Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng Salmonella phân lập được ...72 3.7.2... Trình tự các cặp mồi và kích cỡ sản phẩm để xác định một số yếu tố gây bệnh của Sa
Trang 1ỜI CAM ĐOAN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀO THỊ XUÂN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC
CỦA VI KHUẨN SALMONELLA VÀ TÁC DỤNG
CỦA CHẾ PHẨM BIOVET ĐẾN KHẢ NĂNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ của cán bộ Viện Khoa học sự sống Đại học Thái Nguyên, các cơ sở chăn nuôi và bạn bè đồng nghiệp về các số liệu và kết quả nghiên cứu Các số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực, mọi trích dẫn chính xác và đã được chỉ rõ nguồn gốc
Các số liệu và kết quả này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Thái Nguyên, ngày 1 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Đào Thị Xuân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Quang Tuyên - Phó Viện trưởng Viện Khoa học sự sống Đại học Thái Nguyên Thầy đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Đồng thời tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô, cán bộ kĩ thuật tại bộ môn Công nghệ vi sinh, Công nghệ sinh học, Viện Khoa học sự sống đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi thực hiện các thí nghiệm của đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị đồng nghiệp đang công tác tại Trường Cao đẳng Kinh tế - kỹ thuật Vĩnh Phúc luôn động viên và giúp đỡ tôi trong thời gian tôi thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và các bạn đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày 1 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Đào Thị Xuân
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ Error! Bookmark not defined 1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.3 Mục tiêu của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Bệnh thương hàn ở gà 3
1.1.1 Căn bệnh 3
1.1.2 Triệu chứng 5
1.1.3 Bệnh tích 5
1.2 Đặc điểm của vi khuẩn salmonella 6
1.2.1 Đặc điểm hình thái 6
1.2.2 Đặc điểm nuôi cấy 7
1.2.3 Đặc tính sinh hóa 8
1.2.4 Sức đề kháng 9
1.2.5 Cấu trúc kháng nguyên của Salmonella 10
1.2.6 Các yếu tố gây bệnh của Salmonella 13
1.3 Tình hình nghiên cứu salmonella ở gà 17
1.3.1 Tình hình nghiên cứu Salmonella trên thế giới 18
1.3.2 Tình hình nghiên cứu Salmonella trong nước 22
1.4 Đặc điểm của probiotic và chế phẩm biovet 25
1.4.1 Chế phẩm probiotic 25
1.4.2 Chế phẩm Biovet 26
Chương 2: NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Nội dung nghiên cứu 31
Trang 52.1.1 Điều tra tình hình dịch tễ gà mắc bệnh thương hàn 31
2.1.2 Phân lập và xác định một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn Salmonella spp từ gà mắc bệnh thương hàn 31
2.1.3 Xác định độc lực các chủng Salmonella phân lập được 31
2.1.4 Đánh giá tác dụng của chế phẩm Biovet 31
2.1.5 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị 31
2.2 Nguyên vật liệu dùng trong nghiên cứu 31
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.2.2 Nguyên liệu, dụng cụ và trang thiết bị 31
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu 32
2.3 Phương pháp nghiên cứu 32
2.3.1 Phương pháp điều tra 32
2.3.2 Phương pháp lấy mẫu 32
2.3.3 Phương pháp nuôi cấy, phân lập vi khuẩn Salmonella spp 33
2.3.4 Phương pháp giám định các đặc tính sinh hóa 34
2.3.5 Phương pháp nhuộm Gram 35
2.3.6 Phương pháp xác định serotype của các chủng Salmonella phân lập được 36
2.3.7 Phương pháp xác định các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn phân lập được 37
2.3.8 Phương pháp xác định tính mẫn cảm với một số kháng sinh của vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum 39
2.3.9 Phương pháp nghiên cứu đánh giá tác dụng của chế phẩm Biovet 41
2.3.10 Xây dựng phác đồ điều trị bệnh thương hàn ở gà 43
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 43
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Kết quả điều tra tình hình dịch tễ gà mắc bệnh thương hàn nuôi trên một số xã của huyện Yên Lạc 44
3.1.1 Kết quả điều tra tỷ lệ gà mắc bệnh thương hàn ở một số xã 44
3.1.2 Kết quả điều tra tỷ lệ gà mắc bệnh thương hàn theo lứa tuổi 46
Bảng 3.2 Tỷ lệ gà mắc bệnh thương hàn theo lứa tuổi 47
3.1.3 Kết quả điều tra tỷ lệ gà mắc bệnh thương hàn theo mùa vụ 48
3.1.4 Kết quả tỷ lệ gà mắc bệnh thương hàn theo phương thức chăn nuôi 49
3.2 Kết quả phân lập vi khuẩn salmonella 50
Trang 63.2.1 Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella từ các mẫu bệnh phẩm 50
3.2.2 Kết quả xác định tỷ lệ phân lập vi khuẩn Salmonella spp ở một số cơ quan phủ tạng của gà bệnh 53
3.3 Kết quả giám định một số đặc tính nuôi cấy và sinh hóa của các chủng salmonella phân lập 54
3.4 Kết quả xác định serotype của các chủng salmonella phân lập được 57
3.5 Kết quả xác định độc lực của vi khuẩn salmonella gallinarum - pullorum 59
3.5.1 Kết quả xác định một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum 60
3.5.2 Kết quả xác định độc lực của vi khuẩn Salmonella gallinarum-pullorum phân lập được 62
3.6 Đánh giá tác dụng của chế phẩm biovet đến khả năng sinh trưởng và phòng bệnh thương hàn ở gà 64
3.6.1 Kết quả nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của gà thí nghiệm 64
3.6.2 Tác dụng của chế phẩm Biovet đến tỷ lệ nuôi sống và phòng bệnh thương hàn ở gà 69
3.6.3 Ảnh hưởng của chế phẩm Biovet đến số lượng vi khuẩn Salmonella 71
3.7 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị 71
3.7.1 Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng Salmonella phân lập được 72
3.7.2 Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh thương hàn ở gà 75
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGA : Brilliant Green Agar
BPW : Buffered Pepton Water
CNTY : Chăn nuôi thú y
DPF : Delayer Permebility Factor
DT104 : Definitive phage Type 104
PCR : Polymerase Chain Reaction
RPF : Rapid Permebility Factor
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
XLD : Xylose Lysine Deoxychlate
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng cấu trúc kháng nguyên của một số loài Salmonella 37
Bảng 2.2 Trình tự các cặp mồi và kích cỡ sản phẩm để xác định một số yếu tố gây bệnh của Salmonella phân lập được 38
Bảng 2.3 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ mẫn cảm và kháng kháng sinh theo CCLS (1999) 40
Bảng 3.1 Tỷ lệ gà mắc bệnh thương hàn ở một số xã 44
Bảng 3.2 Tỷ lệ gà mắc bệnh thương hàn theo lứa tuổi 47
Bảng 3.3 Tỷ lệ gà mắc bệnh thương hàn theo mùa vụ 48
Bảng 3.4: Tỷ lệ gà mắc bệnh thương hàn theo phương thức chăn nuôi 50
Bảng 3.5: Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp từ các mẫu phân và phủ tạng 51
Bảng 3.6: Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Salmonella spp ở bệnh phẩm 53
Bảng 3.7: Kết quả kiểm tra một số đặc tính nuôi cấy của các chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được 55
Bảng 3.8 Kết quả xác định một số đặc tính sinh hoá của vi khuẩn Salmonella phân lập được 56
Bảng 3.9: Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được 58
Hình 3.4 Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn Salmonella phân lập được 59
Bảng 3.10 Kết quả xác định yếu tố gây bệnh của Salmonella gallinarum-pullorum bằng phản ứng PCR 61
Bả Salmonella gallinarum-pullorum ạch 63
Bảng 3.12 Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 65
Bảng 3.14 Tác dụng của chế phẩm Biovet đến tỷ lệ nuôi sống và phòng bệnh thương hàn 70
Bảng 3.15 Số lượng vi khuẩn Salmonella có trong đường ruột của gà thí nghiệm 71
Bảng 3.16 Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum 72
Bảng 3.17: Kết quả thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh thương hàn ở gà đạt kết quả cao 75
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Tỷ lệ mắc bệnh thương hàn gà ở 3 xã của huyện Yên Lạc 46
Hình 3.2 Kết quả phân lập vi khuẩn Salmonella spp từ các mẫu phân và phủ tạng 52 Hình 3.3: Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Salmonella ở bệnh phẩm 54 Hình 3.4 Kết quả xác định serotype của các chủng vi khuẩn Salmonella
phân lập được 59 Hình 3.5: Khối lượng bình quân của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 67 Hình 3.6: Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 69
Hình 3.7 Khả năng mẫn cảm với kháng sinh của chủng vi khuẩn Salmonella
phân lập được 74 Hình 3.8 Hiệu quả một số phác đồ điều trị bệnh thương hàn ở gà 76
Trang 10MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, chăn nuôi đang là ngành giữ vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp ở nước ta Song song với việc chăn nuôi gia súc để lấy thịt, sữa, da, lông,… thì chăn nuôi gia cầm cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc cung cấp những thực phẩm giàu dinh dưỡng, làm phong phú thêm thực đơn trong mỗi bữa ăn Ngoài ra, phát triển chăn nuôi gia cầm còn mang lại hiệu quả kinh tế khá cao cho các chủ hộ trang trại, gia trại, đồng thời giải quyết việc làm cho nhiều lao động nông thôn và còn là nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, chăn nuôi gà còn tạo nguồn phân bón hữu cơ, góp phần nâng cao năng suất cây trồng Khi chăn nuôi gà phát triển thì tình hình dịch bệnh cũng diễn biến phức tạp
hơn trong đó có bệnh do vi khuẩn Salmonella Vi khuẩn Salmonella gallinarum-
pullorum gây cho gà ở mọi lứa tuổi Bệnh có thể lây từ gà ốm sang gà khỏe, qua
máy ấp, thức ăn, nước uống và các vật dụng chăn nuôi, nguy hiểm hơn là bệnh
truyền qua trứng Salmonellosis cần được đặc biệt trú trọng đối với cơ sở sản xuất
con giống Bởi lẽ bệnh này không chỉ ảnh hưởng tới các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của đàn gà mà còn reo rắt mầm bệnh cho thế hệ sau
Mặt khác Salmonellosis còn là nguyên nhân gây chi phí lớn về thuốc thú y, ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng và không ngừng tác động xấu tới vệ sinh môi trường Theo Trần Thị Hạnh và cs (1997)[8] thì việc điều trị bệnh bằng các loại thuốc kháng sinh không chỉ hạn chế sự phát triển của vi khuẩn mà còn gây ra sự tồn
dư các loại thuốc kháng sinh trong các sản phẩm gia cầm làm ảnh hưởng tới sức khỏe của cộng đồng và gây ra tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn
Hiện nay, ngoài việc phòng bệnh bằng vệ sinh, bằng vaccine thì việc sử dụng các chế phẩm vi sinh vật cũng đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi
Sử dụng chế phẩm vi sinh vật trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà nói riêng
có ý nghĩa rất lớn vì ngoài cung cấp các axit amin còn làm cân bằng hệ vi sinh vật
đường ruột, từ đó giảm được các bệnh đường tiêu hóa, nhất là bệnh do Salmonella
gây ra Chế phẩm hiện nay có tác dụng như vậy là chế phẩm Biovet Chế phẩm này
góp phần cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột như Salmonella và E.coli, nâng cao
khả năng tiêu hóa và giá trị của thức ăn thông qua quá trình lên men vi sinh vật Từ
Trang 11đó tác dụng lên quá trình sinh trưởng, phát triển của gia cầm và hạn chế dịch bệnh, nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Đặc biệt, khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì vấn
đề an toàn vệ sinh thực phẩm, trong đó có thịt gà sạch bệnh, sạch vi khuẩn
Salmonella là một yêu cầu cấp thiết Vì vậy, việc nghiên cứu vi khuẩn Salmonella,
tỷ lệ nhiễm và một số đặc tính sinh vật học cũng như vai trò gây bệnh của chúng là việc làm cần thiết, để từ đó có cơ sở xây dựng biện pháp phòng, chống bệnh đạt hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi gà nói riêng phát triển bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm, có sức cạnh tranh cao trên thị trường
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu
một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Salmonella và tác dụng của chế phẩm Biovet đến khả năng sinh trưởng, phòng bệnh thương hàn ở gà nuôi tại huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc”
1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau đây:
- Bổ sung thêm những hiểu biết khoa học cơ bản về đặc điểm dịch tễ học của bệnh thương hàn ở gà
- Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm nguồn tư liệu cho những nghiên
cứu về Salmonella trên gà nói riêng và Salmonella trên gia cầm nói chung
- Kết quả là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp phòng và điều trị bệnh thương hàn ở gà
- Là cơ sở khoa học để sản xuất và ứng dụng chế phẩm Biovet trong thực tiễn sản xuất của ngành chăn nuôi
1.3 Mục tiêu của đề tài
- Phân lập và xác định một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn Salmonella gây
bệnh thương hàn ở gà
- Đánh giá tác dụng của chế phẩm Biovet trong phòng bệnh do Salmonella
- Xây dựng phác đồ điều trị bệnh thương hàn cho gà đạt hiệu quả cao
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh thương hàn ở gà
Thương hàn là bệnh truyền nhiễm ở gà do vi khuẩn Salmonella gallinarum
pullorum gây ra Bệnh ở thể cấp tính ở gà con và mãn tính ở gà lớn Đặc điểm của
bệnh là gây viêm, hoại tử niêm mạc đường tiêu hóa và các cơ quan phủ tạng Trước
đây người ta cho rằng đây là 2 loại vi khuẩn gây ra 2 bệnh khác nhau trên gà
Salmonella pullorum: gây bệnh bạch lỵ gà con và Salmonella gallinarum gây bệnh
thương hàn gà lớn Hiện nay người ta thấy khi phân lập căn bệnh từ gà con hoặc gà lớn ốm đều thấy cả 2 loại vi khuẩn, kiểm tra đặc tính sinh học chúng chỉ khác nhau
ở một vài đặc tính về chuyển hóa đường Vì thế bệnh được gọi chung là
Salmonellosis do trực khuẩn Salmonella gallinarum pullorum gây ra cho gà ở mọi
lứa tuổi (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2012)[14]
1.1.1 Căn bệnh
Vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum phân bố rộng rãi trong tự nhiên,
sống lâu trong phân (3 tháng) và đất nền chuồng (2 năm) Nhưng đề kháng kém với nhiệt độ và hóa chất: ở 550 C bị tiêu diệt sau 20 phút, các chất khử trùng thông thường như xút, phenic, formon tiêu diệt vi khuẩn nhanh chóng
Theo Shivaprasad và cs (1997)[62] cũng giống như các vi khuẩn khác, S gallinarum
và S pullorum lây truyền qua nhiều đường Gia cầm nhiễm bệnh đóng vai trò quan
trọng lớn nhất như là vật mang trùng lây lan mầm bệnh Vai trò đầu tiên đã được xác nhận chính là trứng ấp bị nhiễm khuẩn lây truyền hai mầm bệnh kể trên, do sự
có mặt của S gallinarum và S pullorum trong các noãn hoàng trước khi trứng được
đẻ ra Phương thức lây truyền này được xác nhận là phương thức lây truyền chính
Sự lây truyền mầm bệnh có thể xẩy ra trong đàn gà bị mổ cắn, ăn trứng và qua các vết thương ở da và ở bàn chân
Phân gà nhiễm bệnh, thức ăn, nước uống và chất độn chuồng bị ô nhiễm cũng
là nguồn lây truyền mầm bệnh
Trang 13Các động vật nhiễm Salmonella có thể trở thành vật mang trùng dưới dạng
mãn tính không thể hiện triệu chứng lâm sàng Khả năng đề kháng của gia cầm
trưởng thành với S gallinarum và S pullorum rất cao, nên ít khi nổ ra thành dịch
Salmonella gallinarum pullorum gây nên Vi khuẩn này không có lông và không di
động được (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)[34]
* Đặc tính nuôi cấy
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001)[34] Salmonella gallinarum pullorum là
loại vi khuẩn hiếu khí dễ nuôi cấy trên các môi trường thông thường
- Môi trường thạch thường: trên mặt thạch, sau 24 giờ vi khuẩn mọc thành khuẩn lạc nhỏ như hạt sương màu tro trắng, đôi khi dính liền với nhau thành một lớp màng mỏng màu xanh nhạt
- Môi trường nước thịt: gây đục nhẹ, có cặn trắng ở đáy ống
- Gelatin: hình thành màng mỏng hơi mờ trên mặt, khuẩn lạc nhỏ, không trong suốt, chạy dài theo đường cấy sâu, gelatin không tan chảy
* Cấu trúc kháng nguyên
Vi khuẩn Salmonella gallinarum pullorum thuộc nhóm D có cấu trúc kháng
nguyên: S, I, IX, XII Kháng nguyên XII lại bao gồm 3 yếu tố: XII1, XII2, XII3 tùy từng chủng, song chỉ có yếu tố XII2 là biến đổi nên trong chẩn đoán huyết thanh học cần chú ý đến yếu tố kháng nguyên này (Nguyễn Như Thanh, 2001)[34]
* Sức đề kháng của Salmonella gallinarum pullorum
Trong nước ở nhiệt độ thường vi khuẩn gây bệnh sống hơn 200 ngày, trong phân gà ở nhiệt độ ẩm nhất định có thể tồn tại hơn 100 ngày, trong đất 14 tháng Đun 600
C vi khuẩn chết sau 30 phút, đun sôi chết sau 1 phút
Trang 14Các chất sát trùng tiêu độc tác động nhanh tới vi khuẩn: axit phenic 5% và HgCl2 1/1000 giết chết vi khuẩn sau 30 giây, focmol 1% sau 5 phút, thuốc tím 1‰
và clorua vôi giết chết vi khuẩn sau 20 phút (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)[34]
1.1.2 Triệu chứng
Thời gian nung bệnh phụ thuộc vào độ tuổi và sức đề kháng của con vật khi bị nhiễm bệnh, thường kéo dài từ 2-14 ngày
Triệu chứng, bệnh tích của gà con nở ra từ trứng bị nhiễm Salmonella thể hiện
ngay trong máy ấp nở hay ngay sau khi gà nở ra Thường thì trứng gà mang trùng đến ngày nở gà con không làm vỡ vỏ trứng để chui ra nên bị chết ngạt Số còn lại sau nở thường ốm yếu và phát bệnh ngay sau đó Những gà bị nhiễm trùng sau nở
có triệu chứng muộn hơn, khoảng từ 3-10 ngày
Gà bệnh ốm yếu có trọng lượng nhỏ hơn nhiều so với các con khác Bụng gà trễ xuống do lòng đỏ không tiêu Gà thường kêu xao xác, đứng tụm lại ở góc sân, góc chuồng, mệt mỏi, xù lông, xã cánh Nền có những bãi phân trắng, hậu môn gà bết đầy phân, gà nọ mổ vào hậu môn gà kia có thể làm chảy máu Phần lớn gà bệnh chết sau 2-3 ngày và có thể kéo dài 1-2 tuần Tỷ lệ chết cao ở giữa tuần thứ nhất đến tuần thứ 3 Sang tuần thứ 4 bệnh dừng lại
Gà đẻ bị bệnh thường ở thể mãn tính, gà bệnh ủ rũ, gầy yếu, xù lông Bệnh lý
ở buồng trứng dẫn đến viêm phúc mạc làm xoang này tích nước trương to, do vậy
gà đứng như chim cánh cụt Gà mái giảm đẻ, vỏ trứng xù xì, lòng đỏ có máu Gà trống ỉa chảy triền miên và có thể chết đột ngột do viêm hoại tử các cơ quan phủ tạng
Gà bệnh thường ỉa chảy, phân trắng bết quanh hậu môn và kéo dài liên tục, nhiều ngày,
gà gầy yếu dần, mào tái do thiếu máu và dẫn tới chết sau vài tuần mắc bệnh Tỷ lệ gà
ốm và chết thường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ tuổi lây nhiễm, dinh dưỡng
và quy trình chăm sóc Tỉ lệ chết cao nhất ở giai đoạn 2 tuần sau khi gà nở, sau đó giảm dần vào tuần thứ 3 và tuần thứ 4 (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2012)[14]
1.1.3 Bệnh tích
Bệnh tích ở gà con thấy xuất hiện lòng đỏ không tiêu Thông thường sau nở
8-10 ngày lòng đỏ đã tiêu hết nhưng trong trường hợp này gà chết ở tuần thứ 2-4 mà lòng đỏ vẫn tồn tại, có màu vàng xám, mùi thối
Trang 15Lách sưng to gấp 2-3 lần Ruột tụ máu hoặc xuất huyết Bệnh nặng thì niêm mạc ruột loét, trực tràng hoại tử Ở gà đẻ thường thấy buồng trứng bị thoái hóa, đa phần buồng trứng bị viêm, teo, có nhiều đám nhăn màu vàng đục, nhiều noãn hoàng méo mó dị hình, nhiều vùng viêm tấy, xuất huyết Đa phần trứng vỡ trong ổ bụng gây viêm phúc mạc, ruột dính do fibrin kéo thành màng, bao bọc Tinh hoàn gà trống bị viêm, sưng tấy hoặc có nốt hoại tử, nhiều con khớp gối bị viêm, đi lại khó khăn và không đạp mái được (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1978)[25]
1.2 Đặc điểm của vi khuẩn salmonella
1.2.1 Đặc điểm hình thái
Theo Lê Văn Tạo (1994)[33] thời gian gần đây nhờ kính hiển vi điện tử, bằng phương pháp nhuộm của Haschem (1972) người ta phát hiện trên bề mặt vi khuẩn
Salmonella ngoài lông còn có các cấu trúc fimbriae Đây là một cấu trúc ngắn hơn
lông vi khuẩn, thường có kết cấu hình xoắn, được mọc lên từ một hạt gốc nằm trên thành tế bào, có thể quan sát được dưới kính hiển vi điện tử có độ phóng đại từ 6.500 lần trở lên Trên mỗi tế bào vi khuẩn có từ 2- 400 fimbriae, với hai chức năng
là giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non để gây bệnh và liên kết với nhau để trao đổi thông tin di truyền bằng hình thức tiếp hợp, di truyền ngang Vi
khuẩn Salmonella nào có fimbriae để thực hiện tiếp hợp gọi là Salmonella F+ hay vi
khuẩn cho Vi khuẩn không có fimbriae gọi là Salmonella F- hay vi khuẩn nhận Do fimbriae tạo ra bởi gen di truyền nằm trong ADN plasmid nên khả năng hình thành phụ thuộc vào môi trường nuôi cấy Môi trường tốt nhất để hình thành fimbriae là
môi trường MINCA và BHI Hiện nay có khoảng 2600 type Salmonella được phát
hiện, tuy nhiên không phải tất cả đều gây bệnh cho người
Vi khuẩn Salmonella có hình gậy ngắn, 2 đầu tròn, kích thước 0,4-0,6 x 1-3 ,
không hình thành giáp mô và nha bào Đa số các loài Salmonella đều có khả năng di động mạnh do có từ 7-12 lông xung quanh thân Salmonella gallinarum và
Salmonella pullorum gây bệnh cho gia cầm, không có lông, không có khả năng di
động và thường có kích thước nhỏ hơn các Salmonella khác Lông giúp vi khuẩn di
động, có hình tròn, dài, xuất phát từ màng cytoplasma Do có cấu trúc từ các sợi
Trang 16protein hình xoắn nên có thể co giãn, vì di động nên lông của chúng rất khó nhuộm, nếu nhuộm bằng phương pháp đặc biệt có thể nhận thấy bằng kính hiển vi thông thường Lông có tính kháng nguyên và do các gen mã hóa tổng hợp protein riêng
quy định Các gen mã hóa này dễ bị biến đổi dẫn tới mất khả năng tạo lông S
gallinarum, và S pullorum đều không có lông nên chúng không di động và không
có kháng nguyên lông Vi khuẩn Salmonella dễ nhuộm với thuốc nhuộm, bắt màu
Gram âm đều toàn thân hoặc ở 2 đầu (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)[34]
1.2.2 Đặc điểm nuôi cấy
Salmonella vừa hiếu khí vừa kị khí không bắt buộc, dễ nuôi cấy, nhiệt độ thích
hợp 370C nhưng có thể phát triển được ở nhiệt độ 6 - 420C, pH thích hợp là 7,2- 7,6; phát triển được ở pH 6-9 Tuy nhiên, vi khuẩn có thể mọc ở 420C Đặc tính này
được ứng dụng trong phân lập Salmonella, nhằm ức chế sự phát triển của các vi
khuẩn khác, trong trường hợp bệnh phẩm bị tạp nhiễm (Timoney và cs, 1988)[68]
Trong quá trình nuôi cấy, phân lập vi khuẩn Salmonella, người ta cần phải sử
dụng một số môi trường Có rất nhiều loại môi trường dinh dưỡng chọn lọc được
dùng trong phân lập Salmonella, hiện nay thường dùng các loại như môi trường bồi
dưỡng (tăng sinh) Buffered Pepton Water (BPW), môi trường tăng sinh chọn lọc đặc hiệu là Tetrathionate hay còn gọi là môi trường Muller-Kauffmann và Rappaport vassiliadis (RV) Các loại môi trường thạch dùng để nhận dạng các
khuẩn lạc Salmonella cũng như kiểm tra một số đặc tính sinh hoá bao gồm Brilliant
Green Agar (BGA), Bismuth Sulfite Agar (BSA), Triple Sugar Ion (TSI), Xylose Lysine Deroxycholate (XLD), Xylose Lysine Tetrathionate 4 (XLT4), Modified Semisolid Rappaport vassiliadis (MSRV), Rambach, Kligler
Môi trường Brilliant Green Agar (BGA): Vi khuẩn Salmonella mọc thành các
khuẩn lạc có màu hồng trong suốt đến đỏ thắm, bao bọc xung quanh bởi môi trường màu đỏ nhạt (do tính chất không lên men đường lactose) Nếu có mặt của vi khuẩn
lên men đường lactose trong môi trường, các khuẩn lạc Salmonella đôi khi chuyển sang màu nâu với sự biến đổi màu chút ít của môi trường Các khuẩn lạc của S
gallinarum và S pullorum nhỏ hơn và phát triển chậm hơn so với các khuẩn lạc Salmonella gây bệnh phó thương hàn khác
Trang 17Môi trường Macconkey: nuôi cấy trong tủ ấm 370C sau 18-24 giờ, vi khuẩn có hình thành khuẩn lạc có hình tròn, trong, không màu, nhẵn bóng và hơi lồi ở giữa,
do tính chất không lên men đường lactose
Môi trường Kligler: sau 24 giờ nuôi cấy vi khuẩn sản sinh H2S làm đen môi trường và sinh hơi làm nứt thạch
Các khuẩn lạc Salmonella có H2S dương tính mọc trong môi trường xylose lysine deroxycholate (XLD) và XLD có novobioxin (XLDN) đều có màu đen
Môi trường Endo: Vi khuẩn Salmonella mọc hình thành khuẩn lạc mầu hồng,
tròn trơn nhẵn bóng, trông giống giọt sương trên nền hồng nhạt của môi trường Trong tất cả các môi trường nuôi cấy, khuẩn lạc đều có thể thay đổi theo thời gian, đôi lúc có sự dị thường về hình thái của khuẩn lạc (Snoyeboc G.H, 1991)[65]
1.2.3 Đặc tính sinh hóa
Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008)[38] đặc tính chung của Salmonella là không lên men đường lactose Mỗi loài Salmonella có khả năng lên men một số đường nhất định và không đổi Phần lớn các loài Salmonella lên men có sinh hơi đường glucoza, mannit, mantoza, galactoza, levuloza, arabinoza Một số loài như S
abortus equi, S abortus bovis, S abortus ovis, S typhi, S typhisuis, S cholerae suis, S gallinarum, S enteritidis cũng lên men các đường nhưng không sinh hơi
Riêng S pullorum không lên men mantoza, S cholerae suis không men arabinoza Tất cả các vi khuẩn Salmonella đều không lên men lactoza, saccaroza
Salmonella trong môi trường thạch TSI do sản sinh alkaline nên tạo phần trên
mặt thạch nghiêng phía trên có mầu đỏ, dưới đáy ống nghiệm màu vàng do axit, co nhiều bọt khí, môi trường chuyển màu đen do khí H2S của vi khuẩn sinh ra, màu đen môi trường thường làm át phản ứng tạo axit ở phần đáy ống nghiệm
Do quá trình phân hủy lysine tạo alkaline của Salmonella nên phần trên mặt
thạch nghiêng môi trường phân lập LIM có màu đỏ tía sâu hơn xuống dưới đáy ống nghiệm, môi trường thường biến màu đen nhạt do H2S mà vi khuẩn sinh ra
Các khuẩn lạc Salmonella mọc trên môi trường thạch TSI và LIM được cấy
chuyển sang các môi trường phân lập phụ trợ (Addition indentification media) để
Trang 18xác định các đặc tính sinh hóa, lên men hoặc không lên men các loại đường khác nhau của từng vi khuẩn
Sau khi xác định được các chủng vi khuẩn Salmonella, việc phân lập xác định các chủng vi khuẩn S.gallinarum- pullorum được tiến hành qua thử khả năng di
động và các phản ứng sinh hóa khác nhau
Đa số chủng S pullorum lên men hai loại đường dextrose và mannit tạo axit
và sinh hơi, nhưng đối với các chủng S gallinarum cũng lên men hai loại đường
này nhưng chỉ tạo ra axit và không sinh hơi
Các chủng S pullorum đa phần lên men đường glucose và rharmnose nhưng ngược lại các chủng S.gallinarum hoàn toàn không lên men hai loại đường này
Các chủng S pullorum không lên men đường dulcitol và maltose nhưng ngược lại các chủng S.gallinarum lại lên men hai loại đường này và tạo axit
Đặc tính sinh hóa có ý nghĩa lớn trong quá trình phân lập và giám định vi
khuẩn Vì vậy, khi xét nghiệm mẫu vật xác định sự có mặt của Salmonella cần thiết
phải tiến hành các phản ứng sinh hóa Dựa vào đặc điểm phản ứng sinh hoá để phân
biệt loài, các phụ loài và type của Salmonella
1.2.4 Sức đề kháng
Salmonella tồn tại trong nước thường 1 tuần, trong nước đá có thể sống 2 - 3
tháng, trong xác động vật chết chôn ở bùn, cát vi khuẩn sống từ 2 -3 tháng
