Luận văn PHÁT TRIỂN bền VỮNG TRONG NÔNG NGHIỆP ở TỈNH HƯNG yên HIỆN NAY PHÁT TRIỂN bền VỮNG TRONG NÔNG NGHIỆP ở TỈNH HƯNG yênbền VỮNG TRONG NÔNG NGHIỆPNÔNG NGHIỆP ở TỈNH HƯNG yênCƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG NÔNG NGHIỆPTHỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HƯNG YÊNGIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG Ở TỈNH HƯNG YÊN TRONG THỜI GIAN TỚI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀNVỮNG TRONG NÔNG NGHIỆP 101.1 Phát triển bền vững trong nông nghiệp và những nội dung cơbản của nó 101.2 Các yếu tố cấu thành nông nghiệp phát triển bền vững và nhân tốảnh hưởng tới phát triển bền vững trong nông nghiệp 171.3 Một số mô hình xây dựng nông nghiệp phát triển bền vững ởcác nước 28Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG NÔNGNGHIỆP Ở TỈNH HƯNG YÊN 402.1 Những tiền đề và điều kiện cho phát triển bền vững trong nôngnghiệp của tỉnh Hưng Yên 402.2 Thực trạng phát triển bền vững trong nông nghiệp ở tỉnh HưngYên thời kỳ 2008 – 2013 44Chương 3 GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆPBỀN VỮNG Ở TỈNH HƯNG YÊN TRONG THỜI GIAN TỚI 773.1 Những quan điểm cơ bản trong phát triển nông nghiệp bềnvững ở tỉnh Hưng Yên thời kỳ 2011 - 2020 773.2 Một số giải pháp cơ bản phát triển bền vững trong nông nghiệp
ở tỉnh Hưng Yên 82
Trang 3KẾT LUẬN 107TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát triển bền vững là mục tiêu, nhu cầu cấp bách đối với mọi nền kinh
tế của các quốc gia trên thế giới Đặc biệt, trong những năm gần đây thế giớiđang trải qua nhiều cuộc khủng hoảng: khủng hoảng năng lượng, nguyên liệu,khủng hoảng tài chính, khủng hoảng môi trường, từ đó xuất hiện tình trạngbiến đổi khí hậu toàn cầu, đói nghèo đe dọa cuộc sống của nhân loại hiện tại
và tương lai, mà nguyên nhân chủ yếu là phát triển thiếu bền vững Vì vậy, tạiHội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển bền vững được tổchức năm 1992 ở Rio de Janerio (Braxin), các nhà hoạt động kinh tế, xã hội,môi trường cùng với các nhà chính trị đại diện cho 179 nước tham gia Hộinghị đã thống nhất về quan điểm phát triển bền vững Coi phát triển bền vững
là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toàn nhân loại
Nói đến phát triển bền vững là nói đến sự phát triển hài hòa cả ba mặtkinh tế - xã hội - môi trường Đó là sự phát triển không chỉ tăng trưởng kinh
tế mà phải đảm bảo các mục tiêu ổn định xã hội, giữ gìn môi trường sinh thái,đáp ứng nhu cầu về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của cả thế hệ hômnay mà không ảnh hưởng chất lượng cuộc sống của thế hệ mai sau
Trong phát triển bền vững, thì phát triển nông nghiệp bền vững có vaitrò quan trọng đối với nước ta Bởi lẽ, Việt Nam là một nước nông nghiệp,gắn liền với nền văn minh lúa nước Lịch sử phát triển kinh tế - xã hội nước ta
đã cho thấy, sự phát triển, tiến bộ và phồn vinh của đất nước không thể bỏqua, tách rời sự phát triển của nông nghiệp Cho nên, phát triển nông nghiệpbền vững luôn được Đảng và nhà nước ta đặt ở vị trí trọng tâm trong chiếnlược phát triển kinh tế xã hội Nhiều chủ trương, đường lối của Đảng về pháttriển nông nghiệp, nông thôn đã được ban hành, như Nghị quyết Trung Ương
5 khóa IX về CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn, gần đây nhất là ngày
Trang 55/08/2008, Hội nghị lần thứ bẩy BCH Trung ương khóa X, đã ban hành Nghịquyết số 26 -NQ/TW về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Trong đó xác
định: “Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt cũng như lâu dài” các chủ trương của Đảng đã được Nhà nước thể chế hóa
bằng các chính sách và được các cấp, các ngành triển khai trong thực tế.Trong định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam của Chính Phủcũng đã khẳng định phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn là một nộidung quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam Thậm chíđây là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển bền vững
ở nước ta
Hưng Yên là một tỉnh nông nghiệp, nằm trong cái nôi của nền vănminh lúa nước khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng Tỉnh có diện tích tựnhiên 92.309 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 61.037 ha Với hơn 70
% dân số sống ở nông thôn và hơn 50% lao động tham gia lĩnh vực nôngnghiệp Tỉnh nằm giữa vùng kinh tế trọng điểm, thuộc vùng khí hậu nhiệt đớigió mùa, có hệ thống sông ngòi phong phú, là cửa ngõ phía Đông của thủ đô
Hà Nội có đường giao thông thuận lợi Với điều kiện như vậy, Hưng Yênhoàn toàn có thể khai thác lợi thế để phát triển một nền nông nghiệp toàn diệnbền vững Tuy nhiên, trên thực tế phát triển nông nghiệp ở Hưng Yên cònnhiều bất cập: trình độ và chất lượng lao động thấp, quá trình CHH – HĐHhóa nông nghiệp nông thôn diễn ra chậm, lao động thủ công vẫn chiếm ưuthế, tỉ lệ thất nghiệp trong nông nghiệp vẫn cao, nhiều diện tích đất đai bỏhoang không canh tác, sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, đầu ra của các sảnphẩm nông sản không ổn định, công nghiệp chế biến chưa phát triển, tìnhtrạng ô nhiễm môi trường do chăn nuôi, do sử dụng thuốc trừ sâu… diện tích
Trang 6đất nông nghiệp bị thu hẹp dần… đặt ra nhiều thách thức cho ngành nôngnghiệp ở tỉnh Hưng Yên Vì vậy, làm thế nào để phát triển bền vững nôngnghiệp ở tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay là vấn đề đặt ra không chỉvới địa phương mà là trách nhiệm chung của cả nước Việc nghiên cứu nhằmgóp phần tìm hướng giải quyết cho vấn đề này là một nội dung có ý nghĩa
thiết thực cả về mặt lý luận và thực tiễn Do đó, tác giả chọn vấn đề: “Phát triển bền vững trong nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên hiện nay” làm đề tài luận
văn thạc sỹ chuyên ngành kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Một số công trình khoa học nghiên cứu như:
+ “CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam, con đường và bước đi” Đề tài KX - 02 - 07 do GS.TS Nguyễn Kế Tuấn làm chủ nghiệm.
Đây là công trình đề cập chủ yếu đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp nông thôn ở nước ta thời gian qua; đề xuất phương hướng thựchiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thờigian tới Tuy nhiên công trình mới chỉ đề cập đến khía cạnh phát triển nôngnghiệp nông thôn bền vững trong quá trinh công nghiệp hóa
+ Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới (2003) do PGS.TS
Nguyễn Sinh Cúc chủ biên, Nxb Thống kê Công trình này đã khái quát mộtcách tổng quan quá trình đổimới, phát triển nông nghiệp, nông thôn từ 1986đến năm 2002; đặt ra một số vấn đề cần quan tâm trong phát triển nôngnghiệp, nông thôn thời gian tới
+ Nông nghiệp Việt Nam trong phát triển bền vững, Nxb Chính trị
Quốc gia (2004), doTS Nguyễn Từ chủ biên Đây là cuốn sách với nhiều bàiviết có giá trị bàn về vị trí và vai trò của ngành nông nghiệp trong sự pháttriển kinh tế bền vững chung của đất nước
Đề tài “Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam”, Vũ Văn Nâm,
Trang 7luận văn Thạc sỹ kinh tế Đây là đề tài đã nêu khái quát về phát triển nôngnghiệp bền vững ở Việt Nam nói chung, chưa đề cập sâu tới các vùng, miền
và địa phương cụ thể,
Mặc dù, có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển nông nghiệp bềnvững ở các góc độ khác nhau nhưng chưa có công trình nào đặt vấn đề nghiêncứu cụ thể về nông nghiệp phát triển bền vững ở tỉnh Hưng Yên hiện naydưới góc độ kinh tế chính trị Nói như vậy, đây là một đề tài mới, lần đầu tiên
đề cập một cách đầy đủ và hệ thống về phát triển bền vững trong nông nghiệp
ở tỉnh Hưng Yên hiện nay
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn tình hình phát triển bền
vững trong nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên giai đoạn hiện nay trên các góc độ:Phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo vệ tài nguyên môi trường ở tỉnh HưngYên hiện nay
- Đề xuất quan điểm, định hướng và những giải pháp cơ bản để pháttriển bền vững trong nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Nghiên cứu nông nghiệp phát triển bền vững của tỉnh Hưng Yên, tìm ranhững hạn chế và nguyên nhân để có những giải pháp nâng cao hiệu quảtrong việc phát triển bền vững trong nông nghiệp của tỉnh Hưng Yên Vớimục tiêu nêu trên, luận văn hướng vào trả lời các câu hỏi sau:
Thế nào là phát triển bền vững trong nông nghiệp ?Nội dung của pháttriển bền vững trong nông nghiệp là gì? Những nhân tố cấu thành đến nôngnghiệp phát triển bền vững và những yếu tố tác động đến phát triển bền vữngtrong nông nghiệp? Thế giới đã phát triển nông nghiệp bền vững như thế nào?Việt Nam nói chung và tỉnh Hưng Yên nói riêng có thể vận dụng, học tập
Trang 8những kinh nghiệm gì của họ? Thực tế những cơ hội và khó khăn, thách thứccủa nông nghiệp Hưng Yên trong việc tiếp cận mô hình phát triển bền vững?
