chiếu khác về lớp từ vựng và ngữ
cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể giữa tiếng Hán và tiếng Thái Lan,tiếng Hán và tiếng Hàn, tiếng Hán và tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếngTây Ban Nha
1.6 Nghiên cứu về Ngữ cố định tiếng Việt
Trong những năm qua, các học giả Việt Nam đã có một số công
trình nghiên cứu về ngữ cố định tiếng Hán Trước hết là cuốn “Từ điển Thành ngữ Hoa-Việt” của GS.TS Nguyễn Văn Khang và Bùi
Như Ý (Nxb Văn hóa, 1994), đây là cuốn Từ điển Thành ngữ đối dịchHán-Việt đầu tiên ở Việt Nam đã thu thập, chú giải và đối dịch sangtiếng Việt được hơn 2000 câu thành ngữ tiếng Hán hiện đại thườngdùng nhất Được coi là sách công cụ phục vụ rất hữu hiệu cho nhữngngười học tập và nghiên cứu tiếng Hán ở Việt Nam Hai tác giả đã
nhận định rằng: “ thành ngữ của mỗi dân tộc có nguồn gốc sâu xa từ trong phong tục, tập quán, lễ nghi, tôn giáo, tín ngưỡng và triết học dân tộc, do đó việc hiểu nội dung thành ngữ lại khó khăn bội phần Ngoài yếu tố ngôn ngữ phải có một vốn văn hóa rộng, sâu mới có thể hiểu được thành ngữ”8
Trong “Từ điển Thành ngữ - Tục ngữ Việt Nam” của các tác giả
Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào (Nxb Văn hóa Thông tin,1993), đã sưu tập những câu thành ngữ và tục ngữ xuất hiện trongtiếng Việt phản ánh phong tục, tập quán, nghi lễ, tôn giáo, truyềnthống văn hóa và lối tư duy riêng của dân tộc; Phản ánh kho tàng kinh
8 Nguyễn Văn Khang, Bùi Như Ý “Từ điển Thành ngữ Hoa-Việt”.
Nxb Văn hóa, 1994 Tr.4
146
Trang 19nghiệm dân gian về nếp sống, cách ứng xử xã hội, kinh nghiệm vềtrồng trọt, chăn nuôi, làm ruộng, làm nghề thủ công, buôn bán, tụccưới gả, văn hóa ẩm thực, kinh nghiệm về dự đoán thời tiết, phongcách kiến xây dựng nhà cửa Cuốn từ điển đã thống kê các thànhngữ và tục ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa để nói lên tính đa dạng, tinh tếvới lối nói của dân gian; Giải thích ý nghĩa các từ cổ, từ địa phương,
từ Hán-Việt, từ chỉ sự vật, động vật, thực vật, hiện tượng khôngquen thuộc với những người trẻ tuổi; Đưa ra những tri thức tham khảo
về bối cảnh văn hóa-ngôn ngữ để hiểu về xuất xứ của thành ngữ, tụcngữ Thông qua cuốn từ điển này, bên cạnh hiểu biết được về nội hàmvăn hóa dân tộc xuất hiện trong các câu thành ngữ và tục ngữ tiếngViệt, chúng ta cũng thấy được sự ảnh hưởng, giao lưu xâm nhập củaThành ngữ và Tục ngữ tiếng Hán và tiếng Việt
Đỗ Hữu Châu trong “Từ vựng - Ngữ nghĩa tiếng Việt” (Nxb Giáo
dục, 1999) đã chỉ ra đặc điểm cố định hóa mang tính thành ngữ, tínhtương đương với cấp độ từ nhưng nhiều khi lại có cấu tạo là các câu,
có những đơn vị trung gian giữa ngữ cố định và cụm từ tự do (quánngữ) cũng được cố định hóa, mặc dù có sự biến thể chút ít, nhưngkhông phá vỡ kết cấu và các liên hệ ngữ nghĩa vốn có Trên cơ sởphân loại ngữ cố định, tác giả đã căn cứ theo thành phần trung tâm đểchia nhỏ các kết cấu cụm từ trong ngữ cố định và tổng kết ra nhữnggiá trị ngữ nghĩa của ngữ cố định
“Tân từ điển thành ngữ tiếng Việt” (Nxb Giáo dục, 2002) của tác
giả Kiều Văn đã đưa ra định nghĩa khoa học về thành ngữ tiếng Việtcùng toàn bộ tiêu chí khoa học chi tiết để xác định bản chất của thànhngữ, tiêu chí khoa học phân biệt thành ngữ với tục ngữ, giúp độc giảtra cứu, khảo sát và lĩnh hội những thành ngữ được liệt kê trong từđiển, nắm bắt được bản chất của một số phạm trù ngôn ngữ trongtiếng Việt có liên quan đến thành ngữ như: từ ghép và mối quan hệ vớithành ngữ, từ láy và mối quan hệ với thành ngữ, tổ hợp điệp âm vàthành ngữ
Giáo sư Vũ Ngọc Phan trong công trình nghiên cứu về “Tục ngữ
ca dao dân ca Việt Nam” (Nxb Văn học, 2003), tác giả Việt Dương trong “Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam” (Nxb Đồng Nai,
2005) đã thống kê được hơn 15.000 đơn vị thành ngữ, tục ngữ và cadao Việt Nam thuộc các lĩnh vực khác nhau Qua đó đưa ra nhữngkiến giải về Thành ngữ, Tục ngữ, ca dao dân ca của Việt Nam Hai tácgiả còn đi sâu vào nghiên cứu vốn văn hóa văn nghệ cổ truyền, trong
147
Trang 20đó có văn hóa dân gian của người dân Việt Nam được chuyển tảitrong những câu Thành ngữ, Tục ngữ, ca dao và dân ca.
Trong “Lược sử Việt ngữ học - Tập 1” (Nxb Giáo dục, 2004), tác
giả Nguyễn Thiện Giáp đã dẫn chứng qua thành ngữ để miêu tả hìnhảnh về một nước nông nghiệp, về những đặc điểm của lịch sử dân tộc,
phản ánh phong tục, tập quán, lối sống của người Việt Nam “Hơn lĩnh vực ngôn ngữ nào khác, các thành ngữ tiếng Việt thể hiện đậm nét đặc trưng văn hóa dân tộc Việt Nam”9
Giáo sư, tiến sĩ Hoàng Văn Hành trong “Thành ngữ học tiếng Việt” (Nxb Khoa học xã hội, 2004) đã chỉ ra nguồn gốc của thành ngữ
tiếng Việt, miêu tả cấu tạo, phân loại thành ngữ tiếng Việt bao gồm:Thành ngữ ẩn dự hóa đối xứng; Thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng;Thành ngữ so sánh Thông qua giá trị và nghệ thuật sử dụng của thànhngữ để quan sát đặc trưng văn hóa của người Bên cạnh đó ông đã lựachọn, sưu tập một số lượng đáng kể thành ngữ theo hệ thống ba kiểuloại trên, tạo nên một tập hợp cơ sở dữ liệu phong phú về thành ngữtiếng Việt
Tác giả Nguyễn Lực trong “Thành ngữ đồng nghĩa tiếng Việt”
(Nxb Thanh niên, 2005) đã lấy tiêu chí giống nhau về ý nghĩa từ vựng,thống kê, giải thích 836 nhóm thành ngữ đồng nghĩa Giúp độc giả
nhận diện thành ngữ đồng nghĩa là: Những thành ngữ khác nhau cùng chỉ một hiện tượng, hoặc: những thành ngữ giống nhau về mặt từ vựng (chứ không phải về mặt ngữ pháp)10
Trong “Từ vựng tiếng Việt thực hành” (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005), tác giả Trịnh Đức Hiển đã nhận định: “Thành ngữ là cụm
từ cố định có tính hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa, có chức năng định danh như từ, dùng để gọi tên sự vật, hành động, tính chất”11 Căn
cứ vào đặc điểm cấu trúc, tác giả đã chia thành ngữ tiếng Việt thành
ba kiểu: Thành ngữ đối; Thành ngữ so sánh; Thành ngữ thường Vềmặt ý nghĩa, nghĩa bóng của thành ngữ có tính chất khái quát, tượngtrưng cho toàn bộ tổ hợp, và có tầm quan trọng đặc biệt trong nội dungphản ánh về tự nhiên, xã hội, đất nước, con người Việt Nam Trong
9 Nguyễn Thiện Giáp “Lược sử Việt ngữ học - Tập 1” Nxb Giáo dục,
Trang 21việc sử dụng thành ngữ, tác giả chú trọng miêu tả các chức năng ngữpháp của thành ngữ trong cấu trúc câu, và nhấn mạnh phải cố gắnglàm sống động thành ngữ tiếng Việt Một số bài tập thực hành vềthành ngữ tiếng Việt cũng được tác giả đưa ra để làm các trắc nghiệmtham khảo.
1.6.1 Nghiên cứu so sánh Ngữ cố định tiếng Việt với các ngôn ngữ khác và việc dạy học
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp đặc biệt ĐHQG Hà Nội (Mã sốQG.00.13) của tác giả Nguyễn Hữu Cầu đã cung cấp cho chúng tanhững tri thức văn hóa dân tộc Trung Hoa thể hiện trong một số ngữ
cố định tiếng Hán có chứa từ ngữ biểu thị tên gọi động thực vật Tácgiả đã nghiên cứu đối chiếu, đưa ra nét tương đồng và khác biệt trongcác ngữ cố định cùng thể loại trong tiếng Việt, để giúp cho người họctập, nghiên cứu và phiên dịch Hán-Việt tránh được những sai sót khiđối chiếu so sánh hai ngôn ngữ Hán-Việt
Trong một đề tài nghiên cứu khoa học cấp ĐHQGHN (Mã số QN04.14) gần đây nhất, tác giả Nguyễn Hữu Cầu đã chủ trì nhóm nghiêncứu tiến hành thống kê và so sánh 400 thành ngữ - tục ngữ tiếng Việtvới tiếng Hán, qua đó chỉ ra sự giống và khác nhau trong hai ngônngữ, đồng thời cũng chỉ ra những lưu ý trong quá trình chuyển dịch vàdạy học thành ngữ, tục ngữ theo chiều từ tiếng Việt sang tiếng Hán
Công trình chuyển dịch “Đại từ điển thành ngữ tiếng Hán” sang
tiếng Việt do tác giả Trần Thị Thanh Liêm chủ trì cũng giúp chonhững người học tập và nghiên cứu tiếng Hán ở Việt Nam có thêmđược tài liệu bổ trợ đối dịch
Trong luận văn thạc sĩ mã số 50408 (Trường ĐHKHXH&NV ĐHQGHN), Thạc sĩ Giang Thị Tám đã nghiên cứu về sự hiện diện củacác con số trong thành ngữ tiếng Hán để miêu tả đặc trưng văn hóaTrung Hoa Thông qua đó so sánh liên hệ tới thành ngữ có chứa các con
-số trong tiếng Việt để làm rõ đặc trưng văn hóa của người Việt Nam
Nguyễn Thị Tân trong bài “Các dạng thức tồn tại của thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt” (Kỷ yếu hội nghị khoa học 2003: Những
vấn đề ngôn ngữ học Nxb Khoa học xã hội, 2005) đã khảo sát, thống
kê 2710 đơn vị thành ngữ gốc Hán, bắt đầu từ đời Đường cho đến nay
đã du nhập, tồn tại và phát triển trong thành ngữ tiếng Việt Tác giả đãphân thành 6 loại: [1] Thành ngữ Hán-Việt; [2] Thành ngữ giữ nguyêndạng gốc nhưng đọc theo âm địa phương Trung Quốc; [3] Thành ngữgiữ nguyên hình thái cấu trúc và nghĩa, nhưng thay đổi một vài yếu tố;
149
Trang 22[4] Thành ngữ thay đổi cấu trúc; [5] Thành ngữ dịch; [6] Thành ngữ
do người Việt tự tạo ra từ các yếu tố gốc Hán Kết quả tác giả đạtđược giúp chúng ta nhận diện rõ nét hơn tất cả các thành ngữ gốc Hánnày xuất hiện với diện mạo trung thực hơn trong các thành ngữ tiếngViệt
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Thọ trong bài viết “Về việc đổi mới phương pháp dạy-học cụm từ cố định tiếng Pháp” (Tạp chí khoa học ĐHQG
HN, Ngoại ngữ, T.XXII, số 4, 2006) đã khảo sát thực trạng việc dạyhọc cụm từ cố định tiếng Pháp ở trường/khoa chuyên ngữ Việt Nam.Kết quả điều tra cả ở phía giáo viên và học sinh cho thấy, đa số sinhviên và giáo viên đều coi cụm từ cố định (thành ngữ) là những đơn vị
từ vựng đặc biệt, gây rất nhiều khó khăn trong dạy học, có sự liênquan chặt chẽ tới văn hóa, cần đặt trong ngữ cảnh cụ thể để giải nghĩa
và sử dụng, tỉ lệ sinh viên trả lời “không biết nghĩa” của 10 cụm từ cốđịnh là khá cao Tác giả đã kiến nghị cần giảng dạy cụm từ cố địnhmột cách hệ thống, có sự phân loại khoảng cách lớn, nhỏ và gần kề, sửdụng các thành tố của ngữ cảnh và tình huống để nhận biết ngữ nghĩa,tăng cường các phương tiện hỗ trợ như sách công cụ, bài tập và mạnginternet, hướng dẫn nghiên cứu chuyên sâu, đưa vào chương trìnhgiảng dạy như một kiến thức tích hợp
Bài viết về “Tính biểu trưng trong thành ngữ” của Thạc sĩ Nguyễn
Văn Hòa (Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Ngoại ngữ, T.XXII, số 3,2004) đã nhận định tính biểu trưng qua một sự vật, hình ảnh cụ thểgiúp cho thành ngữ có được tính khái quát và trừu tượng, mang lại sắcthái biểu cảm cao trong giao tiếp, thể hiện những tinh hoa của ngônngữ văn hóa dân tộc Thông qua một số thành ngữ tiếng Việt và tiếngNga có từ chỉ bộ phận cơ thể, tác giả cũng đã đề cập đến tính biểutrưng về ngoại hình, tình cảm nội tâm và các hoạt động khác
Bài viết của Thạc sĩ Ngô Minh Thủy “Về hướng đi trong nghiên cứu so sánh đối chiếu thành ngữ” (Tạp chí khoa học ĐHQGHN,
Ngoại ngữ, T.XVIII, số 1, 2002) đã trình bày một số vấn đề vềphương pháp nghiên cứu so sánh đối chiếu thành ngữ gắn với đặctrưng văn hóa dân tộc qua mặt cấu trúc hình thái, qua phương diệnngữ nghĩa để phân tích quá trình hình thành nghĩa của thành ngữ, giảithích ý nghĩa của thành ngữ, giải thích những điểm giống và khácnhau về cấu trúc hình thái và về ngữ nghĩa, cách sử dụng các yếu tố,đối tượng như động vật, bộ phận cơ thể, các hiện tượng tự nhiên, v.v trong các nhóm thành ngữ tiếng Anh, tiếng Việt và tiếng Nhật
150
Trang 23Bài viết “Thành ngữ so sánh trong tiếng Hán và đối chiếu hàm ý văn hóa với thành ngữ tiếng Việt” (Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế:
Nghiên cứu và dạy-học tiếng Hán) của Nguyễn Thị Phương đã chiathành ngữ so sánh trong tiếng Hán thành 4 tiểu loại, thông qua khảosát, nghiên cứu cấu trúc thành ngữ so sánh tiếng Hán liên hệ tới sựgiống và khác nhau về nội hàm văn hóa trong thành ngữ tiếng Việt
1.6.2 Nghiên cứu về từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Việt
Tạ Văn Thông “Hình dung các bộ phận cơ thể người qua ‘loại từ’ tiếng Việt” (Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống Số 9/2003) đã miêu tả sự
kết hợp của loại từ tiếng Việt với các từ chỉ bộ phận cơ thể người.Như: cái, quả, trái, lá, con, khuôn, bộ, hòn, tấm, chiếc, mái, vầng, củ,buồng Tác giả nhận xét và lí giải việc chiếm ưu thế về số lượng củaloại từ “cái” trong sự kết hợp
Đỗ Anh Vũ “Mông má” (Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống Số
11/2003) đã mượn hình ảnh gây chú ý cảm quan của “mông” và “má”trên bộ phận cơ thể để lí giải ý nghĩa trong thực tế cuộc sống xã hộicủa từ ghép “mông má”, qua đó cho thấy sự phong phú, linh hoạt vàtính sáng tạo đầy thú vị của tiếng Việt
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khác của Nguyễn
Xuân Hòa, Hiểu thêm về thành ngữ “nuôi ong tay áo” (Ngôn ngữ &
Đời sống Tổng mục 2004 1+2 [99+100]); Trần Văn Nam, Thành ngữ Ruột thắt gan bào trong ca dao Nam Bộ (Ngôn ngữ & Đời sống Tổng mục 2004 11 [109]); Phan Hồng Liên, Từ "ruột" trong các tổ hợp từ chỉ quan hệ thân tộc của người Việt (Kỉ yếu Ngữ học Trẻ năm 2004), v.v
1.6.3 Nghiên cứu so sánh về từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Việt với các ngôn ngữ khác
Đàm Tú Quỳnh “So sánh từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán
và tiếng Việt” (Luận văn thạc sĩ Trường ĐH Sư phạm Hoa Đông
Trung Quốc, 2004) đã tiến hành so sánh cấu trúc và ngữ nghĩa của các
từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán và tiếng Việt, chỉ ra một số đặcđiểm giống nhau và khác nhau trong lớp từ vựng này
Chúng tôi cũng đã tham khảo tới một số công trình nghiên cứucủa các tác giả khác, như Đỗ Hoàng Ngân (1996) đối chiếu Thành ngữ
có từ chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Nga và tiếng Việt; Nguyễn ThịThu (1997) so sánh đối chiếu Thành ngữ có từ “tay” trong tiếng Ngavới tiếng Anh và tiếng Việt; Lê Sỹ Sen (1999) đối chiếu Thành ngữtiếng Nga có từ “mắt” với các đơn vị tương đương trong tiếng Anh vàtiếng Việt; Tô Thị Ngân Anh (1999) đối chiếu Thành ngữ có các từ
151
Trang 24chỉ bộ phận trên khuôn mặt trong tiếng Nga với các đơn vị tươngđương trong tiếng Việt; Đinh Trọng Nghĩa (2001) đối chiếu Thànhngữ tiếng Nga có từ “chân” với các đơn vị tương đương trong tiếngViệt; Nguyễn Văn Hòa (2001) đối chiếu Thành ngữ tiếng Nga có từ
“tâm hồn” và “trái tim” với tiếng Việt
Những nghiên cứu trên đây của các tác giả trong và ngoài nước đãcung cấp rất nhiều ngữ liệu quí giá cho nội dung nghiên cứu tiếp theocủa đề tài
1.7 Các cơ sở lý luận có liên quan khác
1.7.1 Ngôn ngữ học tâm lý và vấn đề nhận thức trong dạy học ngoại ngữ
Những thành tựu nghiên cứu về tâm lý học nhận thức, ngôn ngữhọc tâm lý và vấn đề thụ đắc ngôn ngữ thứ hai có tác dụng hỗ trợ rấtlớn trong việc dạy học ngôn ngữ, đặc biệt là xây dựng nền tảng lýluận, kiểm chứng những tiêu chuẩn trong dạy học ngoại ngữ Tâm lýhọc nhận thức hiện đại đã rất chú trọng việc nghiên cứu cách thức chủthể nhận thức vận dụng để tiến hành nhận thức các thông tin kháchquan, từ cơ sở lý luận cấu trúc luận nhận thức, qui luật xử lý thông tin,
đã hình thành nên một ngành khoa học độc lập ứng dụng vào nghiêncứu quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (dạy học ngoại ngữ) Nhà tâm
lý học Phan Thục (Trung Quốc) đã nhận xét: “Bất kỳ quá trình học tập tri thức nào đều bao gồm một loạt các hoạt động tâm lý phức tạp, trong đó một dạng có liên quan đến tính tích cực trong học tập như:
sự chú ý, tình cảm, tâm trạng, ý chí; một dạng khác có liên quan đến hoạt động nhận thức của bản thân như: cảm giác, tri giác, trí nhớ, sức tưởng tượng, tư duy” Dạng thứ nhất chúng ta thường coi là các
nhân tố ngoài trí lực, có vai trò như là động lực thúc đẩy và điều tiếtcác hoạt động nhận thức; Dạng thứ hai chính là các nhân tố trí lực,đảm nhận chức năng tiếp nhận, thao tác gia công, xử lý các thông tintrong hoạt động nhận thức Quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai (dạyhọc ngoại ngữ) chủ yếu được thực hiện qua ba giai đoạn: giai đoạnngười học xử lý mối quan hệ giữa tri thức ngôn ngữ tiếp thu (đầu vào)
và tri thức ngôn ngữ bản thân vốn có; những biểu hiện của người học
về tri thức ngôn ngữ thứ hai (ngoại ngữ); mối quan hệ giữa tri thứcngôn ngữ thứ hai (ngoại ngữ) và vấn đề sản sinh ngôn ngữ (đầu ra)của người học
Qui luật nhận thức của con người luôn phát triển theo hướng mởrộng từ gần ra xa, đi từ thực thể đến phi thực thể, từ đơn giản đến
152
Trang 25phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng Chính vì vậy trong dạy học ngôn
ngữ, nhà ngôn ngữ học tâm lý Morten đã đưa ra kết luận: “Mô hình sản sinh từ vựng đã nhấn mạnh cơ chế xuất hiện từ và ý nghĩa từ việc kích hoạt các thông tin tác động đến thính giác, thị giác và các thông tin ngữ cảnh Thông qua lớp từ vựng để hình thành và diễn đạt các khái niệm trong nhận thức của con người” Một trong những đặc tính
vốn có trong khái niệm biểu đạt của từ vựng là cơ chế ẩn dụ, ví von và
so sánh được bắt nguồn từ kinh nghiệm cá nhân và từ các kinh nghiệm
xã hội, giúp cho mục tiêu nhận thức của con người trở nên phong phú
và đầy đủ hơn (Lakoff và Johnson, 1980)
Trong lĩnh vực dạy học ngôn ngữ, thầy dạy và học sinh là nhữngchủ thể tham gia vào quá trình này Đối tượng thầy dạy truyền thụ trithức, hướng dẫn học tập nắm bắt kiến thức và rèn luyện kỹ năng ngônngữ, chủ thể thụ đắc tri thức và vận dụng giao tiếp chính là học sinh.Xét về khía cạnh tâm lý học, học sinh là những cá nhân cụ thể, có điềukiện vật chất, tố chất tâm lý tình cảm, độ tuổi, mức độ hoạt động,phương pháp học tập, khả năng nhận thức, vận dụng độc lập và khácnhau Cá nhân học sinh thông qua các hoạt động tâm lý như tri nhận,lưu nhớ, tư duy và tưởng tượng để học tập, lĩnh hội và vận dụng ngônngữ, đặc biệt là ngôn ngữ thứ hai (ngoại ngữ)
1.7.2.So sánh, đối chiếu ngôn ngữ với việc dạy học ngoại ngữ
Việc nghiên cứu so sánh, đối chiếu ngôn ngữ vốn đã được các nhàngôn ngữ học cấu trúc và tâm lý học hành vi chú ý tới từ những nămthập kỷ 60 của thế kỷ trước, đến nay vẫn còn nguyên các giá trị thiếtthực trong dạy học ngôn ngữ cũng như ngoại ngữ Việc phân tích đốichiếu giúp chúng ta thấy được sự giống nhau và khác nhau trong haingôn ngữ, dự báo được một số mức độ khó, những lỗi sai có khả năngphát sinh và ảnh hưởng của ngôn ngữ mẹ đẻ đối với ngôn ngữ đíchtrong dạy học ngoại ngữ (Lado 1967) Nhưng muốn đánh giá một cáchchính xác hơn, chúng ta cần tham khảo và kết hợp với phạm trù tâm lýtrong ngôn ngữ, làm rõ hơn tầm quan trọng của nhân tố văn hóa dântộc trong ngôn ngữ
1.7.3.Vấn đề phân tích lỗi sai trong dạy học ngoại ngữ
Để khắc phục và bổ sung những bất cập trong việc phân tích đốichiếu ngôn ngữ, phân tích lỗi sai đã được ứng dụng rộng rãi trong dạyhọc ngoại ngữ Lý luận này được tiếp tục phát triển trên cơ sở lý luậntâm lý học nhận thức, tập trung vào việc giải thích và phân tích nhữnglỗi sai mà người học ngoại ngữ thường mắc phải Trong quá trình dạy
153
Trang 26học, người học do không nắm bắt đầy đủ và chính xác những qui luậtcủa ngôn ngữ đích, nên thường qui nạp và suy diễn theo tư duy chủquan của mình, từ đó xuất hiện một hệ thống ngôn ngữ trung chuyển
từ tiếng mẹ đẻ sang ngôn ngữ đích Hệ thống ngữ âm, từ vựng, ngữpháp và đặc trưng văn hóa trong ngôn ngữ trung chuyển này khônggiống với tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích và không cố định, luôn thayđổi theo trình độ của người học và tiệm tiến, kề cận với thói quen sửdụng của ngôn ngữ đích Trạng thái động này giúp chúng ta quan sátđược đặc điểm diễn biến, sự điều chỉnh hành vi ngôn ngữ của ngườihọc theo xu hướng bắt đầu từ lỗi sai chuyển hóa thành chính xác trongquá trình thụ đắc ngôn ngữ, từ đó thấy rõ hơn một loạt nguyên nhânphát sinh lỗi trong mối liên hệ từ những ảnh hưởng tích cực và tiêucực từ tiếng mẹ đẻ, những hạn chế của người học trong việc nắm bắt,rèn luyện kỹ năng và vận dụng tri thức ngôn ngữ đích, sự can thiệpcủa các nhân tố văn hóa, ảnh hưởng từ thái độ và phương pháp củangười học, mức độ chuẩn xác và hợp lý về mặt tri thức, phương pháptruyền thụ, huấn luyện của thầy giáo, sự phù hợp về nội dung giáotrình giảng dạy Trên cơ sở phát hiện ra các nguyên nhân phát sinh lỗi,giúp ích rất nhiều cho việc điều chỉnh và vận dụng có hiệu quả cácphương pháp dạy học
Trong dạy học ngoại ngữ, mặc dù quá trình phân tích lỗi sai có thểphát hiện được nguyên nhân phát sinh lỗi trong thực tiễn dạy học vàtiến hành giải thích để từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục lỗi,nhưng chỉ riêng bản thân quá trình này không thể phản ánh được đầy
đủ toàn bộ quán trình thụ đắc ngôn ngữ của người học, nếu thiếu sự hỗtrợ của quá trình so sánh đối chiếu giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đíchthì việc giải thích một cách chính xác và chi tiết những lỗi sai, mức độkhó sẽ không có đủ sức thuyết phục Vì vậy hai quá trình này luôn bổsung và hỗ trợ cho nhau
1.7.4 Nhân tố văn hóa trong dạy học ngoại ngữ
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa đã giúp chúng ta nhận rõ,muốn mở ra cánh cửa văn hóa thì cần phải có chiếc chìa khóa ngônngữ Ngược lại, một khi đã hội tụ được tri thức văn hóa thì việc họctập ngôn ngữ sẽ có sự hỗ trợ rất lớn, bởi vì tương ứng với mỗi một nềnvăn hóa là một hệ thống qui chuẩn ngôn ngữ Các nghiên cứu có liênquan đều thống nhất quan điểm là sự giống nhau và khác nhau trongngôn ngữ văn hóa của mỗi dân tộc có ảnh hưởng rất lớn trong dạy họcngoại ngữ, bên cạnh đó, đặc điểm tâm lý dân tộc, phương thức tư duy
154
Trang 27cũng có ảnh hưởng tới việc nắm bắt các qui tắc ngữ pháp ngoại ngữcủa người học Thực tiễn giao tiếp liên văn hóa cho thấy, rất nhiềutrường hợp người sử dụng ngôn ngữ giao tiếp do không nắm bắt đượctri thức văn hóa, nên thường sử dụng, áp đặt quy tắc tiếng mẹ đẻ lênđối tượng giao tiếp thuộc nền văn hóa khác, gây ra những chuyển ditiêu cực về mặt ngữ dụng, hay còn gọi là các lỗi sai trong giao tiếp,khiến cho đối phương rất khó chấp nhận Như vậy, nhân tố văn hóadân tộc là một bộ phận không thể thiếu được trong dạy học ngoại ngữ(ngôn ngữ), tuy nhiên không thể truyền tải nổi toàn bộ tri thức vănhóa, mà cần phải có sự lồng ghép, hỗ trợ phù hợp với mục tiêu yêucầu của quá trình dạy học Trong dạy học ngoại ngữ, lớp từ vựng lànơi hội tụ nhiều nhất trầm tích văn hóa văn minh, chính vì vậy dạyhọc từ vựng có tầm quan trọng rất lớn trong việc truyền tải tri thức vănhóa dân tộc Vấn đề giúp người học có được sự thích ứng về văn hóa
để nâng cao hiệu quả học tập ngoại ngữ đã được các nhà nghiên cứu
chú ý tới từ lâu R Brown đã nhận xét: “Nội dung nghiên cứu của mô hình thích ứng văn hóa chính là việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai theo lộ trình tự nhiên, tức là ‘quá trình từng bước thích ứng với một nền văn hóa mới’”12 J Schuman trong nội dung nghiên cứu về thời kỳ thenchốt cho việc truyền thụ văn hóa, cũng đã nhận xét quá trình phụthuộc văn hóa trong học tập ngôn ngữ thứ hai chính là quá trình dầnthích ứng với một nền văn hóa mới Quá trình này từng bước thựchiện qua 4 giai đoạn là: [1] Giai đoạn nhận kích thích (hiếu kỳ): Ngườihọc vừa được tiếp xúc hoặc thâm nhập và môi trường văn hóa khác,
có tâm trạng cảm thấy mới lạ, ngạc nhiên, hào hứng, phấn chấn, rấtmuốn tìm hiểu về nền văn hóa mới này [2] Giai đoạn khủng hoảng:Sau khi trải qua các cảm giác hưng phấn mới lạ, người học bắt đầucảm thấy không quen với các tập quán, con người, sự cách biệt ngônngữ trong nền văn hóa mới, từ đó không ngừng xuất hiện cảm giác lạclõng, cô độc và phiền muộn Có người có thể nảy sinh thái độ tiêu cực,lẩn tránh việc học tập và sử dụng ngôn ngữ thứ hai trong giao tiếp,thậm chí có người còn nảy sinh ý nghĩ chán ghét, bực bội, thù địch,không chịu đựng được về mặt tâm lý, dẫn đến việc từ bỏ học tập Khihọc ngôn ngữ thứ hai, người học thường rơi vào trạng thái chịu “cúsốc văn hóa” này [3] Giai đoạn điều chỉnh: Trải qua giai đoạn chịu
“sốc”, người học bắt đầu biết cách điều chỉnh mối quan hệ cá nhân với
(177-178 页 ) (Lưu Tuần Dẫn luận dạy học tiếng Hán cho người nước ngoài Nxb Đại học Ngôn ngữ Văn hóa Bắc Kinh, 2000 Tr.177-178
155
Trang 28môi trường văn hóa học tập, tìm ra phương pháp thích ứng phù hợpcho bản thân Đồng thời cùng với trình độ ngoại ngữ được nâng cao,
kỹ năng giao tiếp được cải thiện, các cảm giác xuất hiện ở giai đoạntrước dần dần được xóa bỏ, tri thức văn hóa mới cũng được tăngcường [4] Giai đoạn thích ứng: Trải qua giai đoạn điều chỉnh, ngườihọc dần hiểu, quen và trở nên thích ứng với nền văn hóa của ngôn ngữđang học tập Người học không còn chịu ảnh hưởng của nền văn hóakhác biệt, biết nhìn nhận các tri thức văn hóa mới bằng con mắt kháchquan, thậm chí còn có tâm lý hòa đồng để đi tìm hiểu chi tiết hơn, trởnên chủ động trong học tập và giao tiếp, vì vậy có sự tiến bộ vượt bậctrong học tập ngôn ngữ thứ hai (ngoại ngữ)
Quá trình thích ứng với nền văn hóa trên thường diễn ra trongkhoảng thời gian từ một đến một năm rưỡi Hiểu rõ sự ảnh hưởng, đặcđiểm diễn biến tâm lý của người học, có tác dụng hỗ trợ rất lớn trongdạy học ngoại ngữ
Tiểu kết chương 1
1 Chương 1 của đề tài đã dựa trên cơ sở lý luận về mối quan hệ mật
thiết giữa ngôn ngữ và nền tảng văn hóa xã hội để làm sáng tỏ nhữngkhái niệm và nét văn hóa ẩn chứa trong ngôn ngữ
2 Phân định lớp từ vựng chỉ bộ phận cơ thể trong tiếng Hán và tiếng
Việt
3 Xác định nội hàm và chủng loại của ngữ cố định Hán-Việt.
4 Tìm hiểu về sự hiện diện của các từ chỉ bộ phận cơ thể trong ngữ
cố định Hán-Việt
5 Tham khảo các công trình nghiên cứu, bài viết của các học giả
trong nước và ở Trung Quốc để tạo tiền đề tiếp tục nghiên cứu, sosánh chiều sâu ngữ nghĩa của ngữ cố định và lớp từ vựng có chứa từchỉ bộ phận cơ thể trong hai ngôn ngữ Hán-Việt
6 Tham khảo các cơ sở lý luận có liên quan để tạo tiền đề cho các
bước nghiên cứu ứng dụng trong thực tiễn dạy học tiếng Hán tiếptheo
Chương 2
NGHIÊN CỨU NGỮ CỐ ĐỊNH TIẾNG HÁN
CÓ TỪ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ 2.1 Ngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể là thành viên không thể thiếu trong tổng thể ngữ cố định tiếng Hán
Chúng tôi đã sử dụng “汉语熟语词典” (từ điển ngữ cố định tiếng”
156
Trang 29Hán) để thống kê, khảo sát các ngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thểtrong tổng thể ngữ cố định tiếng Hán Lý do vì đây là từ điển mớiđược xuất bản năm 2005, nội dung đã phân chia theo từng chủng loạingữ cố định và các lĩnh vực xã hội, các ngữ cố định được liệt kê lànhững ngữ cố định có tần suất xuất hiện cao, mang tính thực dụng.Kết quả thu được như sau:
Ngữ cố định lượngSố
chung
Loại có chứa từchỉ bộ phận cơ thể Loại khácSố
lượng Chiếmtỉ lệ lượngSố Chiếmtỉ lệThành ngữ 7320 1021 13,95% 6299 86,05%
Yết hậu ngữ 2707 558 20,61% 2149 79,39%Ngạn ngữ/
trong thành ngữ (13,95%) Thứ tự sắp xếp là: Quán ngữ (24,50%) > Tục ngữ (21,23%) > Yết hậu ngữ (20,61%) > Thành ngữ (13,95%).
Tuy nhiên nếu như so sánh về mặt số lượng các ngữ cố định có chứa
157
Trang 30từ chỉ bộ phận cơ thể, thứ tự sắp xếp sẽ phải thay đổi vị trí đảo ngượcnhư sau:
Với tư cách là thành viên không thể thiếu được trong tổng thể ngữ
cố định tiếng Hán, các ngữ cố định có từ chỉ bộ phận cơ thể đươngnhiên hội tụ gần như đầy đủ mọi đặc điểm, tính chất chung của ngữ cốđịnh Chúng tôi lần lượt miêu tả và phân tích như sau:
2.1.1 Nghiên cứu về thành ngữ tiếng Hán có từ chỉ bộ phận cơ thể
2.1.1.1 Nguồn gốc hình thành
Giống như các thành ngữ tiếng Hán nói chung, nguồn gốc hìnhthành nên thành ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể luôn gắn chặt với tiếntrình lịch sử văn hóa lâu đời, phong tục tập quán và đời sống xã hộiTrung Quốc
Thành ngữ có nguồn gốc từ các truyện ngụ ngôn, thần thoại, truyềnthuyết: Ví dụ: “画蛇添足/vẽ rắn thêm chân (vẽ vời vô ích; làm nhữngchuyện vô ích)” Tương truyền mọi người cùng thi vẽ tranh với nhau, ai
vẽ xong trước sẽ được thưởng một bầu rượu ngon Có một người vẽxong một con rắn trước Anh ta thấy mọi người vẫn chưa vẽ xong, liềndương dương tự đắc nói: Sao mọi người vẽ chậm thế, tôi còn có thể vẽthêm chân cho con rắn của tôi mà còn xong trước mọi người nữa Nóixong, anh ta lại cầm bút lên vẽ thêm chân vào cho con rắn của mình.Trong lúc anh ta vẽ chân cho rắn thì một người khác đã vẽ xong tranh,liền chộp lấy bầu rượu và nói: Rắn vốn không có chân, nay anh vẽ thêmchân cho rắn thì không phải là loài rắn nữa Vậy tranh của anh vẫn chưađược vẽ xong Nay tôi đã vẽ xong tranh trước anh rồi Bầu rượu ngonnày phải thuộc về tôi Thành ngữ “画蛇添足 (vẽ rắn thêm chân)” có từcâu chuyện ngụ ngôn này cho thấy làm việc gì nếu thêm thắt tình tiếtkhông đáng có vào sẽ trở thành quá thái và hỏng việc
Thành ngữ có nguồn gốc từ các câu chuyện lịch sử: “身在曹营心
158
Trang 31在汉/thân ở doanh trại Tào Tháo lòng ở đất Hán: người một nơi lòng dạ một nẻo” có nguồn gốc từ tác phẩm “Tam Quốc diễn nghĩa” Quan
Công vì tình thế bức bách phải ở lại trong doanh trại của quân đội TàoTháo Tào Tháo biết ông là một tướng tài nên tìm mọi cách giữ chân lại
để mua chuộc ông đứng về phía mình, nhưng Quan Công nhất mựcmong ngóng về đất Thục (đất Hán) - nơi có Lưu Bị đã cùng ông kếtnghĩa anh em, ông bày tỏ ý nguyện trước sau phải trở về bằng được TàoTháo chẳng còn cách nào khác đành phải để ông đi Từ câu thành ngữnày ta có thể thấy được tâm tư, tình cảm, lòng trung thành của con ngườirất khó bị chi phối, lung lạc, cho dù thân thể có thể giam hãm, cầm tù.Thành ngữ có nguồn gốc từ thơ văn: “慌手慌脚/cuống tay cuống
chân (cuống chân cuống tay; chân tay luống cuống)” có nguồn gốc từ
tiểu thuyết “红楼梦 (Hồng lâu mộng)” hồi tám mươi lăm: 这时候我
看着也是吓得慌手慌脚的了 (lúc này tôi trông thấy mà sợ tới mức cuống tay cuống chân).
Bắt nguồn từ khẩu ngữ dân gian: 指手画脚/chỉ tay chỉ chân: chỉ tay năm ngón.
Chuyển thể từ các ngữ cố định khác sang Ví dụ: thành ngữ 鸡蛋
里挑骨头 (bới tìm xương trong trứng gà: bới lông tìm vết) chuyển thể
từ yết hậu ngữ 鸡蛋里挑骨头——找毛病 (lần tìm sai sót); thành ngữ
一窍不通/một khiếu không thông: dốt đặc cán mai, bắt nguồn từ 擀面
杖 吹 火 (dùng chày cán mỳ thổi lửa)—— 一 窍 不 通 ; 耳 边 风 /gió
thoảng bên tai: nước đổ đầu vịt; nước đổ lá khoai, bắt nguồn từ quán
ngữ 耳边风
Có những thành ngữ bắt nguồn từ nước ngoài, như: 现身说法/
hiện thân thuyết pháp (giáo dục hiện thực; lấy chính bản thân mình để giáo dục thuyết phục người khác), 心花怒放/lòng như nở hoa: mở cờ trong bụng, nở gan nở ruột, 回头是岸/quay đầu lại là bờ (cải tà qui chính; hối hận còn kịp; quay lại còn kịp), là những thành ngữ có nguồn
gốc từ phật giáo Ấn Độ truyền vào Trung Quốc 弱肉——没多大一点强食/kẻ yếu bị
kẻ mạnh ăn thịt: cá lớn nuốt cá bé, là thành ngữ bắt nguồn từ phương
Tây 象牙之塔/tháp ngà voi (nhà văn, những người làm công tác nghệ
thuật thoát li hiện thực, xa rời thực tế) là câu nói của nhà truyền giáo
người Pháp Những thành ngữ như vậy cho thấy sự phát triển, giao lưuvăn hóa và ngôn ngữ giữa Trung Quốc với các quốc gia khác
2.1.1.2 Cấu trúc
Xét về mặt hình thức ngữ âm, thành ngữ có bốn âm tiết chiếm tỉ lệkhá lớn Theo thống kê sơ bộ chiếm tới trên 95% số lượng thành ngữ
159
Trang 32Ví dụ: 掩耳盗铃/bịt tai trộm chuông (tự lừa dối mình, không lừa dối
được người), 雪泥鸿爪/dấu chân chim hồng trên tuyết (dấu vết xưa), 千钧一 发 /ngàn cân treo một sợi tóc: ngàn cân treo sợi tóc Bên
úp vung tròn; ông nói gà, bà nói vịt; râu ông nọ cắm cằm bà kia, 打肿 脸充胖子/đánh xưng mặt giả làm thằng béo (phùng má giả làm thằng mập; mạo xưng là trang hảo hán); Thành ngữ có bảy âm tiết 一个巴
掌拍不向/một bàn tay vỗ không lên tiếng: một cây làm chẳng nên non, 一失足成千古恨/một bước sảy chân để hận nghìn đời (một sai lầm để hận mãi mãi), 不到黄河心不死/chưa đến Hoàng Hà thì lòng chưa nản (ngoan cố; cà cuống chết đến đít vẫn còn cay; chứng nào tật
ấy Quyết tâm cao; quyết tâm làm cho kỳ được); Thành ngữ có tám âm
tiết: 司 马昭 之心 , 路 人皆 知 /lòng dạ của Tư Mã Siêu, người qua
đường đều biết (âm mưu không che dấu ai được), 一叶蔽目, 不见泰 山/một chiếc lá che mắt, không trông thấy Thái Sơn (thấy cây không thấy rừng; chỉ thấy bộ phận không thấy toàn cục; không nhận thức được bản chất của vấn đề), 癞蛤蟆想吃天鹅肉——没多大一点/cóc ghẻ đòi ăn thịt
thiên nga: đũa mốc đòi chòi mâm son; Thành ngữ có chín âm tiết: 泥菩萨落水, 自身难保, 泥菩萨过江, 自身难保/Bồ Tát bùn lội nước, tự
thân mình khó bảo toàn (khó giữ nổi mình), 丈八金刚摸不着头脑;Thành ngữ có mười âm tiết: 一 朝权 在 手 , 便把令 来 行 /một sớm
quyền hành đến tay, liền dùng mệnh lệnh để hành sự: cờ đến tay ai người nấy phất 在人矮檐下, 怎敢不低头/dưới hiên nhà người lùn, buộc phải cúi đầu (phải chấp nhận thực tế).
Thông thường thành ngữ có cấu trúc hình thức bốn âm tiết chiếm
số lượng tương đối lớn Với hình thức này giúp tạo ra sự cân đối, tiếttấu hài hòa Có một số thành ngữ có kiểu cấu trúc 2 + 2, 1 + 3 hoặc 3+ 1, nhưng bước âm vẫn có sự thống nhất cao Ví dụ: 画龙/点睛 (vẽrắn/thêm chân) (kết cấu 2 + 2), 目/不识丁 mắt/không nhìn thấy chữ
160
Trang 33đinh (mù chữ; dốt đặc; dốt đặc cán mai; một chữ bẻ đôi cũng không biết) (kết cấu 1 + 3).
Xét về mối quan hệ trong cấu trúc nội bộ Thành ngữ, ta có thểphân chia thành Thành ngữ có kết cấu đơn nhất và Thành ngữ có kếtcấu lồng ghép Ví dụ: 上下一心/trên dưới một lòng: trên dưới đồng lòng, là những Thành ngữ có kết cấu đơn nhất; Thành ngữ có kết cấu
lồng ghép lại có thể chia nhỏ ra thành Thành ngữ có cấu trúc ghépsong song, Thành ngữ có cấu trúc ghép chính phụ, Thành ngữ có cấutrúc ghép chủ vị, Thành ngữ có cấu trúc ghép kiểu chi phối, Thànhngữ có cấu trúc ghép kiểu bổ sung, Thành ngữ có cấu trúc ghép liênđộng từ, Thành ngữ có cấu trúc ghép dạng kiêm nhiệm thêm chứcnăng Ví dụ:
Thành ngữ có cấu trúc ghép song song: 手舞足蹈/tay múa chân
nhảy: khoa tay múa chân, 面红耳赤/mặt đỏ tai đỏ: mặt đỏ tía tai, 嘴
硬 心 软 /miệng cứng tim mềm (nói lời cứng rắn những trong lòng mềm yếu)
Thành ngữ có cấu trúc ghép chính phụ: 满腹经纶/kinh luận đầy
bụng: bụng một bồ chữ, 菩萨心肠/tim ruột Bồ Tát (lòng từ bi), 手足 之情/tình thể tay với chân: tình như anh em, 口耳之学/việc học bằng miệng và tai (chỉ có một số kiến thức mà tai nghe thấy, miệng nói ra, không có kiến thức thật), 须眉男子/nam nhi mày râu: đấng mày râu; đáng nam nhi
Thành ngữ có cấu trúc ghép chủ-vị: 目不识丁/mắt không nhìn
thấy chữ đinh: dốt đặc cán mai, 胸有成竹/ngực có sẵn cây tre (định liệu trước; trong lòng đã có sẵn dự định; đã tính trước mọi việc), 马
不停蹄/ngựa không dừng vó (tiến tới không ngừng)
Thành ngữ có cấu trúc động-tân: 包藏祸心/ẩn chứa lòng hiểm
họa: lòng lang dạ sói; lòng lang dạ thú; rắp tâm hại người; bụng bồ dao găm, 免开尊口/xin miễn mở cái miệng tôn quí (làm ơn ngậm miệng lại)
Thành ngữ có cấu trúc ghép dạng bổ sung: 轻于鸿毛/nhẹ tựa lônghồng, 卧薪尝胆 /nằm củi nếm mật: nằm gai nếm mật (chịu đựng mọi
gian truân vất vả)
Thành ngữ có cấu trúc ghép dạng liên động từ: 画龙点睛/vẽ rồng
thêm mắt (thêm vài câu quan trọng ở phần then chốt làm cho nội dung bài văn, bài nói càng trở nên phong phú sinh động hơn), 手到擒 来/ tay đến bắt được (làm việc chắc chắn, không tốn công sức đã giả quyết xong ngay)
Thành ngữ có cấu trúc ghép dạng kiêm nhiệm thêm chức năng: 含
161
Trang 34血喷人/ngậm máu phun người (vu không hãm hại người khác; vu oan đặt điều nói xấu để hãm hại người khác), 引火烧身/dẫn lửa đốt thân:
tự chuốc lấy tai họa; rước vạ vào thân, 顺 手 牵羊 /tiện tay dắt dê:
mượn gió bẻ măng
Thành ngữ dạng đảo cấu trúc: đưa tân ngữ lên trước động từ: 一毛
不拔/một chiếc lông không nhổ: vắt chày ra nước; rán sành ra mỡ; đãi cứt gà lấy hạt tấm măn Đưa trạng ngữ về phía sau: 出 以 公
心/xuất phát từ tấm lòng vì cái chung (lấy xuất phát điểm suy nghĩ hành động là lợi ích quốc gia và tập thể)
chữ Ví dụ: “一针见血/một mũi kim là thấy máu: nói trúng tim đen; gãi đúng chỗ ngứa; lời nói sắc bén” (ví với ngôn từ, lời nói sắc xảo, nói ra là trúng tiêu điểm) Có thể thấy các bộ phận của Thành ngữ
mặc dù có sự độc lập nhất định, nhưng ý nghĩa của Thành ngữ lạimang tính chất chỉnh thể, tức là vừa chỉ sự lặp lại bổ sung về mặt ýnghĩa của bộ phận, vừa chỉ ý nghĩa mở rộng hoặc ví von của chỉnh thểThành ngữ
* Tính chất tương đối chặt chẽ cố định về mặt kết cấu
Hình thức kết cấu của Thành ngữ do trải qua quá trình sử dụng lâudài nên trở thành cố định, chặt chẽ Tính chất chặt chẽ cố định về mặtkết cấu trong Thành ngữ thể hiện ở chỗ không được tùy tiện thay đổi
từ trong kết cấu của phần lớn Thành ngữ Ví dụ:“掩耳盗铃 /bịt taitrộm chuông”không được đổi thành “ 掩 目 偷 铃 (bịt mắt trộmchuông)”, “一目了然/một mắt ‘ ’目 nhìn là hiểu hết (vừa xem đã hiểu ngay; liếc qua thấy ngay)” không được đổi thành “一眼了然 (một mắt
‘眼 nhìn là hiểu hết)” Một số ít Thành ngữ có sử dụng các từ cổ’trước đây ngày nay đã trở thành quá xa lạ, nên dần được thay thế bằngmột số từ hiện đại Ví dụ: “口齿伶俐” /miệng răng lanh lợi (ăn nói lưu”
loát) thành cách nói “口角伶俐” (khóe miệng lanh lợi)” Thành ngữ
“杀人不见血 /giết người không thấy máu: giết người không dao (thủ”
162
Trang 35đoạn hại người hết sức hiểm độc, tinh ranh) chuyển thành cách nói:
“杀人不眨眼 /giết người không chớp mắt (người tàn nhẫn, độc ác).”Nguyên nhân của hiện tượng này chính là do kết quả quá trình tự thânphát triển của ngôn ngữ
Hai là, tính cố định về mặt trật tự từ trong phần lớn các Thành ngữcũng không cho phép tùy tiện thay đổi Ví dụ当头一棒/giáng một gậy
vào đầu (đánh đòn cảnh báo, cảnh tỉnh) không được đổi vị trí thành
一棒当头 (một gậy giáng vào đầu); 肉——没多大一点眼愚眉/mắt thị mày ngu dốt
(kiến thức nông cạn) không được đổi vị trí thành 愚眉肉——没多大一点眼 (mày ngu
dốt mắt thịt) Vì một khi trật tự từ đảo khác, thì sẽ đi ngược lại qui luậthình thành do thói quen qui ước chung, đồng thời sự phá vỡ quan hệngữ pháp vốn có trong nội bộ cấu trúc Đương nhiên cần nói rõ là cábiệt một số Thành ngữ có cấu trúc ghép song song trật tự từ có sự thayđổi đôi chút cho phù hợp với qui luật ngữ âm, tuy nhiên số lượngkhông nhiều, không thể làm thành đặc trưng đại diện chung của Thànhngữ Ví dụ: “提心吊胆/nhấc tim treo mật: phập phồng lo sợ; nơm nớp
lo sơ” có thể được đổi thành “吊胆提心/treo mật nhấc tim”; “铭心刻
骨/ghi tim khắc cốt: khắc cốt ghi xương; ghi lòng tạc dạ” có thể được
đổi thành “刻骨铭心/khắc cốt ghi tim”; “伤心惨目/thương tim thảm
mắt (trông thấy mà đau lòng; thảm thương đau xót)” có thể được đổi
thành “惨目伤心 (thảm mắt thương tim)” Cá biệt có thành ngữ có thểrút gọn 画蛇添足/vẽ rắn thêm chân, rút gọn thành 蛇足/chân rắn
* Đặc trưng văn hóa dân tộc trong Thành ngữ
Thành ngữ tiếng Hán luôn phản ánh môi trường địa lý, các vùngmiền Trung Hoa, thể hiện nội hàm lịch sử, truyền thống văn hóa lâu đờicủa Trung Quốc, trong đó tập trung phản ánh đời sống kinh tế, phongtục văn hóa, phương thức tư duy của người dân Trung Quốc Như:Phản ánh lịch sử các triều đại phong kiến trong lịch sử TrungQuốc: 卧薪尝胆/nằm củi nếm mật: nằm gai nếm mật, 身在曹营, 心在
汉/thân ở doanh trại Tào Tháo, lòng dạ hướng về đất Hán: người một nơi, lòng dạ một nẻo
Phản ánh môi trường địa lý, các vùng miền Trung Hoa: 不到黄河心不死/chưa đến Hoàng Hà thì lòng chưa nản, 呆头呆脑/ngẩn đầu
ngẩn óc (đầu óc ngu si; ngờ nghệc đần độn) là thành ngữ khu vực Bắc
Kinh, Thiên Tân phương Bắc thường dùng 木头目脑/đầu mắt não gỗ
(đầu óc ngu si; ngờ nghệc đần độn) là cách nói của vùng Thượng Hải.
Phản ánh cuộc sống kinh tế: 腰缠万贯/eo lưng giắt vạn cọc tiền
163
Trang 36(tiền bạc đầy mình).
Phản ánh các tập tục văn hóa, phương thức tư duy của người dânTrung Quốc, như: 龙眉凤目/mày rồng mắt phượng (hình dung tướng
mạo của người quyền quí khác những người thường).
* Đặc trưng âm tiết (số lượng chữ) nổi trội - 4 âm tiết
Như đã trình bày trong ví dụ ở trên, đại bộ phận Thành ngữ tiếngHán là cụm từ tổ hợp 4 chữ - 4 âm tiết, thậm chí một số Thành ngữvốn ban đầu không có số lượng chữ - âm tiết là 4, nhưng về sau trongquá trình sử dụng được giản lược thành Thành ngữ 4 chữ - 4 âm tiết.Đây là một đặc trưng rõ nét của Thành ngữ tiếng Hán
2.1.2 Nghiên cứu quán ngữ tiếng Hán có từ chỉ bộ phận cơ thể
2.1.2.1 Nguồn gốc hình thành
Phần lớn quán ngữ tiếng Hán có nguồn gốc từ việc vận dụng ngônngữ để ví von Một số quán ngữ được chuyển đổi từ các từ ngữ chỉngành nghề sang Ví dụ: trong học tập nói 吃鸭蛋/ăn trứng vịt (bị điểm 0).
Một số quán ngữ có nguồn gốc từ các sự kiện lịch sử Ví dụ: 执牛耳/giữ tai bò, trước đây các nước chư hầu cùng nhau liên kết lập hiệpước liên minh uống máu ăn thề, chủ liên minh trực tiếp cắt tai bò đểlấy máu, về sau này biểu thị địa vị lãnh đạo ở một lĩnh vực nào đó
Có quán ngữ xuất phát từ các thư tịch cổ Ví dụ: 眼中钉/cái đinh
trong mắt: cái gai trong mắt; cái giằm trong thịt, trong “新五代史·赵
Một số quán ngữ được rút gọn, chuyển thể từ ngạn ngữ hoặc yếthậu ngữ Ví dụ: 牵鼻子/dắt mũi (bị dẫn dắt, sai khiến), 抱佛脚/ôm chân phật (nước đến chân mới nhảy; bình thường không chịu chuẩn bị trước, có việc mới cuống quýt đối phó) vốn được rút gọn từ câu “平时
不烧香, 急来抱佛脚 (ngày thường không thắp hương, lúc cuống lên”mới đến ôm chân phật)
Quán ngữ du nhập từ phương ngôn/ tiếng địa phương Ví dụ: 老鼻
子 /cái mũi cũ (quá nhiều; ngập đầu) được du nhập từ tiếng địa
phương miền bắc Trung Quốc
2.1.2.2 Cấu trúc
164
Trang 37Hình thức ngữ âm của quán ngữ chủ yếu là 3 âm tiết Ví dụ: 耳边风/gió bên tai; 吹牛皮/thổi da bò (ba hoa khóac loác; bốc phét); 露马
脚 /lộ chân ngựa (lộ chân tướng); 挖墙脚 /đào chân tường (thọc gậy bánh xe; phá hoại cơ sở); 抓辫子/túm đuôi tóc (nắm lấy điểm yếu để làm cơ sở công kích); 拖后腿/gây vướng víu chân từ phía sau (gây trở ngại; cản trở; níu kéo) Tuy nhiên cũng không hoàn toàn cố định trong
số lượng âm tiết này, còn có quán ngữ 2 âm tiết Ví dụ: 丢脸/ mất mặt
(mất thể diện); Quán ngữ 4 âm tiết Ví dụ: 寡妇脸子/mặt của quả phụ
(vẻ mặt khắc khổ); 骨子里头/trong xương (thực chất bên trong; chuyện riêng tư); 狐狸尾巴/đuôi con cáo: giấu đầu hở đuôi; 火烧眉毛/lửa đốt lông mày (tình hình gấp rút; việc cấp bách); 打马虎眼/con mắt làm ngơ (làm ngơ; bỏ qua); Quán ngữ 5 âm tiết Ví dụ: 脚踏两只船/chân giẫm lên hai thuyền: bắt cá hai tay; 断尾巴 蜻蜓/chuồn chuồn đứt đuôi (có đầu không có cuối; đã ra đi là không trở lại); Quán ngữ 6 âm tiết Ví
dụ: 打肿脸充胖子/đánh sưng mặt để làm người béo: giả dạng; 吹胡子
瞪眼睛/thổi râu trừng mắt (dáng vẻ giận dữ); 摸着老虎屁股/sờ mông
hổ (làm việc nguy hiểm); 驴唇不对马嘴/môi lừa không khớp được với mõm ngựa: râu ông nọ cắm cằm bà kia; đầu Ngô mình Sở; 睁只眼闭只 眼/mở một mắt nhắm một mắt (cố tình làm ngơ, bỏ qua); Quán ngữ 10
âm tiết Ví dụ: 鼻子不是鼻子, 脸不是脸/ mũi không phải là mũi, mặt
không phải là mặt: đầu cua tai nheo; 鼻子不是鼻子, 眼不是眼/mũi
không phải là mũi, mắt không phải là mắt: đầu cua tai nheo.