Vi khuẩn Salmonella mẫn cảm với nhiệt độ và các chất sát trùng Ở nhiệt độ
500C trong 1 giờ; 700C trong 20 phút; 1000C trong 5phút hoặc ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp trong 5 giờ có thể diệt được vi khuẩn
Các chất diệt trùng thông thường dễ phá huỷ vi khuẩn hoàn toàn: HgCl2 1/500; formol 1/500 diệt vi khuẩn trong 15 - 20 phút
Đặc biệt Salmonella có thể sống trong thịt ướp muối nồng độ 29% được 4 - 8
tháng ở nhiệt độ từ 6 - 120C
Xử lý miếng thịt nhiễm trùng bằng hơ lửa hay nướng ít có tác dụng diệt vi khuẩn ở bên trong (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001)[34]
Trang 191.2.5 Cấu trúc kháng nguyên của Salmonella
Cấu trúc kháng nguyên của Salmonella hết sức phức tạp, gồm rất nhiều loại Theo Phạm Hồng Sơn (2002)[30] Salmonella có hơn 67 loại kháng nguyên O (có
nhiều tài liệu công bố hơn 80 loại), 94 loại kháng nguyên H pha 1, hơn 11 kháng nguyên H pha 2, kháng nguyên K là kháng nguyên Vi
Những năm gần đây, người ta phát hiện thêm kháng nguyên pili của
Salmonella, yếu tố giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào biếu mô Có tới 80% type Salmonella sản sinh kháng nguyên pili, trong đó có S typhimurium Cần phân biệt
kháng nguyên của vi khuẩn Salmonella là:
Kháng nguyên O (O-Antigen): kháng nguyên thân
Kháng nguyên H (H- Antigen): kháng nguyên lông
Kháng nguyên K (K-Antigen): kháng nguyên vỏ
Kháng nguyên F (Fimbriae Antigen): kháng nguyên pili
Trong đó kháng nguyên có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán là kháng nguyên thân (O - Antigen) và kháng nguyên lông (H - Antigen)
Ở gà không có kháng nguyên H do thân nhiệt cơ thể cao
- Nhóm polysacharide nằm bên ngoài quyết định tính kháng nguyên và đặc trưng cho từng chủng vi khuẩn
LPS có cấu tạo phân tử lớn, gồm 3 vùng riêng biệt: vùng ưa nước, vùng lõi và vùng lipid A Kháng nguyên O là loại kháng nguyên chịu nhiệt, có thể chịu được
1000C trong nhiều giờ, chịu được cồn và HCl ở nồng độ 1N trong 20 giờ
Trang 20Oligosacharide sắp xếp kế tiếp nhau, là đơn vị cơ sở của kháng nguyên - O thuộc nhóm vi khuẩn gram âm Thành phần, trật tự sắp xếp các loại đường và mối liên kết giữa chúng sẽ quyết định đặc tính kháng nguyên O, góp phần tạo nên sự đa dạng
của các chủng Salmonella
Khi kháng nguyên O gặp kháng thể tương ứng sẽ xẩy ra phản ứng ngưng kết, gọi là hiện tượng ngưng kết O Thân vi khuẩn ngưng kết với nhau thành những hạt nhỏ, lắc khó tan
* Cấu trúc và đặc tính hóa học của kháng nguyên O
Kháng nguyên O là chuỗi đa đường trên phân tử LPS là một trong ba thành cấu tạo của LPS, chuỗi đa đường gắn vào 2 thành phần khác nữa là phần Lypit A và phần lõi (Core) có tính chất đặc biệt quan trọng trong quá trình bệnh lý
Kháng nguyên O được cấu tạo bởi các đơn vị Oligosaccharide kế tiếp nhau, chúng là đơn vị cơ sở của kháng nguyên thuộc nhóm vi khuẩn gram âm, vì vậy trật
tự sắp xếp các loại đường và cách nối quyết định đặc tính của kháng nguyên O Phần kháng nguyên O được nối với phần lõi có độ dài ngắn khác nhau, chứa các loại đường khác nhau, hoặc có chứa một số loại đường hãn hữu không thấy
trong tự nhiên, góp phần tạo nên sự đa dạng của các chủng Salmonella
Kháng nguyên - O không phải là độc tố nhưng là yếu tố gây bệnh của vi khuẩn, giúp vi khuẩn chống lại khả năng phòng vệ của cơ thể, chống lại hiện tượng thực bào (Moris,1976)[57]
1.2.5.2 Kháng nguyên vỏ
Kháng nguyên K của Salmonella không phức tạp, có một kháng nguyên vỏ đã
biết là kháng nguyên Vi ( từ chữ Virulence nghĩa là độc tính) và cũng chỉ có ở 2
type huyết thanh S typhi, S paratyphi (Nguyễn Như Thanh và cs 2001)[34]
Theo Kauffmann F.M.D (1972) có 3 loại kháng nguyên K là: kháng nguyên
5 (KN 5), kháng nguyên Vi (KN Vi), kháng nguyên M (KN M) Đây là các kháng nguyên vỏ (capsular) được phân thành nhiều nhóm trong họ vi khuẩn đường ruột, được biểu thị bằng các chữ cái A, B, L nhờ các đặc điểm sinh hoá khác nhau (Chữ
K bắt nguồn từ chữ Kapsel trong tiếng Đức)
Trang 21- Kháng nguyên 5: Loại kháng nguyên này không liên quan đến độc lực của vi khuẩn, kém chịu nhiệt hơn hơn kháng nguyên O, dễ bị axit HCl phá hủy và tính chất ngưng kết của kháng nguyên - 5 hoàn toàn bị phá hủy ở nhiệt độ 1200C nhưng không bị phá hủy bởi cồn
- Kháng nguyên Vi có sức đề kháng cao với cồn và axit HCl Kháng nguyên -
Vi không liên quan gì đến độc lực của vi khuẩn, nhưng đóng vai trò chính trong việc tạo miễn dịch chủ động và thụ động ở động vật và người
- Kháng nguyên M là kháng nguyên của dòng vi khuẩn có khuẩn lạc dạng nhầy Kháng nguyên Vi là một loại kháng nguyên có khả năng ngưng kết kháng thể
O khi nó phát triển nhiều
1.2.5.3 Kháng nguyên màng ngoài vỏ bọc (Outer Membrame Protein - OMP)
Lớp màng ngoài của Salmonella chứa protein có đặc tính đã được hydro hóa,
thành phần này chiếm tới 5 % toàn bộ kháng nguyên OMP Theo Smith và Nikaido
(1978) OMP của S typhymurium có 4 loại protein phân chia theo trọng lượng phân
tử, trong đó có 3 loại tạo kênh vận chuyển của màng tế bào Chức năng của kháng nguyên OMP chưa được xác định rõ, nhưng khi OMP thay đổi cấu trúc thì ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của vi khuẩn
OPM là yếu tố đề kháng với men phân giải protein như trypsin làm cho vi khuẩn mất khả năng chống lại huyết thanh và bị hạn chế hoạt động này hay bị phá hủy
1.2.5.4 Kháng nguyên pili - Fimbriae antigen
Kháng nguyên pili của vi khuẩn Salmonella nằm trong cấu trúc fimbriae nên
còn gọi là kháng nguyên F Nó có chức năng giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột Theo Lê Văn Tạo (1994)[33] kháng nguyên fimbriae của
Salmonella thuộc type I (CFA/I) có khả năng ngưng kết hồng cầu gà, chuột lang
Nó được phân biệt với kháng nguyên bám dính không phải type I bằng phản ứng mẫn cảm với Manoza (MSHA) và phản ứng chống Manoza (MRHA) của kháng nguyên Fimbriae không phải type I
Kháng nguyên pili bản chất là protein, thành phần và trật tự các amino axit của mỗi kháng nguyên đều có những điểm khác biệt Đến nay, một số nhóm kháng
Trang 22nguyên pili của Salmonella đã phát hiện gây bệnh tiêu chảy ở người và động vật là
Colonization Factor Antigen (CFA) I và II (Trần Quang Diên, 2002)[5]
1.2.5.5 Kháng nguyên lông (kháng nguyên H)
Kháng nguyên H của Salmonella bản chất là một protein nằm trong phần lông
của vi khuẩn Kháng nguyên H không chịu nhiệt, rất kém bền vững so với kháng nguyê O; bị phá huỷ ở 600C trong 1 giờ, dễ bị phá hủy bởi cồn và axit yếu Kháng nguyên H không có ý nghĩa trong việc tạo ra miễn dịch phòng bệnh, nhưng có ý nghĩa trong việc phân loại, định danh vi khuẩn
Kháng nguyên H không quyết định yếu tố độc lực, không có vai trò bám dính, nhưng có tác dụng bảo vệ vi khuẩn đường ruột tránh sự tiêu diệt của đại thực bào, giúp vi khuẩn sống và nhân lên trong tế bào gan, thận và ngay cả trong đại thực bào (Weinstein, 1984)[71]
Kháng nguyên H chia làm 2 pha Pha 1 có tính chất đặc hiệu, gồm có 28 kháng nguyên lông, được biểu thị bằng chữ la tinh thường: a, b, c, d, f, g nếu hết
cả 28 chữ thì người ta sử dụng chữ f và số đứng bên phải chữ f Ví dụ f5, f27 Pha
2 không có tính chất đặc hiệu, gồm có 6 loại, được biểu thị bằng chữ số Ả rập: 1, 2,
3, 4, 5, 6 Pha 1 và pha 2 được biểu thị bởi H1 và H2 được kiểm tra bởi một phát động H2 (Promoter H2), nhờ sự phát động này mà có thể chuyển ngược lại một mặt thúc đẩy H2 và ức chế H1 hoặc H2 bị ức chế còn H1 lại hoạt động (Kneckner, 1997)[56]
1.2.6 Các yếu tố gây bệnh của Salmonella
Để thực hiện quá trình gây bệnh đối với vật chủ, Salmonella sử dụng các yếu
tố không phải là độc tố như một số kháng nguyên (O, K), khả năng bám dính, xâm nhập, tổng hợp sắt, kháng kháng sinh Các yếu tố là độc tố như độc tố đường ruột (enterotoxin), nội độc tố (endotoxin)
1.2.6.1 Các yếu tố không phải là độc tố
- Kháng nguyên O, K, H
Người ta thấy chất lượng, thành phần hóa học, cấu trúc của kháng nguyên O, đều
ảnh hưởng đến độc lực của vi khuẩn Salmonella Thành phần 9, 12 ở kháng nguyên O
Trang 23của vi khuẩn S enteritidis được thay bằng thành phần 1, 4, 12 sẽ làm cho vi khuẩn không
còn độc nữa, nhưng nếu trả lại thành phần cũ vi khuẩn lại có độc lực
Kháng nguyên O là yếu tố giúp vi khuẩn chống lại khả năng phòng vệ của vật chủ, phát triển trong tế bào tổ chức, chống lại sự thực bào của đại thực bào (Moris
và cs, 1976)[57]
Kháng nguyên H: không có ý nghĩa trong việc tạo ra miễn dịch phòng bệnh, không quyết định yếu tố độc lực nhưng kháng nguyên H có ý nghĩa bảo vệ vi khuẩn không bị tiêu diệt trong quá trình thực bào Chúng giúp vi khuẩn nhân lên trong tế bào gan, thận và cả tế bào đại thực bào (Weinstin DL và cs, 1984)[71]
Kháng nguyên K cũng có ý nghĩa về mặt độc lực vì nó tạo hàng rào bảo vệ giúp vi khuẩn chống lại tác động ngoại cảnh và hiện tượng thực bào (Nguyễn Như Thanh, 2001)[34]
