Thực hiện tinh thần chỉ đạo trên của Bộ giáo dục – Đào tạo và của Sở giáo dục đào tạo Quảng Ninh, nhận thức được rằng, việc ứng dụng CNTT phục vụ cho việcđổi mới phương pháp dạy học là m
Trang 1NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC ƯDCNTT
TRONG GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN THCS
quả Thế kỉ XXI, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ và đi vào mọi lĩnh vực của
đời sống Đặc biệt, trong quá trình đổi mới phương pháp giáo dục ở nhà trường phổthông, việc áp dụng công nghệ thông tin góp phần hỗ trợ việc đổi mới phương phápdạy học theo hướng tích cực hóa quá trình dạy học.Việc vận dụng CNTT trong giảngdạy Ngữ văn góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại hóa, phùhợp với xu thế mới của thời đại Có thể nói, việc vận dụng CNTT vào giảng dạy Ngữvăn nói riêng và dạy học nói chung đã thu được nhiều kết quả và tạo nên sự chuyểnbiến trong dạy học, nhất là về mặt phương pháp Song, việc ứng dụng CNTT vàogiảng dạy Ngữ văn trong nhà trường phổ thông chậm và ít hơn các bộ môn khác Do
đó, nói như TS Đỗ Ngọc Thống “Đã đến lúc nếu không muốn nói là quá muộn, cần
nghiên cứu và triển khai việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở bộ môn Ngữ văn một cách rộng rãi, đúng hướng và có hiệu quả.”
Trong những năm gần đây, Bộ giáo dục và đào tạo cũng yêu cầu “đẩy mạnh ứngdụng CNTT trong giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theohướng dẫn học CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phươngpháp dạy học ở các môn”
Thực hiện tinh thần chỉ đạo trên của Bộ giáo dục – Đào tạo và của Sở giáo dục đào tạo Quảng Ninh, nhận thức được rằng, việc ứng dụng CNTT phục vụ cho việcđổi mới phương pháp dạy học là một trong những hướng tích cực nhất, hiệu quả nhấttrong việc đổi mới phương pháp dạy học và chắc chắn sẽ được sử dụng rộng rãi trongnhà trường phổ thông trong một vài năm tới, tôi đã mạnh dạn học tập và đưa CNTTvào giảng dạy bốn năm nay Vì vậy vấn đề đặt ra không phải chỉ là ứng dụng côngnghệ thông tin mà còn phải là nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng đó trong giảngdạy để đạt được những kết quả cao nhất Đó cũng là lý do mà tôi chọn, nghiên cứu
-đề tài này
Trang 2I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Ưng dụng CNTT trong nhà trường là một phương tiện hữu ích và hiệu quả, nhằmtăng cường nội lực, tính chủ động của các nhà trường, góp phần hiện đại hóa giáo dục
- đào tạo Với mục tiêu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lý
tài chính và triển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực Phòng Giáo dục huyện Đông Triều đã đẩy mạnh phong trào “Ứng dụng công
nghệ thông tin vào dạy học ở tất cả các bộ môn Với bộ môn Ngữ văn ở trườngTHCS, ƯDCNTT giúp nầng cao chất lượng đào tạo nhằm cải tiến phương pháp dạyhọc Trong đó, việc tích cực vận dụng CNTT và các thiết bị dạy học hiện đại là nhân
tố có tác động quan trọng nhất đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhàtrường trong thời gian qua,
I.3 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM
- Trong phạm vi đề tài này tôi không có tham vọng nói nhiều về tất cả các côngdụng của các phần mềm trong thiết kế giáo án điện tử trong môn Ngữ văn vì trình độtin học còn hạn chế Nhưng với những gì hiểu biết và học tập được tôi mạnh dạn đưa
ra ý kiến để các đồng nghiệp có thể tham khảo, thảo luận, rút kinh nghiệm và vậndụng có hiệu quả các phương tiện hiện đại vào công tác chuyên môn nghiệp vụ của
mình Vì vậy tôi chọn vấn đề "Nâng cao hiệu quả việc Ứng dụng công nghệ thông
tin trong giảng dạy môn ngữ văn THCS".
