1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

21 Huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ tỉnh Phú Yên

80 536 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ tỉnh Phú Yên
Trường học Trường Đại Học Phú Yên
Thể loại Luận văn
Thành phố Phú Yên
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 630,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

21 Huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ tỉnh Phú Yên

Trang 1

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ VÀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP – DNCH VỤ

Quyết định đầu tư có một vị trí quan trọng trong công tác quản trị tài chính, nó cũng là một nhân tố chủ yếu trong quá trình sinh lợi lâu dài, đặc biệt trong điều kiện nguồn lực tài chính bị hạn chế nhưng lại có nhiều cơ hội đầu tư để lựa chọn Quá trình lựa chọn này rất phức tạp bởi vì đa số các cơ hội đầu tư đều dài hạn, còn kết quả của nó lại nằm trong tương lai xa và khó dự đoán Vì vậy, những người làm công tác tài chính cần phải có các công cụ tài chính nhằm giúp họ trong việc so sánh những điểm lợi và bất lợi của các nguồn lực tài chính khác nhau, để từ đó có một quyết định đầu tư khôn ngoan

1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ

1.1.1 Khái niệm về đầu tư

Hiện nay có rất nhiều khái niệm về đầu tư Tuy nhiên, đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau mà các nhà kinh tế học đưa đến các khái niệm về đầu tư cũng khác nhau như sau:

Theo nhà kinh tế học P.A Samuelson thì cho rằng: “Đầu tư là hoạt động tạo ra vốn tư bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nghiên cứu, phát minh…” Trên góc độ làm tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được hiểu là việc từ bỏ tiêu dùng hôm nay để tăng sản lượng cho tương lai, với

niềm tin, kỳ vọng thu nhập do đầu tư đem lại sẽ cao hơn các chi phí đầu tư

Nhà kinh tế học John M.Keynes cho rằng: “Đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài chính để thu lợi nhuận” Do đó, đầu tư theo cách dùng thông thường là việc cá nhân hoặc công ty mua sắm một tài sản nói chung hay mua một tài sản tài chính nói riêng Tuy nhiên, khái niệm này tập trung chủ yếu vào đầu tư tạo thêm tài sản vật chất mới (như máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) và để thu về một khoản lợi nhuận trong tương lai “Khi một người mua hay đầu tư một tài sản, người đó mua quyền để được hưởng các khoản lợi ích trong tương lai mà người đó hy vọng có được qua việc bán sản phNm

Trang 2

mà tài sản đó tạo ra” Quan niệm của ông đã nói lên kết quả của đầu tư về hình thái vật chất là tăng thêm tài sản cố định, tạo ra tài sản mới về mặt giá trị, kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra

Còn theo Luật đầu tư (2005), “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư” Khái niệm này cho thấy đầu tư chỉ là việc bỏ vốn để hình thành tài sản mà không cho thấy được kết quả đầu tư sẽ thu được lợi ích kinh tế như thế nào nhằm thu hút đầu tư

Một khái niệm chung nhất về đầu tư, đó là: “Đầu tư được hiểu là việc sử dụng một lượng giá trị vào việc tạo ra hoặc tăng cường cơ sở vật chất cho nền kinh

tế nhằm thu được các kết quả trong tương lai lớn hơn lượng giá trị đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó”

Khái niệm này về cơ bản đã thể hiện được bản chất của hoạt động đầu tư trong nền kinh tế, có thể áp dụng cho đầu tư của cá nhân, tổ chức và đầu tư của một quốc gia, vùng, miền Đồng thời dựa vào khái niệm này để nhận diện hoạt động đầu tư, tức là căn cứ vào đó để thấy hoạt động nào là đầu tư, hoạt động nào không phải đầu

tư theo những phạm vi xem xét cụ thể

Từ khái niệm đầu tư ta có thể rút ra một số đặc điểm của đầu tư như sau:

thường sử dụng đơn vị tiền tệ để biểu hiện Các nguồn lực để đầu tư có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu nhà nước, tư nhân, nước ngoài

nhiều năm, tháng ) Tuy nhiên thời gian càng dài thì mức độ rủi ro cũng càng cao bởi vì nền kinh tế luôn thay đổi, lạm phát có thể xảy ra cũng như các nguyên nhân chủ quan khác có ảnh hưởng đến đầu tư

thông qua lợi nhuận gắn liền với quyền lợi của chủ đầu tư, và lợi ích về mặt xã hội -

Trang 3

thông qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội hay cộng đồng

1.1.2 Phân loại đầu tư

Căn cứ vào tính chất đầu tư mà người ta chia đầu tư ra làm 2 loại, đó là đầu

tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

1.1.2.1 Đầu tư trực tiếp

Theo Luật đầu tư (2005), đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư

bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư

Nhà đầu tư có thể là Chính phủ thông qua các kênh khác nhau để đầu tư cho

xã hội, điều này thể hiện chi tiêu của Chính phủ thông qua đầu tư các công trình, chính sách xã hội Ngoài ra, người đầu tư có thể là tư nhân, tập thể kể cả các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam Tùy theo từng trường hợp cụ thể

mà các chủ thể tham gia thể hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong quá trình đầu tư

1.1.2.2 Đầu tư gián tiếp

Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư - Luật đầu tư (2005)

Như vậy, đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà trong đó người bỏ vốn ra và người sử dụng vốn không cùng một chủ thể Đầu tư gián tiếp thông thường thông qua kênh tín dụng hay kênh đầu tư trên thị trường chứng khoán

Giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp có quan hệ chặt chẽ trong quá trình thực hiện đầu tư Đầu tư trực tiếp là tiền đề để phát triển đầu tư gián tiếp, điều này thể hiện thông qua nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp từ các tổ chức tín dụng hay các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trên thị trường sơ cấp để huy động vốn Mặt khác, môi trường đầu tư gián tiếp được mở rộng sẽ thúc đNy việc đầu tư trực tiếp với mong đợi tiếp cận với các nguồn vốn được dễ dàng Bởi vì một khi thị trường tài chính phát triển thì nhà đầu tư có nhiều cơ hội lựa chọn các nguồn vốn có

Trang 4

chi phí sử dụng vốn thấp, và cũng có thể sử dụng lợi thế này làm gia tăng đòn bNy tài chính để thực hiện ý đồ kinh doanh của mình

1.2 CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ

Muốn thực hiện công cuộc đầu tư cần có các nguồn lực đầu vào như sức lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động Khoản tiền cần có để trang trải cho các nguồn lực đầu vào này gọi là vốn đầu tư Rõ ràng, vốn đầu tư phải lấy từ trong số của cải mà cá nhân và tổ chức trong xã hội đã làm ra, sau khi trừ đi phần tiêu dùng của họ

Để có chính sách thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế bền vững, cần phân loại nguồn vốn đầu tư và đánh giá đúng tầm quan trọng của từng nguồn vốn Ở góc

độ chung nhất trong phạm vi một quốc gia, nguồn vốn đầu tư được chia thành 2 nguồn: nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài

1.2.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước

Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia Nguồn vốn này có ưu điểm là bền vững, ổn định, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và tránh được hậu quả từ bên ngoài Nguồn vốn trong nước bao gồm vốn Nhà nước, vốn tín dụng, vốn của khu vực doanh nghiệp tư nhân và dân cư chủ yếu được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế

Mặc dù trong thời đại ngày nay, các dòng vốn nước ngoài ngày càng trở nên đặc biệt không thể thiếu được đối với các nước đang phát triển, nhưng nguồn vốn tiết kiệm từ trong nước vẫn giữ vai trò quyết định Các nước Đông Á trong những năm 1960 mức tiết kiệm đạt được chỉ 10% hoặc ít hơn và đã vay nhiều từ thị trường vốn quốc tế, thế nhưng đến những năm 1990 tiết kiệm của các nước này cao hơn đáng kể, bình quân đạt 30% Có thể nói, tiết kiệm luôn ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng, nhất là ở những nước đang phát triển vì làm tăng vốn đầu tư Hơn nữa, tiết kiệm đó là điều kiện cần thiết để hấp thụ vốn nước ngoài có hiệu quả, đồng thời giảm được sức ép về phía ngân hàng Trung ương trong việc hàng năm phải cung ứng thêm tiền để tiêu hóa ngoại tệ Tiết kiệm trong nước được hình thành từ các khu vực sau:

Trang 5

- Tiết kiệm của ngân sách nhà nước: là số chênh lệch dương giữa tổng các khoản thu mang tính không hoàn lại (chủ yếu là thuế) với tổng chi tiêu thường xuyên của ngân sách Tiết kiệm ở khâu tài chính này sẽ hình thành nên nguồn vốn đầu tư của nhà nước Nghĩa là số thu nhập tài chính mà ngân sách tập trung được không thể xem ngay đó là nguồn vốn đầu tư của nhà nước, điều này còn tùy thuộc vào chính sách chi tiêu của ngân sách Nếu quy mô chi tiêu dùng vượt quá số thu nhập tập trung thì nhà nước không có nguồn để tạo vốn cho đầu tư

Đối với các nước đang phát triển, do tiết kiệm của nền kinh tế bị hạn chế bởi yếu tố thu nhập bình quân đầu người, cho nên, để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và

mở rộng đầu tư đòi hỏi nhà nước phải gia tăng tiết kiệm ngân sách nhà nước Để gia tăng tiết kiệm của ngân sách nhà nước thì nền kinh tế cũng phải trả giá nhất định do

sự giảm sút tiết kiệm của khu vực tư nhân Tuy nhiên sự sụt giảm sẽ không hoàn toàn tương ứng với mức tăng tiết kiệm của ngân sách nhà nước nếu như tiết kiệm của ngân sách chủ yếu là thực hiện bằng cách cắt giảm chi tiêu dùng ngân sách

- Tiết kiệm của doanh nghiệp: Là số lãi ròng có được từ kết quả kinh doanh

Đây là nguồn tiết kiệm cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tư phát triển theo chiều rộng và chiều sâu Quy mô tiết kiệm của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố trực tiếp như hiệu quả kinh doanh, chính sách thuế, sự ổn định kinh tế vĩ mô…

- Tiết kiệm của các hộ gia đình và tổ chức đoàn thể xã hội (sau đây gọi tắt là

khu vực dân cư): Là khoản tiền còn lại của thu nhập sau khi đã phân phối và sử dụng cho mục đích tiêu dùng Quy mô tiết kiệm khu vực dân cư chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố trực tiếp như trình độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, chính sách lãi suất, chính sách thuế, sự ổn định kinh tế vĩ mô…

Trong nền kinh tế thị trường, số tiền tiết kiệm của khu vực dân cư có thể chuyển hóa thành nguồn vốn cho đầu tư thông qua các hình thức như gởi tiết kiệm vào các tổ chức tín dụng, mua chứng khoán trên thị trường tài chính, trực tiếp đầu

tư kinh doanh… Có thể nói, tiết kiệm khu vực dân cư giữ vị trí rất quan trọng đối với đầu tư thông qua hệ thống tài chính trung gian

