Hơn thế nữa, điều đặc biệt đối với bản thân tôi đang giảng dạy học sinh khuyết tật, nói rõ hơn nữa là học sinh khiếm thính, với những điều như tính sư phạm, tính khoa học, tính chính xác
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT ĐỒNG NAI
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ÁP DỤNG NGÔN NGỮ KÍ HIỆU VÀO GIẢNG DẠY BỘ MÔN ĐỊA LÍ LỚP 6
CHO HỌC SINH KHIẾM THÍNH
Người thực hiện: LÊ THANH HƯƠNG Lĩnh vực/ Môn nghiên cứu:
- Giáo dục Khuyết tật: Địa lí
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2013 - 2014
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRUNG TÂM NUÔI DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT ĐỒNG NAI
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ÁP DỤNG NGÔN NGỮ KÍ HIỆU VÀO GIẢNG DẠY BỘ MÔN ĐỊA LÍ LỚP 6
CHO HỌC SINH KHIẾM THÍNH
Người thực hiện: LÊ THANH HƯƠNG Lĩnh vực/ Môn nghiên cứu:
- Giáo dục Khuyết tật: Địa lí
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2013 - 2014
Trang 2SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1 Họ và tên: LÊ THANH HƯƠNG
2 Ngày tháng năm sinh: 20/10/1979
3 Nam, nữ: Nam
4 Địa chỉ: K4/109a, tổ 90, KP5, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
5 Điện thoại: (CQ):0613954171 (NR); ĐTDĐ:0986259992
7 Chức vụ: Giáo viên
8 Nhiệm vụ được giao: Giáo viên giảng dạy bộ môn
9 Đơn vị công tác: Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật Đồng Nai
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: CĐSP
- Năm nhận bằng:2003
- Chuyên ngành đào tạo: Địa – sử
III.KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy Địa –sử
Số năm có kinh nghiệm: 11 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
Trang 3ÁP DỤNG NGÔN NGỮ KÍ HIỆU VÀO GIẢNG DẠY
BỘ MÔN ĐỊA LÍ LỚP 6 CHO HỌC SINH KHIẾM THÍNH
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dạy học là cả một nghệ thuật của người giáo viên được kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính sư phạm, tính khoa học, tính chính xác và tính thực tiễn Hơn thế nữa, điều đặc biệt đối với bản thân tôi đang giảng dạy học sinh khuyết tật, nói rõ hơn nữa là học sinh khiếm thính, với những điều như tính sư phạm, tính khoa học, tính chính xác và tính thực tiễn thì ngoài ra người giáo viên giảng dạy học sinh khiếm thính cần nắm vững ngôn ngữ kí hiệu để vận dụng vào giảng dạy một cách khoa học chính xác nhằm giúp các em học sinh khiếm thính hiểu bài và nắm vững kiến thức
Để việc học của các em đạt kết quả cao, quá trình dạy học cần phải được thực hiện những yêu cầu cơ bản Vị trí làm kí hiệu (trung tâm hóa), hình dạng bàn tay (chữ cái ngón tay/ biến thể), sự chuyển động của bàn tay, chiều hướng của lòng bàn tay, kết hợp cử chỉ điệu bộ, nét mặt Đó là những kinh nghiệm cũng như sự đúc kết chắt lọc để nhằm giúp các em học tốt phân môn Địa lý lớp 6 Ngày nay cộng đồng người Điếc Việt Nam ngày càng phát triển, nhu cầu của người điếc cũng không khác so với người bình thường, việc học, tiếp