- Đề tài này tôi thử nghiệm và thực hành trong chương trình môn Ngữ văn trườngTHCS Nguyễn Đức Cảnh trong bốn năm học gần đây
I.4 ĐÓNG GÓP VỀ LÝ LUẬN THỰC TIỄN
+ Đóng góp về mặt lý luận:
Trong thời đại ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật vàcông nghệ thông tin, làn sóng vĩ đại của công nghệ đang tổ chức lại một cách cơ bảnđời sống xã hội của con người về mọi mặt từ kinh tế đến văn hoá Sự bùng nổ vềthông tin đặt ra nhu cầu về tiếp nhận thông tin và giải quyết vấn đề của con ngườingày càng phải nâng cao không ngừng và đáp ứng kịp với yêu cầu của thời đại Dovậy, việc đào tạo ra những con người có năng lực, có trình độ nhận thức cao đang làmục tiêu hàng đầu của nhân loại trong thế kỉ XXI
Sự đổi mới của mục tiêu giáo dục và nội dung giáo dục đặt ra yêu cầu phải đổimới phương pháp dạy học Nghị quyết TW 2, khoá VIII đã xác định mục tiêu củaviệc đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo là nhằm: “khắc phục lối truyền thụ mộtchiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các
Trang 3phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện vàthời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học.”
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học các mônnói chung, phương pháp dạy học lịch sử nói riêng đã được đặt ra và thực hiện mộtcách cấp thiết cùng với xu hướng đổi mới giáo dục chung của thế giới Luật giáo dụcsửa đổi đã chỉ rõ: “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đạc điểm của từng lớp học, từng môn học,bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vàothực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”
Tồn tại ở trường phổ thông với tính cách là một khoa học, bộ môn Ngữ văn có tácdụng nhất định đến việc hình thành thế giới quan, tình cảm đạo đức, phát triển nănglực nhận thức và hành động … cho học sinh Tuy nhiên, hiện nay chất lượng giảngdạy và học tập môn Ngữ văn chưa thực sự làm cho xã hội an tâm Vì thế việc đổi mớimột cách toàn diện về nội dung lẫn phương pháp dạy học là vô cùng cần thiết
Trong một thập niên trở lại đây, nhiều quan niệm, phương pháp dạy học mới đã
và đang được nghiên cứu, áp dụng ở trường phổ thông như: dạy học nêu vấn đề, dạyhọc tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dạy học theo dự án, dạy học với sự
hỗ trợ của công nghệ… Tất cả đều nhằm mục đích tích cực hoá hoạt động của họcsinh, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Đặc biệt việc sử dụng công nghệ tin học
để xây dựng bài giảng điện tử (hay giáo án điện tử) các môn nói chung, dạy học Ngữvăn nói riêng, được xem là một trong những công cụ đem lại hiệu quà tích cực trongviệc đổi mới việc dạy và học
Như đã trình bày ở trên, ƯDCNTT trong môn Ngữ văn là một trong nhữngphương pháp dạy học mới đem lại hiệu quả cao trong dạy và học đồng thời cũng làcách để giáo viên và học sinh được tiếp cận với các phương tiện hiện đại nhằm pháthuy tính tích cực chủ động sáng tạo, mạnh dạn tiếp thu và sử dụng phương tiện dạyhọc hiện đại vào trong nhà trường của cả giáo viên và học sinh
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong soạn giảng môn Ngữ văn còn đemlại hiệu quả hơn hẳn, gây được hứng thú, tích cực cho học sinh, tạo sự hấp dẫn và họcsinh tiếp thu bài một cách có hiệu quả hơn
Việc ứng dụng công nhệ thông tin vào thiết kế GAĐT và giảng dạy môn Ngữ văntrong nhà trường cũng phù hợp với quy luật nhận thức là đi từ trực quan sinh độngđến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn
Trang 4+ Đóng góp về thực tiễn
- Trong những năm học gần đây việc ứng dụng công nghệ thông tin đã được nói đếnnhiều và đã được áp dụng trong giảng dạy các môn học nói chung và môn ngữ vănnói riêng Sử dụng phần mềm cũng là một yêu cầu trong đổi mới phương pháp dạyhọc nhằm tích cực hoá các hoạt động học tập của học sinh với sự trợ giúp của cácphương tiện dạy học hiện đại Việc sử dụng bài giảng điện tử sẽ tăng hiệu quả đáng
kể đối với các tiết dạy của giáo viên Có thể dó là sự kết hợp của những ưu điểm củaphương pháp dạy học truyền thống và của các công nghệ hiện đại
- Riêng đối với bộ môn Ngữ văn các đồ dùng trực quan hầu như không có, tranhminh hoạ trong sách giáo khoa lại tối màu, khó quan sát và cảm nhận được vì vậy đểkhắc phục được những tồn tại trên giáo viên phải chuẩn bị, sưu tập tranh ảnh, tài liệuliên quan đến bài dạy, đồ dùng dạy học rất vất vả, cồng kềnh mà đôi khi không hiệuquả Nhưng với bài giảng điện tử có thể thay coi là những công cụ dạy học đa năng vì
nó có thể thay thế cho hầu hết các công cụ dạy học khác mà lại đem lại hiệu quả caotrong dạy và học điều đặc biệt là các loại hình bài soạn và dạy bằng GAĐT dễ thànhcông và có hiệu quả cao
- Từ thực tế hiệu quả của bài dạy có ứng dụng công nghệ thông tin đến nay, tôi cảmthấy sử dụng bài giảng điện tử, có ứng dụng công nghệ thông tin với chức năng ưuviệt của nó làm cho giớ học sinh động, hấp dẫn hơn do có nhiều nguồn cung cấpthông tin và kiến thức, học sinh hứng thú và say mê với môn học hơn
Qua việc tiếp cận CNTT tôi luôn luôn suy nghĩ, tìm tòi, học hỏi các bạn đồngnghiệp cũng như tìm hiểu về tư liệu CNTT Đặc biệt làm thế nào để ứng dụng trongdạy học có hiệu quả
Dưới sự chỉ đạo của Phòng GD-ĐT, sự tin tưởng của Ban giám hiệu nhà trườngtôi đã mạnh dạn và cố gắng áp dụng CNTT trong dạy học Do vậy trong những nămhọc vừa qua, việc ƯDCNTT trong nhà trường đã đạt kết quả rõ rệt
Trang 5II PHẦN NỘI DUNG
II.1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1 Ý NGHĨA CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN
2 SỬ DỤNG PHẦN MỀM POWER POINT VÀO VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ
3 KHAI THÁC TƯ LIỆU QUA INTERNET PHỤC VỤ CÁC BÀI GIẢNG
4 MỘT SỐ HÌNH THỨC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN
II.2-CHƯƠNG 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
II.2.1: Ý NGHĨA CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG VIỆC DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN
Thấy được tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục
và đào tạo, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị 58-CT/TW về việc: “…đẩy mạnh ứng dụngCNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học” Sau đó,
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo có chỉ thị 29/CT-BGDĐT (tháng 7/2001) đề ranhiệm vụ ứng dụng CNTT cho các trường phổ thông từ năm 2002-2005, là phải ứngdụng từ 5-10% thời gian lên lớp có sử dụng phương tiện CNTT và thực hiện giáo ánđiện tử
Thực hiện giáo án điện tử hay bài giảng điện tử giáo viên cần có sự hỗ trợ củamáy tính Toàn bộ kế hoạch lên lớp của giáo viên phải được lập trình sẵn Các hoạtđộng dạy và học được thiết kế hợp lý trong một cấu trúc chặt chẽ, sử dụng các công
cụ đa phương tiện bao gồm: các văn bản hình ảnh, âm thanh, phim minh hoạ đểchuyển tải tri thức và điều khiển người học
Trang 6Khi lên lớp bằng giáo án điện tử, giáo viên phải thực hiện một bài giảng điện tửvới toàn bộ hoạt động giảng dạy đã được chương trình hóa một cách sinh động nhờ
sự hỗ trợ của các công cụ đa phương tiện đã được thiết kế trong giáo án điện tử
Cũng với sự hỗ trợ của máy tính người giáo viên có thể ứng dụng công nghệ vàothiết kế, xây dựng bộ câu hỏi học tập, các bài tập thực hành, đố vui môn ngữ văn, thưviện thông tin… cho học sinh
Việc giảng dạy bằng bài giảng điện tử có những ưu điểm của nó
Đối với giáo viên, tuy phải đầu tư khá nhiều thời gian và công sức để chuẩn bịmột giáo án điện tử nhưng việc dạy học môn ngữ văn bằng giáo án điện tử giúp giáoviên hạn chế bớt phần thuyết giảng, có thời gian thảo luận và tăng cường kiểm soátđối với học sinh Giáo án đện tử giúp đa dạng hoá việc cung cấp kiến thức cho họcsinh thông qua các công cụ trình diễn, người giáo viên có thể cung cấp cho học sinhmột khối lượng hình ảnh, phim tài liệu … liên quan đến nội dung bài học môn ngữvăn mà học sinh được học, như vậy mà giờ học trở nên sôi nổi và sinh động hơn
Đối với học sinh, việc học tập môn ngữ văn thông qua bài giảng điện tử tạo nhiềuhứng thú cho các em trong học tập, các em được tiếp cận, nhận thức các sự kiện lịch
sử và bài học môn ngữ văn sống động hơn, gần với qúa khứ hơn So với những bàigiảng thông thường, học sinh phải mường tượng trong đầu những sự kiện, nhân vật
mà thầy cô thuyết giảng thì với việc học trên bài giảng điện tử học sinh đã được trựcquan sinh động với những sự kiện, nhân vật một cách cụ thể giúp kích thích quátrình tư duy của học sinh, từ đó, nội dung kiến thức môn ngữ văn học sinh thu thập đủhơn và in sâu hơn vào trong trí nhớ của các em
II.2.2: SỬ DỤNG PHẦN MỀM POWER POINT VÀO VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS
II.2.2.1 Giới thiệu khái quát về phần mềm PowerPoint.
Để thiết kế bài giảng điện tử trong dạy học các bộ môn ở trường phổ thông, giáoviên có thể chọn lựa nhiều phần mềm khác nhau như: Flash, PowerPoint, Violet(tiếng Việt)… kết hợp với các phần mềm bổ trợ khác Tuy nhiên, xuất phát từ đặctrưng, yêu cầu của bộ môn cũng như khả năng tiếp cận của giáo viên, việc lựa chọnphần mềm PowerPoint qua thực tế sử dụng đã khẳng định được ưu thế so với cácphần mềm khác
PowerPoint là phần mềm đồ họa diễn hình có trong bộ Microsoft Office Phầnmềm PowerPoint hầu như đã hiện diện sẵn trong hầu hết máy tính của người sử dụng
Trang 7Việt Nam và giao diện của nó cũng rất quen thuộc khi phần lớn giáo viên biết sửdụng Word để đánh văn bản.
Phần mềm Powerpoint có thể đáp ứng tốt nhiều yêu cầu khác nhau trong dạy học
ở trường phổ thông: từ việc xây dựng BGĐT của bài nghiên cứu kiến thức mới, chođến khâu củng cố, ôn tập, sơ kết, tổng kết, kiểm tra đánh giá và cả hoạt động ngoạikhóa
* Khởi động phần mềm PowerPoint:
1 Nhấp vào nút Start trên thanh tác vụ
2 Trỏ vào Progame
3 Trỏ vào Microsoft Office
4 Nhấp vào Microsoft Office PowerPoint
* Phần mềm này có thể giúp giáo viên:
+ Dễ dàng chèn nội dung văn bản (Text), hình ảnh, video clip, âm thanh (InsertPicture/ Movie? Sound) làm cho các kênh thông tin về nội dung , nghệ thuật văn bảntrở nên đa dạng, phong phú, sinh động Qua đó, giúp học sinh cảm nhận và hiểu đầy
đủ, sâu sắc hơn Đồng thời tạo hứng thú, hình thành trong học sinh tình cảm, thái độđúng đắn đối nhận thức nội dung kiến thức bài học và thái độ học tập bộ môn Ngữvăn
Ví dụ: khi giảng bài Ếch ngồi đáy giếng( Ngữ văn 6 HKI ) , giáo viên có thể giới
thiệu cho học sinh hình ảnh về câu chuyện, phần đọc kể diễn cảm, bài hát…giúp họcsinh dễ dàng nhận thức được nội dung ý nghĩa văn bản và tạo hứng thú trong học tập
Trang 8+ Tạo các sơ đồ , bảng so sánh (Insert Table)… với nhiều màu sắc, độ chính xáccao, có hiệu ứng hoạt hình và được trình chiếu theo trình tự nội dung vấn đề, theo xuhướng phát triển… giúp học sinh hiểu được bản chất, các mối liên hệ, hệ thống, kháiquát những kiến thức đã học, hay làm rõ những điểm giống và khác nhau của các chitiết, nhân vật, sự kiện…
Ví dụ: Khi giảng bài “Ẩn dụ” (Ngữ văn 6) GV có thể lập bảng so sánh giữa ẩn dụ
và so sáng bằng cách làm ẩn nội dung trong bảng so sánh đi để học sinh trả lời, sau
đó trình chiếu lại nội dung cho các em xem
+ Tạo các liên kết (Hyperlink) linh hoạt, cho phép kết nối một nội dung bất kỳtrên một slide của giáo án điện tử đến một trang Web trên Internet (nếu máy tính cónối mạng hay đến bất kỳ một tập tin nào trong máy tính…để tìm kiếm thông tin, mởrộng nội dung đang trình bày hoặc sử dụng nút kích hoạt (Trigger) để bật / tắt tức thìcác dạng tư liệu ngay trên slide đang trình chiếu nhằm bổ sung, cung cấp thông tin,hay tiến hành so sánh, đối chiếu nhận thức của học sinh
+ Dễ dàng tạo và chèn các dạng ký hiệu, biểu tượng thích hợp có sẵn trong AutoShapes với các định dạng theo điểm, theo đường, theo diện tích… và có thể tănggiảm kích cỡ, thay đổi hướng các ký hiệu tùy ý
Trang 9+ Tạo các hiệu ứng hoạt hình sinh động cho các đối tượng (văn bản, hình ảnh,biểu tượng, sơ đồ, bảng biểu…) là một trong những chức năng ưu thế củaPowerpoint Từ Menu Slide Show > Custom Animation >Add Effect giáo viên có thểchọn nhiều hiệu ứng khác nhau cho đối tượng đã được chèn trên Slide Trong thẻ AddEffect, GV chỉ nên chọn dạng hiệu ứng Entrance, trong dạng này có khoảng hơn 50kiểu hiệu ứng cụ thể, nhưng chỉ có một số kiểu hiệu ứng thuộc mục Basic, Subtle làphù hợp với yêu cầu xây dựng BGĐT (có thể biểu hiện tốt mục đích sư phạm) Chẳnghạn như : khi muốn trình chiếu một đối tượng mới trên slide nên chọn hiệu ứngFader, Fly In, Wipe, Diamond, Dissovle In…
* Xây dựng bài giảng điện tử(BGĐT) bằng PowerPoint đòi hỏi phải đầu tư nhiềuthời gian và công sức nhưng khi tiến hành BGĐT trên lớp lại rất dễ dàng, thuận tiện
GV chỉ cần click chuột hay nhấn phím Enter hay phím là có thể trình chiếu lầnlượt nội dung của bài giảng đã được thiết kế trước đó trên Powerpoint Điều này chophép giáo viên trình bày nội dung bài học một cách đa dạng, phong phú, sinh độngnhưng vẫn tiết kiệm được thời gian mà GV bỏ ra cho việc ghi chép các ngữ liệu dài,
kẻ vẽ sơ đồ, bảng biểu … trên bảng đen theo lối dạy truyền thống
- Trong quá trình soạn PowerPoint ta có thể tạo ra nhiều mẫu bài tập thường được
sử dụng như trong sách giáo khoa và sách bài tập như:
+ Bài tập trắc nghiệm gồm có các loại: Một đáp án đúng, nhiều đáp án đúng, câu hỏighép đôi, chọn đúng/sai:
Ví dụ: Bài tập củng cố sau khi học xong truyện ngụ ngôn:
Trang 10+ Bài tập ô chữ: Học sinh phải trả lời lần lượt các ô chữ hàng ngang để tìm ra ô chữhàng dọc
VD: Bài tập ô chữ cho bài “ Bài toán dân số” (Ngữ văn 8)
+ Bài tập điền khuyết hoặc bài tập ẩn / hiện, bài tập kéo thả ô chữ, học sinh phải kéo thả các đối tượng này vào đúng những vị trí được qui định trước trên một hình ảnh hoặc một đoạn văn bản
VD: Bài tập khi dạy bài “Nói quá” (Ngữ văn 8)
Trang 11Khi soạn thảo xong bài giảng trên powerpoint giáo viên có thể xuất bài giảmg rathành thư mục chứa file thành một sản phẩm chạy độc lập có thể copy vào đĩa mềmhoặc USB hay đĩa CD để chạy trên các máy tính khác thông thường qua chương trìnhPowerPoint.
* Tuy nhiên khi ứng dụng tiện ích của Powerpint vào việc thiết kế BGĐT ngườigiáo viên cần phải chú ý đến những hạn chế dễ mắc phải, đó là:
- Quá lạm dụng đến hiệu ứng, kỹ thuật trình diễn trên bài giảng điện tử ví dụ như:tạo các hiệu ứng “bay nhảy” kèm theo âm thanh, trang trí các slide với mầu sắc sặc
sỡ, loè loẹt, kết nối với các phim, ảnh lôi cuốn người học, nhưng chuyển tải nội dungrất ít, có khi phản tác dụng giáo dục; lựa chọn quá nhiều phông chữ, màu sắc khácnhau… thiếu tính nhất quán, ít hài hòa và nhất là không thể hiện được tính sư phạmtrong cả hình thức lẫn nội dung trình bày
- Một hạn chế khác mà giáo viên phổ thông thường hay mắc phải là ít chú ý tính
hệ thống của kết cấu bài giảng (cách trình bày bảng đen truyền thống thường bảo đảmđược yêu cầu này cho đến khi kết thúc tiết học), nội dung trình bày trên các slide gầnnhư độc lập nên khi trình chiếu sang một đề mục mới thì các đề mục trước đó hầunhư không còn xuất hiện nữa khiến cho nhận thức của học sinh dễ rơi vào sự tản mạnthiếu tính hệ thống
- Các dạng thông tin trình bày trên slide của một số bài giảng điện tử còn nghèo,chủ yếu là trình bày một văn bản để trình chiếu trên màn hình thay cho việc ghi chép,
mà chưa chú ý đến kiến thức cơ bản, trọng tâm hay sơ đồ hóa các nội dung văn bản.Ngược lại nhiều giáo viên ôm đồm, muốn đưa nhiều dạng thông tin Multimedia đểtrình chiếu cùng một lúc trên các slide khiến cho bố cục trình bày rối rắm và cácthông tin đến với học sinh bị nhiễu loạn, khó nhận ra đâu là kiến thức cơ bản, trọngtâm Từ đó, những kiến thức còn đọng lại nơi học sinh sau giờ học không rõ ràng,thiếu tính hệ thống và không bền vững
- Nhiều bài giảng điện tử do giáo viên lạm dụng về thời gian trình chiếu đã khôngđảm bảo về chất lượng giờ học, không bao quát được tình hình lớp học, tình trạnghọc sinh ghi chép bài không kịp hoặc không ghi chép nội dung bài học vẫn xảy ra
II.2.2.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG MỘT BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ.
Để đạt được một bài học hiệu qủa, GV cần tuân thủ quy trình xây dựng BGĐTgồm các bước sau:
- Xây dựng giáo án: bao gồm chuẩn bị nội dung, sưu tầm tư liệu
Trang 12- Thiết kế BGĐT: sử dụng phần mềm Powerpoint để thiết kế bài giảng.