Trang 6

Tóm lại, tiết kiệm là quá trình nền kinh tế dành ra một phần thu nhập hiện tại

để tạo ra nguồn vốn cung ứng cho đầu tư phát triển, qua đó nâng cao hơn nữa mức sống ngày càng cao của người dân trong tương lai Tuy vậy, đối với nền kinh tế đang chuyển đổi trong giai đoạn thực hiện công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, do nguồn vốn tiết kiệm trong nước còn thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư phát triển nên cần phải thu hút nguồn vốn nước ngoài để tạo ra cú hích cho sự đầu tư phát triển nền kinh tế

1.2.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài

So với nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có ưu thế là bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, từ đó thúc đNy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là cầu nối quan trọng giữa kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, thúc đNy các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp cũng như phương thức kinh doanh; nhiều nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, lợi thế địa kinh tế, tài nguyên được khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn Tuy vậy, trong nó lại luôn chứa Nn những nhân tố tiềm tàng gây bất lợi cho nền kinh tế, đó là

sự lệ thuộc, nguy cơ khủng hoảng nợ, sự tháo chạy đầu tư, sự gia tăng tiêu dùng và giảm tiết kiệm trong nước… Như vậy, vấn đề thu hút vốn nước ngoài đặt ra những thử thách không nhỏ trong chính sách thu hút đầu tư của nền kinh tế đang chuyển đổi, đó là, một mặt phải ra sức huy động vốn nước ngoài để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, mặt khác, phải kiểm soát chặt chẽ sự di chuyển của dòng vốn nước ngoài để ngăn chặn khủng hoảng tài chính Để vượt qua những thử thách đó, đòi hỏi nhà nước phải tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi cho sự vận động của dòng vốn này, điều chỉnh và lựa chọn các hình thức thu hút đầu tư sao cho dòng vốn này đầu tư dài hạn trong nước một cách bền vững để có lợi cho nền kinh tế

Về bản chất, vốn nước ngoài cũng được hình thành từ tiết kiệm của các chủ thể kinh tế nước ngoài và được huy động thông qua các hình thức cơ bản:

ODA):

Trang 7

Đây là tất cả các khoản viện trợ của các đối tác viện trợ nước ngoài dành cho Chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ

ODA một mặt nó là nguồn vốn bổ sung cho nguồn vốn trong nước để phát triển kinh tế, bên cạnh đó nó giúp các quốc gia nhận viện trợ tiếp cận nhanh chóng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại Ngoài ra, nó tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và đào tạo phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên, các nước tiếp nhận viện trợ thường xuyên phải đối mặt những thử thách rất lớn đó

là gánh nặng nợ quốc gia trong tương lai, chấp nhận những điều kiện và ràng buộc khắt khe về thủ tục chuyển giao vốn, đôi khi còn gắn cả những điều kiện về chính trị

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Investment – FDI): Đây

là nguồn vốn do các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn vào một nước để đầu tư trực tiếp bằng việc tạo lập những doanh nghiệp FDI đã và đang trở thành hình thức huy động vốn nước ngoài phổ biến của nhiều nước đang phát triển khi mà các luồng dịch chuyển vốn từ các nước phát triển đi tìm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để gia tăng thu nhập trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh giữa các quốc gia

Các hình thức chủ yếu của FDI ở nước ta như doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới các hình thức BOT, BTO, BT

Khác với ODA, FDI không chỉ đơn thuần đưa ngoại tệ vào nước sở tại, mà còn kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả năng tiếp cận thị trường thế giới, giải quyết việc làm, sử dụng tài nguyên trong nước… Song, điều quan trong đặt ra cho các nước tiếp nhận là phải khai thác triệt để các lợi thế có được của nguồn vốn này nhằm đạt được sự phát triển tổng thể cao về kinh tế Tuy nhiên, FDI cũng có những mặt trái của nó Đó là nguồn vốn FDI về thực chất cũng

là một khoản nợ, trước sau nó vẫn không thuộc quyền sỡ hữu và chi phối của nước

sở tại Bên cạnh đó, các nước nhận đầu tư còn phải gánh chịu nhiều thiệt thòi do phải áp dụng một số ưu đãi (như ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, giá thuê đất,

vị trí doanh nghiệp, quyền khai thác tài nguyên…) cho các nhà đầu tư hay bị các

Trang 8

nhà đầu tư nước ngoài tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các yếu tố đầu vào, cũng như vẫn có thể bị chuyển giao những công nghệ và kỹ thuật lạc hậu…

1.3 SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP - DNCH VỤ

Thu hút vốn đầu tư được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu, được các Chính phủ các nước đNy mạnh thực hiện, và quá trình này đang diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia, khu vực, vùng miền Cũng như đối với các ngành kinh tế khác, thu hút vốn đầu tư có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành công nghiệp – dịch vụ

Vì vậy, không ngừng tăng cường thu hút vốn đầu tư vào ngành công nghiệp – dịch vụ là sự cần thiết khách quan, bởi một số lý do sau:

- Góp phần tăng trưởng kinh tế

Mô hình Harrod – Domar đã chỉ ra rằng vốn đầu tư của nền kinh tế có ảnh

hưởng trực tiếp với tốc độ tăng trưởng: Mức tăng trưởng GDP = vốn đầu tư / ICOR

Muốn tăng trưởng hàng năm với tốc độ cao thì phải tăng mức đầu tư và giảm ICOR xuống hoặc hạn chế không tăng Như vậy thu hút đầu tư sẽ làm cho lượng vốn đầu

tư tăng lên, và do đó sản lượng đầu ra cũng tăng lên sẽ góp phần thúc đNy phát triển ngành công nghiệp – dịch vụ nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình phát triển của các ngành kinh tế dẫn đến

sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi tương quan giữa chúng so với một thời điểm trước đó Đầu tư chính là phương tiện đảm bảo cho cơ cấu kinh

tế được hình thành hợp lý Ngành công nghiệp và dịch vụ là một bộ phận cấu thành nên nền kinh tế do đó thu hút vốn đầu tư vào ngành công nghiệp và dịch vụ sẽ làm ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cùng với những vai trò trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, hoạt động thu hút vốn đầu tư vào ngành công nghiệp và dịch vụ còn tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu vùng, hình thành và phát huy vai trò của vùng trọng điểm, đồng thời tăng cường tiềm lực kinh tế cho các vùng khó khăn, thúc đNy mối liên hệ, giao lưu kinh tế liên vùng, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững

Trang 9

Định hướng và biện pháp thu hút vốn đầu tư hợp lý còn tác động đến cơ cấu thành phần kinh tế, và tác động đến mối quan hệ giữa đầu tư khu vực nhà nước và khu vực tư nhân Đầu tư công cộng của Nhà nước phải có tác động lôi kéo, dẫn dắt

mà không làm suy giảm, lấn át đầu tư tư nhân

- Góp phần tăng cường khoa học kỹ thuật và nâng cao năng lực quản lý điều hành kinh doanh

Thu hút vốn đầu tư để phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ sẽ làm cho trình

độ khoa học kỹ thuật của ngành công nghiệp và dịch vụ được tăng lên thông qua các dự án đầu tư được triển khai, thay thế các thiết bị, công nghệ lạc hậu Đối với các nước đang phát triển, mặc dù tích lũy vốn và công nghệ thấp nhưng cũng có những lợi thế của người đi sau tiếp thu, thích nghi và làm chủ công nghệ có sẵn, do

đó rút ngắn thời gian và giảm những rủi ro trong áp dụng công nghệ mới Đồng thời thu hút vốn đầu tư vào phát triển công nghiệp và dịch vụ sẽ góp phần nâng cao được trình độ quản lý, năng lực điều hành của một số nhà doanh nghiệp

- Góp phần tạo công ăn việc làm cho địa phương và tăng nguồn thu cho NSNN

Thu hút vốn đầu tư còn góp phần tạo ra công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, làm cho nguồn nhân lực phát triển cả về số lượng và chất lượng; đồng thời tạo điều kiện khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và góp phần tăng thu ngân sách nhà nước

Trang 10

1.4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP – DNCH VỤ

Sơ đồ 1.1: Những nhân tố thu hút vốn đầu tư 1.4.1 Sự ổn định về kinh tế, chính trị - xã hội và luật pháp đầu tư

Đây là điều kiện tiên quyết nhằm giảm thiểu những rủi ro của vốn đầu tư vượt khỏi sự kiểm soát của chủ đầu tư Những bất ổn kinh tế - chính trị không chỉ làm cho dòng vốn đầu tư bị chững lại, thu hẹp mà còn làm cho dòng vốn đầu tư từ trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến nơi trú Nn mới an toàn và hấp dẫn hơn

Hệ thống pháp luật đầu tư của nước sở tại phải đảm bảo sự an toàn về vốn và cuộc sống cá nhân cho nhà đầu tư khi hoạt động đầu tư đó của họ không làm phương hại đến an ninh quốc gia, đảm bảo pháp lý đối với tài sản tư nhân và môi trường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo việc di chuyển lợi nhuận cho các nhà đầu tư Nội dung của hệ thống pháp luật càng đồng bộ, chặt chẽ, tiên tiến, nhưng cởi mở, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế thì khả năng hấp dẫn vốn đầu tư càng cao

Thu hút vốn đầu tư

Sự ổn định kinh tế, chính trị xã hội và luật pháp đầu tư

Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch

Hiệu quả các dự

án đã thu hút đầu

tư trong ngành

Chính sách thu hút đầu tư

nước

Trang 11

1.4.2 Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch của địa phương

Sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ gắn liền với việc khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, do đó tài nguyên thiên nhiên như núi, rừng, biển, đảo, sông ngòi, ghềnh thác, ao hồ, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, con người… là những nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu hút đầu tư vào ngành công nghiệp và dịch vụ

Những địa phương có nhiều điều kiện về tài nguyên sẽ giúp cho địa phương phát triển thành ngành công nghiệp thế mạnh, có nguồn nguyên liệu sẵn có sẽ trở thành một lợi thế cạnh tranh Những địa phương có nhiều điều kiện về du lịch thì sẽ

có nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư vào ngành dịch vụ

1.4.3 Chính sách thu hút vốn đầu tư ở địa phương

Chính sách thương mại được thông thoáng theo hướng tự do hóa sẽ bảo đảm khả năng xuất – nhập khNu máy móc thiết bị, nguyên liệu sản xuất, cũng như sản phNm, tức là bảo đảm sự thuận lợi, kết nối liên tục các công đoạn hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Các mức ưu đãi tài chính - tiền tệ dành cho vốn đầu tư trước hết phải bảo đảm cho các chủ đầu tư tìm kiếm được lợi nhuận cao nhất trong điều kiện kinh doanh chung của khu vực, của mỗi nước; đồng thời nó còn khuyến khích họ đầu tư vào những nơi mà Chính phủ muốn khuyến khích đầu tư Trong đó, những ưu đãi về thuế chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong số các ưu đãi tài chính dành cho đầu tư Mức ưu đãi thuế cao hơn luôn được giành cho các dự án đầu tư có tỷ lệ vốn đầu tư cao, quy mô lớn, dài hạn, sử dụng nhiều nguyên vật liệu và lao động, tái đầu tư lợi nhuận và có mức độ “nội địa hóa” sản phNm và công nghệ cao hơn

