Tiểu luận môn tài chính quốc tế Nghiên cứu về EMU Đồng EURO và khả năng hình thành liên minh tiền tệ và một đồng tiền chung Châu Á Trong vài thập kỉ trở lại đây, xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa nổi lên như là một yêu cầu tất yếu của sự phát triển, đã và đang khuyến khích sự ra đời của các liên minh tiền tệ. Sau sự ra đời của Liên minh tiền tệ châu Âu, lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy rằng ở Châu Á (ASEAN) có thể và có đủ khả năng hình thành một liên minh tiền tệ của khu vực.
Trang 1Hà Nội Tháng 08/2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA SAU ĐẠI HỌC
PGS.TS Đặng Thị Nhàn
Nghiên cứu về EMU - Đồng EURO và
khả năng hình thành liên minh tiền tệ và một
đồng tiền chung Châu Á
Nhóm học viên : Trần Thị Mai Anh
Trần Tuấn Nhã Trần Văn Thắng
Trang 2
NỘI DUNG
1 Triển vọng về một đồng tiền chung Châu Á 2
2 Lợi ích của việc thống nhất tiền tệ 3
3 Chi phí của việc thống nhất tiền tệ 5
4 Thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành đồng tiền chung 6
5 Định giá đồng tiền chung Châu Á 7
Trang 3Trong vài thập kỉ trở lại đây, xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa nổi lên như
là một yêu cầu tất yếu của sự phát triển, đã và đang khuyến khích sự ra đời của các liên minh tiền tệ Sau sự ra đời của Liên minh tiền tệ châu Âu, lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy rằng ở Châu Á (ASEAN) có thể và có đủ khả năng hình thành một liên minh tiền tệ của khu vực
Nhận thức được điều đó, các nước Châu Á, đặc biệt là những nước trong khu vực Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc đang từng bước thực hiện những bước đi vững chắc tạo tiền đề cho sự hình thành một liên minh tiền tệ của khu vực mà ban đầu là các hiệp định về lộ trình cắt giảm tiến tới xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan (hiệp định CEPT), hiệp định khung về khu vực đầu tư AIA, tiếp đến
là hội nghị cấp cao ASEAN 20 cam kết thúc đẩy hợp tác và tăng cường phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô Bên cạnh đó, sự ra đời của “Sáng kiến Chiang mai” đã tạo nền tảng vững chắc cho việc thiết lập một cơ chế liên kết tỷ giá, một trong những điều kiện tiên quyết cho việc hình thành một liên minh tiền tệ
Do các nước ASEAN10+3 là những nước chiếm tỷ trọng thương mại lớn tại Châu Á, mặt khác ASEAN cũng là khu vực mậu dịch tự do với những tiền đề cho 1 liên minh tiền tệ nên bài viết dưới đây tập trung nghiên cứu đồng tiền chung của khối ASEAN10+3 với tư cách là đồng tiền chung đại diện của các nước Châu Á
1 Triển vọng về một đồng tiền chung Châu Á
Ý tưởng về đồng tiền chung Châu Á (Asian Monetary Unit - viết tắt là AMU)
đã xuất hiện từ lâu, tuy nhiên các quốc gia sau đó chưa có một nỗ lực cụ thể nào để thực hiện ý tưởng này Vì vậy 10 năm trước, AMU được xem như chỉ tồn tại trên lý thuyết
Từ sau khủng hoảng tài chính – kinh tế Châu Á năm 1997, vấn đề đồng tiền chung Châu Á mới được nhấn mạnh và đã được đề cập khá nhiều trong các Hội nghị quốc tế và khu vực như Kế hoạch Hành động Hà Nội (tháng 12/1998) và Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 ở Manila (tháng 11/1999), và ASEAN+3 ở Chiang Mai (Thái Lan - tháng 5/2000 và Manila - tháng 05/2012) Thời gian gần đây, nhu cầu có một đồng tiền chung Châu Á càng trở nên cấp thiết khi giao lưu thương mại giữa các nước tăng vọt năm này qua năm khác
Ý tưởng về việc hình thành đồng tiền chung Châu Á là rất tích cực trong xu thế liên kết khu vực, một mặt thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, tăng khả năng cạnh tranh, mặt khác sẽ giúp các quốc gia Châu Á hạn chế sự lệ thuộc quá nhiều vào đồng USD và tránh được những biến động trên thị trường tiền tệ quốc tế Ngoài ra,
dự tính thiết lập một đơn vị tiền tệ Châu Á tạo ra một mức chuẩn khu vực nhằm theo dõi những xu hướng tác động qua lại lẫn nhau giữa các đồng tiền Châu Á cũng như tác động giữa các đồng tiền này trong một tổng thể với các đồng tiền của các quốc gia khác như đồng USD, đồng Euro, hay đồng bảng Anh Nếu đồng tiền
Trang 4chung ra đời, Châu Á sẽ có tiền đề cho những triển vọng lớn hơn nữa trên bình diện toàn cầu Rất có thể trên thế giới sẽ xuất hiện một trung tâm tài chính thứ ba (sau
Mỹ và châu Âu) liên kết các nền kinh tế trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương,
mà chất kết dính nó chính là đồng AMU
Châu Á được lợi nhờ tham khảo kinh nghiệm của quá trình hình thành đồng tiền chung châu Âu (đồng EURO kéo dài 40 năm) Đến nay, việc công bố sử dụng đồng AMU (2006) khá tương tự như đồng ECU, thành lập Quĩ châu Á, cho ra đời thị trường trái phiếu Châu Á, qui định các điều kiện chuẩn bị gia nhập khu vực… dường như mô phỏng lại quá trình hình thành Eurozone Theo đánh giá của các chuyên gia tài chính Châu Á, việc ra đời của đồng AMU sẽ nhanh hơn đồng Euro Tuy nhiên quá trình hình thành và đưa vào sử dụng đồng AMU cũng sẽ gặp một số khó khăn Khó khăn lớn nhất cho việc ra đời đồng tiền chung là sự khác biệt lớn giữa các thành viên và cốt lõi của quá trình chuẩn bị cho Aszone là đạt được sự thống nhất trong sự khác biệt quá lớn này Do tính đa dạng về kinh tế, văn hóa, chính trị giữa các quốc gia Châu Á cũng hình thành nhiều cấp độ phát triển kinh tế khác nhau trong khu vực, tạo nên khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển của quốc gia, dẫn đến việc xác định khác nhau giữa các lợi ích và vấn đề ưu tiên trong hợp tác Khoảng cách chênh lệch trên cũng tạo bất lợi đối với các nước kém phát triển trong phân công lao động quốc tế, do các nước lớn có lợi thế hơn về vốn, công nghệ và khả năng cạnh
2 Lợi ích của việc thống nhất tiền tệ
Kích thích phát triển thương mại
Việc sử dụng đồng tiền chung giúp hạn chế chi phí giao dịch liên quan đến chuyển đổi các đồng tiền khác nhau, góp phần kích thích tăng khối lượng thương mại, thúc đẩy mối liên kết kinh tế, tài chính, tiền tệ, thậm chí cả về chính trị, từ đó đẩy mạnh phồn vinh kinh tế của các nước thành viên Ngoài ra, việc thống nhất tiền
tệ giúp tạo môi trường đầu tư ổn định hơn với chi phí rủi ro giảm đáng kể
Các yếu tố sản xuất được phân bổ hiệu quả
Việc các nước áp dụng các biện pháp kiểm soát chu chuyển vốn và phân biệt đối xử vốn tài chính làm cho nguồn vốn của các nước không được phân bổ tối ưu Khi xóa bỏ hoàn toàn các biện pháp kiểm soát tỷ giá và không có sự biến động của
tỷ giá (sử dụng đồng tiền chung), nguồn vốn được phân bổ hiệu quả hơn nhiều trong nội bộ các nước Mặt khác, lương và thu nhập được tính bằng đồng tiền chung sẽ được phân bổ tốt hơn, người lao động sẽ tự do di chuyển từ khu vực có năng suất lao động thấp đến khu vực có năng suất lao động cao hơn
Tiết kiệm dự trữ ngoại hối và lợi ích từ việc phát hành tiền
Khi đồng tiền chung ra đời, các nước trong khối giảm được ít nhất là số dự trữ ngoại hối dùng để giao dịch trong nội bộ khối Hơn nữa so với các đồng tiền riêng
lẻ thì đồng tiền chung có xu hướng biến động ít hơn so với đồng tiền của nước thứ
3 Điều này xảy ra là vì mức hoạt động trung bình của nền kinh tế được tính chung
Trang 5bằng 1 đồng tiền thường ổn định hơn so với từng nền kinh tế đơn lẻ đối với đồng tiền riêng của mình, vì vậy nhu cầu dự trữ ngoại hối đối với các nước sử dụng đồng tiền chung giảm xuống
Tiết kiệm chi phí hành chính trong kinh doanh
Với việc sử dụng đồng tiền chung, các công ty tiết kiệm được các nguồn lực của mình để kiểm soát rủi ro ngoại hối, rủi ro từ hoạt động kinh doanh do sử dụng những đồng tiền khác nhau của các nước và kiểm tra chiến lược giá cả trên các thị trường Châu Á khác nhau
Tăng cường thanh khoản và hợp lý hóa thị trường tài chính
Thị trường tài chính bao gồm thị trường trái phiếu chính phủ và thị trường cổ phiếu công ty Mọi khoản vay của chính phủ thành viên đều được thực hiện bằng đồng tiền chung làm cho thị trường trái phiếu chính phủ trở nên linh hoạt hơn, giảm chi phí giao dịch Thị trường cổ phiếu công ty đều được niêm yết bằng 1 đồng tiền chung khiến giao dịch trên thị trường cổ phiếu được hiệu quả, kích thích doanh số giao dịch trên thị trường này
Do thị trường tài chính hoạt động hiệu quả, chính phủ và công ty giảm được chi phí tiếp cận nguồn vốn trên thị trường tài chính
Giá cả trở nên trung thực, rõ ràng hơn
Việc tất cả hàng hóa và dịch vụ trong khu vực đều được yết giá bằng đồng tiền chung gây ra khó khăn đối với các nhà sản xuất mong muốn duy trì chênh lệch giá giữa các thị trường khác nhau Quy luật cạnh tranh buộc các công ty đa quốc gia phải áp dụng chính sách định giá hàng hóa thống nhất trên cơ sở mức giá thấp nhất trong khu vực khối => người tiêu dùng được lợi, trong khi đó các công ty đa quốc gia giảm lợi nhuận
Lợi ích ngăn ngừa, kiểm soát khủng hoảng của khu vực
Sự hợp tác tiền tệ giúp các nước có sự liên hệ chặt chẽ hơn về kinh tế cũng như các chính sách điều tiết vĩ mô, giúp giảm thiểu sự lây lan ra các nước trong khu vực khi một nước gặp khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 đã cho thấy rằng các cơ chế quốc tế
để hỗ trợ tài chính hiện có (do IMF phối hợp) là không đủ đối với các nước Các nguồn vốn do IMF nỗ lực cung cấp chưa đủ về quy mô, tốc độ giải ngân quá chậm
và thường đi kèm với những điều kiện kinh tế vĩ mô không phù hợp với hoàn cảnh
cụ thể của các quốc gia bị khủng hoảng Việc một số nước tích luỹ các nguồn dự trữ ngoại tệ lớn để đối phó với các cuộc tấn công của giới đầu cơ trong tương lai là một việc làm rất tốn kém, do đó các nước có thể tiết kiệm các nguồn vốn đó bằng cách kết hợp các quỹ dự trữ của các nước trong khu vực với nhau
Bên cạnh đó, cạnh tranh kinh tế giữa các nước có thể gây khó khăn cho sự phát triển ổn định của từng nước cũng như khu vực Gần đây, các nước ASEAN tăng tỷ lệ thương mại nội bộ và cũng do các sản phẩm xuất khẩu của họ thường cạnh tranh với nhau trên các thị trường thứ ba Điều này khiến cho một số nước có
Trang 6động cơ để phá giá nhằm tăng khả năng cạnh tranh Do đó thay vì phá giá để tăng khả năng cạnh tranh cho riêng hàng hoá nước mình, một cơ chế phối hợp tỷ giá hối đoái trong khu vực có thể sẽ mang lại thế cân bằng hợp tác tốt hơn và đem lại lợi ích cho cả hai bên
Lợi ích ổn định tỷ giá hối đoái
Khi thống nhất tiền tệ các nước với nhau có thể khắc phục được những hạn chế của chế độ tỷ giá cố định hay thả nổi mà các nước Châu Á hiện đang sử dụng
Chế độ tỷ giá cố định giúp cho các nước ổn định giá cả, tránh rủi ro tỷ giá nên
giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhưng nó cũng có thể làm giảm sức cạnh tranh với các nước khác trong thị trường xuất khẩu Cố định tỷ giá bằng USD, khi USD tăng giá làm đồng tiền của quốc gia bị đánh giá cao hơn giá trị thực tế (đồng tiền quốc gia cũng tăng giá) thì bị giảm xuất khẩu, tăng thâm hụt tài khoản vãng lai
Chế độ thả nổi giúp đánh giá đúng giá trị đồng tiền theo qui luật cung cầu
nhưng tỷ giá dao động mạnh, dễ biến động theo nhiều yếu tố, gây khó khăn trong việc kiểm soát giá cả
Khi sử dụng đồng tiền chung, không cần thiết phải neo giá theo đồng tiền theo đồng tiền lớn khác mà sử dụng trực tiếp đồng tiền chung này, các nước cùng nhau điều hành chính sách tỷ giá nên khắc phục được hạn chế hai chế độ tỷ giá kia
3 Chi phí của việc thống nhất tiền tệ
Mất quyền tự chủ trong hoạch định chính sách tiền tệ
Khi có đồng tiền chung với 1 hệ thống tỷ giá cố định không điều chỉnh, không hạn chế trong chu chuyển vốn sẽ dẫn đến hình thành mức lãi suất ngắn hạn thống nhất giữa các nước thành viên Mức lãi suất này có thể sẽ không thích hợp với một
số quốc gia, đây là tình trạng mất tự chủ trong chính sách tiền tệ của các quốc gia thành viên
Mất tự chủ trong chính sách kinh tế vĩ mô
Các quốc gia có lựa chọn về mức độ lạm phát-công ăn việc làm khác nhau
Có những nước chấp nhận mức lạm phát cao để giải quyết vấn đề việc làm, cũng có nước muốn kìm hãm mức lạm phát ở mức vừa phải và chấp nhận đánh đổi bằng tỷ
lệ thất nghiệp cao hơn Khi tham gia liên minh tiền tệ, các thành viên phải áp dụng một chính sách kinh tế vĩ mô nhằm bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động kinh
tế Trong ngắn hạn, điều này gây ra sự mất tự chủ của các nước thành viên khi nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát và thất nghiệp ở ngoài tầm kiểm soát
Bất bình đẳng khu vực
Việc hình thành Liên minh tiền tệ kích thích vốn và lao động di chuyển từ khu vực (quốc gia) có năng suất lao động thấp đến nơi có năng suất lao động cao Điều này tạo ra hậu quả xã hội khá nghiêm trọng vì lực lượng lao động ở đây là lao động chính có tầm quan trọng trong khu vực
Trang 7 Chi phí thời kỳ quá độ
Khi quyết định sử dụng đồng tiền chung các quốc gia thành viên phải chịu chi phí gọi là chi phí thời kì quá độ bao gồm chi phí thu hồi đồng bạc hiện hành, in đồng bạc chung, thay đổi hệ thống thông tin phù hợp với đồng tiền chung
4 Thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành đồng tiền chung
Thuận lợi:
Hiện nay, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) vào tháng 06/2006 đã khởi động đơn vị tiền tệ châu Á - một chỉ số có trọng số của rổ tiền tệ Châu Á, theo đó coi đây là công cụ để giám sát những biến động về giá trị của các đồng tiền trong khu vực Đây là lần đầu tiên mà một tổ chức quốc tế như ADB tạo ra một chỉ số như vậy cho Châu Á ADB hiện đang nghiên cứu để 40 nước Châu Á đều được tính trong chỉ số của đồng tiền chung Tuy nhiên, ban đầu, ADB có kế hoạch để tạo ra một chỉ số của tiền tệ Đông Á bao gồm chỉ có 15 nền kinh tế: 10 nước ASEAN cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hong Kong và Đài Loan Chỉ số này
có thể sau đó được mở rộng để bao gồm các quốc gia khác như Ấn Độ, Australia và New Zealand
Bên cạnh đó, các hội nghị và hiệp định trong khu vực về vấn đề đồng tiền chung cũng đã và đang được tiến hành, mà gần đây nhất là hội nghị giữa các Bộ trưởng tài chính và các thống đốc ngân hàng trung ương của các thành viên ASEAN10+3 và Cơ quan tiền tệ Hồng Kông tại Manila vào ngày 3/5/2012 Tiền tệ khu vực và hợp tác tài chính cũng đã tăng lên rõ rệt kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998 Tỷ lệ phần trăm của dòng vốn FDI trong khu vực đã tăng từ khoảng 50% năm 2000 lên 79% vào năm 2005 Tương tự như vậy, tỷ lệ phần trăm tài sản danh mục đầu tư trong khu vực được tổ chức bởi các nước trong khu vực đã tăng gấp đôi từ 8% tổng tài sản đầu tư năm 2002 lên 16% trong năm
2007 Đông Á đã tiến nhất trong các điều khoản của hợp tác tiền tệ và tài chính Các nước Châu Á, đặc biệt là khối ASEAN10+3 cũng đang từng bước tiến hành các tiền đề cho một khu vực tiền tệ chung như cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan (theo hiệp định CEPT thì đến năm 2015, mức thuế suất của các nước Asean giảm xuống còn 0% và loại bỏ hoàn toàn các hàng rào phi thuế), xây dựng khu vực đầu tư ASEAN (AIA), các chương trình hợp tác kinh tế trong và ngoài khối như Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO) Tại Châu Á, ngày càng có nhiều nền kinh tế tham gia vào các hiệp định thương mại tự do song phương hoặc khu vực, hoặc các FTA (khu vực mậu dịch tự do) Theo ADB (số liệu
từ website ADB), ước tính rằng hiện nay có hơn 260 FTA song phương và đa phương ở Châu Á hoặc đang có hiệu lực, hoặc đang được đề xuất, hoặc hiện đang đang trong quá trình đàm phán
Khó khăn:
Trang 8Nguyên tắc tổng quát hình thành nên khối EU là hợp tác và đồng thuận Mặc
dù các nước Châu Âu có nhiều vấn đề khác biệt, bất đồng, nhưng họ đều ngồi lại thương thảo để đi đến những điểm chung Trong cộng đồng Châu Âu, giữa các nước có nhiều nét tương đồng về lịch sử, kinh tế, chính trị nên đi đến thống nhất là không khó Đối với các nước Châu Á, còn quá nhiều điểm chưa thống nhất để đi đến hình thành đồng tiền chung:
Chưa có chính sách chung, cơ quan quản lí chung: Dù các nước ASEAN có cuộc họp cấp cao hàng năm để thảo luận các vấn đề chung về an ninh, môi trường, kinh tế, giáo dục, thể thao… nhưng để hình thành chính sách chung, cơ quan quản
lí chung thì còn xa vời (trong khi đó khối EU đã có thượng viện, hạ viện, cơ quan hành pháp, tư pháp)
Vẫn còn tranh chấp giữa các quốc gia: Tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên biển Đông giữa các nước Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Đài Loan, tranh chấp biên giới giữa Thái Lan và Campuchia, tranh chấp nguồn nước giữa Malaysia và Singapo, mâu thuẫn về khai thác sông Mekong giữa các nước có sông Mekong đi qua
Khác biệt về trình độ phát triển, trình độ dân trí, tôn giáo, sắc tộc, tội phạm,
y tế, môi trường, : Khoảng cách quá lớn về GDP giữa Trung Quốc (gần 7043 tỷ USD), Nhật Bản (4305 tỷ USD), với Lào, Myanmar, Campuchia (dưới 18 tỷ USD) (năm 2011) và khoảng cách về mức sống: thu nhập bình quân đầu người các nước như Singapo, Brunây, Malaysia gấp 10-16 lần các nước như Lào, Campuchia, Việt Nam Cư dân các nước trong khu vực cũng ít hiểu biết về dân tộc, văn hóa các nước láng giềng, trình độ dân trí, khoa học kĩ thuật các nước cũng chênh lệch quá lớn
Để khắc phục những khác biệt, bất đồng, mâu thuẫn như trên cần các quốc gia phải có thiện ý hợp tác và tốn một khoảng thời gian dài nên việc hình thành đồng tiền chung AMU sẽ còn xa, có thể 20 năm, 50 năm tùy thuộc tình hình kinh tế, chính trị và sự hợp tác của các nước khu vực
5 Định giá đồng tiền chung Châu Á
Tính giá đồng AMU theo phương pháp tính đồng ECU (đồng tiền chung Châu Âu):
Theo phương pháp này, ta chọn đồng tiền của các nước ASEAN10+3 làm thành phần cấu tạo nên đồng AMU Các nước ASEAN10+3 gồm có Brunei, Campuchia, Inđônêxia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, và Trung Quốc Đồng AMU sau này có thể được mở rộng thêm, gồm các nước Hồng Kông, Đài Loan và có thể cả Úc, Newzealand, Ấn Độ
Đồng AMU được coi là đại diện cho giá trị trung bình tiền tệ của các nước ASEAN10+3 Ta tính toán đồng AMU theo các phương pháp được sử dụng để tính
Trang 9toán đơn vị tiền tệ Châu Âu (ECU) được các nước EU thông qua theo Hệ thống Tiền tệ châu Âu (EMS) trước khi có sự ra đời của đồng Euro vào năm 1999
Tương tự cách mà ECU được định nghĩa là một rổ tiền tệ của các nước thành viên EU, đồng AMU được coi là một rổ tiền tệ của ASEAN10 +3 Trọng lượng của mỗi đồng tiền trong rổ được tính toán dựa trên tỷ trọng GDP tương ứng của các quốc gia dựa vào ngang giá sức mua của tiền tệ (PPP), và khối lượng thương mại (tổng lượng xuất khẩu và nhập khẩu) trong tổng số các nước lấy mẫu cho các quốc gia có liên quan
Giá trị của đồng AMU được tính so với bình quân gia quyền của đồng USD
và đồng EURO bởi vì Mỹ và các nước EU là đối tác thương mại quan trọng đối với khu vực Đông Á Bình quân gia quyền của USD và đồng EURO (sau đây gọi là đồng US $-EURO) được tính dựa trên khối lượng thương mại của các nước Đông
Á với Hoa Kỳ và khu vực đồng EURO Tỷ trọng tương ứng của đồng USD và đồng EURO được thiết lập ở mức 65% và 35%
Bảng 1 biểu thị các tài khoản thương mại của 13 nước Đông Á từ 1990 đến
2009, cho thấy các tài khoản thương mại gần đạt cân bằng nhất vào năm 2001 Giả
sử một khoảng thời gian một năm trước khi việc thay đổi tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến khối lượng thương mại, ta chọn năm 2000 - 2001 là thời kỳ chuẩn (đây là giai đoạn mà tổng cán cân thương mại của các nước thành viên, tổng cán cân thương mại của các nước thành viên (trừ Nhật Bản) với Nhật Bản, và tổng số dư thương mại của các nước thành viên với phần còn lại của thế giới cần được tương đối gần bằng không) Trong thời kỳ chuẩn, tỷ giá hối đoái của đồng AMU đối với đồng (US $-EURO) được thiết lập thống nhất Ta định nghĩa tỷ giá hối đoái của mỗi đồng tiền Đông Á đối với đồng AMU trong thời kỳ chuẩn là tỷ giá chuẩn
Trang 10Bảng 1 Cán cân thương mại của các nước Asean10 +3
Đơn vị: Triệu USD
Ghi chú: Cán cân thương mại với Nhật Bản là tổng cán cân thương mại của12 nước còn lại
trong khối Asean10+3