Và đâu là giải pháp cho những khó khăn này?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy đối tượng nghiên cứu là ngành sản xuất nông nghiệp baogồm: trồng trọt, chăn nuôi và các yếu tố có liên quan đến phát triển nôngnghiệp bền vững ở tỉnh Hưng Yên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Hưng Yêndưới góc độ kinh tế chính trị, không đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề cótính vi mô của từng ngành cụ thể
Đề tài nghiên cứu nông nghiệp phát triển bền vững giới hạn trong phạm
vi tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2008 - 2013
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam Đồng thờitiếp thu những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước
về phát triển nông nghiệp bền vững
5.2 Cơ sở thực tiễn
Luận văn dựa trên cơ sở thực tiễn là quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế xã hội tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2010 2020 theo nghị quyết số 217/NQ HĐND ngày 13/12/2010 của HĐND tỉnh Hưng Yên, chiến lược phát triển tỉnh
-Hưng Yên đến năm 2020, quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn tỉnhHưng Yên giai đoạn 2011 - 2015 định hướng đến năm 2020 Sử dụng các báocáo của Sở tài nguyên môi trường tỉnh Hưng Yên, Sở Lao động thương binh
Trang 9xã hội tỉnh Hưng Yên và các báo cáo có liên quan khác.
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, trừu tượng hóa khoa học.Ngoài ra, sử dụng phương pháp phân tích hệthống, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học
6 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn
- Góp phần làm rõ và cung cấp những căn cứ khoa học về phát triểnbền vững trong nông nghiệp ở tỉnh Hưng Yên hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi để các cấp chính quyền trongtỉnh Hưng Yên vận dụng trong hoạch định chính sách; chỉ đạo thực hiện cóhiệu quả mục tiêu phát triển bền vững trong nông nghiệp theo chương trìnhnghị sự 21 về định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, kết cấu của luận văn gồm 3chương, 7 tiết
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TRONG NÔNG NGHIỆP
1.1 Phát triển bền vững trong nông nghiệp và những nội dung cơ bản của nó
1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững và phát triển bền vững trong nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững
Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất năm 1992 tổ chức tại Rio Janeiro đãđưa ra khái niệm vắn tắt về phát triển bền vững và được nhiều quốc gia sử
dụng đó là: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế
hệ mai sau” Hay nói cách khác: “Phát triển bền vững đó là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người”.
1.1.1.2 Khái niệm về phát triển bền vững trong nông nghiệp
- Theo G.A Cô - dơ - lốp và S.P.Pe - Rơ - Vu - Sin và các tác giả của
cuốn Từ điển kinh tế do Nhà xuất bản Chính Trị quốc gia Liên Xô xuất bảnnăm 1953, trong mục từ “nông nghiệp”, sau khi định nghĩa Nông nghiệp làmột nghành kinh tế quan trọng, còn cho rằng:
“Trong nông nghiệp việc sản xuất sản phẩm không những gắn liền với quá trình kinh tế, mà cũng gắn liền với các quá trình tự nhiên của tái sản xuất Muốn kinh doanh nông nghiệp một cách đúng đắn, điều quan trọng là hiểu biết và khéo vận dụng các quy luật kinh tế của sự phát triển xã hội và các quy luật sinh vật học của sự phát triển động vật và thực vật” [43,trang 385]
Trang 11Cuốn từ điển này được viết và xuất bản trước khi nhân loại đề cập đếnkhái niệm phát triển bền vững nhiều năm.Các tác giả cũng không hề đề cậpmột từ nào về phát triển bền vững, nhưng nếu căn cứ vào những nội dung củaphát triển bền vững ngày nay, thì thực chất ở đây đã bàn về phát triển bềnvững trong nông nghiệp.
Theo quan điểm hiện đại về phát triển bền vững thì với cách đặt vấn đề
của tác giả “việc sản xuất sản phẩm không những gắn liền với các quá trình kinh tế, mà cũng gắn liền với quá trình tự nhiên của tái sản xuất” và muốn kinh doanh nông nghiệp tốt phải “hiểu biết” và “khéo sử dụng các quy luật kinh tế của sự phát triển xã hội và các quy luật sinh học của sự phát triển động vật và thực vật” Bởi vì, khi một sự vật, hiện tượng hay quá trình vận
động tuân theo các quy luật kinh tế, xã hội, tự nhiên, tức là tuân thủ sự đòi hỏikhách quan của sự phát triển thì thường đạt hiệu quả và do đó tồn tại và pháttriển ổn định, lâu dài, bền vững
Theo Bill Mollison và Remy Mia slay thì nông nghiệp bền vững được
định nghĩa như sau: “việc thiết kế những hệ thống cư trú lâu bền của con người: đó là một triết lý và một cách tiếp cận về việc sử dụng đất tạo ra mối liên hệ chặt chẽ giữa tiểu khí hậu, cây hàng năm, cây lâu năm, súc vật, đất nước và những nhu cầu của con người xây dựng những cộng đồng chặt chẽ
và có hiệu quả” [58] Trong khái niệm này, các tác giả cũng đề cập đến vấn
đề kinh tế (cây hàng năm, cây lâu năm, súc vật, nhu cầu của con người, đếnvấn đề xã hội (xây dựng những cộng đồng), đến môi trường (sử dụng đất, khíhậu) Theo tác giả, định nghĩa này chưa đạt đến tầm khái quát và hệ thống,còn thuần túy từ góc nhìn của các nhà nông nghiệp, đặc biệt chưa làm rõ cácvấn đề kinh tế, xã hội, môi trường này cần đạt đến độ như thế nào thì sẽ lànông nghiệp bền vững
Trang 12Theo GS,TS Võ Tòng Xuân - hiệu trưởng trường đại học An Giang thì:
“Có thể hiểu ngắn gọn khái niệm sản xuất nông nghiệp bền vững là chúng ta cần chọn một biện pháp sản xuất để cây trồng, vật nuôi của chúng ra tiếp tục cho chúng ta mỗi năm một lãi, chất lượng nguồn nước và đất đai hàng năm vẫn được duy trì tốt để thế hệ con cháu chúng ta tiếp tục được hưởng cái lợi tự đất và môi trường nước….[24]
Khái niệm này thiên về các giải pháp kỹ thuật để sản xuất nông nghiệpphát triển bền vững, chưa có cái nhìn tổng quan về phát triển một nền nôngnghiệp bền vững
Theo tác giả Châu Minh Thương:
“Nông nghiệp bền vững là một hệ thống trong đó con người tồn tại và
sử dụng những nguồn năng lượng không độc hại, tiết kiệm và tái sinh năng lượng, sử dụng nguồn tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không liên tục phá hoại những nguồn tài nguyên đó Nông nghiệp bền vững không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái đã có trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã bị suy thoái” [14].
Quan niệm này cũng thiên về giải pháp kỹ thuật để nông nghiệp pháttriển bền vững
Cổng thông tin điện tử của Chính Phủ, đã thống kê 10 khái niệm vềphát triển nông nghiệp bền vững, trong đó đáng lưu ý là các khái niệm số 6, 7
và 9 Khái niệm số 6 cho rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu tăng trưởng chung của nền kinh tế nhưng không làm suy thoái môi trường tự nhiên - con người, mà đảm bảo trên mức nghèo đói của người nông thôn Khái niệm số 7: Phát triển nông nghiệp bền vững là đảm bảo an ninh lương thực, tăng cải tổ kinh tế, khắc phục nghèo đói và tạo điều kiện tăng tốc độ công nghiệp hóa.
Trang 13Khái niệm số 9: Phát triển nông nghiệp bền vững là cực đại hóa phúc lợi hiện tại không làm giảm thiểu các phúc lợi ấy trong tương lai Các khái
niệm này đã đề cập đến những giác độ khác nhau của phát triển nông nghiệpbền vững, nhưng còn sa vào các nội dung cụ thể, chưa bao phủ, bao quát hoặckhái quát hóa tới mức bỏ qua những nội dung cơ bàn của phạm trù
Ta hiểu phát triển bền vững trong nông nghiệp là phát triển ngành nôngnghiệp trong trạng thái phát triển ổn định tăng trưởng cả về quy mô và tốc độ.Hơn nữa, sự phát triển này được duy trì bởi các trạng thái cân bằng, trong đóxác lập mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên Ở đây, con người làmột bộ phận của tự nhiên, hoạt động theo các quy luật của tự nhiên không chỉkhai thác tự nhiên mà còn hòa nhập vào tự nhiên, duy trì bồi bổ tự nhiên, ngănngừa những tai biến dẫn đến phá hoại tự nhiên Ngoài ra, sự hài hòa giữa conngười với tự nhiên chỉ được xác lập thực sự trong điều kiện sự hài hòa về lợiích giữa con người cới nhau trong một trật tự xã hội, bảo đảm cho loài người
như một bộ phận tự nhiên thống nhất Với ý nghĩa đó, Phát triển bền vững trong nông nghiệp là sự phát triển trong đó kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển bao gồm kinh tế, xã hội và môi trường trong nông nghiệp, nông thôn Nghĩa là phải bảo đảm được hiệu quả lâu dài
về mặt kinh tế; không gây ra phân hóa giàu nghèo đồng thời không gây ra những tệ nạn nghiêm trọng về mặt xã hội; sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không làm cạn kiệt và hủy hoại chúng nhằm thỏa mãn được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng tới các thế hệ tương lai.
Trang 141.1.2 Nội dung của phát triển bền vững trong nông nghiệp
1.1.2.1 Phát triển bền vững trong nông nghiệp về kinh tế
Phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế là sự phát triển đảm bảotăng trưởng, ổn định, lâu dài về mặt kinh tế của nông nghiệp, góp phần tíchcực vào phát triển kinh tế của quốc gia cộng đồng
Mục tiêu của phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự phát triển ổnđịnh với cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống của người dân,tránh được sự suy thoái và gánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai Điều đóđược thể hiện:
- Sản xuất nông nghiệp phải đáp ứng nhu cầu xã hội về sản xuất nôngnghiệp gồm: gia tăng sản lượng, làm tăng giá trị sản phẩm hàng hóa, hàng hóasản xuất ra đáp ứng một phần nhu cầu sử dụng của người dân, chất lượng sảnphẩm phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trường, trước hết là đảm bảotiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm
- Hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp ngày càng cao, người nôngdân phải có sự đầu tư năng suất lao động, năng suất ruộng đất và năng suấtcây trồng, đảm bảo sản xuất ra một khối lượng hàng hóa lớn, đáp ứng đượcyêu cầu tiêu dùng
- Sử dụng hiệu quả các nguồn lực lao động, vốn, lựa chọn hình thức sảnxuất phù hợp để sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, tăng năng suất
Tăng trưởng là một yếu tố không thể thiếu trong phát triển bền vữngnói chung, và phát triển bền vững trong nông nghiệp nói riêng Có tăngtrưởng cao, ổn định mới giải quyết được các vấn đề của xã hội do dân số tăng,mức sống và nhu cầu tăng cùng các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội
Trang 15khác….Nhưng tăng trưởng cao, bền vững không phải dựa vào việc khai tháckiệt quệ các nguồn lực (vốn, đất đai, sức lao động…) mà phải dựa trên việcứng dụng các thành tựu mới về công nghệ sinh học; bảo quản và chế biến,phát triển nông nghiệp sinh thái, bảo vệ thực vật Muốn vậy, phải đẩy mạnhCNH, HĐH trong sản xuất nông nghiệp….để có năng suất, chất lượng, hiệuquả mà vẫn đảm bảo nuôi dưỡng, tái tạo, phát triển các nguồn lực cho sự pháttriển lâu dài.
Phát triển bền vững trong nông nghiệp là phát triển nền nông nghiệp,trong đó, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực nhưng vẫn đảm bảotăng trưởng Các nguồn lực chủ yếu cho phát triển bền vững trong nôngnghiệp bao gồm: vốn, sức lao động, đất đai, khoa học công nghệ Sử dụng tiếtkiệm, có hiệu quả nguồn vốn thể hiện trước tiên ở chính sách đầu tư đúnghướng, tập trung, không dàn trải và tăng cường quản lý không để tham nhũng,thất thoát nguồn vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Đối với sức lao động, sử dụng tiết kiện, có hiệu quả chính là việc bố trí và
tổ chức sản xuất hợp lý, đảm bảo trong điều kiện lực lượng lao động trong nôngnghiệp giảm do tăng cường cho công nghiệp, dịch vụ và các ngành nghề khácnhưng trong nông nghiệp vẫn phát triển Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lựcđất đai là nâng cao hệ số sử dụng đất, thực hiện trên một diện tích đất được quayvòng sử dụng nghiều nhất và hiệu quả cao nhất nhưng không làm thoái hóa đất,
ô nhiễm môi trường đất Sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn lực khoa học công nghệ là việc ứng dụng các thành tựu của nguồn lực này vào sản xuất tạo ranăng suất, hiệu quả nhưng không lạm dụng, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái,sức khỏe con người, chống lại các quy luật của tự nhiên
-Phát triển bền vững trong nông nghiệp là nền sản xuất nông nghiệp có
cơ cấu kinh tế hợp lý Nói đến cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp là nói đến cơcấu giữa chăn nuôi và trồng trọt Trong trồng trọt lại phân ra cơ cấu giữa cây
Trang 16lương thực, cây rau mầu…trong chăn nuôi có cơ cấu giữa chăn nuôi gia súc,gia cầm, thủy sản…cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý là cơ cấu đảm bảo tỷtrọng phù hợp giữa chăn nuôi và trồng trọt, giữa các loại cây trồng, giữa chănnuôi các loại con…trên cơ sở lợi thế cạnh tranh và sự cân đối trong phát triểnnông nghiệp ở từng vùng, từng địa phương.
1.1.2.2 Phát triển bền vững trong nông nghiệp về xã hội
Phát triển bền vững trong nông nghiệp về xã hội đó chính là sự đónggóp cụ thể của nông nghiệp cho phát triển xã hội, đảm bảo sự công bằng trongphát triển
Phát triển bền vững trong nông nghiệp là phát triển nền sản xuấtbảo đảm được công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, tạođược cơ sở vật chất cho phát triển nông thôn mới Đây là nội dung rấtquan trọng của phát triển bền vững trong nông nghiệp, vì nông nghiệp làngành sử dụng nhiều lao động, nhưng lao động nông nghiệp lại có tínhchất thời vụ, thu nhập thấp, điều kiện sinh sống ở nông thôn khó khăn,cho nên hiện tượng bỏ nghề nông đi tìm một công việc khác có thu nhậpcao hơn là một xu thế trong sự phát triển của xã hội, nhất là thời kỳ pháttriển công nghiệp Xét cả về phương diện lý luận, trong mối quan hệ lợiích và thực tế ở các nước và Việt Nam đã chứng minh điều này Vì thế,một nội dung rất quan trọng và cũng là yêu cầu để phát triển bền vữngtrong nông nghiệp là phải vừa đảm bảo việc làm cho người lao động nôngnghiệp có mức sống không được chênh lệch thấp quá so với mức sốngtrung bình của cư dân đô thị và thường xuyên được cải thiện
Phát triển bền vững về xã hội sẽ đảm bảo cuộc sống của người nôngdân đạt kết quả ngày càng cao, nâng cao thu nhập, đảm bảo cuộc sống giađình, cải thiện chất lượng cuộc sống, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giảmkhoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội, giảm các tệ nạn
Trang 17xã hội, nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần củangười nông dân.
Điều đó thể hiện ở các yếu tố sau:
+ Sử dụng hợp lý lao động, phát triển kinh tế nông nghiệp phải đi đôivới giải quyết việc làm cho người lao động
+ Phát triển kinh tế phải đi đôi với xóa đói giảm nghèo, đảm bảo ổnđịnh xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân
Phát triển bền vững trong nông nghiệp là phát triển một nền nông nghiệptrong đó đòi hỏi trình độ của người lao động ngày càng cao Yêu cầu của nôngnghiệp phát triển bền vững là sự phát triển vừa đảm bảo mục tiêu tăng trưởngkinh tế vừa đảm bảo mục tiêu ổn định xã hội và bảo vệ môi trường Trong khi
đó, người lao động là chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp Do đó, muốnphát triển bền vững trong nông nghiệp người lao động phải có trình độ kiến thứckhoa học kỹ thuật, kiến thức chính trị - xã hội, kiến thức bảo vệ môi trường nhấtđịnh Những kiến thức đó giúp cho họ ứng dụng vào trong sản xuất để phát triểnnông nghiệp bền vững Đến lượt nó, sự phát triển bền vững trong nông nghiệplại đặt ra yêu cầu đòi hỏi người lao động có trình độ cao hơn
1.1.2.3 Phát triển nông nghiệp bền vững về môi trường
Là phải khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiênnhiên, phòng ngừa ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường
Để phát triển bền vững trong nông nghiệp thì môi trường để phát triểnnông nghiệp cần đảm bảo các yếu tố như: duy trì độ màu mỡ của đất, độ ônhiễm của không khí, độ ô nhiễm của nguồn nước
Phát triển nông nghiệp bền vững về môi trường là phát triển hàng hóanông sản đảm bảo an toàn cho người sử dụng không dư lượng thuốc bảo vệthực vật
Trang 181.2 Các yếu tố cấu thành nông nghiệp phát triển bền vững và nhân tố ảnh hưởng tới phát triển bền vững trong nông nghiệp
1.2.1 Các yếu tố lực lượng sản xuất trong cấu thành nông nghiệp phát triển bền vững
- Trình độ phát triển và ứng dụng KHCN vào sản xuất, lưu thông và chế biến nông phẩm hàng hóa KHCN là một yếu tố của LLSX, ngày càng có
vai trò to lớn và trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi trong sản
xuất và trong đời sống, đúng như C.Mác dự đoán: “Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thành lực lượng sản xuất độc lập”[22,trang 145].
Trong nông nghiệp, yếu tố KHCN giữ vai trò rất quan trọng, quyết định đếnvấn đề năng suất, hiệu quả, bền vững Bởi vì, nông nghiệp có một đặc điểm làchịu sự tác động lớn của yếu tố thiên nhiên, kể cả sản xuất và bảo quản, chếbiến Mức độ lệ thuộc vào thiên nhiên cũng sẽ giảm dần Một nền nôngnghiệp tự nhiên (phụ thuộc hoàn toàn vào thiên) là nền nông nghiệp có trình
độ phát triển thấp, không bền vững và chịu tác động mù quáng của các quyluật tự nhiên Sự phát triển đó không từ nội tại nền nông nghiệp mà lệ thuộchoàn toàn vào yếu tố bên ngoài (thiên nhiên) Sự phát triển của KHCN giúpcon người ngăn ngừa được những tai biến thiên nhiên, làm chủ được thiênnhiên, hạn chế được sự lệ thuộc của nông nghiệp vào yếu tố thiên nhiên, chophép phát triển nông nghiệp một cách chủ động, hiệu quả, tăng tính ổn định,giữ được tốc độ phát triển theo hướng bền vững
- Trình độ phát triển kỹ năng về khoa học công nghệ của người lao động và nhà quản lý là một yếu tố quan trọng của LLSX trong nền nông nghiệp phát triển bền vững
Nói đến LLSX, thì yếu tố quan trọng hàng đầu là người lao động với kỹnăng lao động của họ (bao gồm cả lao động trực tiếp và lao động gián tiếp),
mà đối với nông nghiệp là người nông dân, những người lãnh đạo quản lý
Trang 19HTX, lãnh đạo chỉ đạo sản xuất, lãnh đạo ứng dụng các thành tựu KHCN vào
sản xuất…Đây là chủ thể của quá trình phát triển, C.Mác đã viết “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, người lao động”
[7,trang 42] Lao động thuần túy, cơ bắp, không có kiến thức KHCN chỉ thíchứng với nền nông nghiệp tự nhiên Nông nghiệp phát triển bền vững phải dựatrên cơ sở khoa học công nghệ phát triển cao Nhưng để hiểu và đưa KHCNvào sản xuất lại phụ thuộc vào trình độ nhận thức, tay nghề, khả năng ứngdụng các thành tựu đó vào sản xuất của người lao động; khả năng tổ chứcphát triển KHCN và chỉ đạo đưa KHCN vào sản xuất của các nhà lãnh đạo,quản lý Vì vậy, đòi hỏi của việc phát triển bền vững trong nông nghiệp làtrình độ phát triển kỹ năng KHCNcủa người lao động và nhà quản lý càngcao…
- Phát triển và hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông nghiệp nông thôn (điện, đường, trường, trạm, cơ giới hóa, thủy lợi hóa…)
Kết cấu hạ tầng có thể hiểu là những tư liệu lao động cấu thành LLSXtrong nông nghiệp Theo C.Mác, tư liệu lao động là một trong những tiêu thức
cơ bản để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” [7,trang 269] sự phát
triển kết cấu hạ tầng với tư cách là công cụ lao động giúp người lao độngtrong nông nghiệp “nối dài bàn tay” và nhân lên sức mạnh lao động conngười; với tư cách là cơ sở vật chất phục vụ đời sống, thì sự phát triển kết cấu
hạ tầng giúp người nông dân – lực lượng lao động nông nghiệp yên tâm hơnvới nơi cư trú của mình là nông thôn và ngành nghề đã gắn bó với họ Sự lạchậu, yếu kém của kết cấu hạ tầng nông nghiệp sẽ cản trở sự phát triển nôngnghiệp bền vững
Trang 201.2.2 Các yếu tố quan hệ sản xuất trong cấu thành nông nghiệp phát triển bền vững
- Mối quan hệ giữa quyền sử hữu và quyền sử dụng đối với tìa nguyên (đất đai, nguồn nước…) và các nguồn lực khác được giải quyết tốt.
Quyền sử dụng là thể hiện mối quan hệ giữa con người với con ngườitrong việc thực hiện quyền được khai thác, sử dụng của cải trong xã hội
Trong nông nghiệp, quyền sở hữu dược thể hiện là quyền sở hữu đất đai,quyền sử dụng được thể hiện ra là quyền sử dụng đất đai Ở Việt Nam, thực hiện
sự nghiệp đổi mới, đã có sự tách bạch tương đối giữa 2 quyền sở hữu và quyền
sử dụng Trong đó, đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhấtquản lý, nhưng Nhà nước giao quyền sử dụng lâu dài cho hộ nông dân Ngườinông dân được toàn quyền sử dụng, chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa
kế, thế chấp đất đai theo quy định của pháp luật trong thời hạn Nhà nước giaocho quyền sử dụng Việc tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đã giảiquyết 2 vấn đề cơ bản cho phát triển bền vững trong nông nghiệp: một là, quyền
sở hữu đất đai vẫn là toàn dân, cho phép Nhà nước có thể sử dụng quyền sở hữuđất đai này để can thiệp vào khi thấy quyền sử dụng dược dùng không đúng mụcđích, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nông nghiệp, hai là, người nôngdân với quyền sử dụng đất đai được luật pháp hóa, đã giải quyết được vấn đề cơbản của nông nghiệp là trả lại tư liệu sản xuât (đất đai) cho người nông dân, mốiquan hệ lợi ích được xác lập, cho phép người nông dân với những kinh nghiệm,
kỹ năng vốn có được toàn quyền khai thác nguồn lực đất đai cho phát triển nôngnghiệp toàn diện để thu địa tô chênh lệch II Chính nhờ chính sách này, mà tạođược bước đột phá trong phát triển nông nghiệp ở Việt Nam Từ chỗ thiếu lươngthực cơ bản, Việt Nam phải nhập khẩu sang xuất khẩu lương thực mỗi năm từ 3– 4 triệu tấn Tuy nhiên, mỗi quan hệ giữa 2 quyền này nếu nhận thức và sửdụng không đúng sẽ ảnh hưởng đế phát triển nông nghiệp bền vững Khi Nhà
Trang 21nước dùng quyền sử hữu can thiệp quá sâu như: giao quyền sử dụng trong thờihạn quá ngắn, không ổn định, hạn chế quyền lợi của quyền sử dụng… dẫn đếnngười được quyền sử dụng không đồng thời khai thác và bồi dưỡng tiềm năngcủa đất đai, giảm hiệu quả sử dụng các nguồn lực (đất đai, rừng, nước…)nhưngnếu buông lỏng quản lý quyền sở hữu, dẫn đến nhiều vi phạm trong thực hiệnquyền sử dụng như: dùng quyền sử dụng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nôngnghiệp sang làm nhà ở, phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ sai quy định…làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp ảnh hưởng đến an ninh lương thực; khaithác tài nguyên bừa bãi, gây ô nhiễm môi trường nước….Do vậy, để phát triểnbền vững trong nông nghiệp phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền sở hữu
và quyền sử dụng, chuyển đổi mục đích sử dụng sao cho lợi ích người nông dângắn bó chặt chẽ với quyền sử dụng, họ được toàn quyền khai thác tư liệu sảnxuất này theo quy định của pháp luật để phục vụ cho mục đích của họ; Nhà nướcbảo đảm quyền sở hữu để đất đai không cho sử dụng sai mục đích Tức là phảithực hiện giao đất lâu dài cho họ nông dân, còn Nhà nước tăng cường quản lý đểcho quyền sử đụng được thực hiện đúng mục đích
- Các loại hình sở hữu trong nông nghiệp phát triển đa dạng và phù hợp
Nông nghiệp là lĩnh vực ở trình độ phát triển của LLSX chậm nhất sovới các lĩnh vực khác, tương ứng với nó phải tồn tại nhiều hình thức sở hữu
đa dạng với nhiều thành phần kinh tế khác nhau: kinh tế hộ gia đình cá thể,kinh tế tiểu chủ, trang trại, kinh tế HTX; kinh tế Nhà nước (các nông, lâmtrường quốc doanh), kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước
Kinh tế hộ gia đình là hình thức kinh tế cá thể,phù hợp với yêu cầu khaithác có hiệu quả các tiềm năng về đất đai, vốn, sức lao động và tay nghề cá nhânnhằm phát triển sản xuất ở những nơi có trình độ LLSX thấp,lạc hậu Đó là
Trang 22những tổ chức kinh tế của từng gia đình nông dân không tham gia HTX mà hoạtđộng sản xuất, kinh doanh dựa vào vốn, sức lao động của bản thân và gia đình.
Kinh tế tiểu chủ, trang trại giống như kinh tế hộ gia đình, nhưng lớnhơn về quy mô, sức sản xuất Có tích tụ, tập trung sản xuất, thuê mướn laođộng, theo hướng sản xuất TBCN
Kinh tế HTX là tổ chức hợp tác của những người lao động liên kết gópvốn, góp sức, hoạt động theo nguyên tắc: “tự nguyện, dân chủ, bình đẳng,cùng có lợi” để sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và các ngành nghề kháctheo hướng dẫn của Nhà nước
Kinh tế Nhà nước là các nông, lâm trường quốc doanh do nhà quản lý
và tổ chức sản xuất
Kinh tế Tư bản tư nhân và kinh tế Tư bản nhà nước là những loại hìnhdoanh nghiệp tư nhân và những loại hình doanh nghiệp có vốn của tư nhân vàvốn của Nhà nước hoạt động trong nông nghiệp
Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế là để phù hợp với sự phát triểnkhông đồng đều của LLSX nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững ỞViệt Nam hiện nay, các nông, lâm trường quốc doanh kiểu cũ sản xuất khônghiệu quả đã chuyển đổi theo hình thức khoán, giao rừng cho người lao động.Nhà nước chỉ nắm vai trò quản lý; các loại hình kinh tế tư bản tư nhân, tư bảnnhà nước chưa phát triển ở nông nghiệp Loại hình kinh tế hộ gia đình, hộ xãviên, cá thể, phát triển mạnh, đây được coi là chủ thể chủ yếu của mô hình kinh
tế nông nghiệp, nông thôn; các loại hình kinh tế hợp tác dịch vụ (thay thế chocác loại hình HTX sản xuất trước đây) là tổ chức HTX của người nông dân đónggóp cổ phần, làm nhiệm vụ cung ứng những dịch vụ mà hộ gia đình không làmđược và làm không hiệu quả và cùng với chính quyền địa phương chăm lo sự
nghiệp phúc lợi xã hội và thực hiện nguyên tắc “tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi”các mô hình kinh tế trang trại đang phát triển ở nhiều nơi.
Trang 23Việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu, các mô hình tổ chức kinh tếtrong nông nghiệp cho phù hợp với trình độ của LLSX sẽ thúc đẩy sản xuấttrong lĩnh vực này phát triển nhiều hơn, ổn định hơn và bền vững hơn Thựctiễn hơn 20 năm đổi mới của Việt Nam trên lĩnh vực nông nghiệp đã chứngminh điều đó, từ một đất nước thiếu lương thực, phải nhập khẩu lương thực,đến nay có xuất khẩu.
Thị trường hàng hóa trong nông nghiệp phát triển Sự phát triển, mở rộngthị trường cho phép mở ra khả năng tiêu thụ các sản phẩm nông sản hàng hóa màngười nông dân tạo ra Sự gia tăng nhu cầu của thị trường là động lực mạnh mẽthúc đẩy ngành nông nghiệp mở rộng sản xuất, thực hiện thâm canh, tăng vụcung cấp nhiều sản phẩm cho xã hội Đồng thời, dưới sự tác động của quy luậtgiá trị, quy luật cạnh tranh, buộc người sản xuất nông nghiệp phải biết khai thácnhững lợi thế cạnh tranh, lựa chọn lĩnh vực sản xuất phù hợp, thường xuyên ứngdụng KHCN, nhạy bén, năng động để tạo ra những sản phẩm nông nghiệp cónăng suất, chất lượng, hiệu quả đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu của xã hội
Như vậy, phát triển thị trường giúp sản xuất nông nghiệp không chỉ giảiquyết lương thực cơ bản cho người nông dân, mà còn tạo ra nhiều sản phẩmhàng hóa phục vụ cho nhu cầu phát triển khác Thị trường mở ra khả năng vôcùng rộng lớn, cho phép phát triển tối đa năng lực sản xuất nông nghiệp chứ
không còn bó hẹp trong sản xuất manh mún, “tự cấp, tự túc” nữa, từ đó thúc đẩy
nông nghiệp tăng trưởng Tăng trưởng là yếu tố cấu thành trong phát triển bềnvững Cho nên, phát triển bền vững trong nông nghiệp không thể thiếu vai tròcủa thị trường Thông qua phát triển thị trường còn tạo ra sự giao lưu kinh tế,văn hóa giữa các vùng, các địa phương trong nước và quốc tế, qua đó có điềukiện học hỏi, tiếp thu những tri thức mới, những kinh nghiệm hay vào sản xuất,nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của người dân
Trang 24Để phát triển thị trường hàng hóa trong nông nghiệp, vai trò của Nhànước rất quan trọng Vai trò của Nhà nước thể hiện ở chỗ Nhà nước đề cácchủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy kinh tế thị trườnghàng hóa nông nghiệp phát triển và quản lý nền kinh tế thị trường hàng hóatrong nông nghiệp phát triển theo đúng quỹ đạo của Nhà nước.
1.2.3 Các yếu tố về môi trường tự nhiên và xã hội cấu thành nông nghiệp phát triển bền vững
Môi trường tự nhiên và xã hội cấu thành nội dung cơ bản nhất của nềnnông nghiệp phát triển bền vững, trong đó mối quan hệ giữa con người và tựnhiên được biểu hiện ở thái độ tích cực của con người đối với tự nhiên Sựphân biệt giữa nền nông nghiệp phát triển bền vững với không bền vữngchính là ở mối quan hệ này Tuy nhiên, mối quan hệ giữa con người với tựnhiên không bao giờ thực hiện đơn lẻ mà là hành vi mang tính xã hội Do đó,nền nông nghiệp phát triển bền vững không thể không bao hàm mối quan hệgiữa con người với con người, trong đó những quan hệ lành mạnh tích cực vớinhau trở thành điều kiện sống và tồn tại cho nền nông nghiệp phát triển bềnvững, thể hiện ở các điều kiện cơ bản sau:
- Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững và có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên (khai thác đi lền với bổi dưỡng tự nhiên, giảm thiểu và đi đến loại trừ ô nhiễm môi trường sống).
Các hoạt động khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững và có
hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên cho nền nông nghiệp phát triển bềnvững bao gồm: Chống tình trạng suy thoái đất nông nghiệp, sử dụng hiệu quả
và bền vững tài nguyên đất; bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tàinguyên nước; bảo vệ rừng, thực hiện các giải pháp tái tạo rừng, phủ xanh đấttrống, đồi núi trọc; quản lý việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, phânbón, rác thải, chất thải từ nội tạng động thực vật ở những nơi chế biến; bảo
Trang 25tồn đa dạng sinh học, thực hiện các biện pháp giảm nhẹ những ảnh hưởng cóhại do biến đổi khí hậu, tích cực phòng chống, thiên tai, phát triển nền nôngnghiệp sinh thái…
- Thành thị hóa nông thôn, xây dựng nông thôn văn minh loại trừ những tiêu cực gây ô nhiễm môi trường xã hội Nông thôn là môi trường sống
của nông dân, chủ thể của nền nông nghiệp phát triển bền vững Phát triểnnông nghiệp bền vững thì đồng thời phải phát triển nông thôn bền vững Xâydựng nông thôn bền vững bao gồm các hoạt động: phát triển, hoàn thiện kếtcấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn, thực hiện thành thị hóa nông thôn;tích cực xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nôngdân; bài trừ các hủ tục lạc hậu, các tệ nạn xã hội, xây dựng nông thôn vănminh….các hoạt động này tạo cho nông dân có cuộc sống ổn định gắn bó vớinông thôn, phát triển nông nghiệp bền vững
- HTCT ở nông thôn vững mạnh Việc tổ chức thực hiện xây dựng nông
nghiệp phát triển bền vững là ở cơ sở HTCT ở nông thôn bao gồm cơ quanhành chính (chính quyền), tổ chức đảng, các đoàn thể chính trị - xã hội là chủthể trực tiếp lãnh đạo, đưa phát triển bền vững vào trong cuộc sống Cho nênHTCT ở cơ sở là cực kỳ quan trọng Vai trò của HTCT ở nông thôn thể hiện ởchỗ trực tiếp tổ chức cho nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nông nghiệp bềnvững vào thực tiễn cuộc sống Các chủ trương, đường lối, chính sách dù cóđúng nhưng khâu thực hiện không tốt thì cũng chỉ dừng lại trên sách vở; đóchưa tính đến thực hiện sai có thể dẫn tới phá hoại Sự vững mạnh của HTCT
ở nông thôn là yếu tố chính trị - xã hội bảo đảm cho việc tổ chức thực hiệnphát triển bền vững tron nông nghiệp đạt được mục đích
Trang 261.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển bền vững trong nông nghiệp
Nông nghiệp phát triển bền vững chịu tác động của nhiều nhân tố,nhưng khái quát lại có 03 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng như sau:
1.2.4.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
Những nhân tố về điều kiện tự nhiên bao gồm: điều kiện đất đai,thờitiết, khí hậu, nguồn nước, rừng, khoáng sản và các yếu tố sinh học khác…cóảnh hưởng rất lớn đến phát triển nông nghiệp bền vững, nhất là đối với cácnước có trình độ CNH còn thấp
Các nhân tố về điều kiện tự nhiên có tác động trực tiếp tới việc hìnhthành, vận động và biến đổi ngành nông nghiệp Trong các nội dung của nôngnghiệp phát triển bền vững đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên.Môi trường sản xuất nông nghiệp cũng do yếu tố tự nhiên quy định Mỗi vùngnông nghiệp lại có đặc điểm về tự nhiên riêng, đo đó đặc điểm về xã hội, kếtcấu xã hội cũng riêng, vùng núi khác vùng đồng bằng…
Điều kiện tự nhiên cũng ảnh hưởng khá lớn đến phát triển kinh tế Ởnhững địa phương thuần nông, nông nghiệp là ngành chiếm tỷ trọng lớn vàảnh hưởng rất lớn đến các ngành khác Các vùng kinh tế có điều kiện tự nhiênkhác nhau, do đó, quy mô của các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp,xây dựng) và trong nội bộ ngành công nghiệp cũng khác nhau Điều đó đượcthể hiện rõ nét trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp giữa các vùng đồng bằng,trung du và miền núi Vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triểnnhững ngành có lợi thế hơn so với vùng khác và ngược lại Đó là cơ sở tựnhiên để phát triển, khai thác các lợi thế so sánh của vùng Sẽ là phát triểnkhông bền vững nếu không căn cứ vào điều kiện tự nhiên để xây dựng
1.2.4.2 Nhóm nhân tố về tổ chức - kỹ thuật
Các nhân tố tổ chức - kỹ thuật bao gồm: các hình thức tổ chức sản xuất
Trang 27trong nông nghiệp, sự phát triển KHCN và việc áp dụng KHKT vào sản xuất Sựtồn tại và hoạt động của các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp các hình thức tổchức sản xuất với các mô hình tổ chức thích ứng Do đó, các hình thức tổ chứcsản xuất trong nông nghiệp là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tớiphát triển bền vững trong nông nghiệp.
Ngày nay, KHCN trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sự phát triểncủa KHCN và việc ứng dụng nó vào sản xuất đã trở thành động lực mạnh mẽ
để phát triển xã hội nói chung, nông nghiệp nói riêng Vì tiến bộ KHCN và ứngdụng nó vào sản xuất một mặt, làm xuất hiện nhiều loại nhu cầu mới, tác độngđến sự thay đổi về số lượng, tăng mức nhu cầu, làm thay đổi tốc độ phát triểncủa các ngành Mặt khác, nó tạo khả năng mở rộng sản xuất, chuyên môn hóacao và phát triển những ngành nghề đòi hỏi trình độ cao, tốn ít nguyên nhiênvật liệu và giảm ô nhiễm hơn
1.2.4.3 Nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội
Nhân tố này luôn tác động mạnh mẽ tới sự hình thành và phát triển củangành nông nghiệp nói chung và ngành nông nghiệp phát triển bền vững nóiriêng Nhóm các nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng tới phát triển nông nghiệpbền vững bao gồm: Thị trường, hệ thống chính sách vĩ mô của Nhà nước; cơ
sở hạ tầng nông thôn; sự phát triển các khu công nghiệp đô thị; dân số, laođộng bao gồm cả số lượng và chất lượng (trình độ dân trí, trình độ chuyênmôn, tập quán sản xuất…)
Thị trường gắn liền với kinh tế hàng hóa Trong nền kinh tế hàng hóa,các quan hệ kinh tế đều được thực hiện thông qua thị trường Các yếu tố cơbản của thị trường là cung, cầu, và giá cả Nhu cầu thị trường vừa là mục tiêu,vừa là động lực phát triển sản xuất, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển nôngnghiệp Tính đa dạng của nhu cầu tác động mạnh đến việc biến đổi số lượng
và cơ cấu kinh tế nông nghiệp Thị trường không chỉ thực hiện chức năng tiêu
Trang 28thụ sản phẩm mà còn thực hiện chức năng thu hút các yếu tố đầu vào của quátrình sản xuất nông nghiệp như: vốn, lao động, vật tư, công nghệ….
Thị trường với bản chất của nó là tự phát, dẫn đến những rủi ro chongười sản xuất và gây lãng phí các nguồn lực của xã hội, vì thề cần phải có sựquản lý, can thiệp của Nhà nước ở tầm vĩ mô để thị trường phát triển đúnghướng lành mạnh, tránh rủi ro Để khai thác được nhân tố này đòi hỏi phảinâng cao chất lượng công tác nghiên cứu nhu cầu thị trường trong và ngoàinước, thu thập và xử lý thông tin về nhu cầu thị trường để làm cơ sở cho việcphát triển bền vững trong nông nghiệp
Nông nghiệp là lĩnh vực phát triển lạc hậu, trong đó có nguyên nhânđây là lĩnh vực rộng lớn, kết cấu hạ tầng đầu tư chi phí lớn, trong khi nguồnlực nông nghiệp có hạn, nên thường lạc hậu hơn so với các ngành khác Đếnlượt nó, kết cấu hạ tầng yếu kém sẽ làm cho nông thôn phát triển không bềnvững Vì vậy, để phát triển bền vững, tất yếu phải phát triển hệ thống kết cấu
hạ tầng bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng kinh tế - xã hội
Sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ là một nhân tố quan trọng ảnhhưởng tới sự phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn, góp phần đưa lĩnhvực này phát triển Tuy nhiên, nó cũng đưa lại những tác động tiêu cực nhưlàm biến đổi kết cấu dân số, lao động, việc làm và môi trường của sản xuấtnông nghiệp và nông thôn…
1.3 Một số mô hình xây dựng nông nghiệp phát triển bền vững ở các nước
1.3.1 Mô hình nông nghiệp phát triển bền vững của Ấn Độ
Là một quốc gia lớn nhất khu vực Nam Á, có diện tích 3.288 triệu km2
dân số trên 1,16 tỉ người (năm 2006), 70% dân số sống ở nông thôn Đất nước
có điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Song, nếu chỉ dựa vàonhững điều kiện tự nhiên và lao động thì không thể đảm bảo nguồn lươngthực nuôi một số lượng lớn dân cư trong nước, chưa nói đến những thay đổi
Trang 29bất thường của thời tiết như lũ lụt, hạn hán…cho nên, đã có thời gian dài đấtnước xảy ra nạn đói kinh niên, đất nước không vượt qua ngưỡng 120 triệutấn/năm, và đã từng phải nhập khẩu lương thực nhiều nhất trên thế giới…đếnnay, nhờ thực hiện cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp, Ấn Độ khôngnhững đảm bảo an ninh lương thực mà còn xuất khẩu ra thế giới nhiều sảnphẩm lương thực.
Có thể khái quát mô hình nông nghiệp phát triển bền vững của Ấn Độnhư sau:
- Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng KHCN tạo ra sự đột phá trong sản xuất nông nghiệp.
Giải quyết vấn đề lương thực từ năm 1963, Ấn Độ thực hiện cuộc cáchmạng xanh lần thứ nhất, nội dung chủ yếu của cuộc cách mạng này là tạo ranhững giống cây trồng mới có năng suất, chất lượng dinh dưỡng cao vào sảnxuất từ chủng lúa mì Mehico và chủng lúa nước Philippin, đồng thời phát huykhả năng của các giống cây lương thực này bằng tăng cường các biện pháp kỹthuật Cuộc cách mạng này như “bản giao hưởng”, đã huy động sự tham giađồng bộ từ các nhà hoạch định chính sách của chính phủ, các cơ quan hữuquan, các nhà khoa học, người tiếp thị và nhân dân Bằng việc tạo ra giống lúamới này đã mang lại bước ngoặt kỳ diệu cho nền nông nghiệp nước này
Đến năm 1986, sản lượng lương thực đạt 148 triệu tấn, giấc mơ đủ nhucầu lương thực thành hiện thực, mười năm sau đạt trên 200 triệu tấn, trở thànhnước lớn thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo
Đồng thời với vấn đề lương thực, Chính phủ Ấn Độ chú trọng ứng dụngkhoa học kỹ thuật trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ cây lương thực sangcây có giá trị kinh tế cao hơn Kết quả là, ngoài vị trí thứ hai trên thế giới về xuấtkhẩu gạo, Ấn Độ còn giành được vị trí hàng đầu thế giới trong sản xuất nhiềuloại sản phẩm nông nghiệp như mía đường, chè, rau tươi, hoa quả, cao su…
Trang 30Cuộc “cách mạng xanh” lần thứ nhất đã mang lại các thành tựu to lớntrong sản xuất nông nghiệp, nhưng cũng đang đứng trước nhiều thách thứcnhư giá trị đóng góp vào GDP thấp, chỉ khoảng 20%, vào doanh thu xuấtkhẩu 16%, tốc độ tăng trưởng có biểu hiện suy giảm, từ 5% những năm 80của thế kỷ XX, nay giảm xuống 1,5%, sản lượng lương thực bình quân đầungười chỉ khoảng 170kg…có nhiều lý do nói về sự suy giảm này, trong đóvấn đề để giải quyết nhu cầu lương thực, trong chỉ đạo thực hiện Chính Phủ
Ấn Độ thiên về những giống cây cho năng suất cao hơn là vấn đề giá trị kinhtế; đẩy nhanh khai thác tài nguyên đất, lạm dụng nhiều phân bón hóa học,thuốc bảo vệ thực vật…nên làm cạn kiệt độ màu mỡ của đất đai; các nguồngen dự trữ giảm do sử dụng đại trà giống mới…đứng trước thực trạng trên, từnăm 2005, Thủ tướng Ấn Độ, M.Xinh đã kêu gọi người dân nước này tiếnhành cuộc “cách mạng xanh” lần thứ hai với việc sử dụng công nghệ thânthiện với môi trường
- Tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho phát triển nông nghiệp nông thôn.
Chính Phủ Ấn Độ đã xây dựng chương trình quốc gia về CNH, HĐHnông thôn với kế hoạch mỗi năm thực hiện CNH cho 100 nhóm làng, xã Ưutiên điện khí hóa nông thôn, tăng cường các biện pháp đầu tư để đưa nôngnghiệp phát triển theo hướng sản xuất lớn như: quy hoạch các khu vực sảnxuất nông nghiệp lớn; đầu tư phát triển các lĩnh vực sau quy hoạch, bảo quản,chế biến, vận chuyển và tiếp thị các sản phẩm nông nghiệp; triển khai chươngtrình lập quỹ hỗ trợ phát triển thủy lợi cho 100 khu vực được ưu tiên Hiệnnay, bằng cuộc cách mạng xanh lần thứ hai Chính Phủ Ấn Độ thực hiện kếhoạch phát triển thủy lợi khổng lồ, nhằm điều phối nguồn nước tưới từ miềnBắc sang miền Tây và đến miền Nam để khai phá đất còn hoang hóa ở cáckhu vực miền Tây và miền Nam
Trang 31- Ban hành nhiều chính sách ưu tiên về phát triển nông nghiệp, nông thôn
+ Xóa bỏ mọi hình thức bao cấp trong nông nghiệp, đồng thời phát huyvai trò của kinh tế hộ nông dân, thực hiện tư nhân hóa đối với nhiều ngànhnghề khác nhau trong nông nghiệp thông qua thực hiện các hợp đồng và chế
độ thuê đất, khuyến khích nông dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triểntrồng cây cảnh, dược liệu
+ Thành lập ngân hàng hạt giống (từ năm 2000) có thể bảo quản khoảng 7
- 8% số giống được đăng ký sản xuất trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu trongtrường hợp thiên tai và để Trung tâm mùa màng quốc gia giúp nông dân chủđộng hơn trong sản xuất nông nghiệp; phát triển các chi nhánh ngân hàngthương mại ở khu vực nông thôn
+ Ban hành luật về hàng hóa thiết yếu nhằm xóa bỏ mọi hạn chế lưu
thông nông sản trong các bang, khuyến khích phát triển kinh tế hàng hóatrong nông nghiệp; thực hiện chính sách bảo hộ nông nghiệp qua một biểuthuế hợp lý; cơ cấu thuế luôn được điều chỉnh theo hướng vừa tăng thu chongân sách vừa bảo đảm lợi ích cho người nông dân Gần đây, để triển khaicuộc cách mạng xanh lần thứ hai, Chính Phủ Ấn Độ đã thông qua đạo luật
“bảo đảm việc làm” cho người dân, theo đó mỗi hộ nông dân sẽ có một ngườiđược bảo đảm việc làm tối thiểu 100 ngày/năm, với mức lương tối thiểu là1,3USD/ngày…thực hiện chương trình đó, chính Phủ Ấn Độ đã tăng ngânsách cho phát triển nông thôn lên 47% vào năm 2006 và quỹ phúc lợi nhiều tỷUSD đã được thành lập để hỗ trợ nông dân
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp như cho phép
nông dân được tự do xuất khẩu lương thực và một số nông sản khác, thành lậpcác khu vực “nông nghiệp xuất khẩu” nhằm thúc đẩy khả năng xuất khẩunông sản, nhất là những sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới
Trang 32Trong thời gian tới đây, để tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướngbền vững, Chính Phủ Ấn Độ nhấn mạnh:
+ Thay đổi hướng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng theo hướng tậptrung hơn cho phát triển thủy lợi và đầu tư cho các lĩnh vực giáo dục, y tếnông thôn…
+ Thực hiện chính sách lãi suất tín dụng thấp và một số trợ cấp nhưtăng trợ cấp mua thuốc bảo vệ thực vật để giảm thiểu rủi ro cho nông dân
Phát triển thị trường nông sản thống nhất; thiết lập một hệ thốngthương mại đa phương tạo điều kiện cho nông dân có thể tận dụng tối đa cácnguồn lực mà họ có thể phát triển nông nghiệp.[27,trang 53 - 58]
1.3.2 Mô hình nông nghiệp bền vững của Trung Quốc
Là đất nước đang phát triển, có dân số lớn nhất thế giới, trong đó 60%dân số sống ở nông thôn, diện tích đất canh tác chỉ có 0,13 ha/hộ, đặc biệt mỗi
hộ nông dân ở tỉnh Quảng Đông chỉ có 0,04ha.[22,trang 37] Trung Quốc đangtrong quá trình phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp, dịch vụ vừa phảigiải quyết mặt trái của quá trình này đến môi trường, xã hội và vấn đề đảmbảo an ninh lương thực cho trên 1,3 tỷ người
Những áp lực này đặt ra cho Trung Quốc phải có những chính sáchthích hợp để phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn Có thể nêu lên một
số kinh nghiệm như sau:
- Chú trọng bảo vệ môi trường nông thôn
Chính Phủ Trung Quốc đã quan tâm đến vấn đề bảo đảm môi trườngnông thôn thông qua một số giải pháp chủ yếu:
+ Kiểm soát toàn diện môi trường nông thôn Những giải pháp môitrường tập trung vào kiểm soát chất thải của gia cầm, gia súc, thủy sản ở đồngbằng và các hồ lớn Trong thập niên vừa qua Trung Quốc hoàn thành 800.000
dự án nước sinh hoạt cho 67 triệu dân nông thôn ở những vùng khó khăn
Trang 33Đồng thời, Chính Phủ còn xây dựng hệ thống kiểm soát ô nhiễm đất đai, hóachất diệt sâu bọ, phân bón hóa học và hệ thống nước thải nông thôn Việckiểm soát những nguồn gây ô nhiễm đó nhằm bảo đảm an toàn sản phẩmnông nghiệp Trong những năm gần đây, Chính Phủ Trung Quốc còn phátđộng chiến dịch xây dựng thị trấn, thị tứ ở nông thôn đẹp về môi trường 178thị trấn, làng xã được nhân danh hiệu môi trường bền vững.
+ Phát triển các khu vực sinh thái nông nghiệp Hiện tại, Trung Quốc đãxây dựng được gần 400 khu vực sinh thái nông nghiệp và 500 địa phương vàthành phố đạt tiêu chuẩn sinh thái nông nghiệp Trung Quốc tiếp tục hoàn thiệntiêu chuẩn quốc gia về quản lý sản phẩm hữu cơ (GAP) Phát triển nông nghiệptiết kiệm nước và canh tác khô Năm 2005, Chính Phủ Trung Quốc đã đầu tư
700 triệu NDT để xây dựng 460 cơ sở nông nghiệp tiết kiệm nước và canh táckhô với những kỹ thuật và công nghệ sinh học hiện đại Trong giai đoạn kếhoạch thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 10, Trung Quốc chi 3,5 tỉ NDT đểtriển khai phát triển mô hình năng lượng sinh thái Tới năm 2005, ở nông thôn
có tới 17 triệu hộ gia đình sử dụng khí mê tan từ chất thải của động vật nuôi.Những năm tiếp theo 2200 dự án khí mê tan tương tự được triển khai thànhcông Hơn nữa, hơn 189 triệu hộ gia đình còn sử dụng bếp nấu tiết kiệm nhiênliệu, sử dụng năng lượng mặt trời và các nguồn năng lượng sạch khác [22]
- Phát triển hợp lý nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện không gian diện tích bị thu hẹp.
Trung Quốc cần lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp hơn để kết hợphài hòa lợi ích công nghiệp hóa với phát triển bền vững các vùng phụ cậnngoại vi Điều cần thiết là quy hoạch tổng thể quỹ đất cho các chương trìnhphát triển và thiết lập sự liên kết không gian thành thị - nông thôn Đầu tư vàophát triển ngành nghề nông thôn và các khu vực dịch vụ thích hợp nhằm tạo
ra nhiều việc làm ở nông thôn và vùng ngoại vi và ưu tiên phát triển mạnhKHCN tạo ra sự phát triển đột phá về năng suất cây trồng, đầu tiên, nông
Trang 34nghiệp phấn đấu giải quyết vấn đề lương thực trong nước Những nỗ lực củaChính Phủ đã thành công, Trung Quốc đã sản xuất đủ lương thực trong phầndiện tích gieo trồng chỉ bằng 7% thế giới, đã nuôi sống 22% nhân loại; đếnnăm 2006 ở nông thôn đã có 22.495.902 xí nghiệp hương chấn, tổng giá trịđạt 2178,186 tỷ NDT.[16,trang 49].
- Quan tâm giải quyết vấn đề xã hội nông thôn
+ Xóa đói, giảm nghèo là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu
Lao động nông thôn quá lớn tạo ra áp lực cho phát triển nông thôn và
nỗ lực xóa đói giảm nghèo Theo đánh giá của WB, phần đông nông dânTrung Quốc vẫn nằm dưới ngưỡng nghèo trung bình (2USD/ngày)
Nhận thức rõ xóa đói giảm nghèo không giải quyết triệt để sẽ gây mất
ổn định xã hội Ngày 30/ 9 /1984, Trung Ương Đảng và Quốc vụ viện TrungQuốc đã ra thông tin về việc “giúp đỡ các vùng nghèo khó thay đổi diệnmạo” Đây là lần đầu tiên vấn đề xóa đói giảm nghèo được xác định là nhiệm
vụ đặc biệt của Nhà nước, mở màn cho các hoạt động chính thức của ChínhPhủ Trung Quốc về công tác này
Từ đó đến nay, Trung Quốc đã ra nhiều chính sách về xóa đói giảmnghèo Hướng trọng tâm là chuyển từ hoạt động cứu tế là chính sang hỗ trợ pháttriển kinh tế là chính thông qua phát triển ngành nghề, hình thành các xí nghiệphương chấn ở nông thôn, hỗ trợ nông dân nghèo vay vốn để phát triển, khai phámiền tây… qua gần 30 năm thực hiện, công cuộc xóa đói giảm nghèo của TrungQuốc đạt thành tựu to lớn Đất nước này đã giải quyết được vấn đề no ấm chohơn 200 triệu người nghèo ở nông thôn Tỷ lệ nghèo của nông thôn giảm từ30,7/1978 xuống còn khoảng 3%/2000 Năm 2007, số người nghèo tuyệt đốigiảm từ 21,48 triệu người/2000 xuống còn 14,79 triệu/2007.[16]
- Giải quyết việc làm và dịch chuyển lao động
Việc làm và chuyển dịch lao động nông thôn là vấn đề lớn liên quan tới
Trang 35phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội ở nông thôn, là yêu cầu cơ bản trong pháttriển kinh tế - xã hội ở nông thôn.
+Từ những năm 1978 - 1983, Trung Quốc đã xác lập chế độ khoántrong nông nghiệp Chế độ này đã phát huy mạnh tính tích cực, chủ động củangười nông dân trong sản xuất động tìm việc làm ngoài nông nghiệp và chủđộng tìm việc làm ngoài nông nghiệp để tăng thu nhập
+Phát triển mạnh xí nghiệp hương chấn để thu hút lao động nông thôn.Những năm từ 1984 - 1991, các xí nghiệp này là kênh chủ yếu thu hút laođộng ở nông thôn Năm 1984, xí nghiệp hương chấn thu hút 52,08 triệu laođộng, thì đến năm 1988 tăng lên 95,45 triệu lao động, bình quân mỗi năm thuhút 10,84 triệu, tăng 16,4%/năm [16]
+Từ năm 1988, Trung Quốc thực hiện chính sách tài chính tích cực,phát hành công trái, đầu tư vào công trình cơ sở hạ tầng như đường sá, côngtrình thủy lợi, năng lượng môi trường… ở nông thôn Những công trình đókhông những thúc đẩy kinh tế mà còn phát huy vai trò quan trọng trong tạoviệc làm, thu hút và chuyển dịch lao động ở nông thôn
1.3.3 Mô hình nông nghiệp bền vững của Thái Lan
Đất nước Thái Lan nằm ở Đông Nam Á với diện tích là 513.115km2.Dân số khoảng 65,2 triệu người [22,trang 55], trong đó phần lớn sống ở cácvùng nông thôn Những năm qua, đất nước này có thành công lớn về mặtnông nghiệp, là một trong số nước xuất khẩu lương thực lớn nhất thế giới
Để phát triển nông nghiệp, Chính Phủ Thái Lan đã thông qua chiến lượccải cách nông nghiệp và phát triển nông thôn theo hướng ổn định và bền vững.Đây là một trong 7 chiến lược phát triển kinh tế và xã hội Thái Lan trong giaiđoạn lịch sử của đầu thiên niên kỷ XXI Nội dung chủ yếu của chiến lược là:
- Tăng cường quản lý phát triển nông thôn và nông nghiệp bền vững
Nâng cao năng lực và tính tự quyết của cộng đồng dân cư thông qua
Trang 36khuyến khích sự tham gia của họ vào các đề án phát triển khu vực sinh sốngcủa mình Sự tham gia rộng rãi của dân cư vào phát triển cộng đồng được coi
là ưu tiên ở xã hội Thái Lan nhằm tìm kiếm sự đồng thuận và chia sẻ của cácbên liên quan, đặc biệt cộng đồng dân cư nông thôn với những mục tiêu củaChính Phủ
Chính phủ Trung Ương Thái Lan chú trọng tới việc nâng cao năng lựcquản lý của các cấp chính quyền địa phương trong việc quản lý phát triểnvùng Các chương trình tập huấn, hội thảo, đào tạo định hướng mục tiêu cholực lượng thực hiện chức năng quản lý các cấp địa phương, đặc biệt ở cácvùng nông thôn được tổ chức thường xuyên với những nội dung chi tiết
- Tập trung quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái nông thôn
Yêu cầu cấp bách là nâng cao nhận thức cho nông dân và cộng đồngdân cư về tầm quan trọng của môi trường sinh thái đối với sự phát triển bềnvững Nỗ lực bảo vệ môi trường sinh thái và sử dụng bền vững nguồn tàinguyên thiên nhiên cho thế hệ mai sau mang tính tập thể và trách nhiệmchung của tất cả các thành viên xã hội
Chính Phủ Thái Lan phê chuẩn nhiều chương trình, đề án lớn về sửdụng hiệu quả nguồn tài nguyên, bảo tồn và phục hồi nguồn tài nguyên vàkhu vực sinh thái như khu vực rừng núi, khu vực duyên hải ven biển Bêncạnh những mục tiêu bảo vệ, Chính Phủ còn quan tâm tới việc kết hợp khaithác các khu vực sinh thái bằng hoạt động du lịch để tăng thêm thu nhậpcho cộng đồng, đồng thời gắn lợi ích cộng đồng địa phương với việc bảo vệmôi trường tự nhiên
- Củng cố liên kết vùng kinh tế giữa khu vực nông thôn với thành thị
Liên kết tương tác của công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nôngthôn có tầm quan trọng không thể phủ định trong chiến lược phát triển bền
Trang 37vững Sự trao đổi hoạt động cho nhau giữa các hợp phần này sẽ tạo ra chuỗigiá trị gia tăng bền vững cho nền kinh tế quốc dân và góp phần giải quyết hàihòa nhiều vấn đề xã hội Nhiều tiềm năng, lợi thế của từng khu vực kinh tế vàtừng vùng địa lý sẽ được phát huy tối ưu cho phúc lợi chung của cộng đồngdân cư cả ở trung tâm phát triển và ngoại vi lạc hậu.
+ Chương trình giảm nghèo cho nông dân: dự kiến giảm mức nghèocho nông dân trong vòng 5 năm tới bằng cách tăng thu nhập, giảm chi phí vàtăng cơ hội có việc làm
+ Dự án thú y nông nghiệp di động: cung cấp thông tin và tri thức khoahọc về thú y cho nông dân Dự án tập trung vào xử ý các vấn đề cấp bách liênquan tới mùa màng, gia súc, gia cầm, thủy sản, đất canh tác… Dự án tiếnhành phân tích, nghiên cứu và tư vấn dịch vụ cho nông dân
+ Thành lập Khu vực kinh tế nông nghiệp: trợ giúp cho các cấp làng xã,tỉnh lỵ nâng cao năng lực cạnh tranh nông nghiệp Đào tạo cho nông dân biếtcách lựa chọn giống cây con phù hợp để sử dụng bền vững nguồn lực sẵn cótrong vùng Đồng thời, chương trình này đào tạo cho nông dân kỹ thuật canhtác năng suất cao, thu hoạch và bảo quản đúng quy cách, chế biến thươngphẩm nông nghiệp
1.3.4 Một số bài học cho Việt Nam và tỉnh Hưng Yên
Trên cơ sở kinh nghiệm của các nước trên, có thể rút ra một số bài họccho Việt Nam nói chung và tỉnh Hưng Yên nói riêng để phát triển bền vữngtrong nông nghiệp như sau:
1.3.4.1 Nội dung và tầm quan trọng của phát triển bền vững phải được nhận thức thông suốt từ cấp hoạch định chính sách đến cấp thực thi cụ thể
Kinh nghiệm các nước cho thấy về phương diện hoạch định chính sáchcần phải đi trước một bước trong việc nhận thức rõ nội hàm khái niệm, tác
Trang 38động của nó tới đời sống hôm nay và mai sau, những lĩnh vực cần ưu tiênphát triển bền vững và các hoạt động phải triển khai.
Phát triển bền vững trong nông nghiệp là phát triển hướng tới mục tiêu
vì con người hiện tại mà vẫn phải đảm bảo cơ hội phát triển cho thế hệ maisau Sự phát triển phải nhìn nhận toàn diện từ cả khía cạnh kinh tế, chính trị,
xã hội, môi trường; phải có sự liên kết chặt chẽ từ trong các vùng, các lĩnhvực và cả quốc gia
Do đó, đòi hỏi phải được nhận thức thông suốt từ trên xuống dưới, từcấp chiến lược đến cấp thực thi Kinh nghiệm củaTrung Quốc, Ấn Độ chothấy sự phát triển nông nghiệp bền vững để giải quyết vấn đề an ninh lươngthực trong nước và giải quyết việc làm… sự thông suốt chính sách từ trênxuống dưới đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu quả
1.3.4.2 Coi trọng việc xác định rõ định hướng chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững cho phù hợp để thực hiện
Điều thể hiện rõ thông qua chính sách của các nước là đặc biệt coitrọng việc xác định rõ định hướng chiến lược phát triển nông nghiệp bền vữngphù hợp với nước mình và thực hiện kiên quyết và có nhiều chính sách ưutiên cho phát triển nông nghiệp như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách
ưu ái về tài chính, tín dụng, hỗ trợ việc làm Trung Quốc, Ấn Độ xác định ưutiên trong chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững là nhằm giải quyết nhucầu lương thực của người dân trong nước
1.3.4.3 Nâng cao năng lực quy hoạch phát triển vùng
Trên cơ sở xác định rõ định hướng chiến lược phát triển nông nghiệpcho phù hợp Một kinh nghiệm quan trọng nữa qua nghiên cứu 4 quốc gia trên
là tư duy quy hoạch và năng lực thực hiện quy hoạch phát triển vùng Xét đếncùng, tương quan phát triển đô thị - nông thôn hay công nghiệp - nông nghiệp
là quá trình vận dụng những tri thức quy hoạch vùng Tư duy bao quát dài hạn
Trang 39cho phép hoạch định cơ cấu lãnh thổ hợp lý trong đó dung hòa được nhữngyếu tố tự nhiên, bản địa với những yếu tố nhân tạo của con người Kinhnghiệm cho thấy nước nào làm tốt công tác quy hoạch vùng sẽ đảm bảo tốthơn sự phát triển bền vững cho nền kinh tế, xử lý hài hòa lợi ích của côngnghiệp với nông nghiệp, thành thị - nông thôn
1.3.4.4 Quan tâm đến sự bền vững về môi trường kinh tế - xã hội
Các quốc gia đi trước đều chú trọng tới duy trì môi trường kinh tế - xãhội bền vững ở nông thôn Trước hết, những quốc gia này tìm mọi cách để sửdụng hiệu quả các nguồn lực hiện có của mỗi vùng Chẳng hạn, các chính phủTrung Quốc và Thái Lan đầu tư nguồn lực nhất định nhằm tạo ra sự chuyểndịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa
Bên cạnh các chỉ tiêu kinh tế, phát triển bền vững còn biểu hiện ở đờisống tinh thần được nâng lên không ngừng về bảo đảm dịch vụ y tế, giáo dục,văn hóa, thể thao, bình đẳng cơ hội việc làm, bình đẳng về thu nhập hưởngthụ cho mọi tầng lớp cư dân của các vùng lãnh thổ
1.3.4.5 Quan tâm đến sự bền vững về môi trường sinh thái
Phát triển bền vững về môi trường là bảo đảm khai thác tài nguyên hợp
lý, giảm thiểu lãng phí tài nguyên, cân bằng môi trường, sinh thái Từ cácnước đang phát triển như: Trung Quốc ,Thái Lan, Ấn Độ vấn đề bảo vệ môitrường sinh thái trở thành nghị sự của từng chính phủ Mỗi chính phủ đều camkết bằng những hành động cụ thể và chương trình đầu tư khổng lồ để làm việcnày
Đặc biệt, Ấn Độ rất quan tâm đến phát triển bền vững về môi trường từ
ý thức sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên đất, tài nguyên nước đến sảnxuất và sử dụng các loại sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật, chăm sóc cây trồng,vật nuôi, thân thiện với môi trường và tái tạo lại chất thải phục vụ cho sảnxuất và đời sống
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH HƯNG YÊN
2.1 Những tiền đề và điều kiện cho phát triển bền vững trong nông nghiệp của tỉnh Hưng Yên
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Hưng Yên là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ,nằm ở vị trí giao thông phát triển, có nhiều hướng tác động mang tính liênvùng, Hưng Yên có vai trò cung cấp sản phẩm hàng hóa quan trọng cho thủ
đô Hà Nội và các tỉnh thành phố trong vùng, và cả nước Do vậy, Hưng Yênnhiều cơ hội cho việc khai thác và phát triển những ngành có lợi thế cạnhtranh để đi lên, trong đó có nông nghiệp – một thế mạnh của tỉnh, nhưng đồngthời cũng phải đối mặt với các thách thức trong cạnh tranh, khai thác và pháttriển các ngành với các tỉnh xung quanh có cùng lợi thế Trong triển vọng ấy,Hưng Yên có nhiều khả năng trở thành một trong những nơi phát triển nềnnông nghiệp bền vững phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong vùng và xuất khẩunếu như xác định được hướng đi đúng trong nông nghiệp, nông thôn
Là tỉnh đồng bằng xen đồi thấp, không có rừng núi, và biển Độ cao đấtđai không đồng đều mà hình thành các dải, các khu, vùng cao thấp xen kẽnhau như làn sóng Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chialàm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông Tổng diện tích tự nhiên trong toàn tỉnh
là 923, 09 km2.
Hưng Yên có diện tích đất nông nghiệp là 64.177 ha, trong đó đất câyhàng năm là 57.074,3 ha (chiếm 88,9%), cây lâu năm 716 ha (chiếm 1,1%), mặtnước nuôi trồng thuỷ sản 4000 ha, bình quân ruộng đất khoảng 5002/ người Quỹđất nông nghiệp Hưng Yên còn nhiều tiềm năng để khai thác, đặc biệt là tăng vụ