Sự hỗ trợ tín dụng cùng với các dịch vụ tài chính, bảo lãnh của Chính phủ, của các cơ quan tín dụng xuất khNu và của các tổ chức tài chính đa phương như WB, ADB đã, đang và sẽ đóng vai trò to lớn làm tăng dòng vốn đầu tư, nhất là vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài vào các nước và địa phương

Như vậy, một khi các rủi ro giảm xuống, tỷ lệ lợi nhuận tăng lên, thì các luồng vốn đầu tư sẽ đổ vào nhiều và ổn định, ngay cả khi tốc độ tăng trưởng chung của nước đó chậm lại Ngược lại, các nhà đầu tư sẽ thận trọng hơn, thậm chí bỏ đi nếu

Trang 12

nơi tiếp nhận đầu tư có “độ tin cậy thấp về tín dụng” – một chỉ số tổng hợp của các yếu tố như rủi ro chính trị cao, phát triển kinh tế chậm, xuất khNu kém, nợ cao và bất ổn định kinh tế vĩ mô… Khi đó, dù những ưu đãi tài chính rất cao được đưa ra cũng khó hấp dẫn được các nhà đầu tư vốn năng động, thận trọng, luôn mong muốn

và thường có nhiều cơ hội lựa chọn thị trường đầu tư như ý trên toàn thế giới

1.4.4 Sự phát triển của cơ sở hạ tầng

Sự phát triển của cơ sở hạ tầng kinh tế của một quốc gia và một địa phương tiếp nhận đầu tư luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư có thể nhanh chóng thông qua các quyết định và triển khai thực tế các dự án đầu tư đã cam kết Một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ thống giao thông vận tải đồng

bộ và hiện đại với các cầu cảng, đường sá, kho bãi và các phương tiện vận tải đủ sức bao phủ quốc gia và đủ tầm hoạt động quốc tế; một hệ thống bưu điện thông tin liên lạc viễn thông với các phương tiện nghe – nhìn hiện đại, có thể nối mạng thống nhất toàn quốc và liên thông với toàn cầu; hệ thống điện, nước đầy đủ và phân bổ tiện lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống xã hội; một hệ thống mạng lưới cung cấp các loại dịch vụ khác ( y tế, giáo dục, giải trí, các dịch vụ hải quan, tài chính, thương mại, quảng cáo, kỹ thuật…) phát triển rộng khắp, đa dạng và có chất lượng cao

1.4.5 Sự phát triển của đội ngũ lao động, của trình độ khoa học – công nghệ và hệ thống doanh nghiệp trong nước và trên địa bàn

Đội ngũ nhân lực có tay nghề cao là điều kiện rất quan trọng để một nước và địa phương vượt qua được những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên và trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư Việc thiếu các nhân lực kỹ thuật lành nghề, các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý cao cấp, các nhà doanh nghiệp tài ba và sự lạc hậu về trình độ khoa học – công nghệ sẽ khó lòng đáp ứng được các yêu cầu của nhà đầu tư để triển khai các dự án của họ, làm chậm và thu hẹp lại dòng vốn đầu tư chảy vào một lãnh thổ

và địa phương

Một hệ thống doanh nghiệp trong lãnh thổ và địa phương phát triển, đủ sức hấp thu công nghệ chuyển giao, và là đối tác ngày càng bình đẳng với các nhà đầu

Trang 13

tư là điều kiện cần thiết để lãnh thổ và địa phương tiếp nhận đầu tư có thể thu hút được nhiều hơn và hiệu quả hơn luồng vốn đầu tư

1.4.6 Sự phát triển của nền hành chính quốc gia

Lực cản lớn làm nản lòng các nhà đầu tư là thủ tục hành chính rườm ra, phiền phức gây tốn kém về thời gian và chi phí, làm mất cơ hội đầu tư Bộ máy hành chính hiệu quả quyết định sự thành công không chỉ thu hút vốn đầu tư mà còn của toàn bộ quá trình huy động, sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của mỗi quốc gia cũng như mỗi địa phương Bộ máy đó phải thống nhất, gọn nhẹ, sáng suốt và nhạy bén Đối với những thủ tục hành chính, những quy định pháp luật cần phải được đơn giản, công khai và nhất quán, được thực hiện bởi những con người có trình độ chuyên môn cao, được giáo dục tốt và có kỷ luật, tôn trọng pháp luật

1.4.7 Hiệu quả của các dự án thu hút đầu tư đã triển khai trong ngành

Vì mục tiêu của việc đầu tư vốn là nhằm thu lợi nhuận, do vậy, nếu các dự án thu hút đầu tư đã được triển khai đạt kết quả tỷ suất lợi nhuận cao sẽ khuyến khích

và củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư tiếp tục đầu tư để tái sản xuất mở rộng, đồng thời họ cũng là những cầu nối thuyết phục các nhà đầu tư khác yên tâm bỏ vốn Điều này sẽ giúp cho nguồn vốn đầu tư tiếp tục tăng Ngược lại, nếu các dự án đang triển khai kinh doanh không hiệu quả, thường xuyên thua lỗ sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư, vì họ cho rằng môi trường đầu tư đã có rủi ro

Tóm l ại, vốn đầu tư đã, đang và sẽ tìm đến quốc gia và địa phương nào có nền

kinh tế - chính trị - xã hội ổn định; hệ thống pháp luật đầu tư đầy đủ, thông thoáng nhưng đáng tin cậy và mang tính chuNn mực quốc tế cao; chính sách ưu đãi đầu tư linh hoạt và hấp dẫn; có cơ sở hạ tầng du lịch được chuNn bị tốt; lao động trong lĩnh vực du lịch có trình độ cao và rẻ; kinh doanh đạt hiệu quả; đặc biệt, việc quốc gia hoặc địa phương đó tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế, cũng như tuân thủ nghiêm các qui định của các tổ chức… sẽ là những yếu tố đảm bảo lòng tin

và hấp dẫn các dòng vốn đầu tư, thậm chí còn mạnh hơn việc đưa ra các ưu đãi tài chính cao… Nghĩa là dòng vốn đầu tư chỉ ưa tìm đến những nơi đầu tư an toàn, đồng vốn được sử dụng có hiệu quả, quay vòng nhanh và ít rủi ro

Trang 14

1.5 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRÊN GÓC ĐỘ CHÍNH PHỦ VÀ GÓC ĐỘ DOANH NGHIỆP

Để đánh giá hiệu quả thu hút vốn đầu tư, thông thường người ta quan tâm đến

cả về mặt hiệu kinh tế và hiệu quả xã hội mà các dự án mang lại Thông thường để đánh giá hiệu quả đầu tư doanh nghiệp thường sử dụng các chỉ tiêu về hiệu quả kinh

tế Còn đối với chính phủ lại thường sử dụng chỉ tiêu hiệu quả xã hội

1.5.1 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hiệu quả kinh tế luôn là vấn đề được mọi doanh nghiệp cũng như toàn xã hội quan tâm Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẳn có của đơn vị cũng như nền kinh tế nhằm đưa tổ chức đó đạt được mục tiêu đề ra

Hiệu quả đầu tư được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với các nguồn lực bỏ ra đầu tư để đạt được kết quả đó Thông thường, hiệu quả kinh tế được tính theo công thức tổng quát sau:

Kết quả đạt được Hiệu quả

kinh tế = Nguồn lực đầu tư Trong đó, kết quả đạt được thường được đo lường bằng các chỉ tiêu như doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất…và các nguồn lực đã được đầu tư bao gồm số lao động, vốn đầu tư kinh doanh, chi phí đầu tư…

Như vậy, khi đánh giá hiệu quả đầu tư, người ta không chỉ dùng lại ở việc đánh giá kết quả đầu tư mà còn đánh giá chất lượng tạo ra kết quả đó Do đó, để đánh giá hiệu quả đầu tư người ta thường đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với tổng vốn đầu tư, doanh thu, chi phí, nguồn lao động… mà doanh nghiệp đã sử dụng Vì vậy, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau đây để đánh giá hiệu quả đầu tư, đó là:

1.5.1.1 Hi ệu quả sử dụng lao động

Lao động là nguồn lực quan trọng của đất nước nói chung và của doanh nghiệp nói riêng Đội ngũ lao động có tài và được sử dụng hợp lý sẽ góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp Để đánh giá hiệu quả sử dụng lao động, người ta thường sử dụng chỉ tiêu năng suất lao động bình quân

Trang 15

Năng suất lao động bình quân phản ánh năng lực sản xuất của người lao động tạo ra một lượng giá trị sản xuất hay một mức doanh thu trong một thời gian nhất định Năng suất lao động bình quân càng cao phản ánh hiệu suất sử dụng lao động của doanh nghiệp ngày càng tốt Năng suất lao động bình quân được tính theo công thức sau:

Tổng giá trị sản xuất (doanh thu) Năng suất lao

động bình quân =

Tổng số lượng lao động

Năng suất lao động bình quân là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, biểu hiện hiệu quả sử dụng nguồn lao động của doanh nghiệp Qua phân tích năng suất lao động bình quân giữa các kỳ kinh doanh, nhà quản lý sẽ tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động năng suất lao động Từ đó giúp cho các nhà quản lý có cách nhìn sâu sắc hơn trong công tác quản trị nhân sự, và có giải pháp thích hợp hơn trong công tác bố trí lực lượng lao động nhằm tạo ra năng suất lao động cao nhất Vì vậy, không ngừng nâng cao năng suất lao động là biện pháp chủ yếu để tăng sản lượng, hạ thấp giá thành sản phNm và điều này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.5.1.2 T ỷ suất lợi nhuận trên doanh thu

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu chỉ ra mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận Đây là 2 yếu tố liên quan rất mật thiết với nhau mà trong đó, doanh thu chỉ

ra vai trò, vị trí doanh nghiệp trên thương trường thì lợi nhuận lại thể hiện chất lượng, kết quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp Như vậy, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là chỉ tiêu thể hiện vai trò và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp qua một kỳ kinh doanh Tổng mức doanh thu, tổng mức lợi nhuận và tỷ số lợi nhuận trên doanh thu càng lớn thì vai trò, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt Chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:

Lợi nhuận thực hiện

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Tổng doanh thu

Chỉ tiêu này phản ánh trong một kỳ kinh doanh, cứ trong 1đồng doanh thu

mà doanh nghiệp thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì có bao

Trang 16

nhiêu đồng là lợi nhuận Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh càng thấp, và do đó hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng cao

1.5.1.3 T ỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư phản ảnh hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp qua các kỳ kinh doanh cao hay thấp Đây là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư quan trọng nhất, bởi vì nó phản ảnh một đồng vốn đầu tư tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ đầu tư Chỉ tiêu này được tính theo công thức:

Lợi nhuận thực hiện

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư = Tổng vốn đầu tư

Chỉ tiêu này cho biết, bình quân 1 đồng vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận tính trong một kỳ đầu tư Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư càng cao thì trình độ quản lí sử dụng vốn của doanh nghiệp càng tốt Ngược lại, tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư thấp, thể hiện trình độ năng lực quản lý sử dụng vốn của doanh nghiệp chưa hiệu quả Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư được xem là hợp lý khi lớn hơn hoặc bằng lãi suất cho vay vốn bình quân trên thị trường trong kỳ

Qua phân tích tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư giúp cho các nhà quản lý

có cơ hội đánh giá đúng đắn chất lượng công tác quản lý sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh, trên cơ sở đó đề ra biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng tổng vốn của doanh nghiệp

Ngoài ra, để đánh giá hiệu quả đầu tư người ta còn có sử dụng thêm một số chỉ tiêu hiệu quả khác như thời hạn thu hồi vốn, điểm hòa vốn, vòng quay tổng vốn…

1.5.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội

Bên cạnh việc đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư, người ta còn quan tâm những tác động của dự án đầu tư đến xã hội cả về những tác động tích cực lẫn tác động tiêu cực của các dự án Hiệu quả đầu tư trên giác độ nền kinh tế mà người

ta nhận thấy đó là việc nâng cao năng lực sản xuất, tiềm lực kinh tế của đất nước,

Trang 17

phát triển kinh tế nhanh, nâng cao mức sống của nhân dân, nâng cao dân trí… và đặc biệt là hạn chế tối đa tác động xấu đến môi trường Do vậy, thông thường để đánh giá hiệu quả xã hội của dự án người ta thường quan tâm đến các chỉ tiêu như mức đóng góp giá trị sản phNm thuần túy, số lao động có việc làm, đóng góp NSNN, tăng kim ngạch xuất khNu, tác động của dự án đến môi trường đầu tư (môi trường kinh tế, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội…)

1.5.2.1 T ăng mức đóng góp tổng giá trị sản phm cho nền kinh tế

Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề kinh doanh, khi tiến hành hoạt động đầu tư đều tạo ra một lượng giá trị sản phNm nhất định, do đó góp phần làm tăng giá trị tổng sản phNm quốc dân cho nền kinh tế Tất nhiên, mỗi ngành nghề khác nhau, với mức độ đầu tư khác nhau thì mức đóng góp vào tổng sản phNm quốc dân cũng khác nhau Mức đóng góp vào tổng sản phNm quốc dân của các ngành khác nhau sẽ có tác động đến sự dịch chuyển của cơ cấu kinh tế theo ngành nào có mức đóng góp lớn Từ đó cho thấy hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, làm cho cơ cấu kinh tế dịch theo hướng hợp lý hơn hay không hợp lý tùy thuộc vào cơ cấu kinh tế mục tiêu mà nền kinh tế đó cần đạt được

1.5.2.2 T ăng thu ngân ngân sách nhà nước

Mọi doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế, trong nước hay nước ngoài khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có nghĩa vụ đóng góp ngân sách cho Nhà nước dưới các hình thức như thuế (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khNu, thuế tài nguyên…), phí và lệ phí Nhà nước sẽ sử dụng các khoản thu này để chi cho đầu tư phát triển của nền kinh tế quốc dân và ở các lĩnh vực phi sản xuất kinh doanh, do đó góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân Do đó, mức đóng góp của các doanh nghiệp cho ngân sách càng nhiều sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế được tái đầu tư nhiều hơn, và do đó sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh

Trang 18

1.5.2.3 T ạo thêm việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động

Bất kỳ quốc gia nào cũng đều xảy ra tình trạng thất nghiệp, không có tình trạng thất nghiệp cao thì cũng có tình trạng thất nghiệp thấp Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh bất kỳ ngành kinh tế nào cũng tạo ra một khối lượng công việc nhất định, và dĩ nhiên sẽ tạo ra nhu cầu về tuyển dụng lao động Tuy nhiên, mỗi ngành nghề khác nhau sẽ tạo ra nhu cầu sử dụng lao động khác nhau Do đó, hoạt động đầutư sẽ tạo công ăn việc làm cho người lao động và góp phần nâng cao đời sống cho người lao động

Xét trên phương diện kinh tế, việc nâng cao mức sống của người dân được thể hiện qua các chỉ tiêu như gia tăng thu nhập quốc dân bình quân trên đầu người, gia tăng đầu tư xã hội, mức tăng trưởng phúc lợi xã hội…

1.6 KINH NGHIỆM THU HÚT VỐN CHO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP - DNCH VỤ Ở MỘT SỐ TỈNH THÀNH TRONG KHU VỰC

1.6.1 Kinh nghiệm thu hút vốn cho phát triển công nghiệp – dịch vụ của tỉnh Bình Định

2005 đạt 5.626 tỷ đồng, gấp 1,54 lần năm 2000 Nhịp độ tăng trưởng GDP thời kỳ

2001 - 2005 bình quân hàng năm 9%, đạt chỉ tiêu đề ra (9 - 10%) Trong đó công nghiệp - xây dựng tăng 14%, nông, lâm nghiệp tăng 5,7% và dịch vụ tăng 10,1% Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 16% /năm GDP bình quân đầu người (theo giá USD thực tế) tăng từ 219,7 USD năm 2000 lên 401 USD năm 2005 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, năm 2005, nông, lâm, ngư nghiệp trong GDP chiếm 36,9%, công nghiệp – xây dựng 28,2%, dịch vụ 34,9%

Trang 19

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn : Đã quy hoạch, đầu tư phát triển một số khu, cụm công nghiệp

Các ngành dịch vụ, du lịch :

Thời kỳ 2001 - 2005 giá trị gia tăng ngành dịch vụ tăng bình quân hàng năm 10,1%.Tổng kim ngạch xuất khNu trong 5 năm đạt 753 triệu USD Hoạt động nội thương phát triển mạnh và đa dạng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội tăng bình quân hơn 13% mỗi năm

Hàng hóa thông qua cảng biển tăng nhanh, từ 1,65 triệu tấn năm 2000, đến năm 2005 ước đạt 3,1 triệu tấn Khối lượng hàng hóa luân chuyển bình quân tăng 51%/ năm Hoạt động vận tải hành khách thuận lợi và đa dạng

Hoạt động du lịch có bước phát triển, chất lượng dịch vụ du lịch được nâng lên Khách du lịch đến Bình Định tăng bình quân 25,7%/năm.Các lĩnh vực dịch vụ tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, kỹ thuật, tin học được mở rộng

1.6.1.2 Nh ững khó khăn tồn đọng

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhìn chung chưa tương xứng với nguồn lực, tiềm năng của tỉnh và chưa thật ổn định, bền vững Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, thiếu vững chắc

- Công nghiệp qui mô còn nhỏ Vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến kết quả còn hạn chế Du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh Cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn

- Khoa học công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa; hiệu quả trong nghiên cứu và ứng dụng các đề tài khoa học chưa cao

- Ô nhiễm môi trường ở một số cơ sở sản xuất và trong các khu dân cư đang là vấn đề bức xúc của xã hội

- Thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần còn nhiều hạn chế Một số doanh nghiệp nhà nước vẫn còn tư tưởng ỷ lại

- Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với nền kinh tế còn thấp Cải cách thủ tục hành chính chưa đồng bộ, chất lượng công tác qui hoạch còn thấp, chậm được sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh kịp thời

Trang 20

- Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trương, chính sách của các cấp uỷ, chính quyền còn hạn chế Một số chủ trương, chính sách chưa được nghiên cứu kỹ và thiếu cụ thể hóa, thiếu nguồn lực để thực hiện Sự phối hợp, kết hợp giữa các ngành, địa phương trên một số lĩnh vực thiếu chặt chẽ, đồng bộ

- Nguồn lực cho đầu tư phát triển còn hạn hẹp Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư trong quá trình sản xuất, kinh doanh còn chậm

1.6.2 Kinh nghiệm thu hút vốn cho phát triển công nghiệp – dịch vụ của tỉnh Bình Thuận

1.6.2.1 Thu hút v ốn đầu tư trong nước cho phát triển công nghiệp – d ịch vụ của tỉnh Bình Thuận

Một số điểm khá nổi bật trong giai đoạn 2001-2005 là đảm bảo cơ cấu kinh

tế chuyển dịch đúng hướng, giá trị sản xuất và tăng thêm ở các ngành tăng cao, đã xây dựng quy hoạch phát triển cho từng vùng, từng ngành, từng lãnh vực, trên cơ sở

đó từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu đầu tư và cơ cấu lao động từng bước phù hợp với lĩnh vực, ngành nghề phát triển

Năm 2000 tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng, dịch vụ, nông lâm thủy sản là 22,73% - 35,31% - 41,95% đến năm 2005 tỷ trọng này là 29,27% - 38,78% - 31,95% (Nghị quyết 26% - 36,4% - 37,6%) GDP bình quân đầu người là 7 triệu đồng, tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng, dịch vụ, nông lâm nghiệp là 32,07%

- 37,24% - 30,69% Cơ cấu các thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần phần kinh tế, đến năm 2005 tỷ trọng kinh tế nhà nước – ngoài quốc doanh - đầu tư nước ngoài lần lượt là: 24,7% - 74,4% - 0,9% (tính cả thủy điện)

Cơ cấu vốn đầu tư xã hội và cơ cấu lao lao động nói chung cũng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, tăng tỷ trọng công nghiệp – dịch vụ, giảm tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp Tỷ lệ lao động công nghiệp - xây dựng từ 10,9% lên 11,0%, lao động khu vực dịch vụ từ 20,8% lên 24,2%, lao động trong lĩnh vực nông lâm thủy sản từ 68,3% giảm còn 64,9% Sự dịch chuyển

Trang 21

cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội hoàn toàn phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu GDP

Công nghiệp và xây dựng liên tục tăng trưởng cao, có chuyển biến khá Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm là 16,6%

Khu công nghiệp Phan Thiết được lắp đầy và đầu tư mở rộng Đang tích cực chuNn bị đầu tư khu công nghiệp Hàm Kiệm, quy hoạch và thực hiện các bước để chuNn bị đầu tư các khu công nghiệp quy mô lớn để đón đầu sự phát triển công nghiệp của vùng trọng điểm kinh tế phía Nam, công nghiệp dầu khí

Phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn bước đầu được quan tâm chỉ đạo, quy hoạch hình thành 9 cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

ở các địa phương, đã công nhận 15 làng nghề công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và

3 làng nghề truyền thống, đã triển khai xây dựng được một số làng nghề gạch ngói

ở Hàm Thuận Nam, Đức Linh

Các ngành thương mại - dịch vụ phát triển khá, đáp ứng cơ bản yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là du lịch dịch vụ phát triển nhanh cả về cơ sở kinh doanh, lượng khách, doanh thu và giải quyết việc làm, góp phần tăng trưởng chung Công tác quản lý thị trường, chống buôn lậu và gian lận thương mại được tăng cường góp phần ổn định và phát triển thị trường trong tỉnh

Dịch vụ du lịch phát triển nhanh do được tập trung chỉ đạo và đầu tư, ngành

du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Kết cấu hạ tầng phục vụ cho du lịch phát triển ở một số vùng du lịch trọng tâm được đầu tư cùng với các chính sách thông thoáng đã thu hút được trên 360 dự án khai thác tiềm năng du lịch, trong đó có trên 80 dự án đi vào hoạt động Lượng khách du lịch tăng bình quân 27%/năm, năm 2005 đón khoảng 1,7 triệu lượt khách, vượt chỉ tiêu Nghị quyết đại hội đề ra (1,2-1,5 triệu lượt), trong đó có 150.000 lượt khách quốc tế (gấp

3 lần so với năm 2000) Doanh thu tăng bình quân hàng năm 36%, đạt 500 tỷ đồng năm 2005 (gấp 4,6 lần so với năm 2000) Tỉ trọng GDP của ngành kinh tế du lịch

chiếm 10% so tổng GDP toàn tỉnh năm 2005 (Nghị quyết 10%)

Trang 22

- Các loại hình dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính, dịch vụ công, các dịch vụ hỗ trợ các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp phát triển

mạnh và nhanh hơn giai đoạn trước

1.6.2.2 Thu hút v ốn đầu tư nước ngoài cho phát triển công nghiệp – d ịch vụ của tỉnh Bình Thuận

Trong năm 2008 trên địa bàn tỉnh Bình Thuận có thêm 9 dự án được cấp Giấy phép đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 425 triệu USD vào ngành công nghiệp và dịch vụ

Ngoài ra, còn có một số doanh nghiệp và dự án đầu tư của các dự án đầu tư nước ngoài tiến hành đăng ký lại và trong quá trình đăng ký lại đã bổ sung tăng vốn đầu tư và mở rộng qui mô đầu tư với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 1,44 triệu USD trong năm 2008

Do vậy, tổng số vốn đầu tư nước ngoài cấp mới và tăng thêm trong năm

2008 là 429,94 triệu USD tăng 1,8 lần so với cùng kỳ năm 2007 (429,94/234,4 triệu USD)

Như vậy, tính đến 5/12/2008, trên địa bàn tỉnh Bình Thuận có 63 dự án có vốn đầu tư nước còn hiệu lực (KCN: 07 dự án – VĐT: 32,1 triệu USD) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 847,8 triệu USD, trong đó:

+ Lĩnh vực Du lịch - dịch vụ: 32 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 771,9 triệu USD

+ Lĩnh vực Công nghiệp – xây dựng: 18 dự án, với tổng vốn đầu tư đăng ký

Trang 23

1.6.2.3 Đánh giá chung về việc thu hút vốn đầu tư cho phát triền công nghi ệp và dịch vụ tỉnh Bình Thuận

M ặt đạt được:

- Thực hiện kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 trong điều kiện phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức rất gay gắt nhưng tình hình kinh tế của tỉnh nhà tiếp tục duy trì và phát triển với tốc độ khá, đạt được mục tiêu tăng trưởng của kế hoạch 5 năm Nghị quyết Tỉnh Đảng bộ đề ra Chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của một số lĩnh vực và sản phNm có chuyển biến Giá trị sản xuất của các ngành tăng nhanh Cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, phát huy được lợi thế từng vùng, từng ngành, từng sản phNm Kinh tế đối ngoại được mở rộng Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư phát huy hiệu quả Riêng đối với tình hình hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Tỉnh trong năm 2008 có tiến bộ và chuyển biến tích cực hơn so với cùng kỳ năm 2007, thể hiện nhiều nhà đầu tư đến tìm hiểu đầu tư, qui mô vốn đầu tư của từng dự án lớn hơn, vốn thực hiện và doanh thu của các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài đều tăng

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhiều doanh nghiệp đạt doanh số cao hơn so với cùng kỳ năm 2007, một số Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã nâng cao chất lượng sản phNm và số lượng sản phNm tham gia xuất khNu và thực hiện đựợc cam kết ban đầu về tỉ lệ xuất khNu

- Việc đơn giản hóa thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư và phân cấp cho Tỉnh theo Luật Đầu tư và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ đã góp phần thúc đNy việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Tỉnh trong thời gian qua

- Tạo điều kiện thuận lợi và rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án nước ngoài vào đầu tư và Giấy chứng nhận điều chỉnh cho doanh nghiệp đang hoạt động (trước đây trên 5 triệu USD phải chuyển ra Bộ điều chỉnh)

M ặt hạn chế:

Trang 24

- Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc và bền vững, chưa tạo được sự bứt phá Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuy khá nhưng chưa phát huy đúng mức lợi thế so sánh trong từng vùng, từng ngành, từng thành phần kinh tế Chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp Khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế còn chậm; chưa khai thác triệt để thế mạnh kinh tế biển, tiềm năng du lịch, đề ra các giải pháp để phát triển vùng kinh tế động lực và các sản phNm lợi thế để tập trung đầu tư tiến hành còn chậm

- Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chưa có sản phNm chủ lực cho xuất khNu, làng nghề phát triển chưa nhiều Tỷ trọng GDP công nghiệp trong nền kinh tế (21,4%) so với bình quân cả nước (khoảng 28%); thiết bị, công nghệ ngành công nghiệp phần lớn vẫn còn trong tình trạng lạc hậu Hiệu quả sản xuất công nghiệp chưa cao, do chi phí trung gian còn lớn

- Sản phNm du lịch chưa phong phú đa dạng, hấp dẫn thu hút du khách hơn; dịch vụ du lịch ở một số nơi vẫn còn thiếu tính chuyên nghiệp; chưa có các khu vui chơi giải trí, bán hàng lưu niệm phục vụ khách du lịch với quy mô lớn nhiều chủng loại dịch vụ, mặt hàng; hạ tầng phục vụ du lịch còn một số hạn chế, chưa khai thác triệt để cảnh quan thiên nhiên của tỉnh

- Công tác đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp, đặc biệt là ở các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa còn ít

- Công tác cải cách hành chính chưa mạnh, chưa đáp ứng nhu cầu Công tác quản lý, điều hành của chính quyền các cấp còn nhiều mặt hạn chế, đặc biệt trong các lĩnh vực quản lý đô thị, xây dựng, đất đài, tài nguyên, môi trường, khoáng sản

- Việc tháo gỡ các vướng mắc cho các doanh nghiệp còn chậm, nhất là trong khâu đền bù, giao đất để cho dự án triển khai, công tác qui hoạch và triển khai thực hiện qui hoạch chưa đồng bộ

- Một số dự án triển khai đầu tư chậm so với qui định

Trang 25

1.6.3 Một số bài học kinh nghiệm thiết thực trong quá trình thu hút vốn đầu tư, để thúc đ2y phát triển công nghiệp - dịch vụ của tỉnh Phú Yên

Th ứ nhất, Chính Phủ cần tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch và

đảm bảo đầu tư lâu dài cho các nhà đầu tư Bên cạnh đó, Chính Phủ xây dựng nhiều chính sách để khuyến khích đầu tư công nghiệp – dịch vụ cũng như có nhiều chính sách hổ trợ trong thu hút vốn đầu tư cho ngành công nghiệp – dịch vụ Chính Phủ cần đầu tư và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng để tăng tính hấp dẫn trong thu hút đầu tư Điều này muốn nói rằng, trong ngành công nghiệp – dịch vụ cần có sự phân công và hợp tác chặt chẽ giữa Chính Phủ, doanh nghiệp và người dân

Th ứ hai, đNy mạnh công tác quảng bá du lịch, quảng bá về đất nước bằng

nhiều hình thức khác nhau thông qua việc mở văn phòng xúc tiến du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới, quảng cáo trên các đài truyền hình quốc tế lớn, Chính Phủ đứng ra mời các nhà báo ở nhiều quốc gia, các công ty du lịch đến thăm để viết bài

và kết nối với các doanh nghiệp trong nước, cũng như có cả một hệ thống ấn phNm sách báo, tranh ảnh, bản đồ giới thiệu đầy đủ Bên cạnh đó, luôn có sự nối kết, đầu

tư các hoạt động quảng bá du lịch đi liền với hoạt động quảng bá của các ngành khác

Th ứ ba, ngành công nghiệp – dịch vụ cần được thực hiện một cách chuyên

nghiệp trong từng chi tiết nhỏ, xây dựng ISO cho từng lĩnh vực, từng ngành

Th ứ tư, ngành công nghiệp – dịch vụ cần khai thác các điểm mạnh của mình

bằng cách tận dụng triệt để những lợi thế về thiên nhiên Bên cạnh đó, cần phát triển

đa dạng các loại hình công nghiệp – dịch vụ như biển, núi, du lịch sinh thái, văn hóa, dịch vụ du lịch mạo hiểm, dịch vụ du lịch chữa bệnh, dịch vụ du lịch khám phá… để tạo nên nhiều sản phNm mang nét đặc sắc riêng cho địa phương nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của du khách

Th ứ năm, ngành công nghiệp – dịch vụ cần liên kết chặt chẽ giữa các ngành

khác nhau như các ngành thương mại, vận tải, hàng không…

Th ứ sáu, coi trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu lao

động ngày càng cao để phục vụ trong ngành

Trang 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này, tác giả đã trình bày những lý luận cơ bản về đầu tư, cách phân loại đầu tư, chỉ ra các nguồn vốn phục vụ đầu tư cũng như ưu nhược điểm của từng nguồn vốn đầu tư; tác giả cũng tìm hiểu và chỉ ra sự cần thiết phải thu hút các nguồn vốn để phát triển công nghiệp – dịch vụ, cũng như tổng hợp các nhân tố có ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư vào ngành công nghiệp – dịch vụ Ngoài ra, tác giả cũng tìm hiểu một số kinh nghiệm thu hút các nguồn vốn cho đầu tư vào ngành công nghiệp – dịch vụ của một số tỉnh thành có điều kiện tương tự như tỉnh Phú Yên đó là Bình Định và Bình Thuận trên cơ sở đó rút ra một số bài học kinh nghiệm thiết thực trong quá trình huy động các nguồn vốn cũng như thu hút vốn đầu tư cho công nghiệp – dịch vụ để thúc đNy phát triển công nghiệp – dịch vụ tỉnh Phú Yên

Trang 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH

CÔNG NGHIỆP - DNCH VỤ TỈNH PHÚ YÊN

2.1 TỔNG QUAN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO CÔNG NGHIỆP - DNCH VỤ TỈNH PHÚ YÊN

2.1.1.Vị trí , vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế tỉnh Phú Yên:

Đầu tư góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài cao hơn mức tăng trưởng chung của ngành công nghiệp của Tỉnh, bình quân giai đoạn 2001 - 2005 tăng 52%; giai đoạn 2006 - 2008, bình quân tăng 41%, góp phần thúc đNy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đầu tư nước ngoài đã và đang tạo ra một số ngành công nghiệp mới, tăng thêm năng lực cho ngành công nghiệp của Tỉnh như: dầu khí, hóa chất, ô tô, công nghiệp chế biến nông sản thực phNm

Tác động lan tỏa của đầu tư đã ảnh hưởng đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế Tỷ trọng kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh trong cơ cấu GDP chung của Tỉnh qua các năm: năm 2006 chiếm 1,8%, năm 2007 chiếm 2,6%, và trong 9 tháng đầu năm 2008 chiếm khoảng 3,2% Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được nâng cao thể hiện qua số lượng doanh nghiệp tăng vốn đầu tư, mở rộng sản xuất có tác động lan toả đến các thành phần kinh tế thông qua sự liên kết, chuyển giao công nghệ và năng lực kinh doanh và cũng tạo động lực, môi trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng bối cảnh toàn cầu hóa

Trang 28

Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp trong nước, mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vào ngân sách ngày càng tăng Trong giai đoạn

2000 - 2005, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã nộp ngân sách đạt 41,8 tỷ đồng chiếm 1,9% tổng thu ngân sách địa phương; từ năm 2006 đến tháng 9 năm 2008, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã nộp ngân sách đạt 100,4 tỷ đồng tăng gấp 2,4 lần so với giai đoạn 2000 - 2005 và chiếm 4,1% so với tổng thu ngân sách địa phương

2.1.1.2 V ề mặt xã hội:

Đầu tư góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực Đến nay, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra việc làm cho trên 3.385 lao động trực tiếp và hàng ngàn lao động gián tiếp với thu nhập bình quân 1,2 triệu đồng/tháng/người Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Phú Yên đã từng bước hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật trình độ cao, lao động có tay nghề và có tác phong công nghiệp, có kỷ luật lao động, học hỏi được cách tổ chức quản lý tiên tiến

2.1.1.3 V ề mặt môi trường:

Các dự án đầu tư trên địa bàn Tỉnh đa số chấp hành đúng các thủ tục về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật hiện hành Sau khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư, các dự án đều thực hiện công tác báo cáo đánh giá tác động môi trường được

cấp có thNm quyền phê duyệt trước khi triển khai thực hiện dự án

2.2 ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU HÚT VỐN ĐẦU

TƯ VÀO NGÀNH CÔNG NGHIỆP - DNCH VỤ TỈNH PHÚ YÊN

2.2.1 Điều kiện tự nhiên

2.2.1.1 V ị trí địa lý và các yếu tố tự nhiên tổng quát

Vị trí địa lý: Phú Yên là tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, nằm ở toạ độ địa lý

12050'-13042' độ Bắc, 108041' - 109023' kinh độ Ðông, cách thủ đô Hà Nội 1.177

km Phía Bắc giáp tỉnh Bình Ðịnh, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hoà, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và Ðắk Lắk, phía Ðông giáp biển Ðông Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.045,31 km2, chiếm 1,53% tổng diện tích tự nhiên cả nước Các đường giao thông quan trọng như đường quốc lộ 1A, 25, đường sắt qua tỉnh 120km Bắc - Nam; đường

Trang 29

biển dài 189 km; đường không có sân bay Ðông Tác Hệ thống sông ngòi chính, bao gồm sông Ðà Rằng (gọi là sông Ba) dài 350 km với lưu vực 1.900 km2, sông Bàn Thạch dài 50km với lưu vực 590 km2

Ðịa hình: Do nằm ở phía Ðông dãy núi Trường Sơn, có địa hình dốc từ Tây

sang Ðông, diện tích của tỉnh Phú Yên chủ yếu là đồi núi, chiếm 70% diện tích toàn tỉnh

Khí hậu: Mang khí hậu nóng Nm - nhiệt đới, gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí

hậu đại dương, chia làm 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500-1.700 mm/năm; mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 8 Nhiệt độ trung bình hàng năm

là 26,5oC, nhiệt độ cao nhất là 30,3oC, thấp nhất là 23,8oC; độ Nm trung bình khoảng 78%

Với vị trí địa lý được xây dựng là cửa ngõ cho miền nam trung bộ, Phú Yên đang có lợi thế thu hút vốn đầu tư tuy nhiên với điều kiện tự nhiên còn nhiều khó khăn như thiên tai, lũ lụt nên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc thu hút vốn đầu

tư cho ngành công nghiệp và dịch vụ

2.2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên tỉnh Phú Yên tương đối đa dạng và phong phú,

là một trong những điều kiện để thu hút vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ

2.2.1.2.1 Tài nguyên đất

Tỉnh Phú Yên có 504.531 ha diện tích đất tự nhiên Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 124.815 ha, chiếm 24,73%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 165.916 ha, chiếm 32,88%; diện tích đất chuyên dùng là 17.363 ha, chiếm 3,44%; diện tích đất ở là 4.203 ha, chiếm 0,83%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối núi đá là 192.234 ha, chiếm 38,10%

Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 107.749 ha, chiếm 86,32%, riêng đất lúa có 32.710 ha, chiếm 30,35% diện tích đất nông nghiệp gieo trồng được 2 vụ; diện tích đất trồng cây lâu năm là 6.458 ha, chiếm 5,19%; diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản là 2.043 ha, chiếm 1,63%

Trang 30

Diện tích đất trống, đồi trọc cần phủ xanh là 154.219 ha, đất có mặt nước có thể sử dụng là 4.718 ha

2.2.1.2.2 Tài nguyên r ừng

Tỉnh Phú Yên có 165.916 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 31,1% Trong đó: Diện tích rừng tự nhiên là 135.813 ha, rừng trồng 20.963 ha Rừng giàu chiếm 7,2% diện tích và 14,1% trữ lượng; rừng trung bình chiếm 13,6% diện tích và 21,2% trữ lượng; rừng nghèo chiếm 24,9% diện tích và 27,8% trữ lượng; rừng non chiếm 54,3% diện tích và 36,8% trữ lượng

2.2.1.2.3 Tài nguyên biển

Tỉnh có 189 km bờ biển Vùng biển khai thác có hiệu quả rộng 6.900 km2, giàu về trữ lượng đa dạng, phong phú về chủng loại với hơn 500 loài cá, 38 loài tôm, 15 loại mực, sò, điệp và một số loài hải sản khác, trong đó có hơn 35 loài có giá trị kinh tế cao Cá nổi chiếm ưu thế hơn cá đáy, chiếm 70 -75% Phân bố không đều, mật độ tập trung ở phía bắc hơn phía nam Nhìn chung có thể chia thành 2 nhóm sinh thái: nhóm ven bờ: Có kích thước bé gồm các loại cá trích, cơm, chỉ vàng, phèn, mối, hố, mực ; nhóm biển khơi: Có kích thước lớn hơn gồm các loại

cá thu, ngừ, cờ, nục heo, kiếm, chuồn theo tính toán, trữ lượng cá vùng biển Phú Yên khoảng 46.000 tấn với khả năng khai thác 25.000 tấn Tổng trữ lượng cho phép khai thác tôm 700 tấn/năm, mực 1.200 tấn/năm, hải sản khác 2000 tấn/năm Tuy nhiên, năng lực nghề cá Phú Yên hiện tại chủ yếu khai thác vùng nước dưới 100 m chiếm 90% và ở vùng 100 - 200m chiếm 10%

Ngoài ra, trữ lượng và khả năng khai thác thủy sản ở vùng nước lợ trên diện tích 14.600 ha có thể cho phép khai thác tự nhiên khoảng 700 tấn/năm, nhưng hiện nay đạt khoảng trên 500 tấn và mật độ khai thác không đều Ở vịnh Xuân Ðài mức khai thác trung bình, đầm Cù Mông mức khai thác trung bình khá, còn lại mức khai thác khá ở cửa sông Ðà Nông và cao ở đầm Ô Loan nên đã có biểu hiện suy giảm nguồn lợi

2.2.1.2.4 Tài nguyên khoáng s ản

Bao gồm: Ðá hoa cương trữ lượng 54 triệu m3, đá diatomits có trữ lượng 90 triệu m3; ngoài ra còn có bentônít, galenits, sắt, nước khoáng, than bùn, sa khoáng

Trang 31

vàng, fluorít có trữ lượng 300 nghìn tấn Hiện tỉnh đang triển khai khai thác đá granit Đây cũng là một nhân tố được đánh giá cao trong khả năn thu hút vốn đầu tư cho phát triển ngành công nghiệp của tỉnh Phú Yên

2.2.1.2.5 Tài nguyên du lịch

Có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp và những di tích văn hóa - lịch sử có thể khai thác thành các điểm du lịch nổi tiếng như: Quần thể núi đá Bia - Bãi Tiên- Vũng Rô - Mũi Nạy, vịnh sông Cầu, đầm Ô Loan, bãi biển Mỹ A, Tháp Nhạn, đập Ðồng Cam, khu bảo tồn thiên nhiên Krông - Trai, đàn đá Tuy An Các tài nguyên

về du lịch này nếu được khai thác tốt sẽ thu hút được một nguồn vốn không nhỏ cho phát triển ngành dịch vụ du lịch của tỉnh Phú Yên

2.2.2 Cơ sở hạ tầng giao thông

Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn tỉnh Phú Yên như giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc đã được cải thiện đáng kể, có tác dụng tích cực đến sự phát triển du lịch của địa phương, góp phần tăng khả năng vận chuyển, tạo điều kiện thuận lợi và là nhân tố quan trọng thúc đNy sự phát triển công nghiệp và dịch vụ trong thời gian tới

2.2.2.1 M ạng lưới giao thông bộ:

Toàn tỉnh hiện có 1.941 km đường giao thông Trong đó: Ðường do trung ương quản lý dài 196 km, chiếm 10,09%; đường do tỉnh quản lý dài 336 km, chiếm 17,31%; đường do huyện quản lý dài 382 km, chiếm 16,68% và đường do xã quản

lý dài 1.027 km, chiếm 52,91% Ngoài ra, tỉnh còn có 200 km đường biển và 117

km đường sắt 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm Hệ thống đường sắt, đường biển và đường bộ của tỉnh phát triển khá tốt, đủ khả năng phục vụ công tác vận chuyển cho ngành công nghiệp và dịch vụ

2.2.2.2 M ạng lưới bưu chính viễn thông:

Từ ngày tách tỉnh mạng lưới bưu chính viễn thông được củng cố, xây dựng

và phát triển Mở rộng, lắp đặt hệ thống tổng đài điện thoại, telex cho các trung tâm huyện, thị xã đáp ứng nhu cầu thông tin trong và ngoài nước ngày càng tăng Hiện nay toàn tỉnh có 30 bưu cục, 50 điểm phục vụ bưu điện và 67 điểm bưu điện văn

Trang 32

hóa xã Số máy điện thoại cố định thuê bao toàn tỉnh là 22.500 chiếc, 6.500 thuê bao di động, 300 thuê bao internet , bình quân có 2,8 cái/100 dân Hệ thống bưu chính phát triển tương xứng với tầm phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ

2.2.2.3 M ạng lưới điện quốc gia:

Phú Yên có nhà máy thủy điện Sông Hinh với công suất 72 MW, đang hoà mạng lưới điện quốc gia, đảm bảo cho 100% số huyện và xã được sử dụng lưới điện quốc gia Hiện tỉnh đang tiến hành chuNn bị xây dựng nhà máy thủy điện Sông Ba với công suất gấp 3 lần nhà máy thủy điện Sông Hinh Hệ thống điện của tỉnh đảm bảo khả năng phục vụ cho việc phát triển ngành công nghiệp và dịch vụ do vậy cũng là một nhân tố thúc đNy việc thu hút vốn đầu tư

2.2.2.4 H ệ thống cấp nước sinh hoạt:

Tỉnh có nhà máy cấp nước Phú Yên với công suất 25.000 m3/ngày đêm, phục

vụ nước sinh hoạt cho toàn thị xã Tuy Hoà, các vùng lân cận và khu công nghiệp Hoà Hiệp Ngoài ra, các thị trấn, huyện lỵ đều có hệ thống cấp nước với công suất khoảng 10.000 m3/ngày đêm Toàn tỉnh có số người được sử dụng nước sạch toàn tỉnh đạt 48%

2.2.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội

Theo báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Phú Yên, năm

2005, dân số Phú Yên có khoảng 861.130 người Trong đó có 443.900 người đang tham gia các hoạt động kinh tế Bình quân mỗi năm, toàn tỉnh có thêm trên 10 nghìn người bước vào độ tuổi lao động Đây là nguồn nhân lực quan trọng để phát triển kinh tế, song cũng là áp lực rất lớn trong vấn đề giải quyết việc làm Với chức năng

là cơ quan quản lý đầu ngành, được sự giúp đỡ của các cấp, các ngành trong tỉnh,

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Phú Yên đã có nhiều cố gắng trong công tác đào tạo và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực

Được đánh giá là tỉnh có nguồn lực lao động khá dồi dào, với tỷ lệ người đang hoạt động kinh tế chiếm 51,54% cơ cấu dân số, trong đó lao động nông nghiệp chiếm trên 80% Tuy nhiên, tỷ lệ lao động thất nghiệp khu vực thành thị ở mức dưới 5% năm 2005, tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn là 80%

Trang 33

2.2.4 Hệ thống thông tin liên lạc

Cơ sở vật chất, nhà trạm từ tỉnh xuống cơ sở đều được cải tạo, nâng cấp khang trang, sạch đẹp, trang bị đầy đủ tiện nghi, đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất, đưa thêm các dịch vụ mới vào phục vụ khách hàng Đến năm 2005, Bưu điện tỉnh Phú Yên có 38 bưu cục, 78 điểm bưu điện văn hóa xã, 2 điểm phục vụ, 6 đại lý đa dịch vụ và 89 đại lý điện thoại công cộng, bán kính phục vụ giảm còn 4,7 km/bưu cục (tương đương 10.780 người/bưu cục), đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân

Hệ thống đường thư các cấp đều được cơ giới hóa Công tác phát hành báo chí được cải thiện, đến năm 2005, 97% xã có báo đọc trong ngày Nhiều dịch vụ mới ra đời như: bưu phNm chuyển phát nhanh (EMS), chuyển tiền nhanh, tiết kiệm bưu điện, quà tặng bưu chính, được khách hàng sử dụng ngày càng nhiều

Hệ thống chuyển mạch có 2 tổng đài HOST và nhiều trạm vệ tinh, thay thế toàn bộ các tổng đài độc lập đang gần hết dung lượng và hạn chế về dịch vụ gia tăng Mạng cáp tiếp tục phát triển mở rộng về các vùng nông thôn, hệ thống thông tin di động đã phủ sóng tại các trung tâm huyện, thành phố Các dịch vụ mới với giá

rẻ và chất lượng tốt như: điện thoại thẻ, điện thoại VoIP, Gọi 171, Gọi 1717, Gọi

1719, điện thoại internet, internet tốc độ cao, phục vụ tốt yêu cầu của người tiêu dùng

Cùng với sản xuất - kinh doanh, công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình

độ cho đội ngũ cán bộ, nhân viên trong đơn vị cũng được chú trọng Trước khi thực hiện tăng tốc, toàn đơn vị chỉ có 278 lao động, trong đó 7% có trình độ cao đẳng, đại học Đến năm 2005, lực lượng lao động tăng gấp đôi, số cán bộ có trình độ đại học đã tăng lên 26,1%, cao đẳng 10%, trung cấp 16%, số còn lại đều được đào tạo chuyên môn cơ bản Mỗi năm có gần 50% lượt cán bộ, nhân viên được cử đi dự các khóa, lớp đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới Đây là nguồn lực vững chắc cho sự nghiệp phát triển của toàn ngành

2.2.5 Hệ thống các dịch vụ tài chính - ngân hàng

- Chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh Phú Yên

- Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Phú Yên: vốn huy động chiếm 73% thị phần; dư nợ tín dụng chiếm 53,4% thị phần

Trang 34

- Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Phú Yên: vốn huy động chiếm 13,74% thị phần; dư nợ tín dụng chiếm 22,8% thị phần

- Chi nhánh Ngân hàng công thương Phú Yên: vốn huy động chiếm 11,28% thị phần; dư nợ tín dụng chiếm 20% thị phần

- Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội Phú Yên: vốn huy động chiếm 1,98% thị phần; dư nợ tín dụng chiếm 3,8% thị phần

Các ngân hàng trên địa bàn tỉnh đã đNy mạnh đầu tư hiện đại hóa dịch vụ ngân hàng, coi đây là lợi thế để cạnh tranh trên thị trường tài chính - tín dụng Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết lập mạng thanh toán liên ngân hàng nội bộ tập trung, hệ thống quản lý vốn tập trung, ứng dụng dịch vụ ngân hàng điện tử, triển khai ứng dụng thanh toán hiện đại, dịch vụ thẻ, đã mở ra nhiều cơ hội mới để nâng cao hiệu quả hoạt động cho các ngân hàng Trung bình hàng năm, các ngân hàng thương mại trên địa bàn đã chi hàng tỷ đồng cho công tác đầu tư máy móc, thiết bị, cải tiến nâng cấp các chương trình công nghệ, hiện đại hóa các sản phNm dịch vụ, hướng đến tối đa hóa tiện ích và lợi ích cho khách hàng Đến năm 2004, toàn hệ thống ngân hàng Phú Yên đã được trang bị hệ thống tính toán hiện đại, phần mềm ứng dụng đa dạng, phong phú, phục vụ đắc lực cho hoạt động ngân hàng trong tất cả các nghiệp vụ

Nhờ vậy, khách hàng có thể nhanh chóng nắm bắt thông tin về ngân hàng như: lãi suất tiền gửi, tiền vay; tỷ giá ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng, tỷ giá mua bán tại ngân hàng Dịch vụ thanh toán điện tử liên ngân hàng cho phép khách hàng có thể chuyển tiền thuận lợi và nhanh chóng Các ngân hàng trên địa bàn cũng bắt đầu trang bị máy rút tiền tự động ATM cho phép khách hàng rút tiền mặt thông qua thẻ từ tài khoản

Ngoài các phương thức thanh toán truyền thống, các ngân hàng Phú Yên đã

áp dụng các phương tiện thanh toán hiện đại, chuyên nghiệp, phù hợp với thông lệ quốc tế như: thanh toán qua mạng vi tính, chuyển tiền điện tử, thanh toán quốc tế qua mạng, mở tài khoản và thanh toán cá nhân Các dịch vụ kiều hối, thu đổi, kinh doanh ngoại tệ, chuyển tiền ra nước ngoài cũng được triển khai ở hầu hết các ngân hàng

Trang 35

2.2.6 Chính sách thu hút đầu tư

Chính sách thu hút vốn đầu tư của tỉnh Phú Yên rất đa dạng và nhiều ưu đãi,

là một nhân tố quan trọng cho việc thu hút vốn đầu tư cho tỉnh

Để tạo môi trường thuận lợi thu hút các nhà đầu tư, bên cạnh chính sách ưu đãi chung của cả nước, tỉnh cũng đã ban hành một số chính sách khuyến khích thu hút đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, du lịch và đầu tư vào các khu công nghiệp trong tỉnh cụ thể:

- Áp dụng các khoản thuế, tiền thuê đất đối với các dự án đầu tư vào tỉnh với mức thấp nhất, thời gian miễn giảm thuế dài nhất, hỗ trợ đầu tư đặc biệt đối với các dự án đầu tư vào lĩnh vực ưu tiên gọi vốn đầu tư và đầu tư vào các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn

- Thời gian thuê đất tối đa là 50 năm và được xem xét gia hạn

- Theo quy mô và lĩnh vực ưu đãi đầu tư của từng dự án, tỉnh sẽ hỗ trợ với khả năng cao nhất cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, cấp nước, thông tin liên lạc đến hàng rào công trình của các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp

- Hỗ trợ và hướng dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước trong việc lập thủ tục đầu tư để được cấp giấy phép, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, bổ sung ngành nghề trong thời gian ngắn nhất

- Chính quyền địa phương sẽ tạo điều kiện giải quyết việc cấp đất, đền

bù giải phóng mặt bằng cho các doanh nghiệp nhanh chóng, thuận lợi

- Hỗ trợ các nhà đầu tư giải quyết các khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai dự án sau khi được cấp giấy phép theo hướng thuận lợi và trong thời gian nhanh nhất

- Trích thưởng cho các công ty tư vấn, môi giới đầu tư tuỳ theo từng dự

án, tối đa đến 10% giá trị tiền thuê đất trong 5 năm của dự án trong việc thu hút các

dự án đầu tư vào Tỉnh

Các chính sách khuyến khích phát triển du lịch của tỉnh:

* Chính sách v ề đất đai:

Trang 36

- Thời hạn thuê đất tối đa 50 năm, hết thời hạn trên nếu cơ sở kinh doanh

du lịch có nhu cầu tiếp tục thuê đất thì Tỉnh sẽ tiếp tục cho thuê đất, cơ sở kinh doanh du lịch trực tiếp sử dụng đất được cấp GCN quyền sử dụng đất theo Luật đất đai

- Đối với khu vực cảnh quan của dự án giá thuê đất là 100USD/ha/năm

- Đối với khu vực xây dựng công trình bố trí các vật kiến trúc, các thiết

bị của dự án du lịch Giá thuê đất được tính như sau:

Giá thuê đất = giá đất tối thiểu x hệ số ngành x hệ số cơ sở hạ tầng x hệ số vị

trí

* Mi ễn, giảm tiền thuê đất:

Nhà đầu tư được miễn tiền thuê đất cho dự án đầu tư theo quy định của Chính phủ Ngoài ra, tỉnh còn hỗ trợ miễn tiền thuê đất cho các dự án đầu tư vào các địa bàn với thời hạn như sau:

- 05 năm đối với khu vực nội thành Tp Tuy Hoà

- 07 năm đối với huyện Sông Cầu, Tuy An, Tuy Hoà và ngoại ô Tp Tuy Hoà

- 10 năm đối với địa bàn huyện Sơn Hoà, Sông Hinh, Đồng Xuân

- Trường hợp các dự án đầu tư vào dịch vụ vui chơi giải trí, thì không thu tiền thuê đất trong 14 năm

Trường hợp trả tiền thuê đất cho nhiều năm ngay trong năm đầu tiên thì được giảm tiền thuê đất như sau:

- Nộp cho 05 năm thì được giảm 5% số tiền của năm đó Nộp cho trên 5 năm thì cứ mỗi năm tăng thêm được giảm cộng thêm 1% số tiền thuê đất phải nộp của thời gian đó

- Trường hợp nộp tiền thuê đất cho thời gian trên 30 năm thì được giảm

tối đa 35% số tiền thuê đất phải nộp Các dự án liên doanh với DNNN của tỉnh thì

DNNN của tỉnh ngoài các phần vốn góp khác có thể tham gia góp vốn bằng tiền thuê đất cho đến hết thời hạn dự án, xem như phần vốn ngân sách địa phương hỗ trợ

* Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp:

Trang 37

Ngoài các ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật Sau thời hạn đó, nhà đầu tư có dự án kinh doanh du lịch được tỉnh hỗ trợ lại 50% mức thuế thu nhập doanh nghiệp phải đóng, trong thời hạn:

- 05 năm đối với khu vực nội thành Tp Tuy Hoà

- 07 năm đối với địa bàn các huyện: Sông cầu, Tuy An, Tuy Hoà và ngoại ô Tp Tuy Hoà

- 10 năm đối với địa bàn các huyện: Sơn Hoà, Đồng Xuân và Sông Hinh

Về địa bàn ưu đãi đầu tư

- Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn gồm các huyện: Sông Cầu, Tuy An, Đông Hoà

- Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn gồm các huyện: Sông Hinh, Đồng Xuân, Sơn Hoà, Tây Hoà và Phú Hòa

Về lĩnh vực ưu đãi đầu tư : Danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư:

- Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới; sản xuất sản phNm công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghiệp thông tin, cơ khí chế tạo

- Nuôi trồng, chế biến nông lâm thủy sản, làm muối, sản xuất giống nhân tạo, giống cây trồng, vật nuôi mới

- Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng và các dự án quan trọng Phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục thể thao…

Về thuế thu nhập doanh nghiệp

Tuỳ theo ngành nghề và địa bàn đầu tư mà được hưởng các mức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp sau:

Trang 38

- Các dự án đầu tư thành lập mới được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp

từ 2 - 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp từ 2 - 9 năm tiếp theo, tuỳ thuộc vào ngành nghề và địa bàn đầu tư

- Các dự án đầu tư mở rộng quy mô được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp từ 1 - 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp từ 2 - 7 năm tiếp theo, tuỳ thuộc vào ngành nghề và địa bàn đầu tư

Về thuế xuất, nhập kh2u

- Ưu đãi về thuế nhập khu đối với hàng hóa tạo thành tài sản cố định, bao g ồm: Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dụng nhập khNu để tạo

thành tài sản cố định của doanh nghiệp hoặc mở rộng quy mô đầu tư, đổi mới công nghệ; phương tiện vận chuyển chuyên dụng đưa đón công nhân

- Th ời hạn cấp phép và thm định đầu tư:

o Đối với dự án đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư: từ 5-10 ngày

kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (Chính phủ quy định: 43 ngày)

o Đối với dự án thNm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư (dự án thuộc thNm quyền của tỉnh): từ 20-25 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp

lệ (Chính phủ quy định: 43 ngày)

2.2.7 Công tác xúc tiến đầu tư

Phú Yên với điểm xuất phát kinh tế thấp; cơ sở hạ tầng, các điều kiện kinh tế

xã hội phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn; đồng thời xa các trung tâm kinh tế lớn của đất nước Do đó, từ trước năm 2006, tình hình thu hút đầu

tư của Tỉnh gặp nhiều khó khăn, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tập trung đầu tư vào các trung tâm kinh tế lớn của đất nước

Từ năm 2006 đến nay, Phú Yên hòa chung vào công cuộc hội nhập của đất nước, với hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh và thông thoáng, như Luật Đầu

tư 2005, Luật Doanh nghiệp 2005 và nhiều văn bản luật đã được ban hành theo như cam kết của Việt Nam trong WTO,… Được sự quan tâm của Chính phủ, sự giúp đỡ của các bộ, ngành Trung ương, Tỉnh Phú Yên đã kịp thời nắm bắt cơ hội, từng bước khắc phục những khó khăn trước đây, đồng thời đNy mạnh công tác xúc tiến đầu tư

Trang 39

Tháng 2/2007, UBND Tỉnh ra quyết định thành lập Trung tâm xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch Phú Yên; tháng 6/2007, tổ chức xúc tiến đầu tư tại Singapore; tại đợt xúc tiến này, tỉnh Phú Yên đã ký kết một số văn bản ghi nhớ về đầu tư, đặc biệt là dự án hạ tầng Khu công nghiệp hóa dầu Hòa Tâm và Tổ hợp hóa dầu Naphtha Cracking của Tập đoàn SP Chemical - Singapore với tổng mức đầu tư khi định hình là 11 tỷ USD

Trong năm 2007, UBND Tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu,

rà soát các qui trình, thủ tục đầu tư nhằm công khai các trình tự, thủ tục, phân công trách nhiệm cụ thể cho các sở, ban, ngành và địa phương có liên quan theo nguyên tắc tạo thuận lợi tốt nhất cho nhà đầu tư, cùng nhà đầu tư giải quyết các khó khăn trong tổ chức thực hiện nhằm tạo môi trường thông thoáng và minh bạch trong công tác thu hút đầu tư Từ đó, UBND Tỉnh đã ban hành một số quy định như: Quyết định số 1103/QĐ-UBND ngày 19/6/2007 Quy định phân cấp, ủy quyền và phân giao nhiệm vụ trong quản lý đầu tư xây dựng đối với các dự án do tỉnh Phú Yên quản lý; Quyết định số 1149/QĐ-UBND ngày 03/7/2007 Quy định về trình tự, thủ tục đầu tư đối với các dự án không sử dụng vốn ngân sách nhà nước đầu tư trên địa bàn tỉnh Phú Yên; Quyết định số 711/QĐ-UBND ngày 17/4/2007 Qui định thời gian giải quyết một số thủ tục đầu tư đối với các dự án không sử dụng vốn ngân sách nhà nước đầu tư trên địa bàn tỉnh Phú Yên; Quyết định số 784/QĐ-UBND ngày 04/5/2007 Quy định thủ tục hồ sơ giải quyết công việc trên một số lĩnh vực tại UBND Tỉnh Phú Yên; Quyết định số 472/QĐ-UBND ngày 08/3/2007 của UBND tỉnh Phú Yên Quy định trình tự, thủ tục trong quản lý đất đai và thực hiện các quyền của người sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Phú Yên và Quyết định số 1081/QĐ-UBND ngày 11/7/2008 của UBND tỉnh Phú Yên về việc Phê duyệt Quy chế phối hợp thực hiện cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết hồ sơ, thủ tục thành lập doanh

nghiệp và thủ tục chứng nhận đầu tư tại tỉnh Phú Yên

Bên cạnh đó, để hạn chế các dự án chỉ đăng ký nhưng không triển khai đầu tư, UBND Tỉnh đã ban hành Quyết định số 1879/QĐ-UBND ngày 08/10/2007 về việc quy định suất đầu tư, ký quỹ đầu tư Quy định trên góp phần lựa chọn nhà đầu tư có

đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện dự án Qua đó, các dự án đăng ký và cấp

Trang 40

phép trong năm 2007 và 9 tháng đầu năm 2008, quy mô và chất lượng dự án ngày càng tăng

- Với những nỗ lực của Tỉnh Phú Yên, cùng với sự quan tâm của Chính phủ,

sự giúp đỡ của các Bộ, ngành Trung ương trong thời gian qua, công tác thu hút đầu tư nước ngoài bước đầu đã đạt được một số thành quả đáng kể, hàng năm có rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng về tài chính và kinh nghiệm quản lý đã đến tìm hiểu cơ hội và đầu tư tại Tỉnh, cụ thể như sau:

- Giai đoạn 2003 - 2006: Bình quân 7 - 10 đoàn;

- Năm 2007: Có hơn 30 đoàn khách nước ngoài đến tìm hiểu cơ hội đầu

tư tại Tỉnh, trong đó có 06 dự án được Thủ tướng Chính phủ và UBND Tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư như: Dự án đầu tư kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp hóa dầu Hòa Tâm và Tổ hợp hóa dầu Naphtha Cracking; dự án Khu du lịch liên hợp cao cấp Phú Yên,…Đặc biệt, vào ngày 15/6/2007, Chủ tịch UBND tỉnh và Chủ tịch Tập đoàn Sama Dubai đã ký thỏa thuận khung về việc xúc tiến đầu tư một Khu kinh tế liên hợp tại tỉnh Phú Yên

- 9 tháng đầu năm 2008: Có hơn 17 đoàn khách nước ngoài đến tìm hiểu

cơ hội đầu tư tại tỉnh, trong đó có một số tập đoàn kinh tế lớn như: Tập đoàn Haivenu (Hà Lan), Tập đoàn U.S Capital Group International (Mỹ), Tập đoàn Hengxing Group (Hà Lan), Đặc biệt vào tháng 7 năm 2008, tỉnh Phú Yên đã tổ chức một Hội nghị xúc tiến đầu tư lớn tại Núi Thơm, đã có hơn 100 Nhà đầu tư, chuyên gia tư vấn trong và ngoài nước đến dự buổi lễ và tìm hiểu cơ hội đầu tư, trong đó có nhà đầu tư đến từ các quốc gia: Trung Quốc, Nga, Hà Lan, Úc, Hàn Quốc, Singapore, Ấn Độ, Thái Lan, Malaixia và Thụy Điển

2.2.8 Tốc độ phát triển kinh tế

Trong thời gian qua Phú Yên có nhiều đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng cao trên 12%, riêng năm 2007 tăng 13,3% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng Sản xuất nông nghiệp ổn định Tỉnh đã hình thành các vùng chuyên canh tập trung mía, sắn có năng suất cao gắn với công nghệ sau thu hoạch và công nghiệp chế biến Khai thác thủy sản hàng năm trên 35.000 tấn, đặc biệt là nghề câu cá ngừ đại dương

Ngày đăng: 01/04/2013, 14:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Những nhân tố thu hút vốn đầu tư - 21 Huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ tỉnh Phú Yên
Sơ đồ 1.1 Những nhân tố thu hút vốn đầu tư (Trang 10)
Bảng 2.1 CÁC DỰ ÁN ĐÃ ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ NĂM 2008  (Nguồn vốn đầu tư các doanh nghiệp và vốn khác) - 21 Huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ tỉnh Phú Yên
Bảng 2.1 CÁC DỰ ÁN ĐÃ ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ NĂM 2008 (Nguồn vốn đầu tư các doanh nghiệp và vốn khác) (Trang 45)
Bảng 2.2 Các dự án đang triển khai theo các ngành năm 2008 - 21 Huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ tỉnh Phú Yên
Bảng 2.2 Các dự án đang triển khai theo các ngành năm 2008 (Trang 46)
Hình 2.1: Các dự án đăng ký vốn đầu tư bằng nguồn vốn doanh nghiệp và vốn  khác năm 2008 - 21 Huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ tỉnh Phú Yên
Hình 2.1 Các dự án đăng ký vốn đầu tư bằng nguồn vốn doanh nghiệp và vốn khác năm 2008 (Trang 46)
Bảng 2.3 CÁC DỰ ÁN CềN HIỆU LỰC LẬP THỦ TỤC CHUẨN BN ĐẦU TƯ  TÍNH ĐẾN THÁNG 6 NĂM 2008 - 21 Huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ tỉnh Phú Yên
Bảng 2.3 CÁC DỰ ÁN CềN HIỆU LỰC LẬP THỦ TỤC CHUẨN BN ĐẦU TƯ TÍNH ĐẾN THÁNG 6 NĂM 2008 (Trang 47)
Bảng 2.4: Cơ cấu FDI phân theo ngành, nghề giai đoạn 2006 - 2008 - 21 Huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ tỉnh Phú Yên
Bảng 2.4 Cơ cấu FDI phân theo ngành, nghề giai đoạn 2006 - 2008 (Trang 48)
Bảng 2.5 : Cơ cấu FDI phân theo vùng giai đoạn 2006 - 2008 - 21 Huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và dịch vụ tỉnh Phú Yên
Bảng 2.5 Cơ cấu FDI phân theo vùng giai đoạn 2006 - 2008 (Trang 50)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w