- Yếu tố bám dính:
Theo Lê Văn Tạo (1994)[33] trên mỗi tế bào vi khuẩn Salmonella có từ 2-400
fimbriae, với chức năng là giúp vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non
để gây bệnh
Khả năng bám dính của vi khuẩn là yếu tố gây bệnh quan trọng, là bước đầu tiên củaquá trình gây bệnh của vi khuẩn đường ruột, đó là quá trình liên kết vững chắc giữ bề mặt của vi khuẩn với bề mặt của tế bào vật chủ Quá trình bám dính: Trước hết, vi khuẩn liên kết với từng phần của bề mặt tế bào; tiếp theo là quá trình hấp phụ và cuối cùng là quá trình tương tác giữa yếu tố bám dính của vi khuẩn (đó
là phân tử fimbriae type I) với điểm tiếp nhận trên bề mặt của tế bào (Nguyễn Như Thanh và cs 2001)[34]
Yếu tố bám dính của Salmonella có điện tích ion bề mặt trái dấu với ion bề
mặt nhung mao ruột, thì điểm tiếp xúc có tương tác (hút) xẩy ra và vi khuẩn bám dính lên bề mặt của tế bào Khả năng bám dính là yếu tố quan trọng của vi khuẩn xâm nhập vào tế bào vật chủ Những vi khuẩn có độc lực cao thì sẽ có khả năng bám dính tốt hơn so với các vi khuẩn có độc lực thấp hơn
- Khả năng xâm nhập và nhân lên:
Trang 24Vi khuẩn xâm nhập được vào tế bào biểu mô ruột là bước cần thiết của quy
trình gây bênh Sự xâm nhập của Salmonella vào tế bào biểu mô ruột là một quá
trình tổng hợp gồm nhiều yếu tố tham gia Sau khi tiếp xúc với tế bào vật chủ, vi
khuẩn Salmonella tác động làm tăng hàm lượng Ca++ nội bào, hoạt hóa actin depolimeriring enzymes, làm thay đổi cấu trúc, hình dạng các sợi actin, biến đổi màng tế bào, dẫn đến hình thành giả túc bao vây tế bào vi khuẩn dưới dạng các
không bào chứa vi khuẩn Sau đó Salmonella được xâm nhập vào trong tế bào, tồn
tại, tiếp tục phát triển nhân lên với số lượng lớn và phá vỡ tế bào vật chủ Theo Đỗ Trung Cứ và cs, (2001)[4] các hạch viêm tích nước, biểu hiện viêm hạch có thể là
hệ quả của đáp ứng xâm nhiễm của Salmonella và tồn tại của vi khuẩn bên trong tế
bào vật chủ
+ Khả năng tổng hợp sắt của Salmonella:
Đây là khả năng quan trọng của Salmonella Tuy khả năng này không phải là
độc lực nhưng nó là yếu tố làm suy yếu khả năng chống đỡ của vật chủ do thiếu sắt
và đồng thời giúp vi khuẩn tăng nhanh về số lượng Vi khuẩn Salmonella có phản
ứng với sự thay đổi cơ chế chu chuyển sắt; khi quá trình tổng hợp sắt bị ức chế, chứng sẽ chuyển toàn bộ protein mang, điều phối sắt lên bề mặt của vi khuẩn làm cho khả năng hấp thụ sắt tăng cường một cách tích cực
- Khả năng kháng kháng sinh:
Việc sử dụng thường xuyên các loại thuốc kháng sinh để phòng và trị bệnh, kích thích tăng trưởng cho gia súc, gia cầm, xử lý môi trường đã tạo ra nhiều giống vi khuẩn có khả năng kháng thuốc, giúp vi khuẩn tồn tại rất lâu trong cơ thể người, vật nuôi và môi trường Vi khuẩn đã có sẵn các yếu tố gây bệnh lại cộng thêm khả năng kháng kháng sinh sẽ tăng tính chất gây bệnh của vi khuẩn lên gấp
bội Salmonella là một ví dụ trong các giống vi khuẩn đó Ở những vi khuẩn có sẵn
những yếu tố gây bệnh lại có thêm khả năng kháng kháng sinh sẽ tăng tính chất gây
bệnh của vi khuẩn lên gấp bội Khả năng kháng kháng sinh của Salmonella có thể
thay đổi, phụ thuộc vào địa phương và thời điểm làm kháng sinh đồ, loại vật nuôi
Trang 25Theo Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1998)[17] trong 98 chủng Salmonella
được nghiên cứu về tính kháng thuốc với ampicillin, chloramphenicol, penicillin, chlotetracillin, neomycin, furazolidon, streptomycin và sulphonamide cho thấy
100% số chủng Salmonella đề kháng với penicillin và sulphonamide
Sử dụng kháng sinh trong phòng và trị bệnh đem lại nhiều thành công và có hiệu quả kinh tế nhưng đồng thời đã tạo áp lực chọn lọc đối với vi khuẩn Việc dùng kháng sinh đã tạo ra sự đề kháng với chính kháng sinh đó ở một mức độ nhất định trong quần thể vi khuẩn Vì vậy cần phải có những khuyến cáo, những chỉ dẫn
cụ thể cho người sử dụng thuốc, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và an toàn trong chăn nuôi
1.2.6.2 Các yếu tố là độc tố của vi khuẩn Salmonella
Độc tố đường ruột (enterotoxin)
Độc tố đường ruột của vi khuẩn Salmonella có hai yếu tố chính là yếu tố thẩm
xuất nhanh (Rapit Permeability Factor - RPF) và yếu tố thẩm xuất chậm
Yếu tố thẩm xuất nhanh giúp Salmonella xâm nhập vào tế bào biểu mô, làm
trương tế bào CHO (Chinese Hansten Ovary Cell) Yếu tố thẩm xuất nhanh có cấu
trúc, thành phần giống độc tố chịu nhiệt của E coli được gọi là độc tố chịu nhiệt của Salmonella (Heat Stable Toxin - ST), cấu trúc phân tử gồm những chuỗi
polysaccarit và một số chuỗi poly-peptit phân tử lượng lớn hơn 90.000 dalton, chịu được ở nhiệt độ 1000
C trong 4 giờ, nhưng bị phá huỷ nhanh khi hấp cao áp và bền vững ở nhiệt độ thấp Độc tố này làm tăng tính thấm thành mạch, phá hủy các mạch máu cục bộ (Peteron, 1980)[59]
Nội độc tố (endotoxin)
Nội độc tố nằm ở lớp màng ngoài của tế bào vi khuẩn và được cấu tạo bởi thành phần cơ bản là Lipopolysaccharide (LPS) LPS có cấu tạo phân tử lớn, gồm 3 vùng riêng biệt với các đặc tính và chức năng riêng biệt: Vùng ưa nước, vùng lõi và vùng lipit A
Vùng ưa nước bao gồm một chuỗi Polysaccharide chứa các đơn vị cấu trúc kháng nguyên O Vùng lõi có bản chất là acid heterooligosaccharide, ở trung tâm, nối kháng nguyên O với vùng lipit A Vùng lipit A đảm nhận chức năng nội độc tố của vi khuẩn Cấu trúc nội độc tố gần giống với cấu trúc của kháng nguyên O Cấu trúc nội độc tố
Trang 26biến đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi độc lực của Salmonella Các đột biến gen ở vùng lõi, vùng ưa nước làm cho Salmonella không còn độc lực (Trần Quang Diên, 2002[5])
Lipit A có ái lực với màng tế bào, với lipit khác và với Protein Điều đó chứng
tỏ lipit A chính là trung tâm hoạt động của nội độc tố Vùng đa đường Polysaccharide, chỉ giữ vai trò là vật mang các lipit không hòa tan Nội độc tố là LPS được tiết ra từ vách tế bào vi khuẩn khi bị dung giải Trước khi thể hiện độc tính, LPS cần phải liên kết với các yếu tố liên kết tế bào hoặc các receptor bề mặt các tế bào như: Tế bào lâm bao cầu B, lâm bao cầu T, tế bào đại thực bào, tiểu cầu,
tế bào gan lách
Rất nhiều các cơ quan trong cơ thể vật chủ chịu sự tác động của nội độc tố LPS: Gan, thận, cơ, hệ tim mạch, hệ tiêu hóa và hệ thống miễn dịch với các biểu hiện bệnh lý như: Tắc mạch máu, giảm trương lực cơ, thiếu oxy mô bào, toan huyết, rối loạn tiêu hóa, mất tính thèm ăn
Độc tố tế bào (Cytotoxin)
Theo Trần Quang Diên (2002)[5] đặc tính chung của Cytotoxin là khả năng ức chế tổng hợp protein của tế bào có nhân và làm trương tế bào CHO (Chinese Hamster ovary cell) Đa phần độc tố của chúng bị phá hủy bởi nhiệt độ
Đặc tính quan trọng của cytotoxin là làm tổn thương tế bào biểu mô và có ít nhất là 3 dạng Cytotoxin Dạng độc tố thứ 1: không bền vững với nhiệt độ và mẫn cảm với tripsin Cơ chế chủ yếu là ức chế tổng hợp protein của tế bào HeLa và làm teo tế bào Dạng độc tố thứ 2: có nguồn gốc protein màng ngoài tế bào vi khuẩn, có
cấu trúc và chức năng gần giống với các dạng độc tố do Shigella và các chủng
ETEC sản sinh ra Dạng độc tố thứ 3 là dạng độc tố liên quan với độc tố Hemolysin
1.3 Tình hình nghiên cứu Salmonella ở gà
Chủng Salmonella được phát hiện đầu tiên vào năm bởi D.E Salmon cùng T.Smith, đó chính là Salmonella cholerae suis Năm 1990 Lignieres đặt tên vi khuẩn Salmonella để kỉ niệm cho Salmon chính là người đầu tiên phát hiện ra nó
Theo Sam và cộng sự thì mãi đến năm 1934 bệnh mới chính thức được công nhận
do các công trình nghiên cứu của White và Kauffmanm về cấu trúc kháng nguyên
của Salmonella
Trang 27Theo số liệu công bố của Tổ chức Y tế Thế giới (W.H.O) hiện nay người ta
đã phân lập được 2.324 chủng Salmonella khác nhau Theo Bengtson (1994), thực
tế chỉ có khoảng 4-5% số chủng có khả năng gây bệnh cho người và động là các chủng mang độc lực (pathogen)
Bệnh thương hàn gà (1895) được More đặt tên là Infectious leucemia fouls, còn Lucet gọi tên bệnh là Dysenteria epizootique des poules Đến năm 1902 bệnh
do S gallinarum gây ra được lấy tên chính thức là Fowl typhoid (thương hàn gà), từ
năm 1954 chương trình khống chế và thanh toán bệnh này được đưa vào chương trình của NPIP (National Poultry Improvenment Plan)
Theo Shivaprasad và Richard (1997)[63] bệnh Pullorum (Pullorum disease) do
S.pullorum gây ra ở gà con và gà lớn dưới dạng cấp tính, thường được gọi là bệnh
bạch lỵ (ỉa phân trắng) Bệnh Pullorum lần đầu tiên được mô tả bởi Rettger năm
1899 Bệnh thương hàn gà do S gallinarum gây ra ở gà trưởng thành dưới dạng cấp
tính và mãn tính Bệnh Fowl typhoid do Klein xác định được lần đầu tiên tại nước Anh vào năm 1888
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001)[34] vi khuẩn được Klein phân lập năm
1889 (S gallinarum) và Rettger phân lập năm 1909 (S pullorum) Trước đây người
ta cho rằng đây là hai loại vi khuẩn gây ra hai bệnh khác nhau trên gà Salmonella
pullorum gây bệnh bạch lỵ ở gà con và Salmonella gallinarum gây bệnh thương hàn
ở gà lớn Đến khi Jones cùng Taylor xác định được chính S pullorum cũng gây bệnh ở gà trưởng thành và S gallinarum cũng gây bệnh ở gà con với cùng bệnh tích
giống nhau, thì quan niệm cho rằng bệnh thương hàn gà chỉ gây ra ở gia cầm trưởng thành mới được xóa bỏ
1.3.1 Tình hình nghiên cứu Salmonella trên thế giới
Tên của loài vi khuẩn quen thuộc ngày nay là S cholerae suis, lần đầu xuất hiện
trong báo cáo năm của phòng Chăn nuôi Công nghiệp Mỹ năm 1885 với sự nhìn nhận nhầm lẫn cho là tác nhân gây bệnh dịch tả lợn (Barnes D.M và Sorensen K.D, 1975) D.E Salmon lúc bấy giờ là trưởng phòng nghiên cứu, vì vậy mà tên ông được lấy để đặt tên cho vi khuẩn mới này Song người chính thức phát hiện ra loài
vi khuẩn Salmonella lại là T Smith, một cộng sự của ông
Trang 28Năm 1988 ở Anh, Klein đã chẩn đoán Salmonellosis từ 200 gà đẻ bố mẹ chết
trong số 400 gà ốm Đặc biệt Salmonella không chỉ gây bệnh cho động vật và một
số chủng Salmonella còn gây bệnh cho người Có lẽ vì thế mà từ lâu con người đã
có ý thức rằng nghiên cứu Salmonellosis là hết sức cần thiết Năm 1989 bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính, đã kiểm tra 753 mẫu huyết thanh của gà ở Sudan, kết quả có 6/753 mẫu dương tính (El Hassan và Kheir, 1989)[46]
Chart H và cs (1989)[44] đã sử dụng phản ứng ELISA để phát hiện kháng thể
chống Lypo polysaccaharide của Salmonella pollorum và Salmonella enteritidis trên các đàn gà đẻ Đồng thời sử dụng kháng nguyên chuẩn Salmonella pollorum để
làm phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính trong cùng đàn gà đó Các tác giả kết luận: Tuy kết quả ở phản ứng ELISA là cao hơn nhưng phản ứng này phức tạp, khó sử dụng còn phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính có thể kiểm tra
Salmonella với số lượng lớn máu gà ngay tại cơ sở chăn nuôi Phương pháp này
nhanh, ít tốn kém cho nên có thể sử dụng đại trà
Javed I và cs (1990)[52] đã kiểm tra Salmonella ở 753 mẫu bệnh phẩm (251
mẫu gan, 251 mẫu lách, 251 mẫu ruột) ở gà có biểu hiện bên ngoài thở mạnh lấy từ các cửa hàng tại Pakistan cho biết có 43 (5,7%) mẫu dương tính (25 mẫu ruột, 15
mẫu gan và 3 mẫu lách), trong đó với 31 mẫu là Salmonella gallinarum và 2 mẫu khác là Salmonella có khả năng di động
Những nghiên cứu của Snoeyebos G.H (1991)[65] cho biết, gà con mới nở ra
từ những trứng bị nhiễm bệnh thường yếu ớt, chúng sẽ chết sau 5-10 ngày Evans
và cộng sự kết luận rằng, gà con bị nhiễm bệnh Salmonella sẽ ảnh hưởng tới sự phát
triển của xương đùi và xương cánh Ferguson và cộng sự còn cho biết thêm
Salmonella tác động làm sưng khớp của gà con Doyle và Mathews đã nghiên cứu
những bệnh tích ở gan, phổi, tim, manh tràng và thận của gà mắc bệnh Các nghiên cứu cho biết gan gà con mắc bệnh bị thoái hóa Sunganuma đã nghiên cứu bệnh tích
của 459 trường hợp Salmonellosis trên nhiều loại gà (gà dò, gà mái, gà trống) thấy
tế bào tăng sinh, phổi và ruột viêm cata Shawabkeh.K, (1996)[62] đã công bố tình
hình nhiễm Salmonella của các trại chăn nuôi ở Jordani Tác giả tiến hành phân lập
Trang 29vi khuẩn từ 604 gà chết và 150 gà sống nghi mắc Salmonellosi Kết quả cho thấy
164 mẫu bệnh phẩm từ gà chết và 31 mẫu bệnh phẩm từ gà sống đã phân lập được
Salmonella Trong đó có 94/604 và 22/150 là Salmonella gallinarum pullorum;
48/64 và 4/150 trường hợp là Salmonella enteritidis; 11 trường hợp Salmonella
typhimurium… Tỷ lệ nhiễm Salmonella cao nhất ở gà đẻ (20,5%), gà thịt 18,09%
và gà con là 17,9%
Cũng bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính với kháng nguyên
chuẩn Salmonella pullorum, năm 1990 Mahota và cs đã kiểm tra 406 mẫu huyết
thanh của gà đẻ, kết quả dương tính là 52-67% (ở 3 trung tâm lấy mẫu khác nhau),
các vi khuẩn xác định là Salmonella gallinarum pullorum
Theo Kim C.J và cs (1991)[55] đã dùng phản ứng ELISA để phát hiện kháng
thể chống Salmonella enteritidis ở gà, thấy kết quả của phản ứng ELISA nhanh và
chính xác hơn các phương pháp chẩn đoán khác (ngưng kết nhanh, vi ngưng kết ) Các tác giả Minga U.M.; Semuguruka W.D và Macda Machungu A.D., (1998), đã
kiểm tra Salmonella của các đàn gà ở Morogoro bằng phương pháp ELISA, phản
ứng ngưng kết huyết thanh và nuôi cấy Khi kiểm tra 77 con gà nghi mắc bệnh
thương hàn và 112 gà nghi mắc bệnh phó thương hàn với Salmonella nhóm D, thu
được kết quả 94,8% gà nhiễm thương hàn dương tính khi kiểm tra bằng ELISA, so với 32,5% dương tính bằng phản ứng ngưng kết huyết thanh và 1,3% dương tính bằng phương pháp nuôi cấy Tương tự có 71,4% gà mắc bênh phó thương hàn dương tính khi kiểm tra bằng ELISA
Nicolas và cs (1991[58] đã tiến hành thí nghiệm phát hiện kháng thể IgG trong
máu gà nhiễm Salmonella enteritidis bằng phương pháp ELISA Sử dụng kháng
nguyên Lypo polysaccaharide (LPS) và kháng nguyên chịu nhiệt Heat – Entracted Antigen (HE) nhưng sử dụng HE – ELISA phát hiện được hầu hết các kháng thể gà kiểm tra, còn LPS- ELISA chỉ phát hiện được 60% số gà bệnh
Nghiên cứu, phát hiện Salmonella và bệnh do chúng gây ra, cùng với các bệnh
dịch tả, lao, nhiệt thán, thương hàn thuộc những dịch bệnh đã được bắt đầu nghiên cứu cách đây trên 120 năm trong lĩnh vực vi sinh vật y học Năm 1880 E berth lần đầu tiên quan sát thấy vi khuẩn dưới kính hiển vi Sau đó 4 năm, năm 1884 Gaffky đã
Trang 30nuôi cấy thành công vi khuẩn Loài vi khuẩn S typhi lúc đầu được gọi với các tên như Bacillus typhous, Bacterium typhi và Eberthella typhy typhosa Còn tên giống
Salmonella được Lignires sử dụng đặt cho trực khuẩn gây bệnh dịch tả “ cholera bacillus” vào năm 1900 (Selbitz và cs, 1995)[51]
Hog-Simko S (1995)[64] đã phân lập được 1370 chủng Salmonella ở các trại có mầm bệnh Trong đó Salmonella gallinarum pullorum chiếm 30,75%, Salmonella
typhimurium chiếm 21,65%, Salmonella agona chiếm 9,18%, Salmonella infantis
chiếm 8,24%, Salmonella enteritidis chiếm 7,8%
Tuchili LM và cs (1996)[70] đã sử dụng phương pháp PCR với một cặp
primer đặc hiệu của Salmonella để phát hiện AND của Salmonella trong phôi gà
Kết quả kiểm tra 45 mẫu phôi gà ngạt đã phát hiện 20 mẫu dương tính (44,4%), với phương pháp phân lập vi khuẩn chỉ phát hiện được 11/45 mẫu dương tính (24,4%)
* Nghiên cứu về phòng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra
Barrow (1990)[42] đã phát hiện ra loại vaccine Nobilis SG 9R khi sử dụng
phòng bệnh thương hàn gà còn có tác dụng bảo vệ chéo đối với cả S enteritidis
Bailey J.S và cs (1996)[41] đã tiến hành thử nghiệm đánh giá hiệu quả của việc cải thiện điều kiện vệ sinh không khí máy ấp bằng tia cực tím (UV) hoặc
Hydroperocide trong 3 ngày ấp Sau khi xử lý tổng số khuẩn lạc Salmonella kiểm
tra các mẫu không khí của tủ ấm giảm từ 75-95% Tỷ lệ ấp nở không có dấu hiệu giảm khi xử lý bằng các phương pháp trên Hydroperocide còn làm giảm
Salmonella nhiễm ở trứng
Kháng nguyên Salmonella gallinarum pullorum được sử dụng để chẩn đoán
phát hiện những cá thể gà bị nhiễm bệnh và có thể loại thải tất cả những gà nhiễm
Salmonella gallinarum pullorum ra khỏi đàn nhằm khống chế tỷ lệ nhiễm cũng như
phòng tránh được sự lây lan mầm bệnh và ô nhiễm môi trường chăn nuôi gà công nghiệp theo chương trình của NPIP (Natiol Poultry Improvement Plan) từ năm 1954 (Shivaprasad, 1997)[63]
* Nghiên cứu về kháng sinh điều trị bệnh do Salmonella gây ra
Sulfonamide là nhóm kháng sinh đầu tiên có hiệu quả phòng ngừa
Salmonellosis ở gà được chấp nhận Sau đó, trong quá trình điều trị người ta ghép
nhiều kháng sinh với nhau và thấy có hiệu quả hơn Tuy nhiên sulfonamide thường
Trang 31làm giảm tăng trọng, giảm hấp thu thức ăn và đặc biệt là ảnh hưởng đến sản lượng trứng nên cách điều trị bằng sulfonamide chỉ dùng trong thời gian ngắn
Nhóm hóa dược nitrofurans được Smith kiểm tra, trong điều trị Salmonellosis
với liều 0,04% Furazolidone trong thức ăn dùng 10-14 ngày có hiệu quả rất cao Cũng theo Smith thì trong điều kiện thí nghiệm, furazolidone có hiệu quả cao hơn chloramphenicol và sulfamerazine trong điều trị Salmonellosis
Dùng furazolidone với liều 0,04% trong thức ăn liên tục 7 ngày đã làm
giảm tỷ lệ chết của gà mắc Salmonellosis (Gordon và Tucker cùng Wilson)
Dùng furazolidone 0,01% trong thức ăn trong 5 tuần, bắt đầu từ thời gian gây nhiễm Trong thời gian dùng thuốc không có trường hợp bệnh nào phát ra trên đàn gà thí nghiệm
Dùng Chlotetracycine 200mg/kgP đã ngăn chặn được gà chết trong thí nghiệm
gây nhiễm Salmonella qua đường miệng cho gà 1 ngày tuổi (Graugruber.W và
Kissling.R) Kháng sinh Colistin được kết luận là có tác dụng tốt với gà bệnh và có khả năng tăng sức sống của gà nhiễm Salmonellosis.
