1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

47 Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng

115 551 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Đà Nẵng
Thể loại Luận văn
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 688,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

47 Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng

Trang 1

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Chương I: Những cơ sở lý luận về môi trường đầu tư 1

1.1 Những vấn đề về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1 1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1 1.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 1 1.1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nền kinh tế hiện nay 3

Trang 2

1.2.2 Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư 7 1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu môi trường đầu tư 15 1.4 Các bài học kinh nghiệm về hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm

1.4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra trong việc hoàn thiện môi trường đầu tư

Chương 2: Phân tích thực trạng môi trường đầu tư trong hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2001 đến nay 22

2.1 Một số nét khái quát về Thành phố Đà Nẵng 22

2.2 Tình hình thu hút vốn FDI vào thành phố Đà Nẵng từ năm 2001 – 2005 24

2.2.3 Tình hình thu hút vốn FDI theo hình thức đầu tư 27 2.2.4 Tình hình thu hút vốn FDI theo lĩnh vực đầu tư 28 2.2.5 Kết quả hoạt động thu hút FDI tại TP Đà Nẵng từ năm 2001-2005 29 2.3 Phân tích thực trạng môi trường đầu tư trong việc thu hút vốn FDI

của thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua (2001-nay) 32

Trang 3

2.3.6 Môi trường lao động 52

Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh

hoạt động thu hút vốn FDI của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2006-2010 57

3.5 Các nhóm giải pháp hoàn thiện môi trường đầu tư để thu hút vốn FDI

3.5.1 Nhóm giải pháp về hoàn thiện cơ chế quản lý – thủ tục hành chính 64 3.5.2 Nhóm giải pháp về hoàn thiện môi trường cơ sở hạ tầng 69 3.5.3 Nhóm giải pháp về hoàn thiện môi trường lao động 73

Phụ lục xxi

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

- FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài

- CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

- DN : Doanh nghiệp

- GDP : Tổng sản phẩm quốc nội

- IMF : Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund)

- KCN : Khu công nghiệp

- KCX : Khu chế xuất

- TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

- TP : Thành phố

- UBND : Ủy ban nhân dân

- WB : Ngân hàng Thế giới (World Bank)

Trang 5

- Bảng 1.1: Tình hình thu hút vốn FDI vào Bình Dương 16

- Bảng 2.1: Tình hình thu hút vốn FDI vào TP Đà Nẵng từ năm 2001-2005 25

- Bảng 2.2: Nguồn vốn FDI đầu tư vào tỉnh Bình Dương và TP Đà Nẵng 25

- Bảng 2.3: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo quốc gia/ vùng lãnh thổ 26

- Bảng 2.4: Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Đà Nẵng giai đoạn

- Bảng 2.5: Tốc độ tăng GDP của các thành phần kinh tế TP Đà Nẵng 30

- Bảng 2.6: Kim ngạch xuất khẩu của các thành phần kinh tế TP Đà Nẵng 31

- Bảng 2.7: Lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn FDI 32

- Bảng 2.8: Số lượng các doanh nghiệp trong các KCN tại Đà Nẵng 42

- Bảng 2.9: Các KCN, KCX tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương 42

- Bảng 2.10: Giá trị sản xuất công nghiệp của Thành phố Đà Nẵng 46

- Bảng 2.11: Giá cước thuê tàu tại thị trường Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh 47

- Bảng 2.12: Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch của Đà Nẵng 48

- Bảng 2.13: Trình độ lực lượng lao động của TP Đà Nẵng 52

DANH MỤC HÌNH VẼ

- Hình 1.1: Các điều kiện về môi trường đầu tư của Trung Quốc 7

Trang 6

DANH MỤC CÁC HỘP TIÊU ĐIỂM

Trang

- Hộp 2: Quyết định đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài 37

- Hộp 3: Quyết tâm xây dựng cầu Sông Hàn của thành phố Đà Nẵng 39

- Hộp 4: 10 năm xây dựng đô thị Đà Nẵng – "được" gì, "mất" gì? 43

- Hộp 5: Sự yếu kém của các doanh nghiệp hoạt động tại Đà Nẵng 45

- Hộp 6: Báo động ô nhiễm môi trường tại thành phố Đà Nẵng 46

Trang 7

Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH-HĐH), vốn đầu tư luôn được xem là vấn đề nan giải đối với các nước đang phát triển Làm thế nào huy động được nguồn vốn (cả nguồn vốn bên trong lẫn nguồn vốn bên ngoài) để đáp ứng được yêu cầu của công cuộc CNH-HĐH luôn là thách thức đối với các nước trên con đường thoát ra khỏi đói nghèo Vì lẽ đó, cuộc cạnh tranh giữa các nước cũng như các địa phương trong một quốc gia nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết

Kể từ năm 1997, sau khi được tách ra từ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, Đà Nẵng đã trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, được xác định là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và Tây Nguyên; và đã được Chính phủ chính thức công nhận là đô thị loại 1 Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước đã nêu rõ rằng: " Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ cả nước, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng; là đầu mối giao thông quan trong về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không; cửa ngõ chính đi ra biển Đông của các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên và các nước tiểu vùng Mê-Kông" Do vậy, nếu có một chính sách phát triển đúng đắn với những bước đi thích hợp, Đà Nẵng sẽ phát huy được thế mạnh sẵn có, tạo động lực và làm đòn bẩy thúc đẩy kinh tế phát triển, "trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước; là trung tâm kinh tế – xã hội lớn của miền Trung với vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ"

Để thực hiện được các mục tiêu đề ra, thành phố Đà Nẵng cần phải có một nguồn vốn rất lớn Trong khi khả năng tích lũy vốn nội bộ của địa phương còn

Trang 8

Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi đã chọn đề tại "Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng" với mong

muốn được nghiên cứu và phân tích các thực trạng về môi trường đầu tư, từ đó đề xuất ra các giải pháp nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư tại thành phố Đà Nẵng

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau:

- Hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng trong những năm qua (2001-2005)

- Thực trạng môi trường đầu tư trong hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng ở một số khía cạnh sau:

• Môi trường chính trị – xã hội

• Môi trường pháp lý – hành chính

• Môi trường cơ sở hạ tầng

• Môi trường kinh tế – tài nguyên

Trang 9

- Phân tích ma trận SWOT thông qua các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của môi trường đầu tư để từ đó thấy được những tác động của môi trường này đến hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài của thành phố trong thời gian qua

- Căn cứ vào mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế – xã hội của thành phố nói chung cũng như hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng của thành phố trong những năm tới; và dựa vào ma trận SWOT để đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư trong hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho thành phố Đà Nẵng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Môi trường đầu tư là một vấn đề rất rộng; tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu môi trường đầu tư liên quan đến hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng

- Phạm vi nghiên cứu:

Không gian: Thành phố Đà Nẵng và một số địa phương khác có liên quan

Thời gian: Số liệu được cập nhật từ năm 2001 – 2005, vì đây là thời

điểm Đà Nẵng bắt đầu thực hiện quá trình quy hoạch phát triển tổng thể thành

phố giai đoạn 2001 – 2010

4 Tính mới của luận văn

Đầu tư trực tiếp nước ngoài không còn là vấn đề mới mẻ trong giai đoạn hiện nay Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời, vấn đề này đã thu hút được sự

Trang 10

- "Các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam" của TS Triệu Hồng Cẩm (2003)

- "Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu

tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh" của TS Trần Đăng Long (2002)

- "Vấn đề chuyển giá tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam" của TS Nguyễn Thị Liên Hoa (2003)

- "Một số giải pháp đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng" của Th.S Phạm Minh Nhựt (2005) …

Nhìn chung, các công trình trên đã tập trung vào nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng hay liên quan đến hoạt động đầu tư, và phần nhiều là đứng trên bình diện của cả nước Việt Nam, hoặc một số tỉnh thành đi đầu trong hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài như Thành phố Hồ Chí Minh hay Bình Dương…( ngoại trừ nghiên cứu của Th.S Phạm Minh Nhựt); tuy nhiên, các tác phẩm trên lại chưa đi sâu vào nghiên cứu môi trường đầu tư của các địa phương cụ thể, một trong những yếu tố rất quan trọng trong hoạt động thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay của các địa phương trên cả nước

Luận văn tập trung vào một mảng của hoạt động đầu tư – đó chính là môi trường đầu tư trong hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; nghiên cứu các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư, từ đó nêu

ra những giải pháp nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư Đây là những điểm mới của luận văn phần lớn chưa được đề cập trong các công trình nghiên cứu mà người viết đã tiếp cận

Trang 11

phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp chuyên gia: từ những chuyên gia và những cá nhân có kinh nghiệm, thông qua các cuộc gặp gỡ, người viết đã thực hiện phỏng vấn, tiếp cận các tư liệu, số liệu thực tế để có những định hướng giải quyết đề tài

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối tượng nghiên cứu là môi trường đầu tư phải đặt trong sự liên hoàn của chiến lược kinh tế thành phố; việc so sánh, đối chiếu giữa các địa phương trong lĩnh vực thu hút đầu tư và các khía cạnh của môi trường đầu tư để rút ra được những kiến giải và hướng đi đúng trong việc xây dựng môi trường đầu tư của thành phố Đà Nẵng

- Phương pháp phân tích thống kê và tổng hợp: từ việc thu thập những số liệu, dữ liệu về hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và các địa phương có liên quan cũng như những thông tin về chính sách – chiến lược của thành phố Đà Nẵng, luận văn tiến hành phân tích nhằm đưa ra những kiến giải

- Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phương pháp quan sát thực tế để có cái nhìn cụ thể và định hướng cho những số liệu, chiến lược rồi đưa ra những giải pháp phù hợp với thực tế môi trường đầu tư của thành phố Đà Nẵng

- Trong quá trình tiến hành, luận văn vận dụng kết hợp tất cả các phương pháp nêu trên để có cái nhìn cụ thể và rõ ràng nhất có thể

Trang 12

6 Nội dung

Chương 1: Những cơ sở lý luận về môi trường đầu tư

Chương này tập trung tìm hiểu khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài, môi trường đầu tư, các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư … để làm nền tảng cơ sở lý luận cho việc phân tích môi trường đầu tư ảnh hưởng như thế nào trong hoạt động thu hút vốn FDI của thành phố Đà Nẵng

Chương 2: Phân tích thực trạng môi trường đầu tư trong hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2001 đến nay

- Khái quát đôi nét về thành phố Đà Nẵng

- Điểm qua hoạt động thu hút vốn FDI của Đà Nẵng trong thời gian từ

2001-2005 Từ đó, rút ra kết luận về những thuận lợi, khó khăn, cơ hội cũng như thách thức của môi trường đầu tư với hoạt động thu hút vốn FDI trên địa bàn thành phố

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI vào thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến

Trang 13

1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài được nhiều tổ chức kinh tế trên thế giới đưa ra nhằm mục đích giúp các quốc gia trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô về hoạt động đầu tư nước ngoài Có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo IMF trong báo cáo Cán cân thanh toán hàng năm đã đưa ra khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau:

”Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư – hosting country), không phải là tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư – sourcing country) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp" Với Việt Nam, sau nhiều lần sửa đổi bổ

sung, Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được đổi lại tên gọi mới là Luật Đầu tư

có hiệu lực ngày 01/07/2006; mà theo quy định của khoản 2, điều 3, chương I của Luật này thì đầu tư trực tiếp được hiểu là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu

tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư

Như vậy, qua các định nghĩa trên, có thể rút ra một kết luận: đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh có lãi

1.1.2 Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Hiện nay, tại Việt Nam có 3 hình thức đầu tư chủ yếu sau:

a Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu

tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết

Trang 14

b Doanh nghiệp liên doanh

Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập do các chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với các tổ chức, cá nhân trong nước trên cơ sở hợp đồng liên doanh Các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, phân chia lợi nhuận cũng như chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn tương ứng giữa các bên Loại hình doanh nghiệp này là công ty trách nhiệm hữu hạn; tùy thuộc vào quy mô của vốn đầu tư và lĩnh vực đầu tư mà thời hạn đầu tư cho mỗi liên doanh sẽ khác nhau

c Hợp đồng hợp tác kinh doanh

Là doanh nghiệp hợp doanh theo kiểu hợp đồng hay còn được xem là văn bản ký kết giữa hai hay nhiều bên quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà không cần thành lập pháp nhân

d Một số hình thức đầu tư đặc thù

- Xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT)

- Xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO)

- Xây dựng – chuyển giao (BT)

Nhìn chung, cả ba hình thức trên đều có những đặc điểm chung sau:

- Chỉ được ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Đầu tư vào hạ tầng cơ sở của Việt Nam: xây dựng cầu đường, cầu, cảng, sân bay, các công trình điện nước …

- Được hưởng nhiều ưu đãi của chính phủ Việt Nam về tiền thuê đất, thuế các loại, thời gian đầu tư dài, tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thu hồi vốn và có lời hợp lý

Trang 15

1.1.3 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nền kinh tế hiện nay

1.1.3.1 Đối với nước chủ đầu tư

- Giúp thâm nhập vào những thị trường mới mà vẫn có thể đạt được lợi nhuận cao nhờ tận dụng việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư, các lợi thế sản xuất sẵn có của nước tiếp nhận đầu tư và mở rộng thị trường tiêu thụ

- Xây dựng được thị trường cung cấp nguyên vật liệu ổn định

- Phân tán và giảm bớt rủi ro của việc tập trung sản xuất và kinh doanh trong phạm vi một quốc gia

- Hạn chế được các rào cản thương mại, các hàng rào bảo hộ mậu dịch do một số các quốc gia đặt ra; thông qua con đường đầu tư, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tranh thủ được những ưu đãi của nước tiếp nhận đầu tư

1.1.3.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư

- Góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư, thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế

- Giải quyết công ăn, việc làm, đẩy lùi nạn thất nghiệp, từ đó góp phần nâng cao đời sống của người dân, tăng thu nhập quốc dân

- Giúp các nước nghèo, kém phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện cơ sở hạ tầng của nền kinh tế mà nguồn vốn trong nước không đủ khả năng đáp ứng

- Giúp các nước nghèo phần nào tiếp thu và theo kịp với trình độ công nghệ, trình độ quản lý, trình độ nguồn nhân lực … từ các nước tiên tiến thông qua các hợp đồng chuyển giao công nghệ

1.1.3.3 Đối với sự phát triển của thành phố Đà Nẵng

Trang 16

- Được xem là nguồn vốn đóng góp và bổ sung quan trọng cho hoạt động đầu tư và phát triển kinh tế – xã hội, vốn FDI giải quyết một phần đáng kể nhu cầu vốn đang

bị thiếu hụt trầm trọng và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của thành phố

- Góp phần tích cực vào việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng thu cho ngân sách của thành phố

- Tiếp thu công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý, tổ chức

… đẩy nhanh quá trình phát triển ngang bằng với hai đầu đất nước; thúc đẩy quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực

- Các doanh nghiệp FDI góp phần giải quyết việc làm, tạo ra thu nhập cho người lao động và góp phần nâng cao trình độ của người lao động

- Góp phần đáng kể vào việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên đang sẵn có của địa phương

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn được xem là động lực góp phần làm cho môi trường kinh doanh của Đà Nẵng nói riêng và khu vực miền Trung thêm phần sôi động

1.2 Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1 Khái niệm

1.2.1.1 Môi trường đầu tư

Môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố về pháp luật, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và các yếu tố: cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường, cả các lợi thế của một quốc gia có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư trong và ngoài nước tại một quốc gia [47,74] Theo World Bank, môi trường đầu tư được định nghĩa như sau: “môi trường đầu tư là tập hợp các yếu tố đặc thù của địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất” [27,26]

Trang 17

đề đặt ra là ta phải tìm hiểu tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường đầu tư để hoàn thiện nó, thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư đến và làm ăn

1.2.1.2 Môi trường đầu tư bình đẳng và cạnh tranh

a Môi trường đầu tư bình đẳng

Đầu tư là một trong những hoạt động chính của quá trình hội nhập kinh tế Sự hội nhập kinh tế quốc tế trong hoạt động đầu tư được thực hiện thông qua hai nguyên tắc cơ bản là: nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc đối xử quốc gia Và một môi trường đầu tư bình đẳng sẽ hoạt động dựa trên hai nguyên tắc này

- Nguyên tắc đối xử quốc gia trong hoạt động đầu tư – Nguyên tắc NT (National Treatment): nước tiếp nhận đầu tư FDI cam kết giành các điều kiện đầu

tư thuận lợi (ưu đãi) cho các nhà đầu tư các nước khác đến đầu tư ở nước mình, không kém hơn những điều kiện nhà đầu tư nội địa được hưởng

- Nguyên tắc Tối huệ quốc trong hoạt động đầu tư – Nguyên tắc MFN (Most Favoured Nations): một nước sẽ giành các điều kiện thuận lợi (ưu đãi) cho các nhà

đầu tư của một nước khác, không kém hơn những ưu đãi mà họ đã giành cho các nhà đầu tư ở nước thứ 3 khác khi họ tiến hành đầu tư trên lãnh thổ quốc gia mình Về thực chất, hai nguyên tắc này đều hướng đến một mục đích chung là tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, môi trường đầu tư bình đẳng giữa các nhà đầu tư Sự bình đẳng này thể hiện ở việc tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đều phải được đảm bảo quyền lợi như nhau trước các yêu cầu, quy định của pháp luật, cũng như phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ mà pháp luật quy định trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình Đó chính là tính minh bạch của

Trang 18

Như vậy, có thể nói rằng bình đẳng trong hoạt động đầu tư được xem là “môi trường sống” của doanh nghiệp Một môi trường đầu tư tốt, thông thoáng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung; ngược lại môi trường đầu tư bị “ô nhiễm”, “đi mắc núi, về mắc sông” sẽ là những trở ngại, hạn chế doanh nghiệp phát triển [48,20]

b Môi trường đầu tư cạnh tranh

Tính cạnh tranh của môi trường đầu tư chính là sự so sánh môi trường đầu tư khác nhau ở những tiêu chí như nhau Môi trường đầu tư thay đổi không chỉ giữa các nước mà ngay cả trong nội bộ một nước Điều này xuất hiện chính do sự khác biệt trong cách thức quản lý của các quốc gia nói chung cũng như trong chính sách và hành vi quản lý của từng địa phương nói riêng

Theo Báo cáo về Môi trường kinh doanh toàn cầu của WB, để thành lập một

doanh nghiệp mới, nhà đầu tư ở nước cải cách nhất là Canada chỉ mất 3 ngày với việc thực hiện 2 thủ tục; và ở nước ít cải cách nhất là Angola, nhà đầu tư phải mất

146 ngày với 14 thủ tục mới thành lập xong doanh nghiệp của mình; còn ở Việt Nam, con số này là 50 ngày với 11 thủ tục [27,61]

Trang 19

Hình 1.1 Các điều kiện về môi trường đầu tư của Trung Quốc

0 5 10 15 20 25

Bắc Kinh Thành Đô Quảng

Châu

Thượng Hải

Thiên Tân

Thời gian bắc điện thoại (ngày)

Thời gian làm thủ tục HQ nhập khẩu (ngày)

(Nguồn: Báo cáo phát triển thế giới 2005–Môi trường đầu tư tốt hơn cho mọi người)[27]

1.2.2 Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư

1.2.2.1 Yếu tố chính trị – xã hội

- Sự ổn định chính trị là yếu tố hấp dẫn hàng đầu với các nhà đầu tư Chính phủ nước sở tại cần có một chính sách hợp lý để ổn định chính trị và giữ cho xã hội ổn định trong một thời gian dài Đặc biệt là đường lối đối ngoại cởi mở hữu hảo sẽ thu hút được sự quan tâm, tán đồng, ủng hộ của các quốc gia trong vùng, cuốn hút họ cùng tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế của nước mình Nội chiến sẽ không chỉ thiêu đốt cả vốn lẫn lãi mà hơn nữa còn uy hiếp đến tính mạng của chủ đầu tư Chiến tranh và các dạng bạo lực tràn lan sẽ đặt dấu chấm hết cho tất cả các khoản đầu tư Như vậy, ổn định chính trị là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các cam kết của chính phủ đối với các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính sách ưu tiên đầu tư, định hướng đầu tư, cơ cấu đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư

Trang 20

- Sự ổn định chính trị còn là điều kiện thiết yếu để duy trì sự ổn định về tình hình kinh tế – xã hội Đây là yếu tố tác động trực tiếp và có tính toàn diện làm tăng hoặc giảm tính rủi ro trong hoạt động đầu tư Nguyên tắc hàng đầu của các nhà đầu tư nói chung và các nhà đầu tư nước ngoài nói riêng là an toàn vốn và sinh lãi Vì hoạt động trong môi trường xa lạ, vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn lâu nên các nhà đầu tư nước ngoài rất lo ngại tài sản của họ bị nước chủ nhà tịch thu, quốc hữu hóa Hơn nữa, tình hình chính trị không ổn định thường dẫn tới đường lối phát triển của đất nước không nhất quán Có thể chính phủ đương nhiệm cam kết không quốc hữu hóa tài sản của người nước ngoài, của các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài; nhưng sau khi đất nước có bất kỳ một sự thay đổi nào về chế độ chính trị, chính phủ mới chưa chắc đảm bảo những cam kết này hoặc lại đưa ra những sửa đổi, thay đổi làm đe dọa đến sự an toàn đối với tài sản của các nhà đầu tư nước ngoài Đây là một trong những nguyên nhân giải thích tại sao dòng vốn đầu tư thường ít vào các nước châu Phi và một số nước đang phát triển khác ở Nam Mỹ trong thời kỳ có nhiều chính biến Ngược lại, tình hình chính trị ổn định là điều kiện tiên quyết đảm bảo đường lối phát triển nhất quán của nước chủ nhà; nhờ đó, các cam kết đảm bảo độ an toàn đối với tài sản hợp pháp của họ được thực hiện Điều này được phản ánh rõ nét ở nhiều nước đang phát triển và những nước công nghiệp mới ở châu Á

- Sự ổn định chính trị của một quốc gia còn quyết định môi trường chính trị của các địa phương trong quốc gia đó Tuy nhiên, cùng trong một quốc gia, cùng dưới một chế độ chính trị như nhau; thế nhưng ở mỗi vùng, tính ổn định lại có xu hướng khác nhau; và điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh tế nói chung và thu hút đầu tư nước ngoài nói riêng của địa phương đó Bên cạnh các điều kiện thuận lợi khác, cùng môi trường chính trị ổn định Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương hay Vũng Tàu

Trang 21

- Năng lực điều hành của Chính phủ cũng là một trong những yếu tố được xét đến Chính phủ có thể có ảnh hưởng hạn chế đến những yếu tố như vị trí địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, thời tiết … nhưng chính phủ lại có ảnh hưởng rất lớn đến việc đảm bảo quyền về tài sản, cách điều tiết và đánh thuế (cả trong nội địa lẫn tại cửa khẩu), mức độ thỏa mãn của cơ sở hạ tầng, sự vận hành của thị trường tài chính, hiện tượng tham nhũng và rất nhiều yếu tố khác liên quan [27,70].Tất cả những điều này phụ thuộc phần lớn vào năng lực điều hành và phẩm chất đạo đức của đội ngũ lãnh đạo đất nước.

1.2.2.2 Môi trường pháp lý – hành chính

Hệ thống pháp luật là một trong những yếu tố hết sức quan trọng đóng vai trò quyết định trong việc tạo diện mạo của môi trường đầu tư Đó là điều kiện không thể thiếu được trong mọi hoạt động kinh tế nói chung và trong hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài nói riêng Hệ thống pháp luật của một quốc gia có thể được biểu hiện qua một số nét sau:

- Xây dựng thể chế

- Tính đầy đủ và đồng bộ

- Tính chuẩn mực và hội nhập

- Tính rõ ràng, công bằng, công khai và khả năng thực thi

Đây là yêu cầu hàng đầu của một hệ thống luật pháp nói chung của một quốc gia, là mối quan tâm rất lớn của các chủ đầu tư nước ngoài Do làm ăn ở nơi xa lạ với lượng tài sản lớn nên các nhà đầu tư nước ngoài phải dựa vào pháp luật của nước chủ

Trang 22

Bên cạnh đó, thủ tục hành chính là một yếu tố rất quan trọng góp phần tạo nên sự thành công của môi trường đầu tư Thủ tục hành chính càng đơn giản, gọn nhẹ, rõ ràng thì sức hút của môi trường đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài càng lớn Thủ tục hành chính bao trùm lên tất cả các hoạt động của doanh nghiệp Và một trong những lỗ hổng nếu thủ tục hành chính không được quan tâm sát sao đó chính là hiện tượng tham nhũng Có thể nói, chính sách về môi trường đầu tư là mục tiêu hấp dẫn để các doanh nghiệp, quan chức và các nhóm lợi ích khác nhau trục lợi Tham nhũng có thể làm tăng chi phí tiến hành kinh doanh và khi nó lan đến bộ máy chính quyền cao cấp thì có thể dẫn đến những méo mó ghê gớm trong chính sách và làm bóp méo quá trình hoạch định chính sách trên quy mô lớn Lũng đoạn, nâng đỡ và chủ nghĩa thân quen, những hệ lụy tất yếu của thủ tục hành chính yếu kém sẽ gây ra những méo mó trong chính sách nghiêm trọng làm cho chính sách thiên vị một số nhóm người với cái giá phải trả từ nhóm người khác; như vậy sẽ làm mất lòng tin của nhà đầu tư vào chính phủ [27,61] Tuy nhiên, thủ tục hành chính cũng như cách hành xử của mỗi địa phương là khác nhau, vì vậy mới có những nơi mà nhà đầu tư gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc xin cấp giấy phép đầu tư, đăng ký kinh doanh… [38, 42]

Trang 23

như các quy định của pháp luật … sẽ tạo dựng được độ tin cậy của các nhà đầu tư nước ngoài; ngược lại, sẽ làm gia tăng sự quan ngại của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư về môi trường đầu tư của nước đó

1.2.2.3 Vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng

Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như khoảng cách, địa điểm, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên … Đây là những yếu tố quan trọng tác động đến tính sinh lãi hoặc rũi ro của các hoạt động đầu tư Các nhà đầu tư nước ngoài, phần lớn phải tiến hành việc chuyên chở hàng hóa và dịch vụ từ nước đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư, từ điểm sản xuất đến điểm tiêu thụ… Vì vậy, nếu vị trí thuận lợi, không cách trở thì chi phí vận chuyển thấp, giảm được giá thành và hạn chế được rủi ro Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng luôn luôn được các nhà đầu tư quan tâm Hệ thống đường sá, cầu cống, sân bay, cảng biển, dịch vụ viễn thông, khách sạn … được đảm bảo sẽ là lời mời gọi rất tích cực đối với các nhà đầu tư nước ngoài

Vị trí địa lý cũng như cơ sở hạ tầng của mỗi quốc gia là khác nhau và môi trường hạ tầng này lại càng khác nhau giữa các địa phương trong cùng một nước Mỗi địa phương nằm trên một vùng địa hình khác nhau với những ưu đãi hoặc hạn chế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên… Thế nhưng, ngoài sự khác biệt sẵn có do tự nhiên đem lại, chiến lược phát triển cơ sở hạ tầng của mỗi địa phương chính là yếu tố quyết định môi trường cơ sở hạ tầng ở mỗi địa phương sẽ khác nhau Điều này sẽ tác động lại hoạt động kinh tế cũng như thu hút đầu tư nước ngoài của từng địa phương Bình Dương, xuất phát điểm là một vùng đất nông nghiệp – không có cảng sông lẫn cảng biển, không có hệ thống sân bay, đường sắt… thế nhưng Bình Dương lại

Trang 24

1.2.2.4 Môi trường kinh tế – tài nguyên

- Mỗi quốc gia thường áp dụng một chính sách kinh tế riêng tùy thuộc vào trình độ phát triển và các mục tiêu mà quốc gia đó theo đuổi Một đất nước muốn tạo điều kiện thuận lợi để thu hút được các nguồn vốn của nước ngoài, trước hết phải thực hiện chính sách kinh tế mở, tức là mọi chính sách kinh tế của họ phải đảm bảo gắn kết nền kinh tế của nước mình vào thị trường chung của thế giới, tham gia thực sự vào phân công lao động quốc tế; lấy mục tiêu cho mọi hoạt động kinh tế của mình không chỉ phục vụ cho nhu cầu trong nước mà cả nhu cầu của thị trường quốc tế Ngoài ra, trình độ phát triển kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư bao gồm mức độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng cung cấp các dịch vụ cho các hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài và mức độ cạnh tranh của thị trường nước chủ nhà cũng là các yếu tố có sự tác động mạnh hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài

Trên cơ sở đó, môi trường kinh tế – tài nguyên của mỗi địa phương cũng sẽ hình thành phù hợp với tình hình phát triển Mỗi địa phương sẽ có những chính sách phát

Trang 25

1.2.2.5 Môi trường tài chính

Khả năng tạo ra một môi trường tài chính lành mạnh và hệ thống ngân hàng hoạt động có hiệu quả là một yêu cầu đặt ra trong quá trình hoàn thiện môi trường đầu tư

vì không một dự án đầu tư nào lại không liên quan đến việc giải quyết vốn, tín dụng và giám sát điều tiết thông qua hệ thống tiền tệ Nền tài chính của một quốc gia được đánh giá qua các chỉ tiêu như cán cân thanh toán quốc tế, cán cân thương mại quốc tế, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, khả năng tự do chuyển đổi đồng tiền … Đó là những chỉ số phản ánh sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô Sự bất ổn định các yếu tố này làm cho hiệu quả đầu tư trong tương lai trở nên không chắc chắn và ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài

Môi trường tài chính của một địa phương được cụ thể hóa qua hệ thống ngân hàng, các công ty tài chính, thị trường chứng khoán, thị trường tiền tệ… Hoạt động của

Trang 26

1.2.2.6 Môi trường lao động

Nguồn lao động và giá cả nhân công tại nước mà nhà đầu tư dự kiến đầu tư vào ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư Bởi lẽ với lực lượng lao động dồi dào và giá nhân công rẽ tương đối sẽ thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư do chi phí lao động sẽ giảm hơn so với khi tuyển dụng lao động ở các quốc gia khác đến Tuy nhiên, hiện nay yếu tố lao động giá rẽ ở các nước đang và kém phát triển không còn là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà tư bản nữa; vì cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã cho phép đẩy nhanh quá trình tự động hóa và nâng cao năng suất lao động Trong điều kiện đó, nước nào có được đội ngũ lao động được đào tạo với trình độ khoa học và chuyên môn cao được xem là một lợi thế; vì thông qua sử dụng lao động, các nhà đầu tư không chỉ muốn thu lại lợi nhuận thông thường, mà còn muốn thu thêm được lợi nhuận siêu ngạch Theo tài liệu nghiên cứu của UNIDO, giờ đây người ta đang càng ngày phân biệt được là chính trình độ giáo dục và tay nghề của lực lượng lao động quyết định

Trang 27

Bên cạnh đó, môi trường lao động ổn định còn thể hiện qua tính cần cù và tinh thần kỷ luật của người lao động của người lao động; và quan trọng hơn nữa là tinh hình đình công, bãi công của người lao động, của các tổ chức công đoàn… Đây là những vấn đề khá nhạy cảm mà không một nhà đầu tư nào muốn gặp rắc rối với nước sở tại

1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu môi trường đầu tư

- Nghiên cứu môi trường đầu tư giúp nước sở tại hoàn thiện môi trường kinh tế, đẩy nhanh quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Lịch sử phát triển kinh tế thế giới từ sau đại chiến thế giới lần thứ II đến nay đã minh chứng rằng các nước đang phát triển có trình độ và điều kiện phát triển kinh tế tương đồng, do lựa chọn chiến lược kinh tế và khả năng tạo ra môi trường thu hút đầu tư khác nhau lại phát triển khác nhau Nhiều nước thực hiện chiến lược kinh tế mở và biết tạo ra môi trường kinh tế, môi trường đầu tư thuận lợi đã mau chóng trở thành các nước công nghiệp mới (NIEs), một số khác lại không nắm bắt thời cơ, bỏ lỡ nhiều cơ hội phát triển đã đẩy nền kinh tế của quốc gia mình lâm vào cảnh lạc hậu, trì trệ

- Nghiên cứu môi trường đầu tư giúp các nước tiếp nhận đầu tư điều chỉnh nhằm hoàn thiện môi trường đầu tư của nước mình trong quá trình thu hút đầu tư thực hiện công cuộc tái thiết và phát triển đất nước Thường thì các nhân tố kích thích và thu hút đầu tư của một quốc gia không có đầy đủ cùng một lúc; mà nó phải được hình thành và hoàn thiện, phải được điều chỉnh liên tục của cả nước nhận đầu

tư và sự cố gắng, thiện chí của cả hai bên nhận đầu tư và đầu tư; và mọi cố gắng, thiện chí của hai bên phải xuất phát từ động cơ kinh tế

Trang 28

1.4 Các bài học kinh nghiệm về hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm tăng cường thu hút vốn FDI

1.4.1 Kinh nghiệm của Bình Dương

Bình Dương, một tỉnh miền Đông Nam bộ không có cảng, không có sân bay, không có cửa khẩu, lại không phải là một tỉnh trung tâm của đất nước, đã trở thành địa phương dẫn đầu cả nước trong lĩnh vực thu hút vốn FDI

Bảng 1.1: Tình hình thu hút vốn FDI vào Bình Dương

(ĐVT: dự án; triệu USD)

(Nguồn: Website tỉnh Bình Dương), [52]

Nơi đây là một điển hình về phát triển không dựa vào những lợi thế “tĩnh” nêu trên Bình Dương đã tự xây dựng cho mình những lợi thế “động” rất riêng và rất phù hợp với tiến trình phát triển và hội nhập của địa phương

- Nổi bật trong quá trình xây dựng và hoàn thiện môi trường đầu tư của Bình Dương đó chính là việc “trải chiếu hoa”, “trải thảm đỏ” mời gọi đầu tư, đón rước nhân tài [25] “Chính quyền tỉnh Bình Dương có thái độ thực sự trọng thị trong chính sách thu hút đầu tư Tôi cảm nhận tỉnh rất khát khao mời gọi các nhà đầu tư” [43,40] Nhờ có sự nhất trí và ủng hộ xuyên suốt từ trên xuống dưới nên rất nhiều các nhà khoa học, các nhà đầu tư trong và ngoài nước kéo về giúp sức cho Bình Dương Lãnh đạo tỉnh hàng tháng đều có chương trình cùng cán bộ đầu ngành của tỉnh xuống các

Trang 29

- Việc từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng cũng là một bài học đáng được quan tâm của tỉnh Là một tỉnh nhỏ, năng lực tài chính có hạn nên Bình Dương tính chuyện

“ăn chắc mặc bền”, không dùng tiền ngân sách hay vay tiền ngân hàng để làm cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Trọng trách huy động vốn được toàn quyền giao cho chủ đầu tư, vận động các doanh nghiệp chuẩn bị đầu tư vào các khu công nghiệp bỏ tiền

ra lo cơ sở hạ tầng ngay tại nơi mình đầu tư, và làm theo kiểu cuốn chiếu, để các nhà đầu tư “vui lòng tự lo” Việc đền bù, giải tỏa nhà dân để xây dựng cơ sở hạ tầng, đường giao thông, khu công nghiệp được người dân ủng hộ vì tâm nguyện của nhà lãnh đạo và người dân gặp nhau và cùng muốn Bình Dương phát triển

- Trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, cơ chế “một dấu, một cửa” được Bình Dương quán triệt sâu sắc Dự án trong khu công nghiệp thì do Ban quản lý Khu công nghiệp, dự án ngoài khu công nghiệp thì do Sở Kế hoạch – Đầu tư đảm trách Hai cơ quan này là “công bộc” cho đến khi giấy phép được cấp [43,40] Nếu không may bị “tắc” do không thuộc thẩm quyền của tỉnh thì các nhà lãnh đạo của tỉnh cùng nhà đầu tư đi ra Hà Nội cùng “gõ” cửa các cơ quan chức năng… Hay là việc trong lúc nhiều địa phương khác đua nhau giảm giá thuê đất để thu hút đầu tư thì Bình Dương không giảm mà lại sử dụng phương thức hỗ trợ nhà đầu tư giúp họ yên tâm làm ăn

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm cần tiếp tục phát huy như trên, vẫn còn nhiều tồn tại mà Bình Dương đang phải đối mặt cần được tháo gỡ dần trong quá trình hoàn thiện môi trường đầu tư thu hút vốn FDI của mình

Trang 30

- Quá trình đầu tư phát triển do nóng vội, thiếu một quy hoạch mang tính

”tầm nhìn xa” dẫn đến một số những bất cập về sinh thái môi trường, mất cân đối giữa đầu tư phát triển công nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng … nên xử lý hết sức khó khăn, nhất là việc phục hồi môi trường

- Sự phát triển không đồng đều giữa các địa phương trong tỉnh, dẫn đến cơ cấu ngành nghề như gốm sứ, sơn mài, chế biến gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ … phát triển quá mức cần thiết, vượt khả năng cung ứng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm

- Tốc độ phát triển nhanh của sản xuất công nghiệp đã tạo ra “cơn sốt” về lao động kể cả số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt là số lao động có tay nghề trình độ cao Hơn 200 nghìn lao động công nghiệp và gần 100 nghìn lao động các ngành nghề ít được đào tạo, phần lớn là lao động từ các địa phương khác đổ về; lao động địa phương chỉ chiếm khoảng 12% trong tổng số lao động các KCN là một trở ngại lớn cho việc giải quyết nơi ăn, chốn ở, phương tiện đi lại và khó khăn cho việc đào tạo nghề…[26]

Do vậy, bên cạnh việc tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, Bình Dương cần khắc phục một số tồn tại nêu trên, nhanh chóng đổi mới quy hoạch, đảm bảo sự hài hòa trong quá trình công nghiệp hóa của địa phương

1.4.2 Kinh nghiệm của Singapore

Vào những năm đầu thập niên 50 thế kỷ XX, Singapore – một đảo quốc tách ra từ Malaysia – là một nước nghèo về kinh tế, lạc hậu về công nghệ kỹ thuật Thế nhưng, đến cuối thập niên 80, đảo quốc nhỏ bé này đã trở thành thị trường tài chính tiền tệ lớn thứ 4 trên thế giới, là trung tâm buôn bán dầu lửa hàng đầu châu Á, là nơi thu hút được nhiều kỹ thuật công nghệ cao của thế giới, tốc độ phát triển kinh tế của Singapore đạt ở mức cao trên thế giới… Kinh nghiệm tạo dựng môi trường đầu tư của đảo quốc này đang trở thành một trong những “loại hàng hóa chất xám” quý giá mà

Trang 31

- Điểm đầu tiên cần nhắc đến trong việc xây dựng môi trường đầu tư của Singapore là bộ máy quản lý hoàn hảo của chính phủ Singapore Năm 2003, Singapore được bầu là nước có bộ máy công quyền phi tham nhũng và tạo thuận lợi cho kinh doanh thứ 2 trong sách “Cạnh tranh thế giới” và được Tổ chức môi trường đầu tư toàn cầu bầu là nước có lợi nhuận cao thứ hai cho các nhà đầu tư Bộ máy quản lý trong sạch giúp các nhà đầu tư nước ngoài cảm thấy thoải mái và an tâm khi đến đất nước này Các tập đoàn nước ngoài đến tìm hiểu kinh doanh tại Singapore khó có cơ hội gặp gỡ trực tiếp các quan chức cao cấp trong bộ máy công quyền của Singapore [34,8]

- Sự nhạy bén trong hệ thống quản lý cũng như trong các nhà lãnh đạo của Singapore Các nhà lãnh đạo của Singapore nhận thấy được rất sớm xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế Là một nước nhỏ bé không có tiềm năng lớn về tài nguyên thiên nhiên, Singapore đã áp dụng chiến lược tranh thủ vốn và kỹ thuật nước ngoài nhưng không phụ thuộc vào nước ngoài nặng nề Để thực hiện chiến lược đó, tất yếu Singapore phải dựa vào vị trí địa lý thuận lợi của mình là cầu nối và là điểm trung chuyển hàng hóa, kỹ thuật, tài chính giữa các nước trong khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Cải cách thị trường tài chính và hoàn thiện hệ thống ngân hàng là một trong những yếu tố quan trọng để tạo dựng một hệ thống các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư hoàn chỉnh của Singapore Singapore lập ra các đặc khu kinh tế phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu của các nhà đầu tư nước ngoài Hoạt động kinh tế của các nhà đầu tư và thương nhân trong đặc khu kinh tế được hưởng nhiều ưu đãi về tài chính, tín dụng, tiền tệ và được hưởng chế độ thuế quan tự do … Ngoài ra, nhằm tạo ra

Trang 32

1.4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra trong việc hoàn thiện môi trường đầu tư của thành phố Đà Nẵng

Hai điển hình về môi trường đầu tư: Bình Dương, Singapore và thực tiễn thu hút đầu tư của các tỉnh thành trong cả nước cũng như các quốc gia lân cận; có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng trong việc xây dựng và hoàn thiện môi trường đầu tư trong quá trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Phải có chiến lược kinh tế mở, phải xem nền kinh tế của địa phương, của quốc gia là một bộ phận của nền kinh tế thế giới

- Phải tạo dựng được những nhân tố kích thích, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, phải bảo đảm được lợi ích kinh tế của hai bên – lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài là lợi nhuận của nước tiếp nhận đầu tư trong quá trình CNH-HĐH

- Trong quá trình kiến tạo các yếu tố hình thành môi trường đầu tư, việc ra đời và hoàn thiện một nền kinh tế thị trường nội địa hoàn chỉnh bao gồm các loại thị trường khác nhau như: thị trường tài chính tiền tệ, thị trường lao động, thị trường hàng hóa … là rất bức thiết Sự ra đời của các thị trường này sẽ tạo động lực thu hút các nhà đầu tư nước ngoài

- Trên phương diện quốc gia cần phải có môi trường pháp lý – cơ sở hạ tầng

“mềm” – tốt và vững vàng, các luật lệ, quy định phải rõ ràng, dễ hiểu, thống nhất và đồng bộ Trên góc độ địa phương, cần phải thể hiện sự tuân thủ luật pháp một cách nghiêm túc, tránh hiện tượng đi ngược hoặc vượt khung quy định của nhà nước… vì

Trang 33

- Tận dụng và tập trung khai thác những lợi thế sẵn có của địa phương về vị trí địa lý (như trường hợp của Singapore) để thu hút đầu tư nước ngoài

* * * * Kết luận chương 1

Trong chương 1, luận văn đã đi vào nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài; trong đó, tập trung tìm hiểu và phân tích các khía cạnh của môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài, các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay đang có tại Đà Nẵng, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài …

- Môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài, các yếu tố cấu thành môi trường đầu

tư trực tiếp nước ngoài… và những lý luận này sẽ làm nền tảng cho việc đi sâu vào phân tích môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài của Đà Nẵng trong chương kế tiếp

- Nghiên cứu một số kinh nghiệm thực tiễn của Bình Dương và Singapore, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng trong quá trình kiến tạo và hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 34

Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY 2.1 Một số nét khái quát về Thành phố Đà Nẵng

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Thành phố Đà Nẵng nằm ở 15o55’ đến 16o14’ vĩ Bắc, 107o18’ đến 108o20’ kinh Đông, phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp biển Đông Đà Nẵng nằm ở trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc–Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không; cách Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam Ngoài ra, Đà Nẵng còn là thành phố nằm trong trung điểm của 4 di sản văn hóa thế giới là cố đô Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn và rừng quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng Trong phạm vi khu vực và quốc tế, Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên, các nước Lào, Campuchia, Thái Lan và Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế Đông – Tây với điểm kết thúc là cảng biển Tiên Sa của Đà Nẵng Với vị trí nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế, thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững Vấn đề nằm ở chổ khai thác vị trí này như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất

Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.255,53km2; gồm 6 quận và 2 huyện Các quận nội thành chiếm diện tích 213,05 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.042,48 km2, trong đó:

- Đất nông nghiệp: 117,22 km2 (9,34%)

Trang 35

- Đất ở: 30,79 km (2,42%)

- Đất chưa sử dụng: 207,62 km2 (16,54%)

Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô bắt đầu tư tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,9oC; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8 trung bình từ 28 - 30oC; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2 trung bình từ 18 - 23oC Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng 20oC Như vậy, có thể nói khí hậu của vùng rất thích hợp để phát triển các hoạt động du lịch, đặc biệt là du lịch biển

2.1.2 Điều kiện xã hội

- Thành phố Đà Nẵng được tách ra khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng vào năm

1997 và trở thành thành phố trực thuộc trung ương Cùng với Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng, Đà Nẵng trở thành thành phố loại 1 vào năm 2000 Hiện nay, thành phố có 6 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu và Cẩm Lệ; 2 huyện ngoại thành gồm Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa Dân số trung bình của Đà Nẵng khoảng 763.297 người [14,61] Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của thành phố tương đối cao, khoảng 1,114%/ năm; dân số chủ yếu tập trung ở thành thị: 79,59%, số còn lại ở vùng nông thôn [13,61] Lực lượng lao động

Trang 36

- Xét về trình độ dân trí, hiện nay tại Đà Nẵng tỷ lệ người lớn tuổi không biết chữ vẫn còn; nhưng tỷ lệ này ngày một giảm đi Thành phố đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ từ tháng 1/1997 Bên cạnh đó, nếu tính đến chỉ số HDI, Đà Nẵng có những điểm nổi trội hơn các thành phố lớn khác trong cả nước về các mặt như điều kiện sống, mức độ chăm sóc y tế, sức khỏe, phổ cập giáo dục, xóa đói giảm nghèo … Điều này phần nào giúp Đà Nẵng thu được những kết quả đáng kể trong quá trình thu hút vốn FDI, phát triển kinh tế địa phương với những ngành nghề tương xứng

2.2 Tình hình thu hút vốn FDI vào Thành phố Đà Nẵng từ năm 2001–2005: 2.2.1 Số lượng vốn FDI thu hút

Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành từ năm 1987 và qua các lần sửa đổi đến nay; bằng những nỗ lực, cố gắng của thành phố và được sự hỗ trợ từ phía Chính phủ, các bộ – ban – ngành trung ương, thành phố Đà Nẵng đã và đang đạt được những kết quả nhất định trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Trong giai đoạn trước khi tách tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (1987 – 1997), trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có 59 dự án được cấp giấy phép với tổng vốn đầu tư vào khoảng 833,2 triệu USD Vào thời điểm Đà Nẵng chính thức tách ra khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, thành phố đã tiếp nhận và quản lý 44 dự án còn đang hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 443,6 triệu USD, trong đó vốn thực hiện chỉ chiếm khoảng 31,5% tương đương 140 triệu USD Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, hoạt động thu hút FDI trên địa bàn thành phố đã có những thay đổi

Trang 37

(Nguồn: Trung tâm xúc tiến đầu tư Thành phố Đà Nẵng), [57]

Như vậy, hoạt động thu hút FDI của Đà Nẵng chỉ mới bắt đầu sôi động vào năm

2001 Hơn nữa, kể từ năm 1997 – 2000, Đà Nẵng tập trung vốn chuẩn bị cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ sở vật chất … cho quá trình phát triển lâu dài của thành phố, và vấn đề thu hút vốn FDI chỉ bắt đầu có xu hướng tăng mạnh từ năm 2001 trở lại đây Đặc biệt, sau khi bị giảm xuống vào năm 2004 theo xu hướng chung của cả nước, năm

2005, vốn FDI vào Đà Nẵng đã tăng mạnh trở lại cả về số vốn đầu tư mới lẫn số dự án Thế nhưng, nếu so sánh với Bình Dương thì lượng vốn FDI mà Đà Nẵng thu hút được vẫn còn rất thấp

Bảng 2.2: Nguồn vốn FDI đầu tư vào tỉnh Bình Dương và TP Đà Nẵng

(ĐVT: dự án; triệu USD)

(Nguồn: - Niên giám thống kê Tỉnh Bình Dương, [52]

- Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh,[53]

- Trung tâm xúc tiến đầu tư Thành phố Đà Nẵng, [51, 57])

Trang 38

Trong thời gian từ năm 2001 đến 2005, tổng số dự án của Đà Nẵng có tăng nhưng tốc độ tăng rất chậm Vào thời điểm tách khỏi tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, thành phố có 44 dự án thì sau 8 năm hoạt động, con số này chỉ tăng thêm 10 dự án Năm 2005 thành phố Đà Nẵng có hoạt động thu hút vốn FDI đạt mức cao nhất từ trước đến nay, thế nhưng nó chỉ bằng khoảng 23,68% vốn đầu tư và 6,15% số dự án đầu tư vào Thành phố Hồ Chí Minh, 17,01% vốn đầu tư và 10,22% số dự án đầu tư vào Bình Dương Như vậy, khả năng cạnh tranh trong thu hút nguồn vốn FDI của Đà Nẵng vẫn còn khá yếu

2.2.2 Tình hình thu hút vốn FDI theo đối tác

Cũng như Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành khác, đối tác đầu tư vào Đà Nẵng chủ yếu là châu Á, nhiều nhất là Đài Loan, Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản … Các quốc gia châu Âu, châu Mỹ dường như rất hạn chế

Bảng 2.3: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo quốc gia / vùng lãnh thổ

Quốc gia/ Vùng lãnh thổ Số dự án Tổng vốn đầu tư (triệu USD)

(Nguồn: Trung tâm xúc tiến đầu tư Đà Nẵng), [55]

Như đã phân tích, số lượng dự án đầu tư vào Đà Nẵng còn rất khiêm tốn Nếu

so sánh với Bình Dương, con số này chỉ đạt khoảng 10.22% Đây là một trong những vấn đề mà cấp quản lý của Đà Nẵng cần sớm đưa ra phương thức giải quyết

Trang 39

Tuy nhiên, kể từ năm 2005 trở lại đây, do ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và với những sửa đổi linh hoạt trong

cơ chế, chính sách cũng như cách thức quản lý đầu tư, nên hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng cũng có một số những chuyển biến nhất định Một số các dự án lớn, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực du lịch, đã được ký kết như: dự án khu du lịch giải trí Silver Shores của Mỹ 86 triệu USD, dự án sân golf Hòa Ninh 12 triệu USD, dự án khu du lịch Millenium của Mỹ 35 triệu USD, dự án sản xuất thuốc lá của Anh 40 triệu USD… [55]; thế nhưng tốc độ triển khai của các dự án này còn rất chậm trễ

Bên cạnh đó, nhìn vào bảng thống kê trên, chúng ta thấy phần lớn các nhà đầu

tư vào Đà Nẵng chủ yếu là châu Á, những nước này đầu tư chủ yếu vào các ngành công nghiệp thâm dụng lao động; do vậy cơ hội để tiếp thu công nghệ hiện đại, học tập kinh nghiệm quản lý từ các nước châu Âu, châu Mỹ là điều rất khó khăn

2.2.3 Tình hình thu hút vốn FDI theo hình thức đầu tư

Nguồn vốn FDI đầu tư vào Thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua tập trung chủ yếu vào 3 hình thức như đã đề cập

Trang 40

Biểu 2.1: Vốn FDI theo hình thức đầu tư:

Liên doanh (29%)

Hợp đồng hợp tác kinh doanh (4%)

100% vốn nước ngoài (67%)

(Nguồn: Trung tâm xúc tiến đầu tư Đà Nẵng), [55]

Nhìn vào tỷ lệ phân bố, hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm vị trí chủ yếu và hình thức này đang ngày càng tăng lên; còn hình thức hợp tác kinh doanh ngày càng bị thu hẹp – chỉ có một số dự án về dầu khí

Phần lớn, trong quan hệ đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư khi mới thâm nhập vào nước sở tại thường đầu tư dưới hình thức liên doanh; nhưng ở Đà Nẵng, hình thức đầu tư này thường gặp nhiều khó khăn hơn so với các địa phương khác như Bình Dương, Đồng Nai hay Thành phố Hồ Chí Minh… Điều này được lý giải là muốn thực hiện một dự án đầu tư dưới hình thức liên doanh, phía tiếp nhận đầu tư phải có một mặt bằng chung ở mức tương đối về nhiều khía cạnh: sở hữu, nhân lực, vốn, … Tuy nhiên, tại thành phố Đà Nẵng, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước vốn không nhiều, trình độ quản lý, trình độ nguồn nhân lực lại hạn chế nên khi đặt vấn đề liên doanh, phía đối ứng Việt Nam gặp phải không ít khó khăn Do vậy, trong thời gian gần đây, phần lớn phía nước ngoài thường hoạt động theo hình thức 100% vốn khi đầu tư trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2.2.4 Tình hình thu hút vốn FDI theo lĩnh vực đầu tư

Ngày đăng: 01/04/2013, 14:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1  Các điều kiện về môi trường đầu tư của Trung Quốc - 47 Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng
Hình 1.1 Các điều kiện về môi trường đầu tư của Trung Quốc (Trang 19)
Bảng 1.1:     Tình hình thu hút vốn FDI vào Bình Dương - 47 Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng
Bảng 1.1 Tình hình thu hút vốn FDI vào Bình Dương (Trang 28)
Bảng 2.2:   Nguồn vốn FDI đầu tư vào tỉnh Bình Dương và TP. Đà Nẵng - 47 Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng
Bảng 2.2 Nguồn vốn FDI đầu tư vào tỉnh Bình Dương và TP. Đà Nẵng (Trang 37)
Bảng 2.3:   Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo quốc gia / vùng lãnh thổ - 47 Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng
Bảng 2.3 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo quốc gia / vùng lãnh thổ (Trang 38)
Bảng 2.5:    Tốc độ tăng GDP của các thành phần kinh tế tại TP. Đà Nẵng - 47 Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng
Bảng 2.5 Tốc độ tăng GDP của các thành phần kinh tế tại TP. Đà Nẵng (Trang 42)
Bảng 2.8 :   Số lượng doanh nghiệp trong các KCN tại Đà Nẵng - 47 Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng
Bảng 2.8 Số lượng doanh nghiệp trong các KCN tại Đà Nẵng (Trang 55)
Bảng 2.9:  Các KCN, KCX tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương - 47 Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng
Bảng 2.9 Các KCN, KCX tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương (Trang 55)
Bảng 2.11:   Giá cước thuê tàu tại thị trường Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh - 47 Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng
Bảng 2.11 Giá cước thuê tàu tại thị trường Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh (Trang 60)
Bảng 2.12:   Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch của TP. Đà Nẵng - 47 Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn FDI tại thành phố Đà Nẵng
Bảng 2.12 Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch của TP. Đà Nẵng (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w