6 Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam trong hội nhập WTO
Trang 1CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Cạnh tranh
Tuy cạnh tranh là vấn đề phổ biến và được nghiên cứu từ rất lâu, nhưng chođến nay trên thế giới vẫn chưa có khái niệm thống nhất về năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp Do vậy, để đưa ra khái niệm này một cách có căn cứ, cần điểm lạimột số lý thuyết về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trên thế giới vàtrong nước
1.1.1 Khái niệm về lý thuyết cạnh tranh doanh nghiệp và quan niệm về cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩaquan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia Việc nghiên cứu hiện tượngcạnh tranh đã từ rất sớm với các các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh
cổ điển, lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại
Có thể tóm lược một số nội dung cơ bản về lý thuyết cạnh tranh trong điềukiện kinh tế thị trường hiện nay như sau:
- Cạnh tranh là hiện tượng phổ biến mang tính tất yếu, là một quy luật cơ bảntrong nền kinh tế thị trường
- Cạnh tranh có tính chất hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực Cạnhtranh là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh doanh hoạt động hiệuquả hơn trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả vì sự sống còn
và phát triển của mình Tuy nhiên, cạnh tranh cũng có nguy cơ dẫn đến cạnhtranh, giành giật, khống chế lẫn nhau… tạo nguy cơ gây rối loạn và thậm chí
đổ vỡ lớn Để phát huy được mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, cần duytrì môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và kiểm soát độc quyền, xử lýcạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể kinh doanh
Trang 2- Trong điều kiện hiện nay, cạnh tranh chuyển từ quan điểm đối kháng sangcạnh tranh trên cơ sở hợp tác, cạnh tranh không phải là khi nào cũng đồngnghĩa với việc tiêu diệt lẫn nhau, triệt hạ nhau Trên thực tế, các thủ phápcạnh tranh hiện đại dựa trên cơ sở cạnh tranh bằng chất lượng, mẫu mã, giá
cả và các dịch vụ hỗ trợ Bởi lẽ, khi mà các đối thủ cạnh tranh quá nhiều thìviệc tiêu diệt các đối thủ khác là vấn đề không đơn giản
Như đã điểm qua ở trên, các quan niệm về cạnh tranh là rất nhiều và cho đếnnay vẫn chưa có một khái niệm nhất định, thống nhất về cạnh tranh Tuy nhiên, cácquan niệm đưa ra trên đây cũng góp một phần làm sáng tỏ cạnh tranh là gì
Tập hợp những quan điểm trên xin đưa ra một khái niệm về cạnh tranh trongkinh tế, đặc biệt là cạnh tranh giữa doanh nghiệp:
Trong hoạt động kinh tế, cạnