1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên

111 593 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua khảo nghiệm so sánh giống, đánh giá các đặc tính sinh học, đánh giá quá trình sinh trưởng, phát triển, tiềm năng năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh, khả năng chống chịu vớ

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

––––––––––––––––––––

BÙI CÔNG ANH

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI MỚI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

––––––––––––––––––––

BÙI CÔNG ANH

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NGÔ LAI MỚI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Mã số: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN THỊ VÂN

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chƣa công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào

Các thông tin trích dẫn, tài liệu tham khảo sử dụng để hoàn thành luận văn đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Bùi Công Anh

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ, quan tâm tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự hợp tác của các

cơ quan, đoàn thể

Nhân dịp hoàn thành luận văn, Tôi xin trân trọng cảm ơn:

Cô giáo hướng dẫn: Tiến sỹ Phan Thị Vân, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, người tận tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học; Khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và các cán

bộ Viện nghiên cứu ngô đã cung cấp vật liệu nghiên cứu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập

Trân trọng cảm ơn lãnh đạo và cán bộ Trung tâm PTQĐ thành phố Lạng Sơn đã tạo điều kiện và giúp đỡ để tôi được tham gia học tập để nâng cao trình độ chuyên môn

Cảm ơn các em sinh viên K42 đã hợp tác cùng tôi trong việc thu thập các số liệu của đề tài

Cảm ơn gia đình đã làm điểm tựa về tinh thần và vật chất cho tôi trong suốt thời gian học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp và bạn bè, những người luôn quan tâm, động viên tôi trong suốt thời gian qua

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Bùi Công Anh

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 4

1.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 4

1.2.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 7

1.2.3 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên 9

1.3 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới và ở Việt Nam 11

1.3.1 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới 11

1.3.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô ở Việt Nam 14

1.3.3 Một số kết quả nghiên cứu đặc điểm nông sinh học ở cây ngô 19

1.4 Kết quả thử nghiệm một số giống ngô lai mới tại Việt Nam 22

1.5 Thách thức, cơ hội và định hướng phát triển ngô ở Việt Nam 25

1.5.1 Thách thức đối với ngành sản xuất ngô ở Việt Nam 25

1.5.2 Cơ hội và triển vọng đối với sản xuất ngô ở Việt Nam 26

1.5.3 Định hướng phát triển sản xuất ngô của Việt Nam 27

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Vật liệu nghiên cứu 30

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 30

2.3 Quy trình trồng trọt áp dụng trong thí nghiệm 30

2.4 Nội dung nghiên cứu 31

2.5 Phương pháp nghiên cứu 32

2.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 32

2.5.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 32

2.6 Xử lý số liệu 36

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm 37

3.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô thí nghiệm 37

3.1.2 Đặc điểm hình thái và sinh lý của các giống thí nghiệm 40

3.1.3 Tốc độ tăng trưởng chiều cao của các giống thí nghiệm 45

3.1.4 Tốc độ ra lá của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm 49

3.1.5 Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các giống ngô thí nghiệm vụ Xuân và Đông năm 2013 51

3.1.6 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm 53

3.2 Khả năng chống chịu sâu bệnh của các tổ hơp ngô lai thí nghiệm 62

3.2.1 Sâu đục thân ngô (Ostrinia nubilalis Hiibner) 63

3.2.2 Sâu cắn râu 64

3.2.3 Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani Kuhn) 64

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

1 Kết luận 66

2 Kiến nghị 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

PHẦN PHỤ LỤC 72

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 ABA : Axit abscisic

2 AMBIONET : Mạng lưới công nghệ sinh học cây ngô ở Châu Á

17 NN và PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

18 NSLT : Năng suất lý thuyết

19 NSTT : Năng suất thực thu

20 OPV : Giống ngô thụ phấn tự do

21 THL : Tổ hợp lai

22 TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô trên thế giới năm 1961 - 2013 5

Bảng 1.2: Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2013 6

Bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam năm 1990 - 2013 8

Bảng 1.4: Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên từ 2000 - 2013 10

Bảng 2.1: Nguồn gốc của các vật liệu thí nghiệm 30

Bảng 3.1: Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm vụ Xuân và Đông năm 2013 37

Bảng 3.2: Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm vụ Xuân và Đông 2013 40

Bảng 3.3: Số lá và chỉ số diện tích lá của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm trong vụ Xuân và Đông 2013 44

Bảng 3.4: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm vụ Xuân 2013 tại Thái Nguyên 46

Bảng 3.5: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm vụ Đông 2013 tại Thái Nguyên 47

Bảng 3.6: Tốc độ ra lá của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm vụ Xuân và Đông 2013 49

Bảng 3.7: Trạng thái cây, trạng thái bắp, độ bao bắp của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm vụ Xuân và Đông 2013 51

Bảng 3.8: Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm trong vụ Xuân 2013 57

Bảng 3.9: Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm trong vụ Đông 2013 59

Bảng 3.10: Năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm vụ Xuân và Đông năm 2013 59

Bảng 3.11: Khả năng chống chịu sâu bệnh của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm năm 2013 63

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Chiều cao cây của các tổ hợp ngô lai thí nghiệmvụ Xuân và

Đông 2013 41 Hình 3.2: Chiều cao đóng bắp của các tổ hợp ngô lai thí nghiệmvụ Xuân

và Đông 2013 41 Hình 3.3: Năng suất lý thuyết của các tổ hợp ngô lai thí nghiệmvụ Xuân

và Đông 2013 60 Hình 3.4: Năng suất thực thu của các tổ hợp ngô lai thí nghiệmvụ Xuân

và Đông 2013 60

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngô (Zea Mays L.) là một trong những cây lương thực quan trọng trên thế

giới Mặc dù chỉ có 17% tổng sản lượng ngô được sử dụng làm lương thực nhưng cây ngô đã nuôi sống 1/3 dân số toàn cầu Đối với các nước như: Ấn Độ, Philippin, Mêxico và một số nước ở Châu Phi ngô được dùng làm lương thực chính, có tới 90% sản lượng ngô của Ấn Độ, 66% của Philippin dùng làm lương thực cho con người (Dương Văn Sơn, Lương Văn Hinh, 1997) [21] Ngô còn là nguồn thức ăn chủ lực cho chăn nuôi, khoảng 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp của gia súc là ngô (Ngô Hữu Tình, 2003) [33]

Ngoài ra ngô còn là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Các loại ngô siêu ngọt, ngô nếp, dùng ăn tươi hoặc đóng hộp xuất khẩu Ngô cũng là nguồn nguyên liệu để sản xuất tinh bột, cồn, bánh kẹo… Đã có khoảng 670 mặt hàng được sản xuất từ ngô để phục vụ các ngành kinh tế khác nhau Chính nhờ vai trò quan trọng đó của cây ngô trong nền kinh tế thế giới, cho nên sản xuất ngô phát triển rất mạnh Năm 1980, diện tích trồng ngô khoảng 121,6 triệu ha với tổng sản lượng là 376,9 triệu tấn nhưng đến năm

2013, diện tích ngô tăng lên đạt 184,2 triệu ha, năng suất đạt 55,2 tạ/ha và sản lượng đạt 1.016,7 triệu tấn (FAO, 2014)[50]

Đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học đã ứng dụng thành công ưu thế lai trong chọn tạo giống Kết quả này là động lực rất lớn thúc đẩy sản xuất ngô phát triển trên toàn cầu

Việt Nam là nơi có điều kiện tự nhiên khí hậu khá phù hợp cho quá trình sinh trưởng của cây ngô, chính vì vậy sản xuất ngô phát triển với tốc

độ rất nhanh Năm 2013, diện tích ngô của cả nước là 1.170,3 nghìn ha, trong đó ngô lai chiếm trên 95% diện tích Sản lượng ngô năm 2013 đạt 5.190,9 nghìn tấn, năng suất 44,4 tạ/ha (FAO, 2014)[50], so với năm 1990 khi chưa trồng ngô lai thì sản lượng tăng gấp 7,74 lần, năng suất tăng 2,86

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lần Mặc dù vậy năng suất ngô nước ta vẫn còn thấp, năm 2013 mới chỉ

bằng 80,3% năng suất ngô bình quân trên thế giới và bằng 44,5% so với

năng suất trung bình của Mỹ

Để

Xuất phát nhu cầu thực tế hiện nay, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề

tài:"Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Kết quả của đề tài là luận cứ cho nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai mới phục vụ cho sản xuất

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Lựa chọn đƣợc tổ hợp ngô lai có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên, làm cơ sở chọn giống ngô lai mới cho các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Để cải thiện năng suất ngô trong sản xuất, giống có vai trò hết sức quan trọng Tuy nhiên, giống chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có tiềm năng năng suất cao và thích hợp với điều kiện sinh thái của vùng Vì vậy, xác định bộ giống thích hợp với mỗi vùng sinh thái là rất cần thiết trong chiến lược phát triển sản xuất ngô hiện nay

Trong những năm gần đây nhu cầu thị trường về ngô ngày càng lớn đặc biệt là nhu cầu của ngành chăn nuôi vì vậy vấn đề đặt ra là cần hướng tới phát triển sản xuất ngô theo hướng hàng hoá với sản lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường Đối với điều kiện nước ta hiện nay, đặc biệt là ở các tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện sinh thái khác nhau, trình độ canh tác không đồng đều giữa các vùng, việc tồn tại các giống ngô địa phương năng suất thấp cũng là một trở ngại lớn trong quá trình phát triển nông nghiệp nói chung và cây ngô nói riêng Vì vậy, việc nghiên cứu chọn tạo các giống ngô mới năng suất cao, chất lượng tốt và đặc biệt là khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận là thực sự cần thiết

Thông qua khảo nghiệm so sánh giống, đánh giá các đặc tính sinh học, đánh giá quá trình sinh trưởng, phát triển, tiềm năng năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh, khả năng chống chịu với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận, sẽ chọn được những giống ngô mới thích hợp với từng vùng sinh thái khác nhau, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người sản xuất

1.2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới

Ngô là cây trồng phân bố vào loại rộng rãi nhất trên thế giới, trải rộng hơn 90 vĩ tuyến: Từ dưới 400N (lục địa châu Úc, nam châu Phi, Chi Lê,…)

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

lên gần đến 550B (bờ biển Ban Tích, trung lưu sông Vônga,…) Từ độ cao 1-2 mét đến gần 4.000m so với mặt nước biển (Nguyễn Đức Lương và cs, 2000) [15]

Hiện nay ngô là một trong những cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, trên thế giới có khoảng 140 nước trồng ngô với tổng diện tích 184,19 triệu ha, năng suất 55,2 tạ/ha và sản lượng đạt 1.016,74 triệu tấn

Sản lượng (triệu tấn)

Kết quả trên có được trước hết là nhờ ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Trong công tác cải tạo giống cây trồng dựa trên cơ sở ưu thế lai, cây ngô lai được ghi nhận là một thành công kỳ diệu của nhân loại

Nước đi đầu về ứng dụng ưu thế lai trong chọn tạo giống là Mỹ Diện tích trồng ngô lai của Mỹ là 100%, trong đó hơn 90% diện tích là giống ngô lai đơn (Ngô Hữu Tình và cs, 1993) [29]

Trong giai đoạn hiện nay năng suất ngô ở Mỹ tăng đột biến nhờ ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất Minh-Tang Chang and Peter (2005) [52]

cho biết, ở Mỹ chỉ còn sử dụng 48% giống ngô được chọn tạo theo công nghệ truyền thống, 52% bằng công nghệ sinh học, do vậy mà năng suất, sản lượng ngô của Mỹ đạt cao nhất, sau đó đến Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ

Theo số liệu của tổ chức Nông nghiệp và lương thực Liên Hợp Quốc (FAO), việc sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới đang có sự mất cân đối giữa cung và cầu dẫn đến tình trạng các nước nhập khẩu ngô tăng dần, các nước xuất khẩu ngô giảm dần Xuất khẩu ngô đã đem lại nguồn lợi lớn cho các nước lớn sản xuất ngô như Mỹ, Trung Quốc, Argentina, Hungari…

Sản lượng (triệu tấn)

Trung Quốc được xem là cường quốc đứng thứ hai trên thế giới, sau Mỹ,

và đứng thứ nhất trong khu vực Châu Á trong lĩnh vực sản xuất ngô lai với

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tốc độ tăng trưởng ngày càng tăng Hiện nay, Mỹ và Trung Quốc là hai quốc gia có diện tích trồng ngô lớn nhất và cao gấp nhiều lần so với các quốc gia khác trên thế giới Các nước khác như Italia, Đức, Hy Lạp, Israel mặc dù năng suất ngô cao nhưng sản lượng vẫn còn thấp do diện tích trồng ngô chưa được mở rộng

Theo dự báo của công ty Monsanto, vào năm 2030 nhu cầu ngô thế giới tăng 81 % so với năm 2000 (từ 608 triệu tấn lên 1.098 triệu tấn), nhưng 80 % nhu cầu ngô tăng (khoảng 266 triệu tấn) tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển (Bùi Mạnh Cường, 2006) [7]

1.2.2 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam

Việt Nam không phải là nơi phát sinh ra cây ngô nhưng ngô vẫn là cây trồng quan trọng trong hệ thống cây lương thực quốc gia (Ngô Hữu Tình và

cs, 1997) [31] Những năm trước đây do chưa được quan tâm, chú trọng phát triển nên cây ngô chưa phát huy được tiềm năng của nó Năng suất ngô Việt Nam những năm 1960 đến 1980 chỉ đạt 1,0 đến 1,1 tấn/ha, sản lượng 280-400 nghìn tấn Từ giữa những năm 1980 đến 1990, nhờ sự hợp tác với Trung tâm Cải tạo Ngô và Lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến đã được đưa vào trồng ở nước ta, góp phần nâng năng suất lên gần 1,5 tấn/ha Tuy nhiên, ngành sản xuất ngô nước ta thực sự có những bước tiến nhảy vọt

là từ đầu những năm 1990 đến nay

Có thể nói tốc độ phát triển ngô lai ở Việt Nam rất nhanh so với lịch sử phát triển ngô lai trên thế giới Hiện nay nhiều tỉnh có diện tích trồng ngô lai đạt gần 100% như Đồng Nai, An Giang, Trà Vinh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sơn

La, Hà Tây (Hà Nội mở rộng ngày nay), Vĩnh Phúc… Ở nước ta, ngô lai được đưa vào sản xuất rất muộn nhưng nó đã có những bước đi vững chắc, chúng ta

đã tạo ra hàng loạt các giống ngô lai có năng suất cao, chống chịu tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu của từng vùng sinh thái như: LVN-10, LVN-4, LVN-9, LVN-25, LVN-17, LVN-12, HQ-2000 (có hàm lượng protein cao), LVN-98,

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

TSB-3,V98-1, LVN-23 (ngô rau) Một số giống triển vọng nhƣ : LVN-14, LVN-61, LVN-45, LVN-145…

Qua số liệu tại Bảng 1.4 cho thấy: Năng suất ngô ở Việt Nam năm 1990 chỉ đạt 15,5 tạ/ha, với diện tích 432.000 ha nhƣng đến năm 2013 đã đạt 44,4 tạ/ha trên diện tích 1.170,3 nghìn ha

Bảng 1.3: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam năm 1990 - 2013

(1000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lƣợng (1000 tấn)

Tuy nhiên hiện nay sản lƣợng ngô của Việt Nam mới đạt 62 % so với mục tiêu vào năm 2015 và gần 50 % so với mục tiêu vào năm 2020 (Châu

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ngọc Lý, 2012) [18] Nguyên nhân sản xuất ngô ở Việt Nam phát triển còn chậm chưa tương xứng với điều kiện hiện có vì trên 70% diện tích tập trung ở đồi núi và cao nguyên phụ thuộc chủ yếu vào nước trời, trong đó 60 % diện tích ngô trồng trên đất dốc; Thời tiết nhiệt đới của Việt Nam biến động lớn về nhiệt độ, mưa, gió bão ảnh hưởng đến tất cả các vụ trồng ngô, dẫn đến khả năng kết hạt của ngô kém Ngày nay biến đổi khí hậu còn làm gia tăng tần suất hạn, úng, gió bão, lũ lụt, nhiệt độ cao, đây là những biến đổi bất lợi cho quá trình sinh trưởng của cây ngô Dân trí không đồng đều giữa các vùng trồng ngô, có sự chênh lệch lớn giữa trình độ canh tác và khả năng đầu tư thâm canh ngô của nông dân giữa các vùng miền dẫn đến tổn thất sau thu hoạch còn lớn

Vấn đề này đặt ra nhiệm vụ rất quan trọng và cấp thiết cho các cơ quan nghiên cứu chọn tạo giống Với mục tiêu là tạo ra các giống ngô có năng suất cao từ 12 - 13 tấn/ha cho những vùng trồng ngô thuận lợi và 6 - 7 tấn/ha cho những vùng trồng ngô khó khăn, ổn định năng suất ở các vùng sinh thái, lai tạo được các giống ngô lai có khả năng chống chịu tốt đồng thời đáp ứng được cả yêu cầu về chất lượng, các tổ chức nghiên cứu phát triển ngô ở Việt Nam đang nỗ lực tìm kiếm những giải pháp mới trong nghiên cứu chọn tạo giống Một trong những giải pháp đang được quan tâm trong giai đoạn hiện nay là ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống, đây là vấn đề đang được cả hệ thống xã hội quan tâm

Tháng 8 năm 2014, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cấp phép cho 4 sự kiện ngô biến đổi gen là NK603, MON89034 (Công ty Dekalb)

và Bt11, MIR162 (Syngenta) được lưu hành, đây là một cơ hội mới để thúc đẩy sản xuất ngô phát triển

1.2.3 Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực Trung du miền núi phía Bắc, với tổng diện tích đất tự nhiên là 3.562,82 km2 , diện tích đất canh tác nông nghiệp

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chiếm 23% diện tích đất tự nhiên Diện tích đất chưa sử dụng đều có điều kiện khó khăn, chủ yếu là đất bạc màu, không thể canh tác lúa, nếu biết vận dụng hợp lý có thể khai thác để trồng ngô vì cây ngô có khả năng chống chịu tốt hơn

Diễn biến khí hậu, thời tiết khá phức tạp, điều kiện tưới tiêu còn nhiều khó khăn Mùa mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, vì vậy sản xuất ngô thường gặp hạn và rét ở đầu vụ Xuân và cuối vụ Đông

Bảng 1.4: Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên từ 2000 - 2013

(1000 ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản ượng (1000 tấn)

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

trong những năm qua, diện tích, năng suất và sản lượng ngô ở Thái Nguyên tăng nhanh, góp phần ổn định đời sống kinh tế xã hội