thu tri thức là rất cần thiết đối với các em Nhưng trong thực tế việc tiếp thu tri thức đối với các em hoc sinh khiếm thính rất khó vì tất cả các tài liệu, sách vở đều là ngôn ngữ viết và đây cũng là điểm hạn chế của các em học sinh khiếm thính Vì vậy khi viết đề tài sáng kiến kinh nghiệm này với việc dùng ngôn ngữ kí hiệu của cộng đồng người Điếc, tôi cũng hy vọng góp được phần nhỏ bé nhằm giúp các em học sinh khiếm thính được tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn trong quá trình học
Trong những năm qua điều mà tôi trăn trở là làm như thế nào để học sinh khiếm thính, những em mà khi sinh ra hoặc vì lí do nào đó dẫn đến bị khiếm khuyết phần nghe, dẫn tới không nói được, các em sẽ được bù đắp bằng việc các
em sẽ hiểu được thầy (cô) giảng dạy thông qua ngôn ngữ của người Điếc Vì vậy
tôi chọn đề tài “ Áp dụng ngôn ngữ kí hiệu vào giảng dạy bộ môn địa lí lớp 6 cho học sinh khiếm thính’’ để thực hiện nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy
tại Trung tâm
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Trẻ khiếm thính
* Trẻ khiếm thính được các nhà nghiên cứu nhìn nhận ở rất nhiều góc độ khác nhau
- Dưới góc độ y học: Trẻ khiếm thính là những trẻ bị suy giảm một phần hay mất hoàn toàn chức năng nghe
- Dưới góc độ tâm lý học: Trẻ khiếm thính là những trẻ bị suy giảm sức nghe ở nhiều góc độ khác nhau dẫn đến khó khăn trong giao tiếp và ảnh hưởng nhiều đến quá trình nhận thức Người ta chia ra các mức độ khiếm thính như sau:
Mức độ 1: Điếc nhẹ (20-40)dB Trẻ nghe được hầu hết âm thanh nhưng không nghe được tiếng nói thầm
Trang 4Mức độ 2: Điếc vừa (40-70)dB Có thể nghe được những âm thanh to nhưng không nghe hết được tiếng nói chuyện bình thường
Mức độ 3: Điếc nặng (70-90)dB Chỉ nghe được tiếng nói rất to ở sát tai
Mức độ 4: Điếc sâu > 90 dB Hầu như không nghe được trừ một số âm thanh thật
to như: Tiếng sấm, tiếng trống, …
- Theo cách nói phổ thông trẻ khiếm thính bao gồm điếc và nghe khó (nghễnh ngãng), nghe kém Từ “điếc”, “câm” dùng để chỉ những người khiếm thính nặng (câm là hậu quả thứ phát sau tật điếc) Nhìn chung khiếm thính ảnh hưởng lên trẻ theo 4 cách cơ bản:
- Khiếm thính làm chậm quá trình phát triển các kỹ năng tiếp thu và diễn đạt thông tin
- Khiếm thính gây mất cân bằng ngôn ngữ dẫn đến những khó khăn về học tập
và tiếp thu làm giảm học lực
- Khiếm thính làm các kỹ năng giao tiếp không phát triển thường dẫn đến sự cô lập về mặt xã hội và khả năng tư duy kém
- Khiếm thính ảnh hưởng quá trình nghề nghiệp, cơ hội hoà nhập vào xã hội của trẻ sau này
2 Đặc điểm nhận thức của trẻ khiếm thính
2.1 Đặc điểm cảm giác-tri giác của trẻ khiếm thính
- Cảm giác là quá trình tâm lý sơ đẳng phản ánh những thuộc tính riêng lẽ của các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan tác động đến các cơ quan cảm xúc của chúng ta
- Khác với cảm giác, tri giác là hình ảnh toàn vẹn về vật thể và hiện tượng
Ví dụ: Tri giác nhìn.
- Đứa trẻ bình thường thu nhận phần lớn kiến thức thông qua cảm giác và tri giác thính giác, trong quá trình giao tiếp trẻ thường xuyên đặt câu hỏi và bằng cách nghe phát thanh, âm nhạc
- Trí nhớ là một quá trình tâm lý nhận thức bao gồm việc ghi nhớ, lưu giữ và tái tạo điều đã tri giác trước đây
- Những biểu tượng của trí nhớ là hình ảnh cảm tính- trực quan như vậy nếu thiếu các hình ảnh của tri giác, không thể xuất hiện các biểu tượng của trí nhớ
- Trẻ khiếm thính thể hiện ghi nhớ không chủ định về vị trí của các đối tượng không thua kém trẻ bình thường
- Trẻ ghi nhớ tư liệu bằng lời: thông qua cử chỉ điệu bộ
2.2 Đặc điểm tưởng tượng
- Tưởng tượng là môt quá trình nhận thức cao cấp bao gồm việc biến đổi những biều tượng và thiết lập những hình tượng mới trên cơ sở những cái đã có, nhưng đối với trẻ khiếm thính thì khó khăn hơn để thiết lập được quá trình tưởng tượng + Tưởng tượng tái tạo:
Ví dụ: Trẻ khó có biểu tượng về những sự kiện, địa lý, lịch sử, …
+ Tưởng tượng sáng tạo: do sự hạn chế trong giao tiếp nên các em đã bị mất đi một số khối lượng thông tin cần thiết vì không có những thủ thuật xây dựng các biểu tượng mới của tưởng tượng
Trang 52.3 Đặc điểm tư duy
- Tư duy là một quá trình nhận thức phức tạp, bao gồm việc phản ánh hiện thực một cách khái quát gián tiếp, có mục đích, là quá trình tìm tòi và phát hiện cái mới
- Tư duy trực quan bằng hành động, trực quan hình tượng có thể có, tư duy trừu tương hoàn toàn không có do trẻ thiếu ngôn ngữ thiếu sự giáo dục đặc biệt thiếu sự hình thành ngôn ngữ
- Trẻ gặp nhiều khó khăn trong các thao tác tư duy
- Khả năng giải quyết các bài tập: Trẻ gặp khó khăn trong việc vận dụng lý thuyết để làm bài tập
2.4 Đặc điểm ngôn ngữ
- Khi trẻ còn nhỏ thì khó phát hiện ra và khi trẻ lớn trong quá trình giao tiếp với thế giới xung quanh thì mới nhận ra
- Ngôn ngữ viết của trẻ mạnh hơn hoặc song song với ngôn ngữ nói
- Sự tiếp nhận ngôn ngữ nói diễn ra chủ yếu trên cơ sở thính giác, còn sự tiếp nhận ngôn ngữ viết thì diễn ra trên cơ sở thị giác
- Do trẻ bị tổn thương về thính giác nên việc nghe của trẻ bị hạn chế và kho từ vựng của trẻ không nhiều nên thường thì trẻ sử dụng ngôn ngữ kí hiệu
* Ngôn ngữ kí hiệu, đây là ngôn ngữ được tôi lưu tâm và là phương tiện chính giúp tôi truyền đạt lượng kiến thức cũng như trao đổi với các em học sinh đầu cấp
II bằng các phương pháp hỏi đáp, đàm thoại, nêu vấn đề, diễn giảng, …
3 Khái niệm về Ngôn ngữ kí hiệu
- Ngôn ngữ kí hiệu là ngôn ngữ sử dụng hình dạng bàn tay, chuyển động cơ thể, cử chỉ điệu bộ và sự thể hiện trên khuôn mặt để giao tiếp, trao đổi kinh nghiệm, suy nghĩ, nhu cầu và xúc cảm
- Ngôn ngữ kí hiệu là ngôn ngữ của cộng đồng người Điếc
- Các loại kí hiệu:
+ Kí hiệu tượng hình: là những kí hiệu biểu thị giống như tình cảm, sự việc hay hành động
Ví dụ: “ăn”, “uống” được biểu thi như hành động ăn uống.
+ Kí hiệu tượng hình gián tiếp: là những kí hiệu biểu thị đặc điểm nổi bật của sự vật, hiện tượng
Ví dụ: “Con khỉ” được biểu thị bằng hai bàn tay gãi bụng và mặt
+ Kí hiệu tự ý: Là những kí hiệu riêng của từng người hoặc từng nhóm nhỏ
Ví dụ: “mẹ/ má” – có thể sờ má; có thể sờ tay lên đầu; có thể biểu hiện một đặc
điểm
+ Kí hiệu quy ước: Chiếm số lượng khá nhiều trong hệ thống kí hiệu, nó
được cả cộng đồng chấp nhận sử dụng
Ví dụ: “tốt” bàn tay nắm, ngón tay cái giơ thẳng hướng lên trên.
