Vì thế trong giảng dạy hình học, tranh ảnh và các hình vẽ sinh động giúp học sinh có thể tiếp cận kiến thức một cách tự nhiên nhẹ nhàng, thấy được sự áp dụng kiến thức hình học trong thự
Trang 1MỤC LỤC
Phần I: Mở đầu Trang 2 Lý do chọn đề tài 2
Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu……… 2
Đối tượng nghiên cứu……… 2
Giới hạn và phạm vi nghiên cứu……… 2
Phương pháp nghiên cứu……… 2
Phần II: Nội dung……… 3
Cơ sở lý luận……… 3
Thực trạng……… 3
Giải pháp, biện pháp……… 5
Kết quả……… 14
Phần III: Kết luận, kiến nghị……… 14
Kết luận……… 14
Kiến nghị……… 15
Lời kết……… 15
Trang 2
I.PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Những năm gần đây, Công nghệ thông tin có bước phát triển mạnh mẽ, nó tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội bằng những ứng dụng rộng rãi của mình, nó có mặt ở mọi ngành, trong đó có ngành Giáo dục và đào tạo Mặt khác, ngành Giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho Công nghệ thông tin Công nghệ thông tin là phương tiện để giúp chúng ta hòa nhập toàn thế giới trong mọi lĩnh vực Việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào trường học là việc làm cần thiết và đúng đắn Trong giảng dạy, Công nghệ thông tin có tác dụng mạnh mẽ, giúp cho việc dạy và học linh hoạt và sinh động Nó còn giúp học sinh hứng thú học tập, tiếp thu bài tốt hơn
Mặt khác tình trạng học sinh học yếu môn Toán, cụ thể là phân môn hình học ở cấp THCS là một thực tế đáng lo ngại và là nỗi băn khoăn trăn trở của nhiều giáo viên dạy Toán Tình trạng trên còn trầm trọng hơn đối với học sinh trên địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn Có nhiều nguyên nhân làm cho học sinh học yếu phân môn hình học, song nguyên nhân chính là học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn, có nhiều lỗ hỗng
về kiến thức, kỹ năng Chính vì vậy, tình trạng học sinh học yếu môn Toán ngày càng tăng và nguy hiểm hơn là sự kéo dài từ năm này sang năm khác
Từ thực tế đó tôi nhận thấy cần phải nghiên cứu, tìm ra giải pháp để khắc phục tình trạng trên mới có thể nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo cho học sinh niềm say mê học tập nhất là phân môn hình học Vì lí do trên nên tôi chọn đề tài:
Sử dụng giáo án điện tử trong tiết dạy Hình học để nghiên cứu
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Do những hạn chế cả về khách quan và chủ quan nên trong đề tài này chúng
tôi chỉ nêu được một số nét về thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ thông
tin trong dạy học môn Hình học, cụ thể là lớp 9A5, 9A6 trường THCS Chu Văn
An nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
3 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài " Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Hình học ",
tôi tập trung nghiên cứu học sinh lớp 9A5, 9A6 trường THCS Chu Văn An
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu lớp 9A5 năm học 2012 - 2013, ở Trường THCS Chu Văn An
5 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu lý luận: tiến hành nghiên cứu các văn bản, các bài viết có nội dung về ứng dụng công nghệ thông tin
Nghiên cứu thực tiễn: Thực hiện các phương pháp: thực nghiệm, quan sát, điều tra, đối chiếu với các tiết học không sử dụng công nghệ thông tin
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận:
Trang 3Do đặc thù của môn học, quá trình nhận thức của học sinh cần phải gắn với những hình ảnh, hoạt động cụ thể Vì vậy các phương tiện trực quan rất cần thiết cho quá trình giảng dạy Đặc biệt là các phương tiện trực quan sinh động, rõ nét sẽ thu hút được sự chú ý của học sinh Trong những tiết học có đồ dùng trực quan đẹp, rõ nét hiển thị dưới các dạng khác nhau, phù hợp với thực tế, học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức hơn, nhớ lâu hơn
Dạy học hình học thực chất là quá trình giáo dục thông qua việc dạy học môn Hình học Mỗi nội dung của môn Hình học đều có mối liên hệ mật thiết với những hoạt động nhất định Đó là những hoạt động đã được tiến hành trong quá trình hình thành và vận dụng nội dung đó
Mỗi hoạt động hình học là một tình huống gợi động cơ học tập hình học Mỗi hoạt động hình học thường gồm nhiều hoạt động thành phần với những mục đích riêng Trong đổi mới phương pháp dạy học hình học, ta quan tâm nhiều hơn đến các hoạt động tiếp cận kiến thức mới
Nghiên cứu SGK theo chương trình cải cách hiện nay cho thấy việc dạy học hình học xích lại gần dạy học vật lí Trong hai năm đầu bậc THCS , xu hướng chủ yếu là mô tả, thực nghiệm đưa vào trực giác Yêu cầu vẽ hình; đo đạc, quan sát hình; cắt gấp, ghép hình được tăng cường, qua đó hiểu được và vận dụng được khái niệm, rút ra một số tính chất của các hình Hình học lớp 6, 7 là phần chuyển tiếp từ giai đoạn quan sát thực nghiệm ở bậc tiểu học sang giai đoạn tiếp thu kiến thức bằng suy diễn cấp THCS Hình học cấp THCS được trình bày theo con đường kết hợp trực quan và suy diễn Vì thế trong giảng dạy hình học, tranh ảnh và các hình vẽ sinh động giúp học sinh có thể tiếp cận kiến thức một cách tự nhiên nhẹ nhàng, thấy được sự áp dụng kiến thức hình học trong thực tế đời sống, Bên cạnh
đó yêu cầu về suy luận, diễn dịch, chứng minh cũng được nâng cao dần từ lớp 7 đến lớp 9 Từ lớp 8, các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp… được rèn luyện nhiều nên đòi hỏi các hình vẽ không những đúng, trực quan mà còn có tính tổng quát, tạo thuận lợi cho suy luận chứng minh
Trong giảng dạy hình học, điều có ý nghĩa quan trọng nhất là những hoạt động khai thác, lựa chọn, biến đổi nhình vẽ, từ đó tổ chức, điều khiển học sinh thực hiện các thao tác tư duy, khả năng suy đoán và tưởng tượng, rèn luyện các phương pháp suy luận lôgic
Mặc dù tranh ảnh đã được cung cấp nhưng còn hạn chế Phần tìm hiểu nghĩa các từ chỉ có kênh chữ để minh họa cho một số từ cần giảng, thiếu những hình ảnh trực quan để giờ dạy đạt hiệu quả, nhất là đối với đối tượng học sinh đồng bào Mặt khác việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào giảng dạy sẽ giúp giáo viên tiết kiệm thời gian trình bày bài giảng, dành lượng thời gian này cho học sinh rèn thêm kiến thức kỹ năng Vì vậy, đưa ứng dụng này vào giảng dạy là cần thiết
2 Thực trạng:
a Về thuận lợi- khó khăn:
Trường THCS Chu Văn An là trường đạt chuẩn quốc gia, trường trung tâm của huyện, các hoạt động giáo dục được thực hiện thường xuyên và liên tục nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Trường được sự quan tâm đặc biệt của Phòng giáo
Trang 4dục đầu tư khá lớn về mặt cơ sở vật chất để có thể ứng dụng công nghệ thông tin trong các giờ dạy như máy tính xách tay, máy chiếu…
Nhà trường đã sớm đầu tư trang thiết bị để đưa ứng dụng Công nghệ thông tin vào việc đổi mới phương pháp dạy và học từ nhiều năm nay Phong trào ứng dụng Công nghệ thông tin đưa vào giảng dạy và học tập đã thu hút được sự chú ý chủ động tiếp thu kiến thức một cách tích cực của học sinh
Đặc biệt trong những năm học gần đây, được sự quan tâm của phòng Giáo dục Nhà trường đã tận dụng và mua sắm trang thiết bị như máy tính để bàn, máy chiếu Projector, và nối mạng Internet cho các máy tính phục vụ nhà trường, phục
vụ giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh
Nhà trường luôn tạo điều kiện, động viên giáo viên học tập nâng cao trình
độ Tin học Mỗi lần họp hội đồng, thầy hiệu trưởng thường nhắc nhở giáo viên sử dụng Công nghệ thông tin vào dạy học
Bên cạnh những thuận lợi vẫn còn một số khó khăn như: Việc thiết kế giáo
án điện tử phải được thực hiện công phu Mất nhiều thời gian, công sức để có một bài giảng điện tử đạt yêu cầu
b Thành công- hạn chế:
Khi lên lớp giáo viên làm chủ kiến thức, hạn chế những nhầm lẫn đáng tiếc xảy ra, nội dung bài học được truyền tải một cách đầy đủ thao tác giảng bài đơn giản
Giờ học còn phụ thuộc vào nguồn điện, phòng học, ánh sáng, đèn chiếu
c Th ực trạng:
Học sinh yếu môn Toán là những học sinh có kết quả học tập thường xuyên
ở mức độ thấp, điểm kiểm tra thường xuyên dưới trung bình Sự yếu kém có nhiều biểu hiện, nhiều vẻ nhưng nhìn chung học sinh học yếu Toán có những đặc điểm sau đây:
Có nhiều học sinh kĩ năng vẽ hình rất kém, khi đọc xong một bài toán thì không biết vẽ cái nào trước, cái nào sau Không phân biệt đường cao , đường phân giác, đường trung trực,
Học sinh yếu thường chậm hiểu, có khi bị buộc chặt vào lời giảng của giáo viên hoặc cách phát biểu trong sách giáo khoa Thay cho việc tiếp thu nội dung bằng việc nắm kiến thức một cách hình thức Học sinh có thể đọc vanh vách các định nghĩa, các tính chất, các công thức nhưng khi vận dụng vào để làm bài tập thì lại không thực hiện được
Học sinh học yếu môn Hình học thì thường lười suy nghĩ, chủ yếu trông chờ vào giáo viên giải bài tập trên bảng rồi chép vào vở, khả năng tập trung chú ý thấp, khả năng phân tích, tổng hợp rất hạn chế, nắm kiến thức không chắc nên học sinh thường vận dụng kiến thức một cách máy móc, không tìm hiểu kỹ yêu cầu đề bài, không biết phân tích bài toán
Đối với học sinh yếu khi thực hiện tính toán thường xuyên sai dấu, kĩ năng tính rất chậm, phụ thuộc nhiều vào máy tính
Nhiều em học sinh chưa tự giác học tập, chưa có động cơ học tập nên học không tốt Tâm lý chung của học sinh là rất sợ các môn tự nhiên, nhất là môn Toán Các em học yếu thường không có sự cố gắng liên tục, trong giờ học thường
Trang 5thiếu sự tập trung, không chú ý Hay tìm cách vắng học vào những hôm có hai tiết Toán Có thái dộ rất thụ động và thờ ơ với việc học tập Bài tập giao về nhà các em chỉ làm cho có trong tư thế đối phó Tệ hơn có em còn chép nguyên văn trong sácg giải hay của bạn bè mà không hiểu gì, thậm chí có những học sinh cá biệt không bao giờ làm bài tập ở nhà, thái độ thiếu hợp tác trong giờ học, không mang sách vở đầy đủ, có khi còn không chịu ghi bài
Trong thực tế hiện nay, việc học tập của một số không ít học sinh còn thiếu nghiêm túc, các em có thái đô chán nản trong học tập nhất là ở các môn học có tính
tư duy cao như môn toán
Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với Internet, các dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn lôi cuốn các em hơn là nhiệm vụ học tập Thực tế dạy học môn Toán ở nhiều trường hiện nay cho thấy nhiều, rất nhiều học sinh chán học, lười học và có khuynh hướng “ ham chơi hơn ham học”, Tình trạng học tập của các em là “rất khó nhớ nhưng lại mau quên” càng trở nên phổ biến
Nhiều giáo viên dạy Toán chưa có phương pháp phù hợp với đối tượng học sinh, chưa thực sự quan tâm đến tất cả học sinh trong cả lớp, chỉ chú trọng vào những em học khá, giỏi hay chưa có biện pháp động viên khích lệ kịp thời đối với những tiến bộ của học sinh dù là rất nhỏ Một số giáo viên còn hơi nghiêm khắc, làm cho học sinh có tâm lý e sợ trong giờ học, rụt rè không dám phát biểu
Đặc thù của môn Hình học là thiếu tính sinh động, hấp dẫn nên học sinh không có ý thức tìm hiểu, khám phá kiến thức mới như các môn học khác Hơn nữa thiết bị dạy học cho môn Hình học là rất ít, không sinh động nên học sinh ít có hứng thứ khi học môn Toán
3 Giải pháp, biện pháp:
Dạy bằng giáo án điện tử thì chỉ cần thiết kế trong các Slide có đủ nội dung chính Không cần nói gì soạn nấy mà phải dựa vào nội dung chính để dẫn dắt, nêu câu hỏi gợi ý cho học sinh tìm hiểu bài Từ đó giúp học sinh có thể vận dụng cho các bài học sau
Ngoài việc sử dụng phần mềm trình chiếu PowerPoint, phần mềm VioLE, tôi đã sử dụng phần mềm mã nguồn mở: OpenOffice.org Impress, Lecture
MAKER vào phần soạn giảng Bởi vì các phần mềm mã nguồn mở giúp chúng ta
có thể chèn hình, bài hát, trò chơi, Video, phục vụ bài học thực hành dưới dạng dung lượng lớn hơn nhiều so với phần mềm trình chiếu Power Point mà không cần phải giảm dung lượng trước khi chèn Nhưng để không phải tốn thời gian soạn giảng, tôi đã dùng phần mềm trình chiếu Lecture MAKER vì nó có thể nhúng tất
cả các phần mềm trình chiếu đã soạn trên Power Point, Flas, Impress đã có sẵn Điều này giúp chúng ta tiết kiệm thời gian mà không uổng phí công sức soạn giảng trên các phần mềm khác Đặc biệt phần mềm trình chiếu Lecture MAKER có khả năng hỗ trợ thiết kế các trò chơi đa dạng, sinh động giúp học sinh hiểu bài và phản
xạ nhanh từ đó phát triển tư duy cho học sinh
Việc đưa ứng dụng Công nghệ thông tin vào giảng dạy có rất nhiều thuận lợi cho cả học sinh lẫn giáo viên Vấn đề đặt ra là phải soạn giáo án như thế nào cho phù hợp thì mới đem lại hiệu quả như mong muốn
*Về nội dung:
Trang 6Bảo đảm tính chính xác, khoa học, phù hợp với đặc trưng bộ môn và nội dung phương pháp bài dạy Thể hiện nổi bật được bài học, khơi gợi được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong nhận thức, luyện tập Cụ thể:
+ Đảm bảo tính chính xác về nội dung kiến thức, nội dung tư tưởng, chính xác về chính tả, từ ngữ
+ Khoa học trong cách thiết kế, trình bày Các slide không quá nhiều, được thiết kế khoa học, phù hợp với đặc trưng bộ môn, có tác dụng giúp học sinh suy nghĩ, tìm tòi, khám phá, luyện tập Nội dung các Slide được thiết kế, trình bày sao cho thể hiện nổi bật kiến thức, có tính hệ thống, trình tự, logic ; hình thức thẩm mỹ hấp dẫn, giúp học sinh tập trung chú ý, không gây phân tán chú ý của học sinh, phù hợp với phương pháp dạy học tích cực - thể hiện rõ dụng ý dẫn dắt học sinh suy nghĩ, tìm tòi, khám phá
+ Các phần mềm giáo khoa và các slide, các phim tư liệu (nếu có) làm rõ và thể hiện được sinh động nội dung bài học, đạt hiệu quả cao cho minh họa, khám phá,
hệ thống hóa và khắc chốt kiến thức Ghép nối giữa phần mềm giáo khoa và phim
tư liệu khéo léo, phù hợp trình tự bố cục, logic bài học Tùy bài chọn phần mềm ứng dụng và các slide chữ, slide hình, slide sơ đồ cho phù hợp Nội dung và dữ liệu trong các slide phải đảm bảo minh họa, khắc chốt hoặc hệ thống hóa được kiến thức (đặc biệt phần trọng tâm bài), hướng dẫn học sinh tìm tòi, khám phá bài học Phần mềm ứng dụng đạt hiệu quả cao và sinh động trong thể hiện kiến thức và dẫn dắt học sinh xây dựng bài học
+ Trắc nghiệm sinh động, đạt hiệu quả củng cố, luyện tập, đánh giá kết quả tiết học
* Về hình thức: Trình bày thẩm mỹ, rõ nét, dễ hiểu, dễ nắm, kích thích được sự
hưng phấn, tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Không làm học sinh mất tập trung vào bài học
Cụ thể:
+ Hình và chữ phải rõ, nét, cỡ chữ đủ lớn để xem, gọn lời, trình bày đẹp và có tính trực quan, thể hiện nổi bật được nội dung
+ Các hiệu ứng hình ảnh, màu sắc, âm thanh, chuyển động được sử dụng có mức
độ, hợp lý, không bị lạm dụng, không quá tải đối với học sinh, không gây nhiễu loạn làm mất tập trung vào bài học Các hiệu ứng không làm học sinh phân tán chú
ý, không quá nhiều, sử dụng có cân nhắc để khỏi ảnh hưởng bất lợi
Ví dụ: cho các đối tượng xuất hiện lẻ tẻ, rời rạc, chuyển động bay bướm, vòng vèo, chậm chạp - các dòng chữ chuyển động quá cầu kỳ hoặc rời rạc
Màu sắc sặc sỡ, lòe loẹt ; âm thanh ồn ào chối tai khi chuyển slide hoặc đánh dấu trắc nghiệm Phối màu không khoa học khiến các dòng chữ mờ nhạt, khó nhìn: Hình ảnh và màu sắc làm nền sặc sỡ, chữ màu vàng nhạt ; hoặc nền màu vàng nhạt, chữ màu vàng nâu làm nền sặc sỡ, chữ màu vàng nhạt ; hoặc nền màu vàng nhạt, chữ màu vàng (nâu) dẫn đến khó thấy chữ
a Mục tiêu:
Giúp giáo viên đỡ vất vả hơn khi dạy bằng giáo án điện tử, tạo ra các bài giảng với những thủ pháp đơn giản, ít rườm rà Tận dụng tối đa sự hỗ trợ của công nghệ thông tin giúp học sinh tìm hiểu kỹ hơn kiến thức yêu cầu cần đạt về tư liệu, hình
Trang 7ảnh các nhân vật, những hình ảnh liên quan đến bài học mà bộ đồ dùng, sách giáo khoa không thể hiện được
b.Nội dung- cách thức:
Khi sử dụng giáo án điện tử giáo viên có thể thiết kế bài học như sách giáo khoa không cần in tranh ảnh tốn tiền, mất thời gian mà hình ảnh lại nhỏ không rõ nét như khi đưa lên màn hình lớn
-Mỗi nội dung trong bài học đều có các đề mục, các hình ảnh, các ý chính hay mỗi câu hỏi được đưa lên màn hình lớn, giáo viên có nhiệm vụ nhìn vào màn hình giải thích, dẫn dắt học sinh tìm hiểu kiến thức sẽ giúp học sinh chú ý hơn Sử dụng giáo
án điện tử trong dạy học mang lại hiệu quả cao cho một tiết hình học trên lớp, tăng tính trực quan và sinh động, tăng cường trao đổi thông tin giữa thầy và trò, hạn chế thời gian viết, vẽ hình tăng cường tính chủ đọngvà sáng tạo của học sinh
Sử dụng giáo án điện tử trong dạy học xây dựng hình ảnh và hình vẽ động như là giáo cụ trực quan và sinh động, tăng cường thông tin giữa thầy và trò , khai thác bài toán hay tính chất
Qua quan sát, thực nghiệm, đo đoạn thẳng, đo góc, vẽ hình, học sinh hiểu được các quan hệ trừu tượng trong hình học, điều có ý nghĩa quan trọng nhất là hình ảnh và hình vẽ phải có tính trực quan, sinh động, có tính tổng quát, dễ nhìn thấy những tính chất đã cho
Ví dụ:
- Gợi ý chứng minh bằng hình động
- Định hướng chứng minh
- Gọi ý quĩ tích
- Gợi ý dự đoán cực trị
- Gợi ý vẽ đường phụ
Sử dụng các phần mềm dạy học xây dựng giáo án điện tử hỗ trợ giảng dạy, phù hợp với đặc điểm của chương trình toán THCS, hạn chế thời gian viết, vẽ hình,
mô tả các hoạt động gấp giấy, cắt dán
Đặc biệt, có nhiều hình ảnh đưa vào SGK thể hiện rõ ràng ứng dụng của Toán học vào thực tiễn đời sống Nhiều hình ảnh và hình vẽ giúp tăng cường thông tin
và tính trực quan, góp phần phát triển khả năng tư duy lôgíc cho học sinh, chẳng hạn như hình ảnh của hai đường thẳng song song và vuông góc được thể hiện qua hình ảnh bậc thang, hình ảnh cột điện và dây điện; dụng cụ tìm tâm hình tròn, đo đường kính một vật hình tròn; hình ảnh các nhà toán học như : Py-ta-go, Ơ-clit… Thông qua hình vẽ, tranh ảnh và mô hình thực, học sinh quan sát, phát hiện phỏng đoán và kết luận các dấu hiệu song song, vuông góc giữa đường và mặt…, các tính chất trong lăng trụ đứng, hình chóp đều ở lớp 8 và hình trụ-hình nón-hình cầu ở lớp 9
Rõ ràng, với đặc điểm chung của chương trình Toán THCS, việc tăng cường nhiều hơn các yếu tố hình ảnh, hình vẽ nhờ sự hỗ trợ của các phần mềm sẽ quyết định sự thành công của một tiết dạy hình
Sử dụng giáo án điện tử hỗ trợ cho các hoạt động dạy học khái niệm ở các khâu :
- Tạo biểu tượng của khái niệm, tiếp cận khái niệm
- Thể hiện khái niệm
Trang 8- Thể hiện phản ví dụ của khái niệm.
- Hỗ trợ hoạt động suy luận
- Củng cố khắc sâu khái niệm
- Liên hệ các khái niệm với nhau
Việc sử dung phần mềm trong dạy học khái niệm hình học thực chất là tạo ra các giáo trụ trực quan sinh động hỗ trợ cho các hoạt động hình học của học sinh dưới
sự điều khiển của giáo viên Người ta có thể đưa thêm nhiều hình ảnh minh họa biểu tượng của khái niệm, có tác dụng gợi động cơ mở đầu
Ví dụ; khi dạy khái niệm góc ở tâm giáo viên cho học sinh quan sát từ đó tạo động
cơ mở đầu cho các em.(Giáo viên trình chiếu minh họa)
O
C
D
O
Góc AOB
Và góc COD có
độ lớn khác nhau.
Hãy tìm đặc điểm
chung của góc AOB
Và góc COD ?
Ví dụ : đưa thêm hình ảnh minh họa biểu tượng của khái niệm, tạo động cơ mở đầu cho học sinh Giáo viên trình chiếu minh họa)
Trang 9Baứi 1: ẹieồm ẹửụứng Thaỳng
2 ẹử ẹử ụứng tha tha ỳng :
*
* Caựch veừ :
Duứng buựt chỡ vaùch theo meựp thửụực thaỳng
Vớ dụ: Hỡnh thành khỏi niệm hai đường thẳng vuụng gúc.(Giỏo viờn trỡnh chiếu minh họa)
A
B C
D
O
90 o
45 o
Quan sát hình
sau:
Cho đư ờng
thẳngưCDư
chuyển động
quanh Oưsao
cho góc
AOBư=ư90 o
Vậy : Góc
AOB là
góc gì ?
Khi đư ờng thẳngư ABư cắtư CDư tạoư ra góc
90 o thì hai đư ờng thẳngưABưvà CDưlà hai
đư ờng thẳngưnhư thế nào?
Sử dụng giỏo ỏn điện tử hỗ trợ cho cỏc hoạt động dạy học định lớ cần :
- Thể hiện rừ giả thiết của định lớ ở nhiều vị trớ khỏc nhau của hỡnh vẽ khi biến đổi hỡnh
- Khắc sõu kết luận của định lớ bằng cỏc cụng cụ đo đạc (đo gúc, đo chiều dài…)
- Gợi ý chứng minh định lớ (bằng cỏch vẽ cỏc đường phụ, cắt dỏn,biến đổi hỡnh
vẽ về cỏc trường hợp đặc biệt)
- Củng cố định lớ thụng qua vận dụng (tăng cường yếu tố tớnh toỏn, khai thỏc bài toỏn)
Vớ dụ: khi dạy định lớ về số đo gúc cú đỉnh ở bờn trong đường trũn quan sỏt, từ
đú gợi ý cỏch chứng minh định lớ.(Giỏo viờn trỡnh chiếu minh họa)
Trang 1035 0
100 0
30 0
35 0
30 0
100 0 O
F A
B
C
D
90
2
=
S® F =
S® BC = BC =
S® AD = AD =
Ví dụ: Ứng dụng thực tế khi xác đinh góc tạo bởi mái hiên và mặt đất.(Giáo viên trình chiếu minh họa)
90
b
a
2
1000 - 400
= 300
Ví dụ: Khi giảng định lí tổng ba góc trong một tam giác (Giáo viên trình chiếu minh họa)