Năm 2000, diện tích trồng ngô của tỉnh Thái Nguyên là 10,7 nghìn ha với năng suất 28,8 tạ/ha và sản lượng đạt 38 nghìn tấn Năm 2013 diện tích trồng ngô của tỉnh Thái Nguyên được mở rộng đạt 19,0 nghìn ha, với năng suất 42,6 tạ/ha và sản lượng đạt 81,0 nghìn tấn

Thái Nguyên là một trong những tỉnh có nhiều khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất vì có trình độ dân trí cao, có trường Đại học Nông Lâm là nơi kết hợp nghiên cứu chọn tạo giống mới Chính vì vậy nhiều giống ngô lai năng suất cao đã được ứng dụng trong sản xuất như: LVN4, LVN99, LVN61, CP999, NK4300, NK66, B06

1.3 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô trên thế giới

Đối với cây ngô những phát hiện khoa học quan trọng chủ yếu tập trung vào thế kỷ XVIII

Năm 1716, Cottin Matther là người đầu tiên nghiên cứu thí nghiệm về giới tính của ngô Ông đã quan sát thấy sự thụ phấn chéo ở cây ngô tại Massachusettes Tám năm sau Matther, Paul Dudly đã đưa ra nhận xét về giới tính của ngô và cho rằng gió đã giúp ngô thực hiện quá trình thụ phấn

Năm 1876, Charles Darwin tiến hành thí nghiệm với hàng loạt cá thể giao phối và tự thụ phấn ở nhiều loài khác nhau như đậu đỗ, ngô Ông đã công bố những kết quả nghiên cứu về cây ngô trong tác phẩm “Những tác động của giao phối và tự phối trong thế giới thực vật” (Ngô Hữu Tình, 1997) [31] Trong quá trình tiến hành thí nghiệm, ông đã quan sát thấy sự hơn hẳn của các cây giao phấn với các cây tự thụ phấn về chiều cao, tốc độ nảy mầm của hạt, số quả trên cây và cả sức chống chịu với điều kiện bất thuận và năng suất hạt

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Hiện tượng ưu thế lai ở cây ngô được các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm trong quá trình nghiên cứu Năm 1876, Bill đã tiến hành nghiên cứu ưu thế lai ở ngô và ông đã thu được con lai có năng suất cao hơn bố mẹ từ 10-15% Shull (1904), đã tiến hành tự thụ cưỡng bức ở ngô để thu được các dòng thuần và tạo ra các giống lai từ các dòng thuần này Năm 1909, Shull đã đưa

ra ý kiến sản xuất hạt giống ngô lai F1 bằng lai đơn nhằm tạo ra sự đồng đều cao nhất từ các dòng bố mẹ càng thuần chủng, tạo ưu thế lai càng mạnh Năm

1913, nhà khoa học này đã chính thức đưa ra thuật ngữ “Heterosis” để chỉ ưu thế lai, những công trình nghiên cứu về ngô lai của Shull đã đánh dấu bắt đầu thực sự của chương trình chọn tạo giống ngô (Hallauer, 1988)[51]

Các kết quả nghiên cứu của Shul đã chứng minh được ưu thế của các giống lai đơn, song sản xuất hạt lai đơn đòi hỏi công nghệ cao và chi phí lớn

Vì vậy, đầu năm 1917, Jones đã đề xuất sử dụng hạt lai kép trong sản xuất để giảm giá thành hạt giống, tạo điều kiện cho cây ngô phát triển mạnh ở Mỹ và các nước có kỹ thuật trồng ngô tiên tiến Năm 1933, diện tích trồng ngô lai ở

Mỹ chỉ khoảng 1%, thì 10 năm sau đã là 78% và đến năm 1965 gần 100% diện tích ngô ở vùng vành đai và 95% diện tích ngô toàn nước Mỹ đã trồng giống ngô lai

Mặc dù ngô lai đã được ứng dụng khá phổ biến trong sản xuất của các nước phát triển, nhưng ở các nước đang phát triển sản xuất ngô còn phát triển chậm Chính vì vậy, năm 1966, Trung tâm cải tiến ngô và lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT) được thành lập tại Mêxicô Nhiệm vụ của Trung tâm là nghiên cứu và đào tạo về ngô, lúa mỳ tại các nước đang phát triển Trung tâm đã đưa

ra giải pháp là tạo giống ngô thụ phấn tự do (OPV), làm bước chuyển tiếp từ ngô địa phương sang ngô lai Hơn 40 năm hoạt động Trung tâm đã góp phần đáng kể vào việc xây dựng, phát triển và cải tiến hàng loạt vốn gen, quần thể

và giống ngô tại 80 quốc gia trên thế giới Dòng thuần là nguyên liệu được sử dụng trong chọn tạo giống ngô lai cũng được chú trọng Theo điều tra của

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Bauman năm 1981, ở Mỹ các nhà tạo giống đã sử dụng 15% quần thể có nguồn di truyền rộng, 16% từ quần thể có nên di truyền hẹp, 14% từ quần thể của các dòng ưu tú, 39% từ tổ hợp lai của các dòng ưu tú và 17% từ quần thể hồi giao để tạo dòng (Bauman, 1981)[46]

Cuộc cách mạng về ngô lai đã mang lại thành quả to lớn trong sản xuất, tuy nhiên để chọn tạo một giống ngô lai, các nhà tạo giống phải tạo ra các dòng tự phối từ các nguồn nguyên liệu không đồng nhất về mặt di truyền và phải sau 6-8 đời tự phối mới có thể tạo được vật liệu cho quá trình đánh giá khả năng kết hợp, vì vậy để tạo được một giống ngô lai phải mất khoảng thời gian rất dài Để khắc phục một phần nhược điểm trên với sự phát triển của khoa học và công nghệ, công tác chọn tạo giống cây trồng thế kỷ 21 được trợ giúp bởi nhiều kỹ thuật mới, nhiều phương pháp nghiên cứu sinh học hiện đại

ra đời, nhanh chóng trở thành công cụ hữu hiệu để cải tạo năng suất cây trồng Hiện nay, nghiên cứu chọn tạo giống ngô mới bằng kỹ thuật cao đang phát triển và có nhiều triển vọng trong tương lai như ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy bao phấn invitro vào công tác chọn tạo dòng thuần, thụ tinh trong ống nghiệm

để khôi phục nguồn gen trong tự nhiên, sử dụng súng bắn gen và chuyển gen thông qua vi khuẩn A tumefaciens, ứng dụng các kỹ thuật RAPD, SSP để phân tích đa dạng di truyền và phân nhóm ưu thế lai của giống Trong đó kỹ thuật nuôi cấy bao phấn là hướng nghiên cứu tạo dòng thuần invitro có nhiều triển vọng (Trần Thị Thêm, 2006) [25]

Những kỹ thuật mới này tập trung vào hai lĩnh vực nuôi cấy mô tế bào

và tái tổ hợp ADN Bằng phương pháp ứng dụng công nghệ gen người ta có thể chuyển các gen có lợi sang cây ngô để tạo ra giống ngô như mong muốn như gen chống sâu bệnh, chịu hạn, chịu lạnh, chịu mặn Ví dụ như loại ngô Novartis, mang thêm trong cây một gen lấy từ vi khuẩn Bacillus thuringiensis,

có khả năng sản sinh một độc tố Độc tố này là một chất sát trùng sinh hóa học, có tính chất tiêu diệt bướm ống (pyrale) là một loại sâu cánh phấn

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

(lepidoptere) mà ấu trùng phá hại bắp Lợi ích loại bắp này là tự nó chống lại sâu bọ, không cần dùng thuốc hóa học Năm 1997, ngô chuyển gen kháng sâu đục thân và thuốc trừ cỏ bắt đầu được trồng ở Mỹ và Canada Với việc ứng dụng công nghệ gen công ty MonSanto đã chuyển gen kháng sâu đục thân thành công ở giống ngô Bt Các giống ngô Bt đã đem lại hiệu quả to lớn trong sản xuất và được phát triển 43 triệu ha trên thế giới (Bùi Mạnh Cường, 2007) [8]

Có thể nói, ngô lai là một trong những thành tựu khoa học nông nghiệp cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thế giới của thế kỷ 20 Thế kỷ 21 ngô vẫn

là cây lương thực đầy triển vọng trong chiến lược sản xuất lương thực và thực phẩm với những tiến bộ khoa học mới được áp dụng để khai thác hiệu quả hơn tiềm năng năng suất, vì ngô là cây trồng quang hợp theo kiểu C4, chưa có giới hạn về năng suất

1.3.2 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống ngô ở Việt Nam

Giai đoạn 1955-1970 cũng đã bước đầu điều tra về thành phần loài và giống địa phương

Ở Việt Nam công tác nghiên cứu về ngô chậm hơn nhiều nước trên thế giới vài thập kỷ Tuy nhiên từ những năm 1955-1970 các nhà khoa học nghiên cứu về ngô trên cơ sở đánh giá các giống địa phương, đã chọn lọc ra những giống tốt phục vụ cho sản xuất (Cao Đắc Điểm, 1988)[11]

Chương trình xây dựng quỹ gen cây ngô Việt Nam đã thu thập được nhiều quần thể địa phương, song các nhà khoa học nghiên cứu ngô ở Việt Nam quan tâm chủ yếu đến việc nhập các vật liệu ngô từ các nước, các cơ quan nghiên cứu quốc tế như CIMMYT dưới dạng vốn gen, quần thể, giống

và giống lai vì đây là nguồn nguyên liệu có nhiều ưu thế về năng suất

Trong tập đoàn giống của Viện nghiên cứu ngô đang bảo tồn hơn 3000 dòng tự phối từ đời F6 trở lên, 470 mẫu giống thụ phấn tự do, trong đó nguồn nhập nội là 293, nguồn địa phương là 150 và các quần thể tự tạo theo các

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chương trình chọn tạo giống, số lượng các quần thể tự tạo đang được khai thác là 27 (Ngô Hữu Tình, 1999)[32]

Vào những năm 1970-1971, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nghiên cứu tạo giống ngô lai từ các dòng thuần nhập nội của Rumani và Hungari nhưng đều thất bại vì dòng thuần có nguồn gốc ôn đới không thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm của Việt Nam (Trần Hồng Uy, 1994) [42] Rút kinh nghiệm từ những thất bại trên, Trung tâm nghiên cứu ngô Sông Bôi đã có những định hướng đúng đắn cho chương trình phát triển ngô lai ở Việt Nam, đó là muốn có chương trình ngô lai tốt phải dựa trên chương trình tạo giống thụ phấn tự do tốt và phải có nguồn nguyên liệu nhiệt đới phong phú và đa dạng

Từ những định hướng trên, từ năm 1990 đến nay, các nghiên cứu phát triển giống ngô của Việt Nam diễn ra khá sôi động và đạt được nhiều kết quả khả quan Chương trình Ngô quốc gia mà chủ yếu là Viện nghiên cứu ngô, với sự chủ động trong việc chọn tạo dòng thuần và giống lai song song với giai đoạn chọn tạo giống thụ phấn tự do nên kịp thời có những giống tốt đưa vào sản xuất

Không chỉ riêng Việt Nam mà cả các nước đang phát triển các dòng thuần nội còn hạn chế vì vậy việc nhập các dòng ngoại tốt để làm phong phú nguồn dòng và nhanh chóng tạo ra giống lai tốt phục vụ sản xuất có ý nghĩa

vô cùng quan trọng Chính vì vậy, Ngô Hữu Tình (1985) [28] đã đánh giá khả năng kết hợp của các dòng ở những vùng sinh thái khác nhau của Ucraina và chọn được dòng U15, Co72, A2G có khả năng kết hợp tốt và cho rằng các dòng mang đặc tính tương phản khi kết hợp với nhau con lai sẽ tập hợp được đặc điểm tốt từ cả bố và mẹ

Trong công tác lai tạo giống ngô, việc đánh giá khả năng kết hợp giữa các dòng là rất quan trọng Chính vì vậy, Ngô Hữu Tình và Phan Thị Vân (2004) [35] đã sử dụng phương pháp lai đỉnh để đánh giá khả năng kết hợp

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

chung của 8 dòng ngô thuần chịu hạn và chọn được 2 dòng T6 và T8 có khả năng kết hợp chung cao để làm vật liệu tạo giống ngô lai

Qua nghiên cứu, Phan Thị Vân và cs (2004)[44] cho rằng khả năng kết hợp riêng của các dòng còn phụ thuộc vào các vùng sinh thái Ở Thái Nguyên trong điều kiện khó khăn dòng T8 có khả năng kết hợp riêng tốt với dòng T5 hơn T4, nhưng ở Hà Tây điều khí hậu thuận lợi hơn dòng T8 lại có khả năng kết hợp riêng với dòng T4 tốt hơn T5 Dòng T8 và T5 là hai dòng thuần đã được chọn làm vật liệu tạo giống ngô chịu hạn LVN99

Trần Hồng Uy và cs, (1994)[41] từ hai dòng thuần nhiệt đới DF1 và DF2

đã tạo ra giống LVN10 năng suất cao (đạt 7-8 tấn/ha), thích nghi với nhiều vùng sinh thái và nhiều vụ Kết quả tạo giống LVN10 đã mở ra một giai đoạn mới trong chọn tạo giống ngô ở Việt Nam

Từ kết quả nghiên cứu chọn tạo giống, các giống ngô lai đã được thử nghiệm ngoài sản xuất Năm 1990, là năm đầu tiên với diện tích ngô lai trồng thử nghiệm là 5 ha, nhưng đến năm 1994 diện tích trồng ngô lai của nước ta

đã đạt gần 100 ha, chiếm 20% diện tích trồng ngô Sở dĩ diện tích trồng ngô của nước ta tăng như vậy là do có sự lai tạo thành công giống ngô LVN10, đây là động lực thúc đẩy diện tích trồng ngô lai của Việt Nam được mở rộng Tuy nhiên LVN10 còn có một số hạn chế như thời gian sinh trưởng dài, khó sản xuất hạt giống nên giá hạt giống cao, vì vậy Trần Hồng Uy và cs (1996)[43], đã tạo ra giống lai kép LVN12 thuộc nhóm trung ngày, tiềm năng năng suất 60-90 tạ/ha LVN12 có ưu điểm là thời gian sinh trưởng ngắn hơn LVN10, dễ sản xuất hạt giống

Tuy các giống ngô lai mới năng suất cao được đưa vào sản xuất để thay thế các giống ngô thụ phấn tự do như: TSB2, MSB49, Q2 nhưng cây ngô trồng vụ Đông ở miền Bắc nước ta vẫn gặp rất nhiều trở ngại vì các giống ngô lai thường dài hoặc trung ngày, điều kiện khí hậu ở miền Bắc thường rét

và hạn cuối năm, nếu gieo muộn sau 20/9 khi trỗ ngô không kết hạt dẫn đến

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

năng suất thấp hoặc không cho thu hoạch Để đáp ứng nhu cầu của sản xuất,

Ngô Hữu Tình và cs (1996) [30] đã cho ra đời giống ngô LVN20, có thời gian sinh trưởng ngắn phù hợp với vụ Đông ở miền Bắc

Để đáp ứng yêu cầu mở rộng diện tích ngô trên đất tăng vụ ở miền núi, các nhà khoa học phải hướng tới giống ngô lai ngắn ngày Bùi Mạnh Cường

và cs (2009) [9] từ 10 tổ hợp lai qua khảo sát ở Hà Nội và Hòa Bình, đã chọn được giống LVN885 có thời gian sinh trưởng ngắn (105-110 ngày), năng suất

ổn định 50-70 tạ/ha, chống chịu khá, thích ứng rộng, đáp ứng được yêu cầu

mở rộng diện tích ngô trên đất tăng vụ

Với sự nỗ lực của các nhà khoa học bộ giống ngô lai Việt Nam ngày càng phong phú Qua khảo nghiệm các tổ hợp lai từ năm 2006-2009,

Ngô Minh Tâm và cs (2010) [23] đã chọn được giống LVN146 chịu thâm canh, chịu hạn khá, năng suất 60-110 tạ/ha, thích ứng rộng

Tuy các giống ngô lai có thời gian sinh trưởng ngắn và khả năng chống chịu hạn tốt, chịu thâm canh cao nhưng so với giống ngô thụ phấn tự do thì các giống ngô lai còn hạn chế về chất lượng, vì vậy khi sử dụng làm lương thực, thức ăn gia súc thường dẫn đến sự thiếu hụt đạm Khắc phục nhược điểm này, Lê Quý Kha và cs (2001)[14] đã cho ra đời giống ngô lai chất lượng đạm cao đầu tiên của Việt Nam (HQ2000) HQ2000 có hàm lượng protein và lysine và trytophan trong protein cao hơn so với ngô thường, giảm

sự thiếu hụt đạm khi sử dụng

Trong chọn tạo giống, ngoài việc cải thiện năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh của giống mới cũng là vấn đề luôn được các nhà tạo giống quan tâm Ở những vùng có diện tích trồng ngô lớn như Tây bắc, Đông bắc, khí hậu rất khắc nghiệt đặc biệt là hạn và rét, việc sử dụng các giống ngô lai có thời gian sinh trưởng ngắn đáp ứng được yêu cầu rất lớn trong sản xuất Tuy nhiên, ngoài việc tạo ra các giống có thời gian sinh trưởng ngắn, các nhà tạo giống quan tâm đến tính chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, đặc biệt là khả năng chịu hạn Chính vì vậy (Ngô Hữu Tình và cs, 2004)[34] đã

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

tập trung nghiên cứu và lai tạo được giống ngô LVN99 có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao và có khả năng chịu hạn tốt

Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu ngô, từ năm 2007-2010, tại vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên, nấm gây bệnh gỉ sắt đã làm giảm năng suất ngô từ 10-15% ở vụ Xuân hè và 25-60% ở vụ Thu đông Để hạn chế được thiệt hai về năng suất ngô ở hai vùng trên, Trần Thị Phương Hạnh và cs (2011)[12] đã khảo sát 109 tổ hợp lai qua 3 năm ở 4 vùng sinh thái và chọn được hai tổ hợp lai là F449 và F600, có khả năng chịu bệnh gỉ sắt, năng suất đạt 9 tấn/ha

Để khắc phục nhược điểm của ngô QPM là khả năng chống chịu các bệnh nhiệt đới kém và tỷ lệ hạt/bắp thấp hơn ngô thường, các nhà khoa học trên thế giới cải tạo dòng QPM thế hệ mới bằng phương pháp backcross, chuyển hệ thống gen O2 O2 từ dòng QPM sang ngô thường, nhưng phải mất 4-5 năm mới tạo ra dòng QPM mới Một hướng nghiên cứu mới đầu tiên ở Việt Nam là chuyển đổi dòng ngô thường thành dòng ngô QPM bằng phương pháp nuôi cấy bao phấn Phương pháp này đã rút ngắn thời gian tái tạo dòng QPM (Bui Manh Cuong và cs, 2006)[48]

Ngoài phương pháp nuôi cấy bao phấn, marker di truyền trong chọn tạo giống cũng mang lại hiệu quả vô cùng to lớn Marker di truyền được phát hiện thông qua phương pháp đánh dấu các đoạn Olygonucleotit Có thể sử dụng một số marker di truyền trong việc đánh giá chọn lọc trực tiếp nguồn nguyên liệu chịu hạn hoặc gián tiếp qua marker chỉ thị khả năng tổng hợp, tích lũy hàm lượng axit abscisic (ABA) ở lá thông qua phương pháp RFLP Ngoài ra

có thể sử dụng phương pháp RFLP, RAPD, SSR để đánh giá ưu thế lai, xây dựng bản đồ di truyền, chọn lọc sớm các cặp lai tốt , giúp đẩy nhanh quá trình chọn tạo giống (Bùi Mạnh Cường, Ngô Hữu Tình, 2001)[6]

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Giai đoạn cuối cùng trong công tác chọn tạo giống là sản xuất hạt giống

Để hạt giống đảm bảo chất lượng tốt phục vụ sản xuất phải có công nghệ hiện đại Một thành công lớn khác trong chương trình phát triển giống ngô lai ở nước ta là việc xây dựng một quy trình sản xuất và chế biến hạt giống ngô lai khá hoàn chỉnh tại Viện nghiên cứu ngô và một số công ty cổ phần giống cây trồng Quy trình này khá linh hoạt, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật của nước ta hiện nay Với thành tựu này đã đảm bảo chất lượng hạt giống tốt và chủ động với giá bán chỉ bằng 65 - 70% giá giống nước ngoài, tiết kiệm chi phí cho người trồng ngô

1.3.3 Một số kết quả nghiên cứu đặc điểm nông sinh học ở cây ngô

Đặc điểm nông sinh học của cây ngô là những chỉ tiêu trực tiếp hoặc gián tiếp dùng để đánh giá trong chọn lọc giống Để có cơ sở khoa học cho quá trình chọn tạo giống, các nhà khoa học đã nghiên cứu mối tương quan giữa các đặc điểm nông sinh học với năng suất

Biểu hiện hình thái của cây ngô ở mỗi giai đoạn sinh trưởng phát triển hoàn toàn khác nhau, đây là cơ sở khoa học quan trọng cho việc tác động các biện pháp kỹ thuật canh tác và chọn tạo giống Công trình nghiên cứu của Steves W Richie -John J Hanway (1989) và Samuael R Acldrich, Walter O Scott, Robret G Hoeft (1986) đã phân chia một cách chính xác các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây ngô (Ngô Hữu Tình, 2003) [33]

Trong các đặc điểm nông học, thời gian sinh trưởng là chỉ tiêu được nhiều nhà khoa học quan tâm vì đây là chỉ tiêu tương quan với chiều cao cây, chiều cao đóng bắp và năng suất (Phạm Thị Tài, 1993) [22] Tuy nhiên, các tính trạng này biến động tuỳ thuộc vào điều kiện khí hậu và thời tiết, vì vậy để

có kết quả chính xác, quá trình nghiên cứu phải được kiểm chứng ở nhiều vụ

và nhiều vùng sinh thái khác nhau

Năng suất ngô phụ thuộc rất lớn vào khả năng quang hợp của bộ lá Thông qua đặc điểm cấu trúc của bộ lá có thể đánh giá được tiềm năng

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

năng suất của giống Trong quá trình quang hợp của cây ngô thì chỉ số diện tích lá (LAI) có ý nghĩa quyết định rất lớn Nichiporocic đã chỉ ra rằng các cây trồng đều có một LAI thích hợp và theo ông chỉ số diện tích lá thích hợp của các cây trung bình biến động khoảng 2,5 - 5 m2

lá /m2đất (Black và Watson, 1960) [47] Donald, (1978) cho rằng đặc điểm bộ lá đóng vai trò lớn trong quá trình tạo năng suất hạt Sự sắp xếp bộ lá và khả năng tiếp nhận ánh sáng có liên qua chặt chẽ với LAI, khả năng quang hợp và năng suất sinh học (Fakored và Mock, 1978)[49] Vì vậy việc nghiên cứu LAI, góc độ lá và mối quan hệ của chúng với năng suất để sử dụng trong việc cải tạo nâng cao năng suất ngô là vấn đề rất cần thiết

Ở cây ngô, năng suất kinh tế của quần thể tương quan chặt với năng suất sinh vật học và thời gian diện tích lá, tương quan ở mức trung bình với chỉ số diện tích lá và hiệu suất quang hợp Chính vì vậy muốn nâng cao năng suất kinh tế của quần thể cần tác động theo hướng tăng thời gian diện tích lá và năng suất sinh vật học Đối với các giống ngô lai, chỉ số diện tích lá tương quan với năng suất kinh tế với r=0,58 (Bùi Mạnh Cường,1994 [5]

Kiều Xuân Đàm và cs (1998)[10] từ kết quả nghiên cứu phân tích tương quan giữa chỉ số diện tích lá và góc lá của một số dòng tham gia tạo giống ngô lai lá đứng đã kết luận: Việc tìm hiểu mối quan hệ giữa góc lá và các chỉ tiêu sinh lý, hình thái, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất là vấn đề rất cần thiết trong công tác chọn tạo giống ngô

Các đặc điểm nông học được quyết định bởi yếu tố di truyền và biểu hiện thay đổi tùy thuộc vào điều kiện sống Vì vậy, cần căn cứ vào điều kiện cụ thể để lựa chọn các chỉ tiêu quan tâm trong chọn tạo giống Ở điều kiện khô hạn năng suất hạt có tương quan thuận và chặt chẽ với tỷ lệ bắp/cây, khối lượng bắp, số ngày từ nảy mầm đến phun râu và chín sinh lý (Phạm Thị Tài, 1993) [22]

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

dài bắp, số hạt/hàng

(1993) [19] cũng cho thấy chiều dài bắp, số hạt/hàng tương quan thuận chặt với năng suất (r=0,88 và 0,73)

Trong các đặc điểm nông học của cây ngô, số bắp/cây do nhiều gen khống chế, biểu hiện rất đa dạng và bị ảnh hưởng rất lớn của điều kiện môi trường Kluchco và Fesenco (1980) cho thấy, mật độ gieo trồng 20 ngàn cây/ha thì 42% sản lượng là do đóng góp của bắp thứ 2, ở 60 ngàn cây/ha đóng góp này chỉ còn 3,6% Vì vậy khi chọn các giống ngô lai nên chọn giống

có bắp dưới tương đương với bắp trên Ở Việt Nam, bắp 2 đóng góp vào năng suất chung của giống là 13,7-21,3% (Nguyễn Thị Lưu, 1994)[16]

Các yếu tố cấu thành năng suất như chiều dài bắp, khối lượng bắp, số hạt/hàng và số bắp/cây là những chỉ tiêu tương quan khá chặt với năng suất hạt Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất của các kiểu gen khác nhau Otequi và cs (1995) đã cho thấy số lượng chồi bắp có mối tương quan chắc chắn với số hạt cuối cùng (r2 = 0,52, n = 32) và năng suất hạt (r2 = 0,55)

(Nguyễn Thị Lưu, 1999) [17]

Theo Nguyễn Văn Thu (2007) [26]

, rét, nóng … thông qua các đặc điểm hình thái có thể nhìn thấy các phản ứng sinh lý của cây ngô đối với điều kiện hạn như héo lá, thân có biểu hiện màu sắc tía đỏ…

Ngô Hữu Tình và cs (2005) [36] qua nghiên cứu phản ứng của các con lai luân giao trong điều kiện tưới và không tưới đã cho rằng để chọn giống ngô chịu hạn nên bắt đầu với một vài đặc tính quan trọng liên quan đến khả năng chịu hạn như: Khoảng cách tung phấn phun râu, chiều cao cây, số hạt/hàng, khối lượng 1000 hạt

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Với mục đích chọn giống ngô chịu hạn cho vùng núi phía Bắc Việt Nam,

Phan Thị Vân và cs (2005)[45] đã chứng minh được sự hình thành, phát triển của mầm, rễ, đặc điểm hình thái của lá là cơ sở khoa học để chọn dòng, giống ngô chịu hạn

Việc chọn tạo và đưa thử nghiệm vào sản xuất những giống ngô lai mới

có năng suất cao, ổn định thích nghi với các vùng sinh thái khác nhau đã góp phần thúc đẩy sản xuất ngô ở nước ta phát triển Tuy nhiên để xác định được một giống tốt phù hợp với từng vùng cần đánh giá giống dựa vào các chỉ tiêu sinh học, đặc tính thích nghi, năng suất của giống

1.4 Kết quả thử nghiệm một số giống ngô lai mới tại Việt Nam

Trong tiến trình chọn tạo giống, khảo nghiệm đánh giá các tổ hợp lai là giai đoạn vô cùng quan trọng, đây là cơ sở để các nhà tạo giống chọn được các tổ hợp lai ưu tú phát triển thành giống phục vụ sản xuất Tuy nhiên mỗi giống chỉ có thể phát huy ưu thế trong những điều kiện sinh thái phù hợp Vì vậy, cần có quá trình thử nghiệm đánh giá ngoài sản xuất Xuất phát từ yêu cầu phát triển đa dạng các giống ngô lai trong sản xuất, các giống ngô mới đã được thử nghiệm đánh giá và nhiều giống đã khẳng định được sự thích ứng với điều kiện sinh thái ở các vùng khác nhau trong cả nước

