Do đó nguyên nhân phá giá tiền tệ có thể là chủ động hoặc bị động + Phá giá chủ động: Do giá cả hàng hóa và tiền lương là ít co giãn trong ngắn hạn nên khi điều chỉnh tỷ giá tăng đ
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I LÝ THUYẾT CHUNG 3
1 Phá giá tiền tệ 3
2 Cán cân vãng lai 5
II: TÌNH TRẠNG CÁN CÂN VÃNG LAI (CCVL) CỦA VIỆT NAM 7
1 Diễn biến cán cân vãng lai của Việt Nam 7
2 Nguyên nhân thâm hụt cán cân vãng lai 9
III: ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁ GIÁ TIỀN TỆ ĐỐI VỚI CÁN CÂ VÃNG LAI CỦA VIỆT NAM 11
1 Ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đối với CCVL của Việt Nam 11
2 Quan điểm về phá giá tiền tệ 14
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 2MỞ ĐẦU
Năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức kinh tế thế giới WTO Có thể nói đây vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với nền kinh tế nước ta Việc gia nhập WTO mở ra cơ hội thuận lợi để Việt Nam thu hút các luồng vốn đầu tư
cả trong nước và ngoài nước, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh Việt Nam trở thành một điểm sáng đối với các nhà đầu tư Những nguồn vốn đầu tư quan trọng đổ vào Việt Nam đã giúp duy trì tăng trưởng cao, khá ổn định của nền kinh tế Việt Nam trong nhiều năm qua, đồng thời góp phần thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những phát triển tích cực cơ bản nói trên, nền kinh tế Việt Nam cũng
có những mặt hạn chế, yếu kém cần phải khắc phục, trong đó có vấn đề thâm hụt cán cân vãng lai
Trong bối cảnh hiện nay, Chính phủ Việt Nam đã và đang áp dụng nhiều chính sách nhằm thúc đẩy, ổn định nền kinh tế và cải thiện tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai Một trong những chính sách được xem xét áp dụng, đó là chính sách phá giá tiền tệ Phá giá tiền tệ là một biện pháp điều chỉnh tỷ giá trong đó nó làm giảm giá đồng nội tệ,
do đó thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, phát triển sản xuất hướng ngoại, tạo công
ăn việc làm, giảm thất nghiệp Thế nhưng, phá giá đồng nội tệ là một quyết định hết sức khó khăn và nhạy cảm vì nó ảnh hưởng đến rất nhiều khía cạnh khác nhau của hoạt động kinh tế, xã hội vàđời sống người dân nói chung Đồng thời nó cũng là một biện pháp mạnh đối với nền kinh tế, vì vậy nếu không có những biện pháp điều hành hợp lý
sẽ có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu vấn đề phá giá một cách kĩ lưỡng về cả mặt lý luận và thực tiễn Chính vì vậy,
nhóm em quyết định tìm hiểu đề tài: Phá giá tiền tệ và ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đối với tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác thu thập tài liệu, nghiên cứu và xây dựng bài tiểu luận song do thời gian nghiên cứu cũng như trình độ còn hạn chế nên bài viết chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Chúng em rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của cô giáo để bài tiểu luận thêm hoàn thiện
Trang 3NỘI DUNG
I LÝ THUYẾT CHUNG
1 Phá giá tiền tệ
1.1 Khái niệm
Trong chế độ tỷ giá cố định, phá giá tiền tệ là việc Chính phủ đánh sụt giá đồng nội tệ so với các ngoại tệ
1.2 Tác dụng của phá giá
Phá giá tiền tệ thường được sử dụng làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa nhằm cải thiện cán cân thanh toán vãng lai
1.3 Nguyên nhân
Phá giá tiền tệ chính là hành động can thiệp của Ngân hàng trung ương tác động đến tỷ giá hối đoái nhằm đạt mục tiêu kinh tế Do đó nguyên nhân phá giá tiền tệ có thể là chủ động hoặc bị động
+ Phá giá chủ động: Do giá cả hàng hóa và tiền lương là ít co giãn trong ngắn
hạn nên khi điều chỉnh tỷ giá tăng đột ngột, tức là phá giá tiền tệ, sẽ làm cho giá hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ giảm, kích thích tăng xuất khẩu; làm cho giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng làm giảm khối lượng nhập khẩu Kết quả cán cân thương mại được cải thiện
+ Phá giá bị động: Trong trường hợp đồng nội tệ được định giá quá cao làm mất
cân đối cung cầu trên thị trường ngoại hối (cung ít, cầu nhiều), NHNN tiến hành can thiệu làm cho dự trữ ngoại hối cạn kiệt Để cung cầu cân bằng và dự trữ ngoại hối không giảm nữa, Chính phủ buộc phải phá giá (bị động) tiền tệ Phá giá bị động thường xảy ra khi có một cú sốc mạnh và kéo dài đối với cán cân thương mại
1.4 Điều kiện để phá giá thành công
Khi nội tệ giảm giá sẽ tạo ra hai hiệu ứng là hiệu ứng giá và hiệu ứng khối lượng
Trang 4+ Hiệu ứng giá: Khi nội tệ giảm giá, giá hàng xuất khẩu tính bằng ngoại tệ giảm
đi và giá hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng lên Do đó, cán cân thương mại xấu đi
+ Hiệu ứng khối lượng: Khi nội tệ giảm giá, giá hàng xuất khẩu tính bằng ngoại
tệ giảm đi khuyến khích nước ngoài nhập khẩu nhiều hơn, nghĩa là làm khối lượng xuất khẩu tăng; giá hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng lên hạn chế nhu cầu nhập khẩu nghĩa là mà khối lượng nhập khẩu giảm đi Như vậy hiệu ứng khối lượng là nhân tối làm tình trạng cán cân thương mại (cán cân vãng lai) được cải thiện
Cán cân thương mại được biểu thị bằng giá trị hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu Nếu giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu thì cán cân thương mại thặng dư và ngược lại Hiệu ứng ròng của cán cân thương mại (được cải thiện hay xấu đi) phụ thuộc vào tính trội của hịêu ứng khối lượng hay hiệu ứng giá cả Tính trội của hiệu ứng giá hay hiệu ứng khối lượng lại phụ thuộc vào độ co giãn của xuất khẩu và độ co giãn của nhập khẩu với sự thay đổi tỷ giá (Điều kiện Marshall-Lerner)
Khi hiệu ứng giá cả có tính trội, dù khối lượng xuất khẩu tăng và khối lượng nhập khẩu giảm cũng không đủ để bù đắp cho giá trị xuất khẩu tính bằng ngoại tệ bị giảm và giá trị nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng Kết quả cán cân thương mại trở nên thâm hụt Cán cân thương mại chỉ được cải thiện khi hiệu ứng khối lượng có tính trội Điều này có nghĩa là sau khi phá giá, khối lượng xuất khẩu tăng và lượng nhập khẩu giảm thừ đủ để bù đắp cho hiệu ứng giá cả Kết quả là CCTM được cải thiện
Do hiệu ứng giá cả có tác dụng ngay lập thức sau khi phá giá, trong khi đó hiệu ứng khối lượng chỉ có tác dụng sau một thời gian nhất định (khoảng 6 tháng trở lên) Điều này xảy ra là vì khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu không co giãn trong ngắn hạn mà chỉ co giãn từ từ trong dài hạn Nguyên nhân chủ yếu là:
Như vậy, sau khi phá giá, hiệu ứng giá cả có tác dụng làm cho cán cân thương mại trở nên xấu đi ngay lập tức, trong khi đó hiệu ứng khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu chi cải thiện được cán cân thương mại trong dài hạn Điều này hàm ý, trong ngắn hạn, hiệu ứng giá cả có tính trội so với hiệu ứng khối lượng nên làm cho cán cân thương mại xấu đi, còn trong dài hạn, hiệu ứng khối lượng có tính trội hơn hiệu ứng giá cả nên cán cân thương mại được cải thiện Đây chính là nguyên nhân tạo nên hiệu ứng tuyến J
Trang 52 Cán cân vãng lai
2.1 Khái niệm
Cán cân vãng lai là một bộ phận của cán cân thanh toán quốc tế phản ánh các khoản thu và chi mang tính thu nhập, nghĩa là các khoản thu chi phản ánh việc chuyển giao quyền sở hữu về tài sản giữa người cư trú với người không cư trú
2.2 Kểt cấu
Cán cân thương mại: ghi chép các khoản thu và chi từ XNK hàng hóa hữu hình Cán cân dịch vụ: ghi chép các khoản thu, chi từ các hoạt động dịch vụ về vận
tải, du lịch, bảo hiểm, bưu chính, viễn thông, hàng không ngân hàng, thông tin, xây dựng và từ các hoạt động dịch vụ khác giữa người cư trú với người không cư trú
Cán cân thu nhập: ghi chép các khoản thu và chi về thu nhập giữa người cư trú
và người không cư trú, gồm: Thu nhập của người lao động và thu nhập về đầu tư
Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều: ghi chép các khoản viện trợ không
hoàn lại, quà tặng, quà biết và các khoản chuyển giao khác bằng tiền, hiện vật cho mục đích tiêu dùng do người không cư trú chuyển cho người cư trú và ngược lại
2.3 Các nhân tố tác động lên cán cân vãng lai:
Tỷ giá: Với các nhân tố khác không thay đổi (hàm ý giá hàng hóa ở trong nước
và ở nước ngoài không đổi), khi tỷ giá tăng làm cho giá hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệ giảm, kích thích tăng khối lượng xuất khẩu Khối lượng xuất khẩu tăng, dẫn
đến làm tăng giá trị xuất khẩu tính bằng nội tệ và làm cho giá trị xuất khẩu tính bằng
ngoại tệ có thể tăng hoặc giảm Ngoài ra còn một số nhân tố khác như:
+ Lạm phát
+ Giá thế giới của hàng hóa xuất khẩu tăng
+ Thu nhập của người không cư trú
+ Thuế quan và hạn ngạch ở nước ngoài:
2.4 Thặng dư và thâm hụt cán cân vãng lai
Tình trạng CCVL luôn là một bộ phận không thể thiếu được trong phân tích kinh tế vĩ mô đối với các nền kinh tế mở Nó phản ánh đúng năng lực sản xuất hay khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế và có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu quan trọng như tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế nội địa và nước ngoài
Trang 6Cán cân vãng lai đo lường các giao dịch kinh tế của một nước với phần còn lại của thế giới về hàng hoá, dịch vụ, thu nhập và chuyển giao một chiều Hay nói cách khác, nó là tổng chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ (X-M), cộng với thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài (NF) và chuyển khoản ròng từ nước ngoài (NTR) Như vậy, cán cân vãng lai (CA) sẽ bằng: CA = X-M + NF + NTR
+ Cán cân vãng lai thặng dư khi: X-M + NF + NTR > 0
+ Cán cân vãng lai thâm hụt khi: X-M + NF + NTR < 0
+ Cán cân vãng lai cân bằng khi: X-M + NF + NTR = 0
Nếu thặng dư, có nghĩa là thu nhập của người cư trú từ người không cư trú lớn hơn so với chi cho người không cư trú Hay nói cách khác, quốc gia này tăng thu nhập
từ nước ngoài, từ đó tăng tích luỹ tài sản quốc tế ròng Nếu thâm hụt, có nghĩa là thu nhập của người cư trú từ người không cư trú thấp hơn so với chi cho người không cư trú Hay nói cách khác, quốc gia này đang giảm thu nhập từ nước ngoài tức là giảm dần ngoại tệ hoặc tích luỹ thêm nghĩa vụ nợ nước ngoài
Tuy nhiên, đôi khi thiếu hụt tài khoản vãng lai còn thể hiện sự thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào để phát triển sản xuất, tăng xuất khẩu và tăng sản lượng Không phải mọi sự thiếu hụt cán cân vãng lai đều đưa đến một cuộc khủng hoảng Điều đó còn phụ thuộc vào khả năng chịu đựng thiếu hụt của cán cân vãng lai trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế Đánh giá khả năng chịu đựng thiếu hụt của cán cân vãng lai cuả một quốc gia dựa vào khả năng thanh toán của quốc gia đó
Mức thâm hụt CCVL trên 5% so với GDP thường được coi là đáng báo động và nhiều nhà kinh tế cho rằng, mức thâm hụt tối đa này nên chỉ dừng lại trước 20% trước khi bắt đầu cho cuộc khủng hoảng Tuy nhiên, việc đánh giá khả năng chịu đựng thâm hụt cán cân này cần gắn với việc phân tích các nguồn gốc được coi là nguyên nhân của thâm hụt Trong bối cảnh tỷ lệ thâm hụt CCVL so với GDP cao, mức thâm hụt được cho là có khả năng chịu đựng nếu nó là kết quả của mức tăng đầu tư của quốc gia đó cao chứ không phải do mức tiết kiệm giảm, đặc biệt là khi tiết kiệm quốc gia ở mức thấp Cho dù tốc độ tăng đầu tư cao, nhất là đầu tư của khu vực tư nhân vào vốn sản xuất có thể gây ra thâm hụt CCVL, nhưng trong tương lai, chúng lại góp phần tăng năng lực sản xuất và thu nhập từ xuất khẩu, do đó, cải thiện khả năng trả nợ nước ngoài
Trang 7II TÌNH TRẠNG CÁN CÂN VÃNG LAI (CCVL) CỦA VIỆT NAM
1 Diễn biến cán cân vãng lai của Việt Nam
Trong mấy năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã trải qua những thăng trầm do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng như xuất phát từ nội tại của nền kinh tế: tăng trưởng cao nhưng chưa ổn định, lạm phát tăng cao (năm 2008) và đặc biệt hơn nữa đó là tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai bắt nguồn từ thâm hụt cán cân thương mại ngày càng gia tăng Bên cạnh đó, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và hiện trạng môi trường đầu tư của Việt Nam chưa được cải thiện như mong đợi, dòng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam chưa tăng trưởng vững chắc Hiện trạng này gây sức ép không nhỏ đến cán cân thanh toán quốc tế
về khả năng chống đỡ các cú sốc bên ngoài và tính bền vững của nền kinh tế khi dự trữ ngoại hối của Việt Nam có xu hướng thu hẹp
Là một bộ phận chính yếu trong cán cân thanh toán quốc tế, cán cân vãng lai ghi nhận các giao dịch thương mại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ, thu nhập và chuyển giao ròng từ nước ngoài Kể từ năm 1989, khi nền kinh tế bắt đầu có những chuyển đổi quan trọng, tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam giảm nhanh Sau năm 1993, Việt Nam bắt đầu tìm kiếm các nguồn tài trợ từ nhiều nước và cán cân vãng lai bắt đầu thâm hụt trở lại với mức độ ngày càng lớn cho đến năm 1996, khi mức thâm hụt lên tới 9,9% so với GDP Mức thâm hụt được co hẹp trở lại trong hai năm 1997 - 1998 và đạt thặng dư trong năm 1999 Nguyên nhân là do nỗ lực của Chính phủ nhằm kiểm soát nhập khẩu Hơn nữa, cuộc khủng hoảng tài chính khu vực đã có những ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốn đầu tư nước ngoài FDI vào Việt Nam.Số lượng và mức giải ngân các
dự án FDI mới giảm mạnh sau năm 1998 Vì vậy, máy móc, thiết bị nhập khẩu thuộc khối FDI cũng giảm theo Như vậy, sau một thời gian dài trạng thái cán cân vãng lai luôn ở trong tình trạng thâm hụt, năm 1999, lần đầu tiên cán cân này chuyển về trạng thái thặng dư.Trong những năm tiếp theo, tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu nên thặng dư cán cân vãng lai dần thu hẹp lại và chuyển sang trạng thái thâm hụt ngày càng rộng ra, đặc biệt trong những năm gần đây (biểu đồ 1)
Trang 8Biểu đồ 1: Các cấu phần trong CCVL của Việt Nam giai đoạn 1997 -2008
Nguồn: Tổng hợp từ CEIC Database
Nhìn từ biểu đồ 1 cho thấy, trạng thái cán cân vãng lai của Việt Nam chịu tác động chủ yếu từ trạng thái cán cân thương mại do các giao dịch về hàng hóa chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu và chi của tài khoản vãng lai (chiếm khoảng 70% - 85%) Trong khi đó, cán cân chuyển giao vốn vãng lai ròng (bao gồm viện trợ và kiều hối) có tác động tích cực đến cán cân vãng lai Trong những năm gần đây, diễn biến xuất nhập khẩu của Việt Nam chịu tác động quá nhanh và mạnh mẽ từ việc gia nhập WTO Mặc
dù kim ngạch xuất khẩu có mức tăng trưởng khá nhanh nhưng vẫn không bì kịp với tốc
độ tăng trưởng nhập khẩu khi rào cản thuế quan dần dần được xóa bỏ, đã làm hàng hóa nước ngoài tràn vào Việt Nam trong khi để tăng tốc độ xuất khẩu không phải là việc đơn giản mà đòi hỏi phải có thời gian lâu dài Sự gia tăng nhập khẩu tác nhân của nhiều nguyên nhân khác, như nhu cầu của kinh tế, Chính hoàn cảnh này đã đẩy cán cân thương mại Việt Nam vào tình thế ngày càng thâm hụt, lên tới 13,67% so với GDP vào năm 2008 Thêm vào đó, theo các chuyên gia kinh tế , nguồn gốc sâu xa của tình trạng trên đó chính là năng lực xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam khi chưa thực sự tham gia vào chuỗi cung ứng của khu vực cũng như trên thế giới Giá trị gia tăng trong nhóm hàng xuất khẩu thấp và chỉ tập trung vào một số mặt hàng chủ lực chính nên rất dễ bị tổn thương khi có các cú “shock” từ bên ngoài Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu để chế
Trang 9biến hàng xuất khẩu, phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, trong những năm qua tăng nhanh đáng kể
Tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai được bù đắp đáng kể bởi nguồn thu nhập từ chuyển giao vốn vãng lai (viện trợ và kiều hối) và các giao dịch kinh tế khác thuộc cán cân vốn và tài chính Biểu đồ 1 ở trên cho thấy, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam và các dòng vốn chảy vào Việt Nam đóng vai trò quan trọng để bù đắp thiếu hụt của cán cân vãng lai trong thời gian qua, đặc biệt là trong hai năm 2007 - 2008 Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, lượng kiều hối chuyển về nước có phần giảm sút mạnh thời gian qua tạo nên sức ép thâm hụt đối với cán cân vãng lai cũng như cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam Nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp, đầu tư gián tiếp và vay nợ nước ngoài dài hạn, ổn định cũng là những hình thức được sử dụng để bù đắp cho sự thiếu hụt cán cân thương mại, cán cân vãng lai và có vai trò quyết định đến khả năng chịu đựng thâm hụt CCVL trong thời gian qua Đặc biệt là vai trò của nguồn vốn hỗ trợ chính thức ODA và FDI trong việc bù đắp thâm hụt CCVL và cải thiện dự trữ ngoại hối Tỷ trọng nguồn vốn vay ODA hằng năm luôn chiếm tới 73 đến 78% trong tổng nợ nước ngoài của Chính phủ Việt Nam
2 Nguyên nhân thâm hụt cán cân vãng lai
Nguyên nhân sâu xa của tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai đều xuất phát từ sự mất cân đối, chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư trong nước Trong thời gian qua, mức thâm hụt cán cân vãng lai trở nên nghiêm trọng hơn là kết quả của nhu cầu đầu tư tăng cao hơn so với mức tiết kiệm trong nền kinh tế, trong đó có cả khu vực nhà nước Tình trạng tỷ lệ tiết kiệm thấp, trong khi đó, tỷ lệ đầu tư cao, 41,5% GDP (2008) và 41,6% (2007) dẫn đến đầu tư phụ thuộc nhiều vào nguồn lực bên ngoài Hay nói cách khác, nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào dòng vốn đầu tư nước ngoài Tình trạng này là nguyên nhân quan trọng gây nên hiện tượng thâm hụt CCVL trong thời gian qua
Thứ nhất, với chính sách tỷ giá được coi là “cố định linh hoạt” của Việt Nam gắn với đồng đôla Mỹ, diễn biến tỷ giá một số thời điểm chưa theo kịp với thực tế của thị
Trang 10trường trong điều kiện chính sách tiền tệ nới lỏng, tỷ giá hầu như cố định đã góp phần làm giảm kim ngạch xuất khẩu, tăng kim ngạch nhập khẩu
Thứ hai, hiện tượng tăng trưởng nóng của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2007 làm cho luồng tiền đầu tư gián tiếp chảy vào Việt Nam Sự biến động này là do chênh lệch lãi suất của trái phiếu chính phủ Việt Nam với trái phiếu chính phủ các nước khác Vì vậy, luồng tiền này vô hình chung làm cho nhu cầu đầu tư và tiêu dùng của Việt Nam tăng lên, trong khi xu hướng tiết kiệm của người Việt Nam đang giảm rõ nét Ngoài ra, kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, dòng vốn đầu tư trực tiếp FDI chảy vào Việt Nam, đặc biệt là các dự án đầu tư bất động sản khi liên quan đến nhập khẩu mà không tạo ra giá trị gia tăng xuất khẩu trực tiếp, cũng đã góp phần làm cho tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, cán cân thương mại trở nên nghiêm trọng trong thời gian qua
Thứ ba, vấn đề thâm hụt ngân sách nhà nước cũng thường đi kèm với thâm hụt cán cân vãng lai Cũng như Mỹ, tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam có phần xuất phát từ nguyên nhân thâm hụt ngân sách nhà nước Thâm hụt ngân sách cao (năm 2009: 6,9% GDP) cộng với nợ công (và nợ công có bảo đảm) tăng lên 45% so với GDP là minh chứng cho sự thâm hụt cán cân vãng lai ngày càng gia tăng của Việt Nam
Biểu đồ 2 Thâm hụt ngân sách Việt Nam giai đoạn 2005 – 2011
Nguồn: Bộ Tài chính