Hiện nay một số kháng sinh dùng điều trị Salmonellosis như ampicillin,
chloromycetin, chlophenicol, neomycin…cấm sử dụng ở Mỹ và Châu Âu
Vaccine phòng bệnh Salmonellosis ở gà đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu Đầu tiên là vaccine keo phèn formol được chế từ chủng Salmonella
được làm giảm hoạt tính bằng formol bởi các nhf khoa học thuộc Liên Xô (cũ) Bouzuban và cộng sự (1989)[43] đã nghiên cứu sử dụng protein từ chủng
Salmonella gallinarum MS 61 và vaccine sống Salmonella gallinarum 9R để phòng
Salmonellosis Kết quả cho thấy sử dụng protein từ một chủng Salmonella
gallinarum MS 61 trong tự nhiên có hiệu quả chống bệnh tốt hơn so với vaccine
sống Salmonella gallinarum R
1.3.2 Tình hình nghiên cứu Salmonella trong nước
Vi khuẩn Salmonella sống hoại sinh trong đường tiêu hoá, khi sức đề kháng của con vật giảm sút thì chúng sẽ xâm nhập và gây bệnh Vì vậy, Salmonella và bệnh do Salmonella gây nên đã được nghiên cứu trên nhiều loài vật nuôi Ngay từ
Trang 32những năm 1951 - 1953, viện Pasteur Sài Gòn đã phân lập được 6 type Salmonella
ở người và 35 type Salmonella ở lợn tại lò sát sinh Năm 1963, Viện vệ sinh dịch tễ
Hà Nội kiểm tra và phát hiện 6,3% mẫu phân của công nhân giết mổ và 22% mẫu
thịt lợn nhiễm Salmonella, với phần lớn là các type thuộc nhóm E
Phạm Quân, Nguyễn Thị Nội (1978)[29] đã dùng kháng nguyên Salmonella
gallinarum pullorum tự chế để chế để chẩn đoán Salmonellosis ở các trại gà An
Khánh, Đông Anh, Thành Tô Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng của đàn gà là 15% trong đó gà Leghorn ở An Khánh nhiễm 25%, gà Sasso ở Đông Anh nhiễm 13,3%,
gà Ross ở Đông Anh nhiễm 13,6%, gà Cocnic và Plymouth ở Thành Tô nhiễm 0,16% Theo các tác giả thì gà đẻ có tỷ lệ nhiễm cao nhất (41,5%), gà hậu bị có tỷ lệ nhiễm 15%
Theo Trương Quang (1998)[27] đã tiến hành nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm
Salmonella ở đàn gà Hybro là 9,6%, đàn gà ISA là 8,8% Tác giả cũng kết luận
Salmonellosis đã gây ảnh hưởng xấu đến đáp ứng miễn dịch chống Newcastle của
gà Gà nhiễm Salmonellosis khi sử dụng vaccine Newcastle phòng bệnh đều cho
hiệu giá HI thấp 82-98, tỷ lệ bảo hộ đạt 83-94%
Trần Thị Lan Hương (1993)[19] dùng phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến
kính kết hợp với mổ khám để xác định tỷ lệ nhiễm Salmonellosis ở xí nghiệp gà
Nhân Lễ và trại gà tổng cục Hậu Cần của 2 giống gà Hybro và Plymouth Kết quả cho thấy gà Hybro 30-35 ngày tuổi nhiễm 28,1%, gà Plymouth 30 ngày tuổi nhiễm 22,5% Tác giả đã dùng Fuailidone liều 0,05% trộn thức ăn liệu trình 6 ngày, tỷ lệ khỏi là 80%
Dương Thị Yên (1997)[40] nghiên cứu tình hình nhiễm Salmonella ở 4 giống
gà AA, Lohmann, ISA, Goidine, nuôi tại xí nghiệp gà Tam Dương cho biết gà AA
có tỷ lệ nhiễm cao nhất 8,29%, sau đó gà ISA nhiễm 7,2%, gà Lohmann nhiễm 4,26% và Goidine nhiễm 3,19% Tác giả cho biết tỷ lệ nhiễm phụ thuộc vào mùa
vụ, trong đó vụ Hè – Thu (tháng 5-tháng 10) tỷ lệ nhiễm 8,79% cao hơn so với vụ Đông –Xuân (tháng 11-tháng 4 năm sau), tỷ lệ nhiễm là 4,68%
Trang 33Trần Thị Hạnh và cs (1997)[8] đã sử dụng một số kháng sinh để hạn chế
Salmonella ở gà công nghiệp Thí nghiệm được bố trí trên 3 lô Lô 1 sử dụng
Neomycin với liều 120mg/kgP, bổ xung vào nước uống liên tục trong 5 ngày, sau
đó cứ 2 tuần nhắc lại một lần Lô 2 sử dụng colistin với liều 400ppm trộn thức ăn, dùng 5 ngày liên tục, sau 5 ngày nhắc lại 1 lần Lô 3 đối chứng sử dụng anflox chỉ dùng khi cần thiết (khi thấy gà có dấu hiệu ỉa chảy) với liều 12mg/kgP Kết quả cho
thấy tỷ lệ nhiễm Salmonella giảm đánh kể sau khi điều trị: Lô 1 giảm từ 25,63%
xuống còn 6%, lô 2 giảm 11,63% Tiến hành nuôi cấy bệnh phẩm là cơ quan phủ tạng của phôi thai không nở được sau 21 ngày ấp, gà con chết ở lúc 1 ngày tuổi ở lô
1 và lô 2 đều không tìm thấy Salmonella Từ đó chứng tỏ rằng 2 loại kháng sinh dùng cho lô 1 và lô 2 đã hạn chế Salmonella lây qua trứng Việc sử dụng kháng sinh
trên không làm giảm tỷ lệ đẻ và tỷ lệ ấp nở trứng
Trần Thị Hạnh và cs (1999)[9] đã nghiên cứu tình hình ô nhiễm Salmonella
trong môi trường chăn nuôi gà công nghiệp và trong các sản phẩm chăn nuôi ở các
cơ sở nuôi miền Bắc Theo tác giả cho biết tỷ lệ nhiễm Salmonella bình quân là
26%, trong nước uống là 31,08%, trong nước thải là 79,59%, trong chất độn chuồng
là 80%, trong lòng đỏ trứng gà tươi là 28,29% và trong bệnh phẩm là 30,91% Các
loài Salmonella phân lập được là Salmonella enteritidis nhiều nhất Sau đó là
Salmonella typhimurium, Salmonella paratyphy A, Salmonella gallinarum pullorum
và Salmonella choleraesuis
Theo Nguyễn Thị Tuyết Lê (1999)[21] bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên
phiến kính tác giả đã xác định được tỷ lệ nhiễm Salmonella ở gà Tam Hoàng là
9,27%, gà ISA là 11,6% Tác giả cho biết thêm về ảnh hưởng của Salmonellosis đến tỷ lệ đẻ của gà Tam Hoàng, cũng như sự phát triển của phôi gà
Theo Trần Quang Diên (2002)[5] đã xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella ở một số
đàn gà giống của các khu vực khác nhau: kết quả cho thấy ở Hà Nội giống gà AA nhiễm 12,62%, giống Avian nhiễm 13,69%, giống ISA ở Hà Tây nhiễm 7,4%, ở Hải Dương nhiễm 5,33%, ở Hòa Bình nhiễm 1,19% Tác giả cũng thông báo tỷ lệ
nhiễm Salmonella theo các lứa tuổi và mùa vụ khác nhau
Trang 34Ngành chăn nuôi ở Việt Nam không ngừng phát triển, hệ thống cung cấp con
giống phức tạp, quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ Việc nghiên cứu tiếp theo về Salmonella
càng cần thiết, góp phần làm cho người chăn nuôi có những nhận thức về thiệt hại
do Salmonella gây ra, giúp họ thực hiện những biện pháp hữu hiệu phòng bệnh làm
sạch môi trường chăn nuôi và nâng cao năng suất chăn nuôi
1.4 Đặc điểm của probiotic và chế phẩm biovet
1.4.1 Chế phẩm probiotic
Theo định nghĩa của FAO và WHO (2002) chế phẩm probiotic là các vi khuẩn (kể cả nấm men) sống, khi đưa vào cơ thể với một lượng thích hợp sẽ có tác dụng
có lợi đối với cơ thể vật chủ
Từ “probiotic” được bắt nguồn từ Hy Lạp, có nghĩa là “dành cho cuộc sống” Probiotics là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men mà có thể thêm vào thực phẩm với mục đích điều chỉnh quần thể sinh vật đường ruột của sinh vật chủ
Probiotic cũng được nhận thấy là có những ảnh hưởng có lợi trên sức khỏe của sinh vật chủ (Fuller, 1989)[50] Năm 1992 Havenaar đã mở rộng định nghĩa về probiotic: probiotic được định nghĩa như là sự nuôi cấy riêng lẻ hay hỗn hợp các vi sinh vật sống mà có ảnh hưởng có lợi cho sinh vật chủ bằng cách cải thiện những đặc tính của vi sinh vật bản địa Theo tổ chức y tế thế giới FAO/WHO: “Probiotics
là các vi sinh vật sống khi được đưa một lượng cần thiết vào cơ thể sẽ đem lại hiệu quả có lợi cho cơ thể vật chủ”
Theo Fuller (1982)[49] các loài vi khuẩn dùng làm probiotic cần phải đáp ứng các yêu cầu là vi khuẩn phải được chế tạo theo cách còn sống với một quy mô lớn, bảo tồn đặc tính sống và ổn định trong quá trình sử dụng và bảo quản, có khả năng sống sót trong đường tiêu hóa, cơ thể vật chủ phải thu được các lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp từ các probiotic (cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột) và hoàn toàn an toàn cho vật chủ
Theo Fuller (1989)[50] các chế phẩm probiotic thường dùng trong chăn nuôi gồm 3 nhóm chính Nhóm vi khuẩn sinh acid lactic, nhóm có nha bào của họ
Bacillus và nấm men
Trang 35Probiotic được chế tạo theo rất nhiều cách như ở dạng thức ăn viên, thức ăn lên men, dạng viên nang, dạng nhão, dạng bột hoặc dạng các viên nhỏ Gần đây các nhà khoa học đã chứng minh được các các vi khuẩn đã bất hoạt cũng có
Những nghiên cứu trên gia cầm tại tại các trường đại học của Maryland và phía Bắc bang Carolina, sử dụng một sản phẩm có tên là Primalac cho thấy là probiotic định cư ở ruột với những vi khuẩn có lợi và loại trừ bệnh gây ra bởi các
sinh vật như E.coli, Salmonella và Clostridium ở những vị trí lông nhung của ruột
non, nơi mà vi khuẩn có hại sẽ phá hủy lông nhung
Probiotic gia tăng sự kháng bệnh bằng cách tăng độ cao của lông nhung và tăng độ sâu của các khe nằm giữa lông nhung, theo cách đó sẽ gia tăng được diện tích bề mặt hấp thu chất dinh dưỡng Vì vậy sẽ gia tăng hiệu quả hấp thụ thức ăn Những nhà khoa học từ viện nghiên cứu thực phẩm ở Norwich, nước Anh báo cáo
là những probiotic đặc biệt có thể tiêu diệt mầm bệnh vi khuẩn sống ở ruột gia cầm,
do đó giúp loại bỏ mối đe dọa sự ngộ độc thực phẩm vi khuẩn từ chuỗi thức ăn
Trang 36Chỉ định: bổ sung chế phẩm Biovet cho gia cầm để kích thích tiêu hóa, hấp thu tốt thức ăn, tăng trưởng nhanh, tăng sức đề kháng, phòng ngừa tiêu chảy, giảm mùi hôi của phân Tăng cường sức đề kháng của cơ thể, có hiệu quả trong phòng ngừa bệnh hô hấp ở gà, vịt, ngan Liều dùng: gia cầm 100g/100kg thức ăn trộn đều vào thức ăn, cho vật nuôi ăn liên tục
* Vai trò của vi khuẩn Bacillus sublitis
Bacillus subtilis, còn được gọi là trực khuẩn cỏ khô hoặc trực khuẩn cỏ, là một
loại vi khuẩn Gram dương, catalase dương tính Thuộc chi Bacillus, Bacillus
subtilis là trực khuẩn hình que, có khả năng tạo bào tử, có khả năng chịu đựng các
điều kiện môi trường khắc nghiệt
Hầu hết những loài B subtilis không độc hại đối với động vật, khả năng sản sinh kháng sinh và enzym Enzyme do vi khuẩn B subtilis tiết ra phân hủy rất có
hiệu quả các chất như carbonhydrate, chất béo và đạm thành những đơn vị nhỏ hơn
Giống B subtilis có thể sinh trưởng tốt với nguồn carbon và nitơ thấp
Bacillus có thể tạo ra một số chất kháng khuẩn hoặc một vài sản phẩm có thể
khống chế Vibrio harveyi B subtilis cũng được tìm thấy có khả năng tiết ra một số
hợp chất diệt khuẩn và diệt nấm Sản phẩm các kháng sinh được tiết ra là difficidin, oxydifficidin, bacitracin, bacillin, bacilomycin B có khả năng kháng các loài vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí (Phạm Thị Tuyết Ngân, 2005)[22]
B subtilis có thể phân chia đối xứng để tạo thành hai tế bào con (nhị phân
phân hạch), hoặc không đối xứng, tạo bào tử trong điều kiện môi trường bất lợi như,
pH và dung môi, môi trường nghèo dinh dưỡng Trong môi trường sống khắc nghiệt, trước giai đoạn hình thành bào tử, các tế bào vi khuẩn có thể tự tạo ra các chất đề kháng (kháng sinh), hoặc giết chết đồng loại để tìm kiếm dinh dưỡng
Tính ổn định cao của B subtilis trong điều kiện môi trường khắc nghiệt làm
cho vi sinh vật trở thành một trong những ứng cử viên hoàn hảo giúp cho gia cầm tiêu hóa thức ăn tốt và tăng sức đề kháng hiệu quả Cụ thể:
- B subtilis có khả năng sản sinh nhiều enzyme, nhưng quan trọng nhất là
amylase và protease, 2 loại enzyme thuộc hệ thống men tiêu hóa
Trang 37- B subtilis có khả năng sinh tổng hợp một số chất kháng sinh có tác dụng ức
chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác, tác dụng lên cả vi khuẩn Gram (-), Gram (+) và nấm gây bệnh
- B subtilis thường tồn tại trong sản phẩm ở trạng thái bào tử, nhờ vậy khi
uống vào dạ dày, nó không bị acid cũng như các men tiêu hóa ở dịch vị phá hủy Ở ruột, bào tử nẩy mầm và phát triển thành thể hoạt động giúp cân bằng hệ vi sinh có ích trong đường ruột, cải thiện hệ thống tiêu hóa, nhất là sau khi sử dụng kháng sinh kéo dài
* Vai trò của vi khuẩn Lactobacilus
Những vi khuẩn họ Lactobacillus thường được dùng làm thức ăn bổ sung cho
gia cầm dưới dạng cho ăn trực tiếp vi khuẩn hoặc dưới dạng thức ăn trong men tiêu hóa như sản phẩm men sống Biovet Vì nhiều lý do như nhằm giảm lượng kháng
sinh thông thường đưa vào cơ thể gà, mà bổ sung vi khuẩn thuộc họ Lactobacillus
vào qua thức ăn thì vi khuẩn này lại có khả năng làm tăng khả năng miễn dịch của
cơ thể gà, tăng hấp thu chất dinh dưỡng, ổn định men tiêu hóa ở đường ruột
Khi bổ sung vi khuẩn hữu ích này thì có lợi cho đường ruột, giúp ổn định lượng men và lượng vi khuẩn có lợi trong đường ruột Giúp ổn định việc tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất của thức ăn đưa vào cơ thể Chủng vi khuẩn này còn có tác dụng tăng sức đề kháng, miễn dịch của cơ thể
Trong quá trình tìm hiểu tại sao Lactobacillus có khả năng tăng cường miễn
dịch, các nhà khoa học đã khám phá ra rằng phần vách tế bào sau khi bị phân giải
có hiệu quả điều hòa và kích thích hệ miễn dịch nhiều hơn bội lần do với vi khuẩn
sống Lactobacillus đặc biệt liên quan đến sự phòng ngừa hay giảm bớt những rối
loạn đường ruột như tính không dung nạp được đường lactose, bệnh tiêu chảy do virus hay vi khuẩn gây ra, táo bón, viêm đường ruột, dị ứng thức ăn
Khi cho gà broiler ăn có chứa thành phần Lactobacillus, tăng trọng đến 35
ngày tăng lên, nhưng không có sai khác giữa các lô về mức thức ăn ăn được Trong
những lô ăn Lactobacillus, khả năng tiêu hoá Ca và P tăng lên, độ nhão của phân
cũng như sự phát tán khí ammoniac trong phân giảm rõ rệt (Nguyễn Hoài Tao, 2001)[31]
Trang 38* Vai trò của vi khuẩn Sac cerevisiae
Theo E Santin, A Maiorka và M Macari (1999)[47] sử dụng kháng sinh như một chất phụ gia trong khẩu phần ăn của gia cầm để cải thiện tăng trưởng và còn liên quan đến sự đề kháng của vi khuẩn trong đường ruột Nghiên cứu này được
thực hiện để kiểm tra tính hiệu quả của một chất mới (vách tế bào nấm men
Saccharomyces cerevisiae, var Calsberg- SCCW) thu được từ ngành sản xuất bia
Thêm vào (ở mức 0,2%) chế độ ăn gà broiler (dựa trên ngô và khô đậu tương ) Kết quả cho thấy niêm mạc ruột phát triển hơn, trọng lượng cơ thể tăng cao hơn so với
gà không cho ăn Trong một thí nghiệm khác bằng cách sử dụng 44000 gà thịt được thức ăn có chứa SCCW 0,2%, kết quả cũng cho thấy tăng cao hơn trọng lượng cơ thể và chuyển hóa thức ăn tốt hơn so với gà thịt khác không được bổ sung SCCW Những phát hiện này cho thấy rằng SCCW cải thiện trọng lượng cơ thể đạt được trong gà thịt và rằng hiệu ứng này có thể là do tác dụng dinh dưỡng của sản phẩm này trên niêm mạc ruột, bởi vì nó làm tăng chiều cao của nhung mao niêm mạc ruột, đặc biệt là trong thời gian 7 ngày đầu tiên của một con gà sau khi nở
* Vai trò của axit amin
Theo Nguyễn Duy Hoan (1999)[18] lysine là một trong 10 axit amin không thay thế quan trọng nhất Nó có tác dụng làm tăng tốc độ sinh trưởng, tăng sức sản xuất trứng, cần thiết cho tổng hợp nucleproteit hồng cầu, tạo sắc tố melanin của lông, da Nếu thiếu nó sẽ đình trệ sự phát triển, làm giảm năng xuất trứng, thịt của gia cầm
Về mặt chăn nuôi, trong chăn nuôi gia cầm, gia súc, lysine dùng làm chất phụ gia đã làm cho vật nuôi trưởng thành nhanh chóng, mang hiệu quả kinh tế cao Người chăn nuôi luôn muốn có được protein thực vật giá trị thấp Vì vậy, thức ăn chăn nuôi phải tận dụng protein thực vật làm nguyên liệu, giảm sử dụng các loại bột
cá, bột xương Hiện nay chăn nuôi gia súc trên thế giới tăng mạnh, dẫn đến bột cá, bột xương khan hiếm và ngày càng trầm trọng Ðể giải quyết sự khan hiếm đó, một trong những giải pháp là bổ sung Lysine qua các chế phẩm Lysine giữ vai trò sống còn trong tổng hợp protein, là chìa khóa trong sản xuất enzime, hormon và các kháng thể giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng, chống bệnh tật
Trang 39* Vai trò của Vitamin B1
Theo Nguyễn Duy Hoan (1999)[18] vitamin B1 có vai trò trong trao đổi Gluxit, tăng tính thèm ăn, tăng men tiêu hóa thức ăn, tăng hấp thu đường ở ruột, duy trì hoạt động bình thường của hệ thần kinh chính là Axetylcholin- chất dẫn truyền thần kinh Ngoài ra co vai trò trong tổng hợp các chất glucoaldehyde Sucxiricaldehyde Nếu thiếu Vitamin B1 trong quá trình nuôi thì sẽ làm tăng nguy
cơ bị liệt thần kinh ở gà con 2 tuần tuổi, gà ngồi bệt đít, đầu ngửa kém ăn do mất tính thèm ăn, rối loạn tiêu hóa, yếu cơ đi lại không bình thường, rối loạn hệ thần kinh cơ tim, hô hấp, sinh bệnh gà cắn mổ nhau, gà thịt tăng trọng kém, lông xù, ở
gà đẻ: sức đẻ giảm nếu thiếu kéo dài sinh bệnh nghẹo cổ, cong xương
Trang 40Chương 2 NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Điều tra tình hình dịch tễ gà mắc bệnh thương hàn
- Tỷ lệ gà mắc thương hàn ở một số xã của huyện Yên Lạc
- Tỷ lệ gà mắc thương hàn và chết ở các lứa tuổi
- Tỷ lệ mắc thương hàn theo mùa vụ trong năm
- Tỷ lệ mắc thương hàn theo phương thức chăn nuôi
2.1.2 Phân lập và xác định một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn Salmonella spp từ gà mắc bệnh thương hàn
- Phân lập vi khuẩn Salmonella từ các mẫu bệnh phẩm
- Xác định đặc tính sinh hóa của các chủng Salmonella phân lập được
- Xác định serotype của các chủng Salmonella phân lập được
2.1.3 Xác định độc lực các chủng Salmonella phân lập được
- Xác định các yếu tố gây bệnh của chủng Salmonella gallinarum pullorum
- Xác định độc lực các chủng Salmonella gallinarum pullorum
2.1.4 Đánh giá tác dụng của chế phẩm Biovet
- Đánh giá tác dụng của chế phẩm Biovet đến khả năng sinh trưởng
- Đánh giá tác dụng của chế phẩm Biovet đến tỷ lệ nuôi sống và phòng bệnh thương hàn ở gà
- Đánh giá tác dụng của chế phẩm Biovet đến số lượng vi khuẩn Salmonella
2.1.5 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị
- Xác định khả năng kháng kháng sinh của các chủng Salmonella gallinarum
pullorum phân lập được
- Thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh thương hàn ở gà đạt hiệu quả cao
2.2 Nguyên vật liệu dùng trong nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Gà lai F1 (Mía x Lương phượng) bình thường và tiêu chảy
- Vi khuẩn Salmonella spp gây bệnh ở gà
- Chế phẩm sinh học Biovet
2.2.2 Nguyên liệu, dụng cụ và trang thiết bị
2.2.2.1 Mẫu bệnh phẩm
- Phân gà mắc bệnh thương hàn và bình thường
- Lách, gan, manh tràng của gà mắc bệnh thương hàn