Viện nghiên cứu Ngô là cơ quan nghiên cứu ngô quan trọng nhất của Việt Nam hàng năm đã tiến hành khảo nghiệm tập đoàn giống ngô lai mới từ Viện để xác định được các giống ngô lai tốt, tham gia vào mạng lưới khảo nghiệm ngô Quốc gia, qua đó tìm ra những giống ngô có đặc tính nông học tốt như chín sớm, chịu hạn, chống chịu sâu bệnh, thích hợp việc trồng dầy, thích ứng rộng, năng suất cao và ổn định nhằm đáp ứng nhu cầu tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra

Vụ đông 2007, Cty Cổ phần Giống cây trồng miền Bắc đưa ra trồng thử nghiệm giống ngô lai mới MB 069- một giống được kỳ vọng là siêu năng suất tại Nghệ An, Thanh Hoá, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ Kết quả đã đúng

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

như mong đợi, năng suất ngô lai MB 069 tất cả các điểm trình diễn đều đạt cao trung bình 8 tấn/ha, nơi cao lên tới 10-12 tấn/ha Đây là giống sinh trưởng rất khoẻ từ thời kỳ cây con, chống chịu sâu bệnh tốt, lá gọn Ưu thế cho năng suất cao của giống được thể hiện bởi bắp dài, hình trụ, hạt xếp rất sít, sâu cay Ngoài ra MB069 còn có khả năng chịu hạn rất tốt, đây là giống có thể thích nghi rộng đặc biệt trong điều kiện biến đối khí hậu (Báo Nông nghiệp Việt Nam, 2008) [1]

Để phát triển ngô ở những vùng thâm canh, cần có những giống ngô lai mới có tiềm năng năng suất cao Chính vì vậy, từ năm 2007-2010, TS Mai Xuân Triệu cùng các cộng sự Viện Nghiên cứu ngô đã nghiên cứu chọn tạo được giống ngô lai LVN61 đạt năng suất từ 10-12 tấn/ha, phục vụ sản xuất cho những vùng thâm canh ở các tỉnh Đông Nam Bộ và Tây Nguyên (Bộ NN

và PTNT, 2014) [3]

Trước thực tế nhiều diện tích lúa xuân hè, hè thu ở đồng bằng sông Cửu Long năng suất bấp bênh, hiệu quả kinh tế thấp, một số địa phương đã quyết định chuyển đổi một số diện tích đất trồng lúa sang trồng các loại cây màu cho lợi nhuận cao hơn Trong các cây màu thay thế lúa, ngô là cây có nhiều tiềm năng nhất vì năng suất cao và thị trường tiêu thụ khá ổn định Để thu được lợi nhuận cao, thích ứng được điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu trên diện tích này phải chọn giống ngô ngắn ngày, chịu được trồng dày Công ty TNHH Dekalb Việt Nam đã đáp ứng tốt các yêu cầu trên với giống DK 6919, DK

6818 Hai giống ngô trên có thời gian sinh trưởng ngắn (khoảng từ 90 đến 95 ngày), có thể tiết kiệm chi phí tưới nước so với các giống dài ngày hơn Bên cạnh đó, DK 6919, DK 6818 còn có nhiều đặc điểm ưu việt: khi chín bộ lá còn xanh nên có thể tận dụng làm thức ăn xanh cho gia súc, khả năng chịu trồng dày (khoảng 90 - 110 nghìn cây/ha), chống chịu sâu bệnh tốt và chống

đổ tốt khi trồng mật độ cao, năng suất trung bình đạt 11 - 12 tấn/ha, tiềm năng còn lên tới 14 tấn/ha

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Với mục đích tìm kiếm các giống ngô lai mới để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, vụ Xuân 2014 huyên Lương Sơn (Hòa Bình) đã thực hiện

mô hình khảo nghiệm đối với hai giống ngô PAC 999 Super và PAC 339 đều

là giống ngô lai đơn thế hệ mới, có nguồn gốc từ Thái Lan được Công ty Advanta nghiên cứu, lai tạo Kết quả cho thấy, năng suất của giống ngô lai PAC 999 Super đạt 76,7 tạ/ha, PAC 339 đạt 65, 3 tạ/ha Về hiệu quả kinh tế, ước tính giống ngô PAC 999 Super cho thu nhập trên 24 triệu đồng/ha, giống ngô PAC 339 cho thu nhập trên 16 triệu đồng /ha Như vậy, nếu trồng 2 vụ/năm, hai giống ngô này cho thu nhập khoảng 30-50 triệu đồng /ha, cao hơn so với nhiều giống ngô lai đang được trồng trên địa bàn huyện (Thu Trang, 2014) [39]

Những năm gần đây, ngô lai phát triển mạnh, tăng đáng kể cả về diện tích, năng suất và sản lượng, góp phần quan trọng ổn định an ninh lương thực Tuy nhiên, năng suất bình quân của cây ngô còn hạn chế ở mức 40-45 tạ /ha, hiệu quả kinh tế còn thấp Trong cơ cấu giống ngô lai đưa vào gieo trồng có không ít loại giống cho năng suất, chất lượng thấp, tính chống chịu sâu bệnh, khả năng thích ứng kém Thực tế này đòi hỏi các cơ sở sản xuất phải tích cực tìm kiếm các giống ngô mới để nâng cao hiệu quả sản xuất ngô trên địa bàn, tạo thu nhập cao và ổn định cho người nông dân

Để có thể ứng phó với biến đổi khí hậu, những giống có khả năng chịu hạn, rét, úng, mặn đang được các nhà khoa học quan tâm Ở những vùng nắng nóng, lượng mưa giảm người nông dân đã chuyển đổi nhiều diện tích lúa sang cây trồng cạn, trong đó ngô là lựa chọn số một Hai giống ngô lai đơn QT55, QT66 bước đầu đáp ứng được yêu cầu trên tại An Nhơn (Bình Định) với khả năng chịu hạn khá, ít nhiễm bệnh khô vằn và đốm lá vì vậy giảm được thuốc trừ sâu bệnh, giảm chi phí sản xuất, bảo vệ môi trường, năng suất đạt 80-85 tạ/ha

Cùng với các cơ quan nghiên cứu chọn tạo giống trong nước các công

ty nước ngoài đang nghiên cứu phát triển các giống ngô lai mới ở Việt Nam cũng có rất nhiều những sản phẩm chất lượng tốt cạnh tranh lành mạnh với

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

giống lai Việt Nam Đây là động lực thúc đẩy quá trình nghiên cứu chọn tạo giống trong nước phát triển và làm phong phú nguồn gen ngô tại Việt Nam

Tập đoàn Monsanto đã đưa vào thị trường Việt Nam hai giống ngô lai mới DK 9901 và DK 9955 thuộc thế hệ giống thứ tư với những bí quyết công nghệ đỉnh cao cùng với hình ảnh mới Giống ngô DEKALB DK9901 chịu trồng dày vì bộ lá gọn, chịu hạn rất tốt, có khả năng cho tỷ lệ 2 bắp/cây cao nếu như trồng thưa, rất khỏe cây Kết quả thực hiện mô hình trồng giống ngô

DK 9901 và 9955 do Trạm Khuyến nông huyện Cẩm Thủy (Thanh Hóa) thực hiện cho thấy giống có khả năng chịu hạn và chống chịu sâu bệnh tốt Trong vòng một năm xuất hiện chính thức trên thị trường, DK 9901 bán 1.000 tấn giống, lập một kỷ lục mới cho giống ngô ở Việt Nam mà nhiều giống tốt khác phấn đấu 3-5 năm

Để đẩy mạnh công cuộc xóa đói giảm nghèo ở địa phương, xã Tú Sơn (Kim Bôi) đã tích cực thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phối hợp với công ty Syngenta Việt Nam, công ty Monsanto, công ty giống cây trồng miền Bắc…đưa các giống ngô mới như NK66, NK67, NK4300, NK8626…về trồng thử nghiệm Kết quả giống ngô lai mới NK6326 có triển vọng tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái, đất đai cũng như trình độ canh tác của người dân Giống ngô lai NK6326 đã chứng tỏ được tính ưu việt của nó là có thời gian sinh trưởng trung bình từ 110 - 120 ngày, đặc biệt chịu hạn rất tốt, năng suất đạt 360 - 370 kg/sào (Phạm Đình Thủy, 2012) [27]

Tại huyện Ngân Sơn (Bắc Kạn), giống NK 7328 đã khẳng định được tính thích ứng trong điều kiện khó khăn do có bộ rễ chân kiềng phát triển nên khả năng chống đổ tốt, chịu hạn tốt, năng suất cao đạt trên

69 tạ một ha (Đình Bích, 2014) [2]

1.5 Thách thức, cơ hội và định hướng phát triển ngô ở Việt Nam

1.5.1 Thách thức đối với ngành sản xuất ngô ở Việt Nam

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng, song ngành sản xuất ngô ở Việt Nam vẫn còn nhiều trở ngại:

Với nhu cầu sử dụng ngày càng tăng, sản lượng không đáp ứng được nhu cầu trong nước, hàng năm nước ta phải nhập một lượng lớn ngô hạt để làm thức

ăn chăn nuôi Năm 2013, kim ngạch nhập khẩu ngô về Việt Nam từ các thị trường đạt đã là 2.188.979 tấn, trị giá 674,8 triệu đôla, tăng 35,6% về lượng và tăng 34,9% về trị giá so với cùng kỳ năm trước (Tổng cục Hải quan, 2014)[37]

Sản xuất ngô ở nước ta vẫn mang tính nhỏ lẻ và phân tán, đặc biệt là vùng núi, vì vậy việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất rất khó khăn Công nghệ sau thu hoạch chưa được quan tâm đúng mức

Điều kiện kinh tế cũng như trình độ của người dân đặc biệt là khu vực miền núi hiện nay còn nhiều hạn chế nên việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của giống mới Mặt khác, quá trình áp dụng giống mới chịu thâm canh, phát triển thành những vùng sản xuất hàng hóa là điều kiện thuận lợi để các loại dịch hại mới nguy hiểm xuất hiện

Với sự biến đổi khí hậu toàn cầu ngày một phức tạp, đặc biệt là hạn hán, lũ lụt diễn ra ngày càng nặng nề cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho ngành sản xuất ngô của nước ta Khí hậu biến đổi bất thường không còn theo quy luật dẫn đến những rủi ro trong sản xuất

Với sự phát triển của khoa học công nghệ ngày càng tăng, trong thời gian tới có thể ngô biến đổi gen có nhiều ưu thế về năng suất sẽ được trồng trong sản xuất, điều này sẽ gây áp lực rất lớn cho việc phải cạnh tranh lành mạnh giữa các giống ngô của Việt Nam với các giống ngô nhập ngoại

Điều kiện kinh tế của các vùng trồng ngô còn rất khó khăn nhưng Việt Nam đã tham gia vào thị trường thương mại thế giới nên đòi hỏi phải có sự đầu tư đồng bộ từ sản xuất đến đánh giá kiểm định chất lượng, bảo quản và vận chuyển tiêu thụ

1.5.2 Cơ hội và triển vọng đối với sản xuất ngô ở Việt Nam

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Ở nước ta ngô là cây lương thực quan trọng sau lúa vì vậy nông dân Việt Nam ở hầu hết các vùng sinh thái đều có kinh nghiệm trồng ngô từ lâu đời

Điều kiện tự nhiên của Việt Nam hoàn toàn thích hợp cho sản xuất ngô, đặc biệt là các vùng miền núi trong điều kiện canh tác lúa bị hạn chế

Trong những năm gần đây tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng nên nhu cầu

về ngô rất lớn Nhu cầu sử dụng ngô ngày càng cao là động lực quan trọng thúc đẩy sản xuất ngô phát triển

Ngày nay nhu cầu sử dụng sản phẩm ngô làm nhiên liệu sinh học (ethanol) ngày một tăng nhanh Trong tương lai ngô cũng là nguồn nguyên liệu quan trọng phục vụ cho công nghệ này tại Việt Nam

Hiện nay nhiều nước trồng ngô tiên tiến còn ứng dụng cả công nghệ tự động hóa trong canh tác cây ngô, nhờ vậy đã khai thác triệt để tiềm năng năng suất của giống và giá thành sản xuất rẻ, tương lai không xa các tiến bộ đó sẽ được áp dụng ở Việt Nam

Cùng với phương pháp chọn tạo giống truyền thống, sử dụng các giống lai có nhiều ưu điểm, thì việc ứng dụng công nghệ sinh học để tạo ra các giống có khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận sinh học và phi sinh học đã đạt được những kết quả quan trọng, trong đó đáng chú ý nhất là ngô biến đổi gen, kháng thuốc trừ cỏ, kháng virus

Hệ thống cơ chế, chính sách của nhà nước luôn khuyến khích và tạo điều kiện phát triển sản xuất lương thực trong đó có sản xuất ngô

1.5.3 Định hướng phát triển sản xuất ngô của Việt Nam

* Công tác chọn tạo giống:

- Phải nhanh chóng tạo ra được những giống ngô lai có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái Việt Nam Đặc biệt, kết hợp phương pháp truyền thống với công nghệ sinh học trong chọn tạo giống, kể cả chuyển gen phổ biến như chịu thuốc trừ cỏ, kháng sâu đục thân

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Thu thập nguồn gen theo định hướng con lai cho năng suất cao, ổn định, chống đổ, chịu hạn, ít nhiễm sâu bệnh, ngắn ngày, thích ứng rộng, để

có thể thích ứng với nhiều vùng sinh thái

- Phải có được hệ thống sản xuất hạt giống chất lượng tốt Mở rộng mạng lưới thử nghiệm ở nhiều vùng sinh thái để rút ngắn thời gian chọn lọc, nhanh chóng phát triển giống mới ra sản xuất

- Cập nhật thông tin, trao đổi vật liệu, tài liệu và kinh nghiệm thông qua hợp tác với các tổ chức trong nước và quốc tế như: Trung tâm cải tạo ngô và lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT), mạng lưới khảo nghiệm ngô vùng Châu Á (TAMNET), tổ chức Nông Lương thế giới (FAO), mạng lưới công nghệ sinh học cây ngô ở Châu Á (AMBIONET), các Viện, trường Đại học và các cơ quan quản lý nông nghiệp trên phạm vi cả nước

* Biện pháp kỹ thuật canh tác:

Để khai thác tối đa tiềm năng năng suất của các giống ngô mới, việc cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác sao cho phù hợp là việc hết sức cần thiết Các biện pháp kỹ thuật đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu bao gồm: Xác định mật độ trồng ngô hợp lý để tăng hiệu suất quang hợp, tăng năng suất; Sử dụng phân bón cân đối, hợp lý, bón đúng kỹ thuật để khai thác tiềm năng năng suất của giống; Kết hợp các biện pháp kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh tổng hợp giúp cây sinh trưởng phát triển tốt; Xác định thời vụ gieo trồng thích hợp với mỗi vùng sinh thái; Trồng xen gối ngô với các cây họ đậu để cải tạo và bồi dưỡng đất, canh tác ngô kết hợp với bảo vệ môi trường bền vững

* Chính sách của Nhà nước:

- Cần quan tâm đầu tư các trang thiết bị hiện đại phục vụ trong công tác nghiên cứu, sản xuất cũng như chế biến sản phẩm Cần có hệ thống làm khô, chế biến, đóng gói công nghiệp để đảm bảo chất lượng ngang tầm hạt giống của các công ty nước ngoài

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

- Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, phổ biến kiến thức, chuyển giao khoa học tới người dân nhằm phát huy tối đa tiềm nằng năm suất của các giống ngô mới

- Phải có chiến lược để giành lại thị trường dựa vào tiêu chí chất lượng cao, giá thành hạ

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu thí nghiệm gồm 08 tổ hợp ngô lai do Viện nghiên cứu ngô chọn tạo và giống NK4300 được chọn làm giống đối chứng

Giống NK4300 (đối chứng) do Công ty Sygenta Việt Nam nhập từ Thái Lan NK4300 có thời gian sinh trưởng 90-110 ngày, dạng hạt bán răng ngựa,

có khả năng chịu hạn và chống đổ khá, năng suất trung bình 50-60 tạ/ha

Bảng 2.1: Nguồn gốc của các vật liệu thí nghiệm

1 KK3913A Viện nghiên cứu ngô Việt Nam Lai đơn

2 KK3923A Viện nghiên cứu ngô Việt Nam Lai đơn

3 KK3936B Viện nghiên cứu ngô Việt Nam Lai đơn

4 KK3953A Viện nghiên cứu ngô Việt Nam Lai đơn

5 KK3966 Viện nghiên cứu ngô Việt Nam Lai đơn

6 KK3973A Viện nghiên cứu ngô Việt Nam Lai đơn

7 KK3976A Viện nghiên cứu ngô Việt Nam Lai đơn

8 KK3976 Viện nghiên cứu ngô Việt Nam Lai đơn

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Thí nghiệm được thực hiện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong vụ Xuân và vụ Đông năm 2013

- Vụ Xuân gieo ngày: 01/3/2013

- Vụ Đông gieo ngày: 16/9/2013

2.3 Quy trình trồng trọt áp dụng trong thí nghiệm

- Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô (QCVN 01-56: 2011) (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2011)[4]

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

+ Mật độ trồng: 5,7 vạn cây/ha Khoảng cách: 70 cm x 25 cm

- Phân bón:

+ Phân hữu cơ: Phân chuồng 10 tấn/ha

+ Phân vô cơ: 150N : 90P2O5 : 90K2O

Tương đương với lượng phân: Đạm urê: 321,89 kg/ha, Supe lân: 527,14 kg/ha, Kaliclorua: 150kg/ ha

+ Theo dõi, phòng trừ sâu bệnh

+ Mọc - 3 lá: Trồng dặm cây, thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, gặp mưa xới nhẹ

+ Khi ngô có 3-5 lá: Tiến hành tỉa định cây kết hợp với xới phá váng, nhổ cỏ đồng thời bón thúc lần 1

+ Khi ngô 7- 9 lá: Bón thúc lần 2 kết hợp vun cao gốc chống đổ

+ Tưới nước: Đảm bảo đủ độ ẩm cho ngô, đặc biệt vào các thời kỳ trước và sau trỗ cờ 10-15 ngày

- Thu hoạch: Khi thân lá và lá bi chuyển sang màu vàng, chân hạt hình thành sẹo đen

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm

- Đánh giá khả năng chống chịu của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm

Ngày đăng: 25/02/2015, 00:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Trần Thị Phương Hạnh, Bùi Mạnh Cường, Lê Hữu Pháp (2011), “Kết quả tuyển chọn giống ngô chịu bệnh gỉ sắt (Puccinia sp.) năng suất cao ở vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 2 (23)/2011, 105-108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả tuyển chọn giống ngô chịu bệnh gỉ sắt (Puccinia sp.) năng suất cao ở vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên”
Tác giả: Trần Thị Phương Hạnh, Bùi Mạnh Cường, Lê Hữu Pháp
Năm: 2011
13. Nguyễn Thế Hùng, Bùi Thế Hùng, Đinh Thế Lộc, Trịnh Thị Phương Loan (2006), “Giáo trình kỹ thuật trồng cây màu”, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật trồng cây màu”
Tác giả: Nguyễn Thế Hùng, Bùi Thế Hùng, Đinh Thế Lộc, Trịnh Thị Phương Loan
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
14. Lê Quý Kha, Trần Hồng Uy, Surinder Vasal, Châu Ngọc Lý, Bùi Mạnh Cường (2001), “Kết quả chọn tạo và thử nghiệm giống ngô lai chất lượng đạm cao HQ2000”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 1/2001, 53-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả chọn tạo và thử nghiệm giống ngô lai chất lượng đạm cao HQ2000”
Tác giả: Lê Quý Kha, Trần Hồng Uy, Surinder Vasal, Châu Ngọc Lý, Bùi Mạnh Cường
Năm: 2001
15. Nguyễn Đức Lương, Dương Văn Sơn, Lương Văn Hinh (2000). Giáo trình cây lương thực (giành cho cao học) NXB nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây lương thực
Tác giả: Nguyễn Đức Lương, Dương Văn Sơn, Lương Văn Hinh
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 2000
16. (1994), “Đặc điểm năng suất và yếu tố cầu thành năng suất của , Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, tháng 12/1994, tr.449-450.17. (1999), ,. 18. Châu Ngọc Lý, (2012) “Nghiên cứu chọn tạo giống ngô có hàm lượngprotein cao (QPM) thế hệ mới tại Việt Nam”, .19. (1993) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn tạo giống ngô có hàm lượng protein cao (QPM) thế hệ mới tại Việt Nam
Tác giả: Châu Ngọc Lý
Nhà XB: Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
Năm: 2012
21. Dương Văn Sơn, Lương Văn Hinh (1997) “Giáo trình cây ngô”, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, năm 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình cây ngô”
22. Phạm Thị Tài, (1993) “Khảo nghiệm một số giống ngô mới tại các tình miền núi phía Bắc”. Luận án thạc sỹ khoa học nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khảo nghiệm một số giống ngô mới tại các tình miền núi phía Bắc”
23. Ngô Minh Tâm, Bùi Mạnh Cường, Phùng Quốc Tuấn, Ngụy Thị Hương Lan, Nguyễn Văn Trường, Đoàn Thị Bích Thảo (2010), “Kết quả chọn tạo giống LVN146”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 4(17)/2010, 24-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kết quả chọn tạo giống LVN146”
Tác giả: Ngô Minh Tâm, Bùi Mạnh Cường, Phùng Quốc Tuấn, Ngụy Thị Hương Lan, Nguyễn Văn Trường, Đoàn Thị Bích Thảo
Năm: 2010
24. Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, Vũ Quang Sáng (1994), “Giáo trình sinh lý thực vật”, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình sinh lý thực vật
Tác giả: Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, Vũ Quang Sáng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1994
26. Nguyễn Văn Thu (2007), “Ảnh hưởng của một số đặc điểm sinh lý đến tính chống đổ của cây ngô”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (kỳ I), trang 27-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ảnh hưởng của một số đặc điểm sinh lý đến tính chống đổ của cây ngô”
Tác giả: Nguyễn Văn Thu
Năm: 2007
27. Phạm Đình Thủy (2012), “Giống ngô lai mới NK6326 ở Tú Sơn cho năng suất chất lượng vượt trội ”, tintucnongnghiep.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống ngô lai mới NK6326 ở Tú Sơn cho năng suất chất lượng vượt trội
Tác giả: Phạm Đình Thủy
Năm: 2012
28. Ngô Hữu Tình (1985), “Khả năng kết hợp các dòng ngô thuần từ những vùng sinh thái khác nhau", Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp, số 276, tháng 6/1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng kết hợp các dòng ngô thuần từ những vùng sinh thái khác nhau
Tác giả: Ngô Hữu Tình
Năm: 1985
29. Ngô Hữu Tình, Nguyễn Thế Hùng, Bùi Thế Hùng (1993), Một số nhận xét về 2 phương pháp tạo dòng thuần ở ngô, kết quả trong các nghiên cứu khoa học giai đoạn 1991-1992, Trường đại học Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về 2 phương pháp tạo dòng thuần ở ngô, kết quả trong các nghiên cứu khoa học giai đoạn 1991-1992
Tác giả: Ngô Hữu Tình, Nguyễn Thế Hùng, Bùi Thế Hùng
Năm: 1993
30. Ngô Hữu Tình, Phạm Văn Ruy, Lưu Phúc Sắt, Nguyễn Thị Lưu (1996), “Kết quả chọn tạo các giống ngô lai ngắn ngày, thấp cây, tán bó và giống ngô lai LVN20", Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, 1/1996, 8-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả chọn tạo các giống ngô lai ngắn ngày, thấp cây, tán bó và giống ngô lai LVN20
Tác giả: Ngô Hữu Tình, Phạm Văn Ruy, Lưu Phúc Sắt, Nguyễn Thị Lưu
Năm: 1996
31. Ngô Hữu Tình, Trần Hồng Uy, Võ Đình Long, Bùi Mạnh Cường, Lê Quý Kha, Nguyễn Thế Hùng (1997), Cây ngô, nguồn gốc, đa dạng di truyền và quá trình phát triển, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây ngô, nguồn gốc, đa dạng di truyền và quá trình phát triển
Tác giả: Ngô Hữu Tình, Trần Hồng Uy, Võ Đình Long, Bùi Mạnh Cường, Lê Quý Kha, Nguyễn Thế Hùng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
32. Ngô Hữu Tình (1999), Nguồn gen cây ngô và các nhóm ưu thế lai đang được sử dụng ở Việt Nam, Viện nghiên cứu ngô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gen cây ngô và các nhóm ưu thế lai đang được sử dụng ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Hữu Tình
Năm: 1999
34. Ngô Hữu Tình, Nguyễn Thị Lưu, Lưu Phúc Sắt, Tạ Duy Mạnh, Phan Thị Vân, Trần Lan Anh (2004), “Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai ngắn ngày LVN99", Báo cáo kết quả chọn tạo giống ngô lai ngắn ngày LVN99 tại Hội nghị Khoa học Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu chọn tạo giống ngô lai ngắn ngày LVN99
Tác giả: Ngô Hữu Tình, Nguyễn Thị Lưu, Lưu Phúc Sắt, Tạ Duy Mạnh, Phan Thị Vân, Trần Lan Anh
Nhà XB: Báo cáo kết quả chọn tạo giống ngô lai ngắn ngày LVN99 tại Hội nghị Khoa học Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2004
35. Ngô Hữu Tình, Phan Thị Vân (2004), “Xác định khả năng kết hợp chung về năng suất của 8 dòng ngô thuần chịu hạn bằng phương pháp lai đỉnh", Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 1(37),2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định khả năng kết hợp chung về năng suất của 8 dòng ngô thuần chịu hạn bằng phương pháp lai đỉnh
Tác giả: Ngô Hữu Tình, Phan Thị Vân
Năm: 2004
36. Ngô Hữu Tình, Phan Thị Vân, Luân Thị Đẹp (2005), “Phản ứng của các con lai luân giao từ 8 dòng ngô thuần chịu hạn trong điều kiện tưới và không tưới", Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kỳ I, số 6, tháng 6/2005, 15-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phản ứng của các con lai luân giao từ 8 dòng ngô thuần chịu hạn trong điều kiện tưới và không tưới
Tác giả: Ngô Hữu Tình, Phan Thị Vân, Luân Thị Đẹp
Năm: 2005
37. Tổng cục Hải quan (2014), “Năm 2013, nhập khẩu ngô tăng mạnh", 38. Tổng cục thống kê, Số liệu thống kê, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm 2013, nhập khẩu ngô tăng mạnh
Tác giả: Tổng cục Hải quan
Nhà XB: Tổng cục thống kê
Năm: 2014

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lƣợng ngô trên thế giới năm 1961 - 2013 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lƣợng ngô trên thế giới năm 1961 - 2013 (Trang 14)
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2013 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2013 (Trang 15)
Bảng 1.4: Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên từ 2000 - 2013 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 1.4 Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên từ 2000 - 2013 (Trang 19)
Sơ đồ thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Sơ đồ th í nghiệm (Trang 41)
Bảng 3.2: Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các tổ hợp ngô lai - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.2 Chiều cao cây, chiều cao đóng bắp của các tổ hợp ngô lai (Trang 49)
Hình 3.1: Chiều cao cây của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 3.1 Chiều cao cây của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm (Trang 50)
Bảng 3.3: Số lá và chỉ số diện tích lá của các tổ hợp ngô lai - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.3 Số lá và chỉ số diện tích lá của các tổ hợp ngô lai (Trang 53)
Bảng 3.4: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp ngô lai - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.4 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp ngô lai (Trang 55)
Bảng 3.5: Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp ngô lai - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.5 Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các tổ hợp ngô lai (Trang 56)
Bảng 3.6: Tốc độ ra lá của các tổ hợp ngô lai tham gia - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.6 Tốc độ ra lá của các tổ hợp ngô lai tham gia (Trang 58)
Bảng 3.8: Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp ngô lai - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.8 Các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp ngô lai (Trang 66)
Bảng 3.10: Năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Bảng 3.10 Năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm (Trang 68)
Hình 3.3: Năng suất lý thuyết của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 3.3 Năng suất lý thuyết của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm (Trang 69)
Hình 3.4: Năng suất thực thu của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai mới tại trường đại học nông lâm thái nguyên
Hình 3.4 Năng suất thực thu của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm