LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ngành giáo dục đang đặt ra một yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáodục hơn bao giờ hết, trong tất cả những ngành học và bậc học.Bước đầu là đổi mớicăn bản toàn
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
Có đính kèm:Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2013 -2014
x
Trang 2SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
––––––––––––––––––
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1 Họ và tên: Dương Trúc Quỳnh
2 Ngày tháng năm sinh: 16 – 8 – 1979
3 Nam, nữ: Nữ
4 Địa chỉ:Tổ 5 - Ấp 9 – Xã Xuân Tây – Huyện Cẩm Mỹ - Tỉnh Đồng Nai
5 Điện thoại:0613713267 ( Cơ quan) / ĐTDĐ: 0908586642
7 Chức vụ: Tổ trưởng tổ Vật lí - KTCN
8 Nhiệm vụ được giao: Giảng dạy môn Vật lí và chủ nhiệm lớp 11A2
9 Đơn vị công tác: Trường THPT Sông Ray
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vịcao nhất: Cử Nhân vật lí
- Năm nhận bằng: 2004
- Chuyên ngành đào tạo: Vật lí Hạt nhân
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy môn Vật lí THPT
Số năm có kinh nghiệm: 09
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
1 Phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường Tổ chức ngoại khóa giáo dục bảo vệ môi trường (Năm học 2009 - 2010)
2 Thiết kế ma trận và biên soạn đề kiểm tra dưới hình thức TNKQ môn vật lí lớp 11 chương trình chuẩn kết hợp giảm tải (Năm học 2011 – 2012)
3 Ứng dụng phần mềm microsoft excel phiên bản 2007 trong nhận xét đánh giá kết quả dạy và học (Năm 2012 -2013)
Trang 3ĐÁNH GIÁ DẠY - HỌC TỪ PHƯƠNG PHÁP RA ĐỀ KIỂM TRA DƯỚI HÌNH
THỨC TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngành giáo dục đang đặt ra một yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng giáodục hơn bao giờ hết, trong tất cả những ngành học và bậc học.Bước đầu là đổi mớicăn bản toàn diện chương trình, SGK phổ thông từ năm 2015 theo yêu cầu của BộGD&ĐT, thì “mắt xích” cần phải tập trung, nỗ lực nhiều nhất, đầu tư nhiều thời gian,trí tuệ, tiền bạc nhất chính là khâu đổi mới cách thức kiểm tra đánh giá học sinh thôngqua đó đánh giá kết quả dạy – học
Chính vì thế, việc KTĐG là bộ phận không thể thiếu của quá trình dạy học Từkết quả kiểm tra, GV và HS có thể phát hiện những sai sót, những lỗ hổng về kiếnthức, kỹ năng, phương pháp… trong việc dạy của GV và học của HS, từ đó giúp GV
và HS tự điều chỉnh hoạt động dạy và hoạt động học tập tiếp theo Tức là, kết quảKTĐGlà một trong những sản phẩm giữ vai trò thiết yếu phản ánh được chất lượng
dạy và học, nó ảnh hưởng trực tiếp đếnchức năng tiến hành những tác độngcải tiến và
phát triển thường xuyên chất lượng các hoạt động sư phạm, nó còn là cơ sở là thước
đo thành tích của HS, GV, tổ bộ môn, nhà trường và cả hệ thống giáo dục của nướcnhà
Vì vậy, việc thiết kế quy trình KTĐG phải thực hiện liên tục, đồng bộ, có tính
hệ thống, có luận cứ khoa học, phải được chuẩn hóa, luôn có sự cải tiến - sáng tạo linhhoạt, phù hợp với đặc điểm của từng bộ môn và đối tượng HS
Qua 05 năm thực hiện KTĐG kết quả dạy và học dưới hình thức TNKQ, tôinhận thấy: đề kiểm tra được thiết kế biên soạn có khung ma trận, theo chuẩn kiến thức
kỹ năng (kết hợp giảm tải đối với chương trình chuẩn) đã góp phần phản ánh được kếtquả dạy và học với những ưu điểm vốn có của nó Song kết quả - những con điểm saumột bài kiểm tra như vậy, chưa đánh giá được hoặc rất khó khăn để đánh giá hoặcđánh giá được nhưng độ tin cậy không cao về mức độ lĩnh hội kiến thức của HS, điều
đó ảnh hưởng rất lớn đến kết quả dạy – học
Với vai trò là GV trực tiếp giảng dạy và là tổ trưởng tổ bộ môn tôi nhận thấy,đối với những môn học sử dụng hình thức kiểm tra TNKQ để nhận xét đánh giá kết
quả dạy và học thì ta còn phảibố cục lại đề kiểm tra TNKQ theo từng cấp độ và điểm phải được thể hiện rõ theo từng cấp độ, sau đó kết hợp thống kê điểm số để làm cơ
sở đánh giá nhận xét dạy – học Khi đó, kết quả ấy mới thể hiện đầy đủ và rõ ràngnhững thông tin mà những người làm công tác giáo dục luôn mong đợi Qua những
yêu cầu đặt ra, tôi đề xuất SKKN về “Đánh giá kết quả dạy – học từ phương pháp
ra đề kiểm tra dưới hình thức trắc nghiệm khách quan”.
Trang 4II CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lí luận
Nhận xét đánh giá trong giáo dục thì được tiếp cận từ nhiều hướng: mục đích,yêu cầu, nội dung của một phạm vi hoạt động cụ thể, một bình diện khái quát; theohướng nhấn mạnh của mục tiêu, theo hướng nhấn mạnh về tính chất, về quy trình,…
Khái quát từ những nhận xét đánh giá và định nghĩa về đánh giá, Hoàng ĐứcNhuận và Lê Đức Phúc trong cuốn “ Cơ sở lí luận của việc đánh giá chất lượng học
tập của học sinh phổ thông đã đưa ra định nghĩa sau đây “Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lí giải kịp thời, có hệ thống thông tin và hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động tiếp theo”
Từ định nghĩa khái quát trên về đánh giá trong giáo dục hai tác giả đã đưa ra
định nghĩa về đánh giá kết qủa học tập của học sinh “Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ hơn”
Theo PGS.TS Nguyễn Công Khanh Giám đốc trung tâm ĐBCLGD&KT,
Trường ĐNSPHN“ kiểm tra đánh là bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy học bởiđối với người giáo viên, khi tiến hành quá trình dạy học phải xác định rõ mục tiêu của bài học, nội dung và phương pháp cũng như kỹ thuật tổ chức quá trình dạy học sao cho hiệu quả Muốn biết có hiệu quả hay không, người giáo viên phải thu thập thông tin phản hồi từ học sinh để đánh giá và qua đó điều chỉnh phương pháp dạy, kỹ thuật dạy của mình và giúp học sinh điều chỉnh các phương pháp học”.
Theo khoa học giáo dục: kiểm tra là một khâu của quá trình đánh giá Trong
quá trình dạy học, kiểm tra – đánh giá là một thành phần của quá trình dạy học, đảmnhận một chức năng lí luận dạy học cở bản, chủ yếu không thể thiếu được trong quátrình này Kiểm tra có 3 chức năng bộ phận liên kết, thống nhất, thâm nhập vào nhau
và bổ sung cho nhau đó là: đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh
Về mặt lí luận dạy học: kiểm tra có vai trò thông tin ngược trong dạy - học, nó
cho biết những thông tin, kết quả về quá trình dạy của thầy và quá trình của học trò để
từ đó có những quyết định cho sự điều khiển tối ưu của cả thầy lẫn trò Học sinh sẽhọc tốt hơn nếu thường xuyên được kiểm tra và được đánh giá một cách nghiêm túc,công bằng với kĩ thuật tốt và hiệu nghiệm
Trang 52 Thực tiễn
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh có nhiều hình thức, trong đóTNKQ là một trong những hình thức được nhiều GV, nhiều môn học, cấp học, bậchọc lựa chọn Tuy nhiên qua nhiều năm thực hiện tôi nhận thấy, với cách biên soạn và
bố cục đề kiểm tra TNKQ theo cách lâu nay vẫn sử dụng, chưa phát huy được hết các
ưu điểm vốn có của kiểm tra TNKQ Cụ thể là: chưa đánh giá được rõ ràng các mức
độ nhận thức của học sinh (cấp độ 1, cấp độ 2, cấp độ 3, cấp độ 4), nhược điểm nàyảnh hưởng rất nhiều đến việc đánh giá và điều chỉnh phương pháp kỹ năng dạy và họccủa GV và HS
Để thực hiện “đánh giá kết quả dạy - học từ phương pháp ra đề kiểm tra dưới hình thức trắc nghiệm khách quan” - trên cơ sở ta đã có quy trình biên soạn đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan theo hướng dẫn của Bộ GD & ĐT(Tài liệu bồi dưỡng cán
bộ quản lí và giáo viên biên soạn đề kiểm tra, xây dựng thư viện câu hỏi và bài tập môn Vật lí cấp THPT- TS.Vũ Đình Chuẩn và ThS Nguyễn Trọng Sửu – NXBGD – 2011)đạt hiệu quả tối ưu tôi đề xuất: cần bố cục lại đề kiểm tra theo từng cấp độ từ thấp đến cao(cấp độ 1, cấp độ 2, cấp độ 3, cấp độ 4), trong mỗi phần vẫn thực hiện
trộn các câu hỏi – đáp án, khi chấm bài thực hiện chấm điểm theo từng cấp độ rồicộng lại ta có điểm của bài kiểm tra Để nhận xét đánh giá ta lập bảng thống kê điểm
theo cấp độ, vẽ đồ thịứng với điểm từng cấp độ và đồ thị tổng điểm bài kiểm tra (ứng dụng phần mềm microsoft excel), từ kết quả đó ta có đủ cơ sở để nhận xét đánh giá và
có hành động tiếp theo cho việc dạy – học.Với vai trò là tổ trưởng bộ môn, việc sửdụng phương pháp ra đề kiểm tra TNKQ theo cách này giúp tôi rất nhiều trong việc sosánh kết quả dạy - học của các GV trong Tổ, kết quả đó giữ vai trò then chốt trongđánh giá năng lực công tác của người giáo viên
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1 Biên soạn đề kiểm tra TNKQ theo chuẩn kiến thức kỹ năng (kết hợp giảm tải với đối tượng HS thuộc chương trình chuẩn), có bố cục câu hỏi và điểm số theo từng cấp độ
Quy trình và cách biên soạn đề kiểm tra TNKQ theo hướng đổi mới kiểm trađánh giá đã được các Sở GDĐT chỉ đạo các trường phổ thông hướng dẫn thực hiện từnăm học 2010-2011 nên tất cả GV đã thuần thục, vì vậy tôi chỉ nêu điểm cải tiếntrong khâu biên soạn đề kiểm tra để phục vụ ý tưởng đề tài
Ví dụ: Biên soạn đề kiểm tra học kì I môn vật lí lớp 11 chương trình chuẩn, hình
thức kiểm tra TNKQ bốn lựa chọn (A B C D.), số lượng câu hỏi: 40 câu TNKQ
KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA
Trang 6- Vận dụng được định luật Cu- lông để giải được các bài tập đối với hai điện tích điểm.
1câu 0,25đ
[1 câu]
- Vận dụng được thuyết êlectron
để giải thích các hiện tượng nhiễm điện.
1câu 0,25đ
độ điện trường.
- Vận dụng công thức cường độ điện trường của điện tích điểm để giải được các bài tập đối với điện trường của 1 điện tích điểm.
[1 câu]
- Giải được bài toán về: tìm vị trí điện trường triệt tiêu và nguyên lí chồng chất điện trường đối với 2 điện tích điểm.
[2 câu]
4 câu 1,0đ
[1 câu]
2 câu 0,5đ
hiệu điện thế giữa
hai điểm của điện
trường đó Nhận
biết được đơn vị
đo cường độ điện
trường.
- Phát biểu được định nghĩa hiệu điện thế giữa hai điểm của điện trường và nêu được đơn vị đo hiệu điện thế.
- Vận dụng mối quan hệ giữa công, điện thế và hiệu điện thế để giải các bài tập đơn giản
[1 câu]
- Giải được bài tập về chuyển động của một điện tích dọc đường sức của một điện trườngđều.
[1 câu]
2 câu 0,5đ
và nhận biết được
- Vận dụng đặc điểm, ý nghĩa và tính chất của tụ điện để đi tìm 2 câu
Trang 7điện và mọi điện
trường đều mang
12 (3,0đ )
- Vận dụng được biểu thức
ξ= A
q để tính
suất điện động hoặc A hoặc q.
[1 câu]
2 câu 0,5đ
[1 câu]
- Vận dụng được biểu thức
A ng=ξ.q=ξ I t
P ng=ξ I
- Vận dụng được biểu thức
Q=I2Rt
[2 câu]
4 câu 1,0đ
[1 câu]
- Vận dụng được biểu thức
Trang 8- Vận dụng được biểu thức
[1 câu]
2 câu 0,5đ
[2 câu]
- Vận dụng kết hợp kiến thức của chương giải bài toán về toàn mạch. [2 câu]
4 câu 1,0đ
17 4,25đ 42,5
- Nêu được hiện tượng siêu dẫn
là gì. [1 câu]
- Nêu được điện trở suất của kim loại tăng theo nhiệt độ.
[1 câu]
2câu 0,5đ
- Phát biểu được định luật Fa-ra-đây về
- Mô tả được hiện tượng dương cực tan.
- Nêu được một
số ứng dụng của hiện tượng điện phân.
- Vận dụng định luật Fa-ra-đây để giải được các bài tập đơn giản
về hiện tượng điện phân.
[1 câu]
3 câu 0,75đ
Trang 9điện phân và viết được hệ thức của định luật này. [1 câu]
[1 câu]
- Nêu được điều kiện tạo ra tia lửa điện.
- Nêu được điều kiện tạo ra hồ quang điện và ứng dụng của hồ quang điện.
[1 câu]
2 câu 1,0đ
[1 câu]
- Nêu được cấu tạo, công dụng của điôt bán dẫn.
[1 câu]
- Nêu được cấu tạo của lớp chuyển tiếp p – n
và tính chất chỉnh lưu của nó.
[1 câu]
- phân biệt được
hướng của điện trường ngoài và hướng của điện trường do lớp tiếp xúc.
[1 câu]
4 câu 1,0đ
8 (2 đ)
20 %
12 ( 3 đ) 30%
8 (2 đ)
20 %
40 10đ
100%
Sau khi đã có khung ma trận, GV biên soạn hoặc lấy từ ngân hàng câu hỏi trắc
nghiệm đúng và đủ số câu theo từng cấp độ(theo cột dọc của khung ma trận), thực
hiện trộn đề TNKQ - đa số các trường dùng phần mềm trộn đề Mcmix Khi trộn đề tachọn chế độ trộn từng phần (từng cấp độ) hoặc trộn thủ công từng cấp độ rồi sau đóghép lại, sau khi đã hoàn tất việc trộn đề thì bố cục đề kiểm tra dành cho HS có dạngnhư sau:
Bảng 1: Diễn giải hình thức bố cục đề kiểm tra theo cấp độ
(Thông tin tiêu đề)
Cấp độ 1 (12 câu, 3 điểm): từ câu 1 đến câu 12
Trang 10(Thông tin tiêu đề)
-Hết -2 Chấm bài kiểm tra và trả kết quả - điểm.
Cách 1: Chấm thủ công – cách này được dùng ở hầu hết các trường phổ thông
- Với cách chấm thủ công thì khó có thể đưa ra được mẫu chấm chung chocác trường vì còn tùy thuộc vào mẫu phiếu trả lời trắc nghiệm của từng trường, từng
bộ môn, từng GV Nhưng nhìn chung thì phiếu trả lời TNKQ luôn có số câu liên tục(trừ loại đề kiểm tra có phần chung, phần riêng), vì vậy ta có thể đánh dấu phân chiacác cấp độ ngay trên mẫu đáp án chấm bài, thao tác này phục vụ cho việc xuất điểm raphiếu điểm của từng cấp độ
Mẫu đáp án chấm bài (tham khảo)
-Phiếu điểm cho từng GV - dạy bộ môn của lớp và cho từng lớp có dạng:
Bảng 2: Mẫu phiếu điểm
(Thông tin tiêu đề)
Trang 11Cách 2: Chấm TNKQ bằng máy chấm thi trắc nghiệm TestPro – phần mềm Mr Test.
Theo tôi biết thì hầu như các trường phổ thông vẫn chấm kiểm tra TNKQ bằngcách chấm thủ công.Vì kinh phí đầu tư cho cơ sở vật chất ở các trường phổ thông
chưa cho phép trang bị máy chấm thi trắc nghiệm.Nhưng qua các phương tiện thông
tin tôi được biết, máy chấm kiểm tra TNKQ có thể thay thế cách chấm thủ công nhưtrên.Vì vậy, nếu các trường phổ thông được trang bị máy chấm thi TNKQ thì xemnhư đã giải quyết 2/3 yêu cầu việc trả kết quả từ kiểm tra
3 Ứng dụng phần mềm Microsoft excel thống kê trả kết quả và vẽ đồ thị
- Bảngđiểm theo từng cấp độ và điểm tổng theo lớp
Ví dụ: Bảng điểm đạt được của lớp 11A8
Bảng 3:Bảng điểm theo từng cấp độ và điểm tổng theo lớp.
Sở GDĐT Đồng Nai ĐIỂM KIỂM TRA HỌC KÌ I NĂM HỌC 2013 -2014 Trường THPT Sông Ray MÔN: VẬT LÍ - LỚP: 11A8
STT Họ và tên Điểm đạt được ở mỗi cấp độ
Trang 1338 Nguyễn Viết Sum 1 2 1.75 1 5.8
điểm cấp độ 1 (tối đa 3đ)
- Cấp độ 1:Có 70% HS đạt 1,5 điểm trở lên, chứng tỏ đa số HS nhận biết được
ý chính của chủ đề
Đồ thị2:
Trang 141 3 5 7 9 11 13 15 17 19 21 23 25 27 29 31 33 35 37 390
- Cấp độ 2:Trên 90% HS đạt 1,0điểm trở lên, chứng tỏ đa số HS thông hiểu được nội dung của chủ đề.
Đồ thị3:
1 3 5 7 9 11 13 15 17 19 21 23 25 27 29 31 33 35 37 390
- Cấp độ 3: 70% học sinh có khả năng vận dụng ở cấp độ thấp đạt ở mức
trung bình khá, chứng tỏ sự tư duy lôgic, phê phán, phân tích, tổng hợp chưa cao
Trang 15Đồ thị4:
1 3 5 7 9 11 13 15 17 19 21 23 25 27 29 31 33 35 37 390
- Cấp độ 4:Chỉ có 42,5% HS đạt 1,0 điểm trở lên, chứng tỏ khả năng vận dụng ở cấp độ cao ở mức độ trung bình yếu, tức là HS chưa thể vận dụng tốt kiến
thức đã được học để khái quát hóa và sáng tạo trong giải quyết vấn đề chứa ẩn ý liênquan đến nội dung kiến thức đã được học
Qua đồ thị tổng điểm của bài kiểm tra của từng HS, ta nhận thấy trên 80%
số HS đạt điểm từ trung bình trở lên, kết quả này chỉ để so sánh với chỉ tiêu đặt ra,nhưng không đánh giá được chi tiết và mức độ nhận thức của từng HS
Trang 16Vì vậy, nếu thực hiện ra đề kiểm tra thường xuyên và định kì dưới hìnhthức TNKQ theo cách thông thường, tôi nhận thấy kết quả trả về được biểu diễn có
dạng đồ thị 5 thì khó có thể phân tích và điều chỉnh phương pháp kĩ thuật dạy để đạt
hiệu quả cao trong giáo dục
IV HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Qua đề tài “Đánh giá kết quả dạy – học từ phương pháp ra đề kiểm tra dưới hình thức trắc nghiệm khách quan”, tôi đã thực hiện được một số kết quả sau:
- Thay đổi bố cục bài kiểm tra TNKQ, đáp ứng được việc nhận xét đánh giá kếtquả dạy và học một cách chi tiết và đảm bảo tính khoa học – đánh giá được khả năngnhận thức, tư duy, sáng tạo của HS thông qua từng cấp độ, từ đó điều chỉnh hoạt độngdạy – học, cũng chính là đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chứchoạt động dạy học, đổi mới quản lý từ đó, giúp phát triển năng lực người học, nuôidưỡng hứng thú học đường, tạo sự tự giác trong học tập và quan trọng hơn là gieo vàolòng học sinh sự tự tin, niềm tin “người khác làm được mình cũng sẽ làm được” Điều này vô cùng quan trọng để tạo ra mã số thành công của mỗi học sinh trongtương lai
- Cải thiện được yếu điểm (chỉ dựa vào kết quả chung của tất cả các cấp độ, khi
đó điểm số cao hay thấp cũng không thể hiện rõ được cụ thể mức độ nhận thức củaHS) của cách ra đề kiểm tra TNKQ trước đây
- Với vai trò là tổ trưởng tổ bộ môn, việc ứng dụng “Đánh giá kết quả dạy – học từ phương pháp ra đề kiểm tra dưới hình thức trắc nghiệm khách quan” giúp
tôi so sánh, phân tích nhanh và rất hiệu quả kết quả học tập của các lớp do mỗi GVphụ trách Vì vậy, vừa tiết kiệm được nhiều thời gian cho bản thân, cho tổ và quantrọng nhất là kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học góp một phần đáng kể vào nângcao hiệu quả công tác, nâng cao chất lượng dạy – học của Tổ và cuối cùng là gópphần nâng cao chất lượng giáo dục
- Theo tôi có thể dựa vào cơ sở của SKKN này để phát minh ra máy móc phục
vụ việc ra đề, chấm bài, trả kết quả và phân tích kết quả hoặc biên soạn phần mềmchuyên dụng để phục vụ cho công tác kiểm tra đánh giá và kiểm định chất lượng giáodục
V ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Đề tài “Đánh giá kết quả dạy – học từ phương pháp ra đề kiểm tra dưới hình thức trắc nghiệm khách quan” đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực
tiễn, nhằm đề ra những biện pháp có tính khả thi trong công tác nâng cao chất lượng