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
1 Nội dung
Thực tế trong quá trình lên lớp người giáo viên luôn luôn vận dụng các phương pháp để giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất và phù hợp nhất đối với
Trang 6trẻ Tuy nhiên với đối tượng mà bản thân tôi và các đồng nghiệp đang giảng dạy
hiện là đối tượng “đặc biệt” là học sinh khiếm thính Do vậy với đề tài này tôi chú
trọng áp dụng ngôn ngữ kí hiệu với các phương pháp và với những nội dung sau:
- Áp dụng ngôn ngữ kí hiệu có chọn lọc
- Công tác chuẩn bị bài giảng
- Chú ý vào đặc điểm nhận thức của người học
- Chú ý tới 5 thành tố cơ bản và quy ước chuyển động của các dấu hiệu
- Chú ý tới đặc trưng trong ngữ pháp của ngôn ngữ kí hiệu
2 Biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Trong quá trình thực hiện giải pháp của đề tài cũng như trong quá trình giảng dạy người giáo viên cần lồng ghép các phương pháp để giúp các em tiếp thu tri thức một cách dễ dàng hiệu quả Với đề tài này tôi xin trình bày giải pháp áp dụng ngôn ngữ kí hiệu vào giảng dạy giúp học sinh khiếm thính tiếp thu tri thức một cách có hiệu quả cao, từ đó xóa dần mặc cảm tự ti, rụt rè và tự tin mở rộng giao tiếp với mọi người xung quanh, cũng như người giáo viên có điều kiện và thời gian
để mở rộng nguồn tri thức vô tận trau dồi cho học sinh
2.1 Áp dụng Ngôn ngữ kí hiệu có chọn lọc
- Việc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu mà nhiều người nghe thường cho rằng ngôn
ngữ kí hiệu là toàn cầu Hay là người nghe cho rằng lịch sử và cấu trúc của ngôn ngữ kí hiệu là tương tự với ngôn ngữ nói trong một quốc gia Tuy nhiên, với những bằng chứng mà tôi được biết thì tôi khẳng định rằng ngôn ngữ kí hiệu không phải
là toàn cầu bởi vì những từ vựng của ngôn ngữ kí hiệu thay đổi thậm chí trong một đất nước Việt Nam
- Áp dụng ngôn ngữ có chọn lọc trong quá trình giảng dạy, nhằm giúp học sinh khiếm thính học các môn xã hội được tốt hơn đặc biệt là với môn Địa lí lớp 6 Trong quá trình giảng dạy học sinh khiếm thính người giáo viên cần áp dụng ngôn ngữ kí hiệu trong giải thích từ, giải thích câu, giải thích nghĩa của từ, nghĩa của câu, đặt câu hỏi và với những từ mang tính trừu tượng
- Ngôn ngữ kí hiệu Tp Hồ Chí Minh đặt số từ sau danh từ, trong khi ngôn ngữ nói / viết tiếng Việt đặt số từ trước danh từ, … Trong quá trình giảng dạy cần chú
ý để áp dụng một cách phù hợp có hiệu quả
Ví dụ: Khi giảng bài 22: Các đới khí hậu trên Trái đất (sách giáo khoa Địa lí
trang 67, địa lí 6)
+ Trong ngôn ngữ nói: 5 vành đai nhiệt
+ Trong ngôn ngữ kí hiệu: Vành đai/ nhiệt/ 5
- Trong quá trình giảng dạy tại Trung tâm và cũng như trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi chỉ chú trọng sử dụng và áp dụng đến ngôn ngữ kí hiệu của Tp Hồ Chí Minh Việc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu Tp Hồ Chí Minh thì khác với ngôn ngữ nói/ viết tiếng Việt
Ví dụ: Số từ đứng trước danh từ nhưng đứng sau danh từ trong ngôn ngữ kí
hiệu Trật tự từ trong ngôn ngữ kí hiệu là: chủ từ, phó từ, động từ
