1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn sử dụng bản đồ khái niệm trong dạy học vật lí.

36 684 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 2,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sự xác lập các mối quan hệ logic và liên tục trong sự hình thành hệ thống khái niệm sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy… Một t

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI

Đơn vị: Trường THPT Thanh Bình

Mã số:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

Người thực hiện: PHẠM THẾ PHƯƠNGLĩnh vực nghiên cứu:

Trang 2

8 Đơn vị công tác: Trường THPT Thanh Bình

II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sĩ

- Năm nhận bằng: 2012

- Chuyên ngành đào tạo: Phương pháp dạy học vật lý – Đại học Sư phạm TP.HCM

III KINH NGHIỆM KHOA HỌC

- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy bộ môn vật lý

Số năm có kinh nghiệm: 7 năm

- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Giả thuyết khoa học 4

4 Phạm vi nghiên cứu 4

PHẦN NỘI DUNG 5

1.Cơ sở lí luận về bản đồ khái niệm 5

1.1 Đôi nét lịch sử 5

1.2 Định nghĩa BĐKN 7

1.3 Các bộ phận cấu thành của một BĐKN 9

1.4 Cơ sở lí thuyết của BĐKN 11

1.4.1 Cơ sở tâm lí học của BĐKN 11

1.4.2 Cơ sở nhận thức của BĐKN 15

1.5 Các dạng BĐKN 16

1.6 Vai trò của BĐKN trong dạy học 18

1.7 Quy trình xây dựng BĐKN 20

2 Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài 22

2.1 Sử dụng BĐKN hoàn chỉnh trong khâu dạy bài mới 23

2.2 Sử dụng BĐKN hoàn chỉnh trong khâu củng cố, ôn tập 24

III Hiệu quả của đề tài 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 32

KẾT LUẬN 33

1 Kết luận 33

PHỤ LỤC 1 38

Trang 4

Viết tắt Viết đầy đủ

Trang 5

sự chuyển biến đáng kể về chất lượng giáo dục GV và HS đều hướng tới mục tiêucủa các kỳ thi, mà mục tiêu này chỉ là xác định xem HS có nắm vững kiến thức sách

vở, có giải được những bài toán khó hay không, chứ không nhằm kiểm tra xem saukhi tốt nghiệp THPT HS đã trang bị đủ những kĩ năng cần thiết tối thiểu cho cuộcsống hay chưa Điều đó dẫn đến việc GV chưa thấy tính cấp bách của yêu cầu đổimới PPDH Nhiều GV cho rằng cứ dạy tốt theo phương pháp cũ cũng có thể chuyểntải nội dung kiến thức của SGK cho HS và đảm bảo tỉ lệ tốt nghiệp phổ thông và đỗđại học cao, như thế là dạy học có hiệu quả tốt

Hậu quả của quan niệm này là HS học một cách thụ động, học không biết đểlàm gì, không biết tại sao mình phải học bài đó, kiến thức đó HS chỉ học bài nàobiết bài đấy, đơn thuần là ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, cô lập nội dung củacác kiến thức, học trước quên sau, học mà không “hành”… phổ biến hiện nay Việc phát triển tư duy cho học sinh và giảng dạy kiến thức về thế giới xungquanh luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của những người làm công tác giáodục Nhằm hướng các em đến một phương pháp học tập tích cực, chủ động và sángtạo Chúng ta không chỉ cần giúp các em khám phá các kiến thức mới mà còn phảigiúp các em liên kết được những kiến thức đó Chúng ta biết, khái niệm vừa là kếtquả vừa là phương tiện của tư duy Quá trình nhận thức của con người thực chất làquá trình hình thành và sử dụng khái niệm Vì vậy, dạy và học khái niệm là vấn đềcốt lõi của quá trình dạy học [11]

Trong dạy học, không chỉ chú ý đến hình thành và phát triển các khái niệm riêng

lẻ mà cần phải quan tâm đến cả một hệ thống khái niệm liên quan với nhau Chính

sự xác lập các mối quan hệ logic và liên tục trong sự hình thành hệ thống khái niệm

sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức,

tư duy… Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liênkết” là bản đồ khái niệm hay sơ đồ khái niệm (concept map)

Trang 6

các thông tin đã có.

Tác giả mong muốn vận dụng phối hợp và chọn lọc một số chiến lược dạy họctiên tiến, đặc biệt là sử dụng bản đồ khái niệm hỗ trợ dạy học để mang lại kết quảtốt trong quá trình học tập của học sinh, phương pháp giảng dạy của bản thân Họcsinh sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tưduy Giáo viên sẽ góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy và quan trọng nhất sẽgiúp học sinh nắm được kiến thức thông qua một “bản đồ” thể hiện các liên kết chặt

chẽ của kiến thức nên tôi đã chọn đề tài: SỬ DỤNG BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu xây dựng tiến trình dạy học theo hướng sử dụng bản đồ kháiniệm nhằm nâng cao hiệu quả dạy học vật lí ở trường THPT, từ đó giúp HS hoànthiện bản đồ khái niệm cho môn Vật lí của bản thân

3 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng BĐKN một cách thích hợp vào quá trình dạy học bộ môn Vật lí ởtrường THPT thì sẽ giúp HS gắn kết được các nội dung kiến thức vật lí; từ đó sẽgóp phần đổi mới PPDH theo hướng tích cực học tập của HS nhằm nâng cao hiệuquả DH

4 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài giới hạn ở việc sử dụng bản đồ hoàn chỉnh trong dạy học

- Đề tài sẽ được thực nghiệm tại trường THPT Thanh Bình, huyện Tân Phú, tỉnhĐồng Nai

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG 1.Cơ sở lí luận về bản đồ khái niệm

1.1 Đôi nét lịch sử

BĐKN được phát triển năm 1972 trong quá trình nghiên cứu của Joseph D.Novak và cộng sự ở đại học Cornell (Mỹ), nơi ông đã tìm hiểu và khám phá ra sựthay đổi trong nhận thức của trẻ em Trong suốt quá trình nghiên cứu đó, trên cơ sởphỏng vấn nhiều trẻ em, họ đã thấy thật khó để xác định những thay đổi cụ thể việchiểu những khái niệm khoa học của trẻ bằng những cuộc phỏng vấn [20] Từ sự cầnthiết tìm ra phương thức tốt hơn để thể hiện sự hiểu biết khái niệm của trẻ, đã làmxuất hiện ý tưởng trình bày kiến thức dưới hình thức một BĐKN Vì vậy mà ông đãcho ra đời một công cụ mới BĐKN Đó là sự trình bày bằng sơ đồ những kháiniệm và mối quan hệ của chúng, giúp học sinh tổ chức thông tin về các khái niệmkhoa học theo logic tạo thuận lợi cho việc học Nó dựa trên tiền đề là các kháiniệm không tồn tại riêng biệt mà có quan hệ với những khái niệm khác

BĐKN phát sinh từ lý thuyết tiếp thu kiến thức của David Ausubel TheoAusubel sự tiếp thu kiến thức xảy ra bởi sự đồng hóa những khái niệm và nhữngmệnh đề mới vào hệ thống kiến thức đã có của người học Như vậy tiếp thu kiếnthức một cách logic xuất hiện khi kiến thức mới liên hệ một cách có chủ định, cómục đích với kiến thức đã có Trong khi đó, ở học vẹt, những khái niệm mới đượcthêm vào hệ thống kiến thức của người học một cách đúng nguyên văn và tùy tiện,

do đó rất nhanh quên Kết quả sự tiếp thu kiến thức logic là người học sẽ hiểu sâu,nhớ lâu và dễ áp dụng trong các tình huống [20]

Từ mục đích đầu tiên của BĐKN là xác định những kiến thức đã có của ngườihọc, hiện nay BĐKN đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi với nhiều mục đíchkhác nhau như giúp người học ghi nhớ khái niệm, đánh giá kết quả học tập, lập kếhoạch giảng dạy… [23]

Novak và Gowin đã phát triển kỹ thuật BĐKN nhằm đánh giá kiến thức kháiniệm của người học Ông cũng sử dụng BĐKN để xác định những thay đổi đangxảy ra trong nhận thức của sinh viên BĐKN cũng được nghiên cứu trong việc lập

kế hoạch giảng dạy và đã ứng dụng ở trường đại học Cornell [24] Ngoài ra cùngvới các tác giả khác, Novak đã tiến hành nhiều nghiên cứu liên quan đến BĐKNnhư với Wandersee năm 1990, với Mintzes và Wandersee năm 1998

Trang 8

BĐKN để đánh giá hiệu quả trong giảng dạy Hegarty-Hazel và Prosser sử dụngBĐKN để đánh giá mối quan hệ giữa việc hiểu và sử dụng các khái niệm của họcsinh trong học tập vào năm 1991.

Năm 2003, khi giảng dạy học phần vật lí điện tử cho sinh viên kĩ thuật nămthứ hai đại học kĩ thuật Curtin, Barbara Stauble nhận thấy rằng sinh viên không nắmbắt được mối quan hệ cơ bản giữa các khái niệm trong học phần Chính vì vậy bà đãtăng cường sử dụng BĐKN trong các bài giảng vào năm 2004 Kết quả là sinh viên

đã tìm ra sự kết nối giữa các khái niệm đã học với khái niệm mới [18]

Trong nghiên cứu, vào năm 2004, J.Valadares, M.T Soares, F Fonseca, cókinh nghiệm giảng dạy vật lí hơn 20 năm, nhận ra rằng BĐKN có thể đáp ứng nhiềumục tiêu hữu ích trong giảng dạy vật lí Sử dụng BĐKN trong giảng dạy giúp họcsinh xác định chính xác sự tương đương giữa cơ học và nhiệt học, nhận ra đượcquan niệm sai lầm, đặc biệt là sự nhầm lẫn truyền thống giữa nhiệt và nhiệt độ [19]

Năm 2003, Mistades cũng đã sử dụng BĐKN để trình bày nội dung môn học

và đánh giá kết quả học tập cho môn vật lí dành cho sinh viên nghệ thuật tự do Kếtquả cho thấy giáo viên có thể sử dụng BĐKN và thu nhận thông tin ngược qua sựđánh giá BĐKN của học sinh, từ đó có những phương pháp dạy học thích hợp

Ở Việt Nam, BĐKN vẫn là một hướng sử dụng mới Trong những năm gần đây

ở một số nơi đã bắt đầu sử dụng BĐKN trong việc dạy và học, nhưng mức độ ứngdụng trong các môn học còn ít Ví dụ đại học Cần Thơ đã đưa BĐKN vào dạy học.Một số chương trình giáo dục nước ngoài tại nước ta cũng sử dụng BĐKN nhưchương trình Intel tại Việt Nam

Đã có một số bài báo nói về BĐKN Tác giả Phan Đức Duy, đã công bốnghiên cứu về sử dụng BĐKN trong dạy học sinh học bậc trung học phổ thông [11]Năm 2009, tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh đã trình bày kết quả nghiên cứu về cơ sở lýthuyết của BĐKN [12] Tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh cùng cộng sự Phạm Thị Hồng

Tú đã nghiên cứu về sử dụng phần mềm Cmap Tools để lập BĐKN [13]

Đối với môn vật lí bậc trung học phổ thông, BĐKN cũng đã được nhắc đến nhưmột công cụ hỗ trợ dạy học Năm 2008, luận văn thạc sĩ của Vũ Quốc Dũng “Xâydựng BĐKN và vận dụng vào thiết kế website hỗ trợ dạy học chương “Dòng điện

Trang 9

9trong các môi trường” lớp 11 cơ bản” Tuy nhiên, những nghiên cứu về BĐKN trongdạy học vật lí vẫn còn ít ỏi Hy vọng trong tương lai BĐKN sẽ được ứng dụng rộngrãi trong vật lí nói riêng, giáo dục Việt Nam nói chung.

1.2 Định nghĩa BĐKN

BĐKN (Concept Map hay Cmap) là công cụ đồ họa để sắp xếp và trình bàykiến thức Bản đồ khái niệm là sự phát triển của lý thuyết graph Sự giống nhau giữagraph và bản đồ khái niệm là đều có các đỉnh và các cung Nhưng trong bản đồ kháiniệm trên các cung còn có các từ nối để tạo ra các mệnh đề BĐKN bao gồm cáckhái niệm (thường được đóng khung trong các hình tròn hay các hình chữ nhật) vàmối quan hệ giữa các khái niệm (được thể hiện dưới dạng đường nối giữa hai kháiniệm) Mối quan hệ giữa các khái niệm được thể hiện qua các nhãn Nhãn được gắntrên đường nối giữa hai khái niệm Phần lớn nhãn là một từ, mặc dù đôi khi có thể

là các ký tự như “+” hay “%”, và đôi khi nhãn cũng bao gồm nhiều từ Ví dụ BĐKN

về khái niệm âm thanh (hình 1.1)

Trang 11

1.3 Các bộ phận cấu thành của một BĐKN

BĐKN bao gồm các “nút” (notes) là nơi hiện diện của các khái niệm; cácđường nối (links) biểu diễn các mối liên hệ giữa các khái niệm, mũi tên biểu thịhướng của liên hệ - tương ứng với các “đỉnh” và các “cung” trong lý thuyết Graph.Những khái niệm được sắp xếp theo trật tự logic, mỗi khái niệm là một nhánh củabản đồ Những khái niệm có mức khái quát cao được xếp ở đỉnh của bản đồ, nhữngkhái niệm có tính cụ thể hơn được xếp ở dưới

Phần cốt lõi của BĐKN là mệnh đề (propositions) Mệnh đề là phát biểu về sựvật hay sự kiện nào đó xảy ra một cách tự nhiên hoặc nhân tạo Mệnh đề gồm haikhái niệm (hoặc nhiều hơn) nối với nhau bởi một đường nối có nhãn (label) nhằmtạo nên lời phát biểu có ý nghĩa Đôi khi mệnh đề còn được gọi là những đơn vị ngữnghĩa Những mệnh đề là nhân tố làm cho BĐKN khác với các dạng đồ họa tương

tự (ví dụ Mind Map)

Mũi tên của đường nối giữa các khái niệm để biểu thị hướng của mối liên hệ.Tùy thuộc bản chất mối liên hệ giữa các khái niệm mà các đường có thể là mũi tênmột chiều hay hai chiều Các mối liên hệ nhân quả là mũi tên một chiều Các mốiliên hệ ảnh hưởng qua lại biểu diễn bằng mũi tên hai chiều

Ví dụ: Hình 1.2

Trang 12

Hình 1.2: Bản đồ khái niệm về cấu trúc và đặc điểm của bản đồ khái niệm [20]

Trang 13

13Đặc trưng quan trọng khác của BĐKN là đường nối ngang (cross-links).Đường nối này thể hiện mối quan hệ (những mệnh đề) giữa các khái niệm trongnhững lĩnh vực khác nhau của BĐKN Đường nối ngang giúp chúng ta thấy một sốlĩnh vực kiến thức trên bản đồ liên quan với nhau như thế nào Trong sự tạo thànhkiến thức mới, đường nối ngang thường thể hiện sự sáng tạo của người học.

Một đặc tính cuối cùng của BĐKN là những ví dụ ở cuối khái niệm, chúng cóvai trò làm rõ ý nghĩa của khái niệm đó Các ví dụ cũng được bao quanh bởi hìnhtròn, elip hoặc hình chữ nhật nhưng nét vẽ đứt

1.4 Cơ sở lí thuyết của BĐKN

1.4.1 Cơ sở tâm lí học của BĐKN

Những hiểu biết ban đầu về khái niệm đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong

sự khám phá quá trình nhận thức Trong quá trình phát triển trí tuệ, trẻ em dưới 3tuổi tiếp xúc với các qui tắc trong thế giới xung quanh và bắt đầu tìm ra hệ thốngnhững nhãn và kí hiệu cho các qui tắc này Trẻ em thấy rõ được các mô hình hayquy tắc của sự kiện hay sự vật và xem xét chúng như những quy tắc tương tự nhưng

đã được những người lớn tuổi hơn phân loại bằng từ ngữ và kí hiệu Đây là một khảnăng kì lạ và là một phần của những đặc điểm tiến hoá của loài người

Sau 3 tuổi, việc nhận thức khái niệm và mệnh đề mới bằng ngôn ngữ trở nênkhó khăn và sự cố quan trọng bậc nhất bên cạnh quá trình tiếp nhận tri thức là cáchđặt câu hỏi và hiểu một cách rõ ràng mối quan hệ giữa những khái niệm, mệnh đề

cũ và mới Sự lĩnh hội này được thực hiện với một cách thức rất quan trọng khi đã

có sẵn những kinh nghiệm cụ thể Do đó, tính tích cực có vai trò quan trọng đối vớihoạt động học của trẻ, điều này cũng đúng đối với người học ở bất kì độ tuổi nào vàtrong bất cứ bài học nào

Khi nghiên cứu quá trình học tập, Ausubel đã tìm ra hai kiểu học tập là họcthụ động - học vẹt (rote learning) và học tích cực - học hiểu (meaningful learning).Ausubel đã chỉ ra sự khác biệt quan trọng giữa sự học vẹt và học hiểu Học hiểu yêucầu 3 điều kiện:

1 Những nội dung được học cần phải là những khái niệm rõ ràng và đượctrình bày bằng ngôn ngữ kèm theo những ví dụ có quan hệ với kiến thức đã có củangười học BĐKN có thể đáp ứng điều kiện này Bằng cách vừa liên kết những kháiniệm chung được người học tìm ra trước đó dẫn dắt đến những khái niệm cụ thể

Trang 14

2 Người học cần phải có sẵn những kiến thức thích hợp.

3 Người học cần phải biết liên kết những hiểu biết mới với những kiến thức

đã có chứ không phải chỉ là ghi nhớ một cách đơn giản về định nghĩa khái niệm, cácmệnh đề hay các quy trình tính toán Việc này cần phải có sự điều khiển gián tiếpcủa giáo viên hoặc người hướng dẫn Giáo viên sẽ hướng dẫn người học tìm ra kiếnthức mới liên quan đến kiến thức đã có của họ Sau quá trình sẽ đánh giá kết quảliên quan đến kiến thức mà họ có với vận dụng kiến thức vào trong tình huống mới

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trí nhớ loài người không phải là một chiếcbình đơn giản để lấp đầy, mà là một tập hợp phức tạp của hệ thống bộ nhớ được liên

hệ với nhau Sơ đồ sau minh hoạ hệ thống bộ nhớ của trí nhớ con người và sự tácđộng qua lại với các vùng nhận thông tin từ các vùng nhận tác động và vùng tâm lý

xử lí một số lượng nhỏ mối quan hệ hay các bộ phận tâm lí (5 đến 9) bất kì lúc nào

Thông tin vào Bộ nhớ ngắn

Trang 15

15Điều này có nghĩa là mối quan hệ giữa hai hay ba khái niệm là giới hạn khảnăng xử lí của bộ nhớ đang làm việc Ví dụ, nếu yêu cầu một người phải nhớ mộtdanh sách 10 - 12 chữ cái hay chữ số trong vài giây, hầu hết mọi người chỉ nhớ lạiđược 5- 9 ký tự trong số đó Tuy nhiên, nếu các chữ cái được nhóm lại để tạo thànhmột từ có nghĩa, và các chữ số được nhóm lại theo số điện thoại hay những cái đãbiết, thì 10 hay hơn 10 chữ cái (chữ số) có thể nhớ lại được

Trong một bài kiểm tra tương tự, nếu chúng ta đưa cho người học 10 - 12 từquen thuộc nhưng các từ không có quan hệ với nhau để nhớ trong vài giây, hầu hếtchỉ nhớ lại được 5 - 9 từ Nếu những từ đó không quen thuộc, chẳng hạn như khigặp các từ kĩ thuật được giới thiệu lần đầu, người học có thể nhớ chính xác hai hay

ba từ trong số đó Trái lại, nếu các từ đó là quen thuộc và có liên quan tới kiến thức

đã có của người học, ví dụ các tháng trong năm thì 12 từ hay nhiều hơn vẫn có thểđược nhớ lại dễ dàng

Trong học vẹt, người học có ít hoặc không có sự hợp nhất kiến thức mới vớikiến thức đã có Có hai lý do gây nên sự hạn chế trong nhận thức của lối học thụđộng:

+Thứ nhất, kiến thức được học theo lối máy móc nên bị quên nhanh chóngnếu không được nhắc lại nhiều lần

+Thứ hai, cấu trúc kiến thức hay cấu trúc nhận thức của người học khôngđược tăng cường hay thay đổi để xoá đi những quan niệm sai lầm Vì vậy, nhữngquan niệm sai lầm sẽ vẫn còn và kiến thức học được sẽ có ít hoặc không có khảnăng được sử dụng trong việc học cao hơn hay trong việc giải quyết vấn đề

Vì vậy, để có kiến thức rộng cần phải có sự liên hệ chặt chẽ giữa bộ nhớđang hoạt động và bộ nhớ dài hạn khi thu nhận và xử lí kiến thức Một trong những

lí do khiến BĐKN tạo thuận lợi cho việc học hiểu là nó có tác dụng như một loạikhuôn mẫu để giúp sắp xếp và cấu trúc kiến thức, mặc dù cấu trúc đó bao gồm cáckhái niệm hay mệnh đề tác động qua lại nhau

Nhiều học sinh và giáo viên ngạc nhiên khi thấy BĐKN là công cụ tuy đơngiản nhưng có thể hỗ trợ việc học hiểu và tạo ra hệ thống kiến thức vững chắckhông những cho phép áp dụng kiến thức trong những ngữ cảnh mới, mà còn giúplưu giữ kiến thức trong thời gian dài Sự hiểu biết về các quá trình ghi nhớ và quátrình kiến thức được đưa vào não bộ vẫn còn ít, nhưng rõ ràng rằng các nghiên cứu

Trang 16

Bộ não của con người không chỉ chứa các khái niệm và các mệnh đề lànhững bộ phận thiết yếu tạo nên cấu trúc kiến thức và cấu trúc nhận thức trong bộnão của chúng ta Bên cạnh việc học những khái niệm và mệnh đề, các nhà nghiêncứu đã chỉ ra rằng có những hình thức ghi nhớ khác như ghi nhớ hình ảnh, biểutượng, ghi nhớ âm thanh… Ghi nhớ biểu tượng bao gồm sự tích luỹ những biểutượng của những hoàn cảnh mà chúng ta đã gặp, những người mà chúng ta đã thấy,những hình ảnh và các biểu tượng khác Trong khi các biểu tượng chữ và số đượcSperling sử dụng trong nghiên cứu của ông bị quên đi nhanh chóng thì các loại biểutượng khác được giữ lại lâu hơn nhiều Bộ não của chúng ta có một sức chứa đặcbiệt cho việc thu nhận và giữ lại những hình ảnh trực quan của người hoặc nhữngbức ảnh Ví dụ, trong một nghiên cứu, Shepard đưa ra 612 bức tranh về những hoàncảnh hay chủ đề chung, sau đó yêu cầu chỉ ra hai bức tranh giống nhau trong số đó.

Đã có 97% số người tham gia nghiên cứu xác định đúng các bức tranh mà họ đãnhìn thấy Ba ngày sau đó, vẫn còn 92% xác định chính xác, và ba tháng sau còn58% Nghiên cứu này và nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng con người có mộtkhả năng đặc biệt để nhớ lại các biểu tượng, mặc dù họ đã mau chóng quên đinhững chi tiết của các biểu tượng

Một ví dụ thú vị là thử nghiệm do Nickerson và Adams tiến hành năm 1979với những đồng xu mà hằng ngày người ta thường xuyên nhìn thấy Khi được yêucầu vẽ một đồng xu; có hơn một nửa những nét đặc trưng bị thiếu hay bị đặt nhầm

vị trí

Khả năng của con người khi nhớ lại âm thanh cũng rất đặc biệt Các nhạccông có thể chơi hàng trăm bài nhạc mà không cần đọc nốt nhạc… Trở lại vớinhững kí ức không được mã hoá như những khái niệm, những mệnh đề Nhữngnghiên cứu của Penfield và Perot đã chỉ ra rằng các vùng của bộ não hoạt động khichúng ta nghe cũng chính là những vùng hoạt động khi chúng ta nhớ lại âm thanh.Chúng ta xác định vị trí các vùng của bộ não mà hoạt động trong khi nghe và nhớlại thông tin bằng cách sử dụng phương pháp chụp cắt lớp phát xạ positron Vớiphương pháp này những nơron nào lưu trữ thông tin thì sẽ không được nhìn thấy

Trang 17

17Những cá nhân khác nhau có những khả năng khác nhau một cách rõ rệt.Những khác nhau này đã được nghiên cứu bởi Gardner Ông đã đề xuất lí thuyết đathông minh (multiple intelligence) Nghiên cứu của ông đã nhận được nhiều sự chú

ý trong ngành giáo dục và gây nên sự chú ý trên phạm vi rộng tới những khả năngkhác nhau của con người trong việc học và thực hành Thật tốt khi các trường họcnhận định rằng con người có những khả năng quan trọng khác và việc nhớ lại thôngtin tri thức cụ thể thường chỉ được thể hiện trong những bài kiểm tra nhiều lựa chọnđược sử dụng thông dụng trong nhiều trường học hay các công ty Một lí do thúcđẩy chúng ta thống nhất trên phạm vi rộng các hoạt động được trình bày trong môhình giáo dục mới là nhằm tạo cơ hội cho học sinh thể hiện những khả năng khác.Việc tạo ra những cơ hội như vậy bằng cách kết hợp nhiều hoạt động khác nhau vớimột cấu trúc kiến thức rõ ràng rất có lợi [20]

1.4.2 Cơ sở nhận thức của BĐKN

Hiện nay, quá trình học hiểu là quá trình được các nhà khoa học hay cácchuyên gia trong bất kì lĩnh vực nào sử dụng, nhằm xây dựng kiến thức mới Trongthực tế, Novak đã khẳng định rằng tạo thành kiến thức mới không chỉ là sự học hiểu

ở trình độ cao mà còn phụ thuộc vào cách tổ chức cấu trúc kiến thức của mỗi cánhân trong những vùng nhận thức riêng biệt, và thậm chí còn phụ thuộc vào cảm

hứng trong việc tìm ra kiến thức mới.

Nhận thức luận là một bộ phận của triết học, nó nghiên cứu mối quan hệ giữa

sự tạo thành kiến thức mới với quá trình nhận thức tự nhiên Từ những lí thuyếtnhận thức của những nhà triết học và những nhà nhận thức luận có thể rút ra rằng sựtạo thành kiến thức mới là một quá trình xây dựng kiến thức bao gồm cả nhận thức

và cảm xúc của mỗi người hoặc sự điều khiển (chỉ đạo) để tạo kiến thức mới vàcách thức thể hiện kiến thức

Việc học sinh cố gắng tạo ra những BĐKN là một quá trình hoạt động độclập và sáng tạo, và đó cũng là một thử thách khó khăn, đặc biệt đối với những người

đã quen với lối học vẹt Học vẹt có vai trò rất nhỏ trong quá trình nhận thức, vì vậy

nó không có tác dụng tạo ra ý tưởng hoặc đặt và giải quyết vấn đề

Các khái niệm và mệnh đề là những khối kiến thức cơ bản của mọi lĩnh vực.Chúng ta có thể coi khái niệm tương tự như các nguyên tử còn mệnh đề là nhữngphân tử Chỉ có khoảng 100 loại nguyên tử khác nhau nhưng đã tạo ra vô số loại

Trang 18

dù, hầu hết sự kết hợp của các từ không tạo thành câu có nghĩa nhưng chúng vẫn cóthể kết hợp với nhau để tạo ra vô số những mệnh đề có ý nghĩa và hợp lệ Nhữngnhà thơ và những nhà văn sẽ không bao giờ hết những ý tưởng mới để biểu thịnhững cách mới Chúng ta sẽ không bao giờ hết những cơ hội để tạo ra kiến thứcmới Con người đã phát hiện ra những sự vật và hiện tượng mới; sau đó tiếp tục tìm

ra những khái niệm và những kiến thức mới Tạo ra những phương pháp quan sátmới, hoặc ghi chép những sự kiện bình thường đã xảy ra là cơ hội để tạo ra kiếnthức mới Ví dụ, tạo ra BĐKN là phương pháp ghi tóm tắt sự hiểu biết, đó là conđường để tạo thành kiến thức mới Do vậy, BĐKN có giá trị trong học tập và trongquá trình hình thành kiến thức mới của con người

1.5 Các dạng BĐKN

- Dựa theo thành phần, có các dạng BĐKN sau [21]:

+ Bản đồ chỉ có khái niệm: Bản đồ có cấu trúc cho sẵn, chỉ có những kháiniệm chìa khóa nhưng thiếu từ nối

+ Bản đồ chỉ có các đường nối: Bản đồ có cấu trúc cho sẵn, có các đường nốinhưng thiếu khái niệm

+ Bản đồ câm: Bản đồ có cấu trúc cho sẵn nhưng chưa có khái niệm và từnối

+ Bản đồ hỗn hợp: Bản đồ có cấu trúc cho sẵn nhưng thiếu một số khái niệmhoặc từ nối

Có thể dựa vào các dạng bản đồ này để tổ chức dạy học

- Dựa theo hình dạng bản đồ có các dạng bản đồ sau [22]:

+ BĐKN tiến trình

Ngày đăng: 27/02/2015, 16:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15.Hoàng Chúng (1982), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1982
16.Hoàng Ngọc Vinh (chủ biên) (2007), Hướng dẫn dạy và học trong giáo dục đại học, [internet], (tháng 4 năm 2008), tại trang web:http://exams.agu.edu.vn/download/11%20module%20in%20higher%20education.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn dạy và học trong giáo dục đại học
Tác giả: Hoàng Ngọc Vinh
Năm: 2007
17. Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế (2002), Phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông, NXB Đại học sư phạm Hà Nội.Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2002
18. A/Prof Barbara Stọuble (2005), Using concept maps to develop lifelong learning skills, http://lsn.curtin.edu.au/tlf/tlf2005/refereed/stauble.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Using concept maps to develop lifelonglearning skills
Tác giả: A/Prof Barbara Stọuble
Năm: 2005
19. Novak, J. D. & Caủas, A. J, using concept map in physic classes, www.cmc.ihmc.us/papers/cmc2004-210.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: using concept map in physic classes
20.Novak, J. D. & Caủas, A. J. (2008). The Theory Underlying Concept Maps and How to Construct and Use Them. Florida Institute for Human and Machine Cognition, Pensacola Fl, 32502, www.ihmc.us Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Theory Underlying Concept Maps and How to Construct and Use Them
Tác giả: J. D. Novak, A. J. Caủas
Nhà XB: Florida Institute for Human and Machine Cognition
Năm: 2008
21. Yung Hin-wai (1997), “Using Concept Maps To Establish Meaningful Relationships”, [internet], (2008 April), [cited 2008 April], Available at:http://www.fed.cuhk.edu.hk/~johnson/misconceptions/ce/learn/concept_map.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Using Concept Maps To Establish Meaningful Relationships
Tác giả: Yung Hin-wai
Năm: 1997
22. University of Illinois at Urbana-Champaign (2002), “Concept Maps”, Agricultural, Consumer and Environmental Sciences (ACES100), [internet], (2008 January), [cited 2008 January], Available at:http://classes.aces.uiuc.edu/ACES100/Mind/CMap.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Concept Maps
Tác giả: University of Illinois at Urbana-Champaign
Nhà XB: Agricultural, Consumer and Environmental Sciences
Năm: 2002
23.Maria Birbili (2007), “Mapping Knowledge: Concept Maps in Early Childhood Education”, Early Childhood Research & Practice (ECRP) Vol.8 No.2 Fall 2006, [internet], (2008 April), [cited 2008 April], Available at:http://ecrp.uiuc.edu/v8n2/birbili.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mapping Knowledge: Concept Maps in Early Childhood Education
Tác giả: Maria Birbili
Nhà XB: Early Childhood Research & Practice (ECRP)
Năm: 2007
24. Michael Zeilik, “Classroom Assessment Techniques Concept Mapping”, Classroom Assessment Techniques (CATs), [internet], (2008 January April), [cited 2008 April], Available at Sách, tạp chí
Tiêu đề: Michael Zeilik, “Classroom Assessment Techniques Concept Mapping”,"Classroom Assessment Techniques (CATs)
26. Novak, J. D. (1977). A theory of education. Ithaca, NY: Cornell University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Novak
Tác giả: Novak, J. D
Năm: 1977
27. Novak, J. D. (1998). Learning, creating, and using knowledge: Concept maps as facilitative tools in schools and corporations. Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum Associates Sách, tạp chí
Tiêu đề: Learning, creating, and using knowledge: Concept maps as facilitative tools in schools and corporations
Tác giả: J. D. Novak
Nhà XB: Lawrence Erlbaum Associates
Năm: 1998
29. Novak, J. D. (1998). Learning, creating, and using knowledge: Concept maps as facilitative tools in schools and corporations. Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum Associates Sách, tạp chí
Tiêu đề: Learning, creating, and using knowledge: Concept maps as facilitative tools in schools and corporations
Tác giả: J. D. Novak
Nhà XB: Lawrence Erlbaum Associates
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Bản đồ khái niệm về cấu trúc và đặc điểm của bản đồ khái niệm [20] - skkn sử dụng bản đồ khái niệm trong dạy học vật lí.
Hình 1.2 Bản đồ khái niệm về cấu trúc và đặc điểm của bản đồ khái niệm [20] (Trang 12)
Hình 1.3. Các hệ thống bộ nhớ chủ chốt của não bộ đều tác động qua lại với - skkn sử dụng bản đồ khái niệm trong dạy học vật lí.
Hình 1.3. Các hệ thống bộ nhớ chủ chốt của não bộ đều tác động qua lại với (Trang 14)
Hình 1.4. Các dạng bản đồ khái niệm Ngoài ra còn có những dạng BĐKN như: BĐKN phong cảnh, BĐKN đa chiều, BĐKN hình tròn…. - skkn sử dụng bản đồ khái niệm trong dạy học vật lí.
Hình 1.4. Các dạng bản đồ khái niệm Ngoài ra còn có những dạng BĐKN như: BĐKN phong cảnh, BĐKN đa chiều, BĐKN hình tròn… (Trang 19)
Hình 1.5. BĐKN về các bước xây dựng BĐKN - skkn sử dụng bản đồ khái niệm trong dạy học vật lí.
Hình 1.5. BĐKN về các bước xây dựng BĐKN (Trang 23)
Hình 1.6. Bản đồ hoàn chỉnh về Vật chất. - skkn sử dụng bản đồ khái niệm trong dạy học vật lí.
Hình 1.6. Bản đồ hoàn chỉnh về Vật chất (Trang 26)
Hình 1.7. Bản đồ hoàn chỉnh về nội năng - skkn sử dụng bản đồ khái niệm trong dạy học vật lí.
Hình 1.7. Bản đồ hoàn chỉnh về nội năng (Trang 27)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w