Xét từ cấu trúc quan hệ nội bộ, hình thức kết cấu của quán ngữbao gồm: dạng kết cấu song song, chính phụ, chủ vị, động tân (bổ)
Kiểu kết cấu quan hệ chủ vị Ví dụ: 火烧眉毛/lửa thiêu lông mày
(tình hình nguy cấp)
Kiểu kết cấu quan hệ động tân (bổ) Ví dụ: 拍马屁/vỗ mông ngựa
(nịnh bợ); 吹牛皮/thổi da bò (ăn nói khoác loác)
Trang 38nghĩa ví von Lúc đầu tưởng chừng như là mang ý nghĩa của một kếtcấu tập hợp từ, nhưng qua sự định hình ví von, ý nghĩa mặt chữ sẽđược khái quát, cô đọng trở thành ý nghĩa chỉnh thể Ví dụ: 脚踏两 只
船/chân giẫm lên hai thuyền: Bắt cá hai tay
Tính cô đọng về mặt ý nghĩa trong Quán ngữ được khái quát ở cấp
độ rất cao, từ ý nghĩa mặt chữ chuyển thể qua ý nghĩa ví von mở rộngtrở thành ý nghĩa chỉnh thể Tức là ý nghĩa mà quán ngữ biểu thị làmột chỉnh thể không thể phân tách ra được, không phải là tổ hợp kếthợp nghĩa các từ một cách giản đơn và thường thì không thể trực tiếpgiải thích nghĩa qua mặt chữ Khi sử dụng, ý nghĩa mặt chữ đã đượcchuyển hóa thành một dạng hàm ý trừu tượng sâu sắc hơn Ví dụ: 狗
腿子/cái đùi chó (tay sai, chó săn)
Mặc dù quán ngữ mang đặc điểm tương đối ổn định về kết cấu,nhưng vẫn có thể thêm, bớt hoặc thay đổi một số thành phần riêng biệtnào đó Thể hiện sự linh hoạt về mặt cấu trúc và ảnh hưởng của ýnghĩa mặt chữ tới ý nghĩa ví von trong quán ngữ Ví dụ: “拖 后
”
腿 (kéo chân từ phía sau: gây cản trở) → “扯后腿 (giữ chân từ phía”sau), “抓辫子 (tóm dải tóc: nắm điểm yếu) → “” 抓你的辫子 (tóm”dải tóc của nó), 吹牛皮 (thổi da bò: nịnh bợ) → (牛皮吹得山响) (thổi
da bò vang khắp núi)
Sắc thái biểu cảm trong quán ngữ rất rõ nét Phần lớn mang hàm ýtiêu cực (nghĩa xấu), thể hiện sắc thái tình cảm phủ nhận, khinh bỉ, bàixích Ví dụ: 红眼病/bệnh đau mắt đỏ: thói đố kị, ghen ăn tức ở Ngoài
ra quán ngữ thường mang phong cách khẩu ngữ, có tính thông tục, dídỏm, mọi người rất hay sử dụng trong giao tiếp hàng ngày
Số lượng âm tiết trong quán ngữ bao gồm: Hai âm tiết: 丢脸/mấtmặt Ba âm tiết chiếm số lượng lớn 抓辫子/túm đuôi tóc: nắm điểm yếu 拖后腿/kéo chân từ phía sau: gây cản trở; 狗腿子/cái đùi chó: làm tay sai Bốn âm tiết 打马虎眼/con mắt làm ngơ: làm ngơ; giả dạng không biết; 不要脸皮/không cần da mặt: mặt trơ mày dày; trơ trẽn, vô liêm sỉ Năm âm tiết 脚踏两只船/chân bước lên hai chiếc
thuyền: bắt cá hai tay; 白脚花狐狸/con cáo có hoa chân trắng: ngồi không nóng chỗ, người thích hoạt động Sáu âm tiết 睁一只眼 闭一只 眼/mở một mắt nhắm một mắt: nhắm mắt làm ngơ.
2.1.3 Nghiên cứu về yết hậu ngữ tiếng Hán có từ chỉ bộ phận cơ thể
2.1.3.1 Nguồn gốc hình thành
Yết hậu ngữ có nguồn gốc từ các sinh hoạt trong cuộc sống và cácsáng tác của quần chúng Còn có tên gọi khác về Yết hậu ngữ được sử
166
Trang 39dụng, như “Câu nói bỏ lửng”, “cách nói treo”, “cách nói dừng vế phíasau”
Phần lớn yết hậu ngữ là các sáng tác cửa miệng của người dân, vìthế các sự vật trong cuộc sống sinh hoạt thường nhật luôn là nguồnsáng tác chủ yếu Ví dụ: 聋子的耳朵——样子货 (tai của thằng điếc
- hàng mẫu), 瞎子逛街——目中无人——目中无人 (thằng mù đi dạo phố
-trong mắt không có ai)
Khi nguồn sáng tác yết hậu ngữ trong cuộc sống sinh hoạt thườngnhật không đáp ứng đầy đủ, con người bắt đầu sử dụng sức tưởngtượng, hư cấu phong phú của mình tìm đề tài sáng tác từ các câuchuyện có liên quan tới các nhân vật lịch sử, các câu chuyện truyềnthuyết thần thoại và tiểu thuyết mà mọi người đều thông thuộc, nếuhiểu rõ bối cảnh lịch sử và nội dung các câu chuyện, thì chúng ta mớinắm bắt được các yết hậu ngữ này Ví dụ: 猪八戒演讲——大嘴说——大嘴说 大
话 (Chư Bát Giới diễn thuyết - mồm rộng nói tiếng to), 孔夫子挂 腰
là đáp án giải câu đố, đây chính là thành phần quan trọng trong Yếthậu ngữ Thành phần phía sau có thể giải thích một cách trực tiếp,cũng có thể ngầm ví von, ẩn dụ, hướng tới biểu đạt một ý nghĩa khác
Ví dụ:
——
兔子的尾巴 长不了(đuôi của con thỏ - không dài ra nổi:
không phát triển được nữa).
——
擀面杖吹火 一窍不通 (dùng chày cán mỳ thổi lửa - một
khiếu không thông: đầu óc ngu muội).
Trang 40khác/Tay’không nhận ra con người thực/Tay’không nhận ra người ngay
kẻ gian/Tay’không biết người tốt kẻ xấu).
——
六窍皆通 一窍不通 (sáu lỗ đều thông - một khiếu không
thông: đầu óc ngu muội).
镜子挂在后脑勺 只顾别人, 不照自己 (gương treo sau gáy
- chỉ lo cho người ngoài, không lo cho mình).
2.1.3.3 Đặc điểm
Yết hậu ngữ được sử dụng nhiều trong khẩu ngữ Thường thì giữahai thành phần Yết hậu ngữ được tạm ngừng phát âm và người phátngôn sẽ không nói ra vế phía sau của Yết hậu ngữ, mà để cho ngườinghe tự suy ngẫm tìm ra ý nghĩa của lời nói, vì vậy mà người TrungQuốc gọi hiện tượng ngôn ngữ này là “Yết hậu ngữ” - có nghĩa làngừng lại câu nói phía sau hoặc là câu nói bỏ lửng
Yết hậu ngữ tiếng Hán chia thành hai thể loại chính, đó là Yết hậungữ mang nghĩa ví von, ẩn dụ và Yết hậu ngữ mang nghĩa hài âm(mượn các từ ngữ đồng âm hoặc cận âm)
Đối với Yết hậu ngữ mang nghĩa ẩn dụ, ví von thì vế phía trước làmột sự so sánh ví von, vế phía sau đưa phần giải thích cho nội dung vếphía trước Ví dụ:
诸葛亮皱眉头-计上心来 (Gia Cát Lượng chau đầu mày
-trong bụng đã có kế).
腿肚子贴灶王爷 人走家搬 (bụng chân dán hình ông Táo
quân - người phải đi nhà phải chuyển).
Đối với Yết hậu ngữ mang nghĩa hài âm thì vế phía sau thườngmượn các từ ngữ đồng âm hoặc cận âm để biểu đạt ý nghĩa theo hìnhthức chơi chữ, tạo ra hình thức ý tại ngôn ngoại Ví dụ: 旗杆上绑鸡毛 好大的掸 (胆) 子 (buộc lông gà trên cột cờ - gan to tày trời): 掸được thay bằng từ (胆) Nếu giữ nguyên từ 掸 thì sẽ mang nghĩa 好大的掸子 (cái phất trần rất to)
猪八戒的脊梁 悟 (无) 能之背 (辈) (cột sống của Chư Bát Giới
- thế hệ vô dụng): 悟 được thay bằng từ (无), 背 được thay bằng từ
(辈) Nếu giữ nguyên từ 悟 và 背 thì sẽ mang nghĩa 悟能之背 (cáilưng của Ngộ Năng)
——
空棺材出葬——目(木)中无人 目(木)中无人 (đưa quan tài trống đi chôn
-trong mắt không có ai): 木 được thay bằng từ 目 Nếu giữ nguyên từ
168