Trang 7Ví dụ: Khi dạy bài 18 Sách giáo khoa Địa lí 6 Từ “Thời tiết” Ngôn ngữ kí hiệu
của Tp Hồ Chí Minh, ngôn ngữ kí hiệu của Hà Nội có sự khác nhau trong cách (thể hiện) múa dấu:
Ví dụ minh họa về sự khác nhau trong cách thể hiện một từ “thời tiết” của ngôn ngữ kí hiệu TPHCM và ngôn ngữ kí hiệu HN
2.2 Công tác chuẩn bị bài giảng
- Nắm nội dung bài mới bằng ngôn ngữ kí hiệu
- Tổng hợp ôn tập thực hành các từ đã học bằng ngôn ngữ kí hiệu
- Để giảng dạy có hiệu quả trong việc áp dụng ngôn ngữ kí hiệu vào giảng dạy người giáo viên cần chuẩn bị tốt nội dung bài cần truyền đạt cho học sinh, ngoài ra người giáo viên cần nắm được ngôn ngữ kí hiệu của nội dung bài mới, cần ôn tập tổng hợp các từ mới, tìm trong sách ngôn ngữ kí hiệu mới để áp dụng diễn đạt giảng giải và luyện tập nhiều lần cho nhớ và hiểu rõ nội dung từ, câu, Và dưới đây là một trong những tiết dạy tôi thường áp dụng trong quá trình giảng dạy và tôi đưa ra các hoạt động sau
Hoạt động 1: Ổn định lớp: Lớp trưởng báo cáo sĩ số lớp bằng ngôn ngữ kí hiệu Hoạt động 2: Kiểm tra bài cũ: Giáo viên đưa ra câu hỏi bài cũ các em đã học ở
bài trước bằng hai thao tác:
+ Giáo viên viết câu hỏi lên bảng;
+ Giáo viên hỏi học sinh bằng ngôn ngữ kí hiệu quy ước
Học sinh trình bày nội dung bài cũ bằng ngôn ngữ kí hiệu quy ước
Giáo viên sửa lỗi ngôn ngữ kí hiệu em trình bày chưa đúng
Hoạt động 3: Bài mới: Giáo viên giới thiệu bài và nhắc các em giở sách giáo
khoa chuẩn bị đọc nội dung bài, giáo viên gọi một em đọc bài mới, em học sinh
đó với vị trí đứng trước lớp đối diện với các bạn còn lại, sách giáo khoa để trên bàn và đọc nội dung bằng ngôn ngữ kí hiệu quy ước
+ Sau khi em học sinh đọc xong nội dung bài thì trở về chỗ ngồi
THỜI TIẾT
(HN) Bàn tay úp lại trên đầu, di chuyển lúc lắc bàn tay, các ngón tay chuyển động để trên đâu và
di chuyển hai lần
THỜI TIẾT
Trang 8+ Giáo viên tóm tắt nội dung bài cần tìm hiểu trong bài và cung cấp những từ, câu trong bài mới mà ngôn ngữ kí hiệu quy ước trước đó chưa có, giáo viên thực hiện lại từ 1 đến 3 lần
+ Tìm hiểu nội dung: Giáo viên trình bày các câu hỏi bằng ngôn ngữ kí hiệu cho các nhóm, đồng thời viết lại câu hỏi của các nhóm lên bảng Học sinh thảo luận, trình bày trên giấy và đại diện một thành viên trong nhóm lên trình bày bằng ngôn ngữ kí hiệu quy ước Các nhóm khác nhận xét nội dung bài và cách trình bày bằng ngôn ngữ kí hiệu của nhóm trước đó Các nhóm khác trình bày và nhận xét bài của các nhóm, giáo viên tổng hợp ý kiến của các nhóm và kết luận
Hoạt động 4: Củng cố: Giáo viên chuẩn xác lại nội dung bài vừa tìm hiểu, thể
hiện lại những từ, câu của ngôn ngữ kí hiệu mới trong bài và gọi một vài em trình bày lại Học sinh làm bài tập cá nhân trong vở bài tập, giáo viên kiểm tra lại và sửa lỗi
Hoạt động 5: Dặn dò: Giáo viên nhắc nhở các em về học bài và ôn lại những
ngôn ngữ kí mới vừa học nhiều lần, hoàn thành bài tập xem trước bài mới, những
từ câu nào thể hiện bằng ngôn ngữ kí hiệu chưa được thì ghi lại để chuẩn bị cho bài mới tiếp theo
* Lưu ý: Trong quá trình người giáo viên thực hiện một tiết dạy, ngoài nội
dung bài cần truyền đạt cho học sinh thì giáo viên cần chú ý học từ mới, câu bằng ngữ kí hiệu mới quy ước trong bài Được như vậy thì học sinh nắm bài tốt, tự tin, xóa bỏ mặc cảm cùng hòa đồng với giáo viên và các bạn khác Thực hiện một tiết dạy có sử dụng ngôn ngữ kí hiệu đem lại rất nhiều hiệu quả trong học tập cũng như trong giao tiếp
2.3 Chú ý vào đặc điểm nhận thức của người học
- Áp dụng ngôn ngữ kí hiệu vào giảng dạy một cách thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi và học sinh thường xuyên luyện tập trong quá trình giao tiếp
- Trong quá trình giảng dạy người giáo viên cần nắm được đặc điểm nhận thức của hoc sinh khiếm thính: Tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ, trí nhớ,
2.4 Chú ý tới 5 thành tố cơ bản và quy ước chuyển động của các dấu hiệu
- Việc áp dụng ngôn ngữ kí hiệu vào giảng dạy bộ môn người giáo viên cần phải nắm được và chú ý tới 5 thành tố cơ bản của một kí hiệu:
1 Vị trí làm kí hiệu (trung tâm hóa);
2 Hình dạng bàn tay (chữ cái ngón tay/ biến thể);
3 Sự chuyển động của bàn tay;
4 Chiều hướng của lòng bàn tay;
5 Kết hợp cử chỉ điệu bộ, nét mặt
- Ngoài ra trong quá trình sử dụng ngôn ngữ kí hiệu người giáo viên cần nắm được quy ước về chuyển động của dấu hiệu dưới bảng:
Trang 9Bảng quy ước về chuyển động của dấu hiệu
Chuyển động thẳng từ dưới lên
Chuyển động thẳng từ trên xuống
Chuyển động từ trái sang phải, từ trong
ra ngoài
Chuyển động từ phải sang trái, từ
ngoài vào trong
Chuyển động cong từ trên xuống
Chuyển động cong từ dưới lên
Chuyển động tròn từ trái sang phải
Chuyển động tròn từ phải sang trái
Chuyển động lên xuống
Chuyển động qua lại hai bên
x x Tay chạm vào tay/ người
\\ // Chuyển động rung các ngón tay, bàn
tay
Chuyển động từ dưới lên hai lần
Chuyển động từ trên xuống hai lần
Chuyển động từ trái sang phải, từ trong ra ngoài hai lần
Chuyển động từ phải sang trái, từ ngoài vào trong hai lần
Chuyển động cong từ trên xuống dưới hai lần
Chuyển động cong từ dưới lên trên hai lần
Chuyển động tròn từ trái sang phải hai lần
Chuyển động tròn từ phải sang trái
Chuyển động theo dạng sóng
Ví dụ: Minh họa cụ thề trong quá trình giảng dạy bằng ngôn ngữ kí hiệu cần
chú ý đến 5 thành tố và các quy ước chuyển động của một kí hiệu:
Trang 102.5 Trong quá trình giảng dạy cần nắm được và áp dụng một số đặc trưng
cơ bản trong ngữ pháp của ngôn ngữ kí hiệu
- Với câu phủ định:
+ Trong ngôn ngữ nói, các từ phủ định luôn được nói trước một động từ + Trong ngôn ngữ kí hiệu, các từ phủ định luôn được làm kí hiệu sau cùng
Ví dụ:
+ Trong ngôn ngữ nói: Tôi không thích núi lửa và động đất
+ Trong ngôn ngữ kí hiệu: Tôi/ núi lửa/ động đất/ không thích
- Với câu rút gọn kí hiệu: Lược bỏ thành phần trong câu :
+ Trong ngôn ngữ nói: Thời tiết khác khí hậu ở những điểm nào?
+ Trong ngôn ngữ kí hiệu: Thời tiết, khí hậu/ khác nhau/ gì?
- Với tính từ: Trong ngôn ngữ kí hiệu chỉ diễn tả nghĩa gốc của từ