- Kiểm định sự hoàn thiện của BGĐT: trình chiếu thử, phát hiện lỗi
* Xây dựng giáo án.
a/ Xác định rõ mục đích yêu cầu của bài học
b/ Xác định những kiến thức cơ bản, trọng tâm mà học sinh cần nắm vững trongtiết học
c/ Sưu tầm, chọn lọc các nguồn tư liệu viết, tranh ảnh, phim tư liệu, băng ghi âm
có liên quan đến những kiến thức cơ bản đã được xác định Xử lý, số hoá các tư liệu
đã chọn lọc sau đó đóng gói vào trong một Folder và đặt file name phù hợp (Ví dụ:bai 15 ) để dễ tìm và nhớ đưa kèm theo khi ghi BGĐT vào CD
* Thiết kế bài giảng :
Xây dựng kế hoạch thiết kế cụ thể của các Slide trình diễn (kịch bản) Dự kiến sốslide thích hợp với số lượng đối tượng được lựa chọn để trình diễn và tương ứng với
kế hoạch cụ thể mà giáo án lên lớp đã xác định
Bảng kế hoạch có thể được trình bày như sau:
Thời gian
Đối tượng đượctrình bày trên các Slide Biện pháp
khai thác, sửdụng
Mục đích
sư phạm
Văn bản; Đồ họa,hình ảnh, âm thanh,phim TL
* Kiểm định sự hoàn thiện của bài giảng điện tử.
- Tiến hành thiết kế và chạy thử từng phần rồi toàn bộ các slide (có đối chiếu vớitrình tự các hoạt động được trình bày trong giáo án), chỉnh sửa nội dung, hình thứccác slide, kiểu và thứ tự trình bày các hiệu ứng… cho hợp lý hơn với mục tiêu, kếhoạch sư phạm mà giáo án và kịch bản đã đề ra
- Ghi lại tập tin Powerpoint của BGĐT lên đĩa CD để lưu trữ, sử dụng trên lớp vàphòng tránh tình trạng máy tính có tập tin lưu trữ bị gặp sự cố (Lưu ý: phải ghi lại
Trang 13các tập tin có liên kết, nhất là các tập tin âm thanh, phim tư liệu có sử dụng trong bàigiảng điện tử.)
II.2.3 KHAI THÁC TƯ LIỆU QUA INTERNET PHỤC VỤ CÁC BÀI GIẢNG
Những tư liệu được lựa chọn sẽ làm cho bài giảng trở nên phong phú, sống động,hấp dẫn hơn, HS sẽ tiếp thu bài giảng một cách tự nhiên Internet là một thành tựu cótính đột phá của nhân loại cuối thế kỷ XX
Nội dung của phần này sẽ tập trung trả lời các câu hỏi: Tại sao Internet lại là công
cụ hiệu quả cho việc khai thác tư liệu phục vụ cho bài giảng ? Nên tập trung khaithác những loại tư liệu nào xung quanh nội dung của bài giảng cho phù hợp? Để làmđược điều đó người GV phải làm việc gì và cần có yêu cầu gì?
II.2 3.1 Internet – Nguồn tư liệu vô tận cho các bài giảng
a Về dung lượng: những số liệu, báo cáo thống kê cho thấy cho đến cuối thế kỷ
XX, Internet đã trở thành kho thông tin khổng lồ và phong phú nhất trong lịch sửnhân loại với hàng trăm triệu websites liên quan đến mọi lĩnh vực, ngõ ngách của đờisống xã hội Có nhà nghiên cứu đã từng khẳng định rằng xét về khối lượng, thông tintrên Internet đã vượt qua rất xa so với tổng khối lượng thông tin được in thành sáchcủa loài người kể từ khi phát minh ra chữ viết cho đến năm 1990 Khối lượng đó lạiđược tăng lên với tốc độ chóng mặt hàng năm
b Về khả năng truy cập: Internet có ưu thế tuyệt đối, trừ một số ít thông tin được
bảo vệ nhằm mục đích thương mại hoặc bí mật, mỗi người sử dụng Internet đều cóthể truy cập bất kỳ một thông tin nào trên Internet dù thông tin đó được đặt ở nướcngoài hay Việt Nam mà không phải rời khỏi bàn làm việc của mình Đó là điều khôngthể mơ ước đối với các nguồn tin khác như thư viện, các bộ sưu tập hay thậm chí cảbáo chí
c Về loại hình: Internet cung cấp thông tin ở dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh
hay thậm chí là cả dạng phim tư liệu hay video Khả năng này cho phép khai thác và
bổ sung những tư liệu một cách phong phú hơn rất nhiều so với thông tin được in trêngiấy thuần túy bằng văn bản
d Về nội dung: tính đa dạng, phong phú và dễ truy cập tạo cơ hội cho người giáo
viên có thể chọn lọc những tư liệu thích hợp, cô đọng và phù hợp nhất với nội dung,mục đích của từng bài giảng mà không bị lắp lại hay nhàm chán
Trang 14II.2 3.2 Lựa chọn tư liệu như thế nào cho phù hợp với nội dung bài giảng.
Khi tìm kiếm: Lựa chọn tư liệu cho bài học điều quan trọng nhất là tính phù hợp.
Tư liệu phù hợp là tư liệu liên quan đến nội dung bài giảng; có nội dung, hình thức đadạng (thông tin, hình ảnh, ) và được chọn lọc; lượng thông tin bổ sung vừa đủ không
ít quá, cũng không nhiều quá làm loãng nội dung
Về nội dung: Tư liệu phải liên quan đến nội dung bài giảng một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp nhằm hướng tư duy học sinh đến các nhận định, bài học, nhân vật, sựkiện, địa danh…Ví dụ, một bức ảnh chân dung của tác giả, một phong cảnh thiênnhiên từng vùng miền, một bài hát, một phong tục tập quán…
Về hình thức: Nếu đã có một tư liệu là văn bản hay kiến thức thì tư liệu khác nên
được cung cấp dưới dạng ảnh Vì tư liệu là thông tin bổ sung nên những tư liệu ảnh làrất thích hợp vì nó thường mới (chưa được biết trước), truyền đạt nhanh thông quaviệc quan sát chứ không phải đọc hay giảng phù hợp với mục đích là tư liệu bổ sung
Về dung lượng: Thông tin và tư liệu chỉ được chiếm một tỷ lệ vừa đủ cả về thông
tin và thời gian cung cấp thông tin Tư liệu không thể lấn át nội dung chính của bàigiảng mà nó bổ sung, làm cho kiến thức được cung cấp được hấp thụ dễ dàng và toàndiện hơn
II.2.3.3 Một số yêu cầu và điều kiện để khai thác Internet
Là một công cụ rất hiệu quả và một kho thông tin vô tận, nhưng Internet cũng đòihỏi giáo viên phải được trang bị những kiến thức, kỹ năng và những điều kiện nhấtđịnh Điều cần thiết đầu tiên là ngoại ngữ Tuy các nội dung tiếng Việt đang pháttriển với tốc độ rất nhanh nhưng nguồn thông tin lớn nhất và phong phú nhất trênInternet là bằng tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Trung Quốc Nếu không có ngoại ngữ,giáo viên bị hạn chế khá nhiều Thứ hai, những hiểu biết cơ bản dù chỉ ở mức đạicương như truy cập vào Internet thế nào? làm thế nào để sử dụng những công cụ tracứu tìm kiếm như YAHOO, google…hay kỹ năng chọn lọc những từ khóa tìm kiếmphù hợp với mục đích tra cứu tìm kiếm tư liệu sẽ giúp ích rất nhiều cho việc tìmkiếm tư liệu Ngoài những thông tin có thể tìm kiếm trực tiếp trên website, việc liênlạc trực tiếp bằng thư tín điện tử (e-mail) với các viện bảo tàng, cơ sở nghiên cứu cóthể tìm thấy trên Internet có thể giúp cung cấp những tư liệu quý Điểm cuối cùngcũng rất quan trọng đó là muốn khai thác Internet thì cần phải truy cập được vàoInternet bằng cách nào đó Vấn đề này đã trở nên dễ dàng hơn với các điểm truy cậpInternet được mở ở nhiều nơi trong các thành phố lớn mà đến nay những người đếnkhai thác chủ yếu vẫn là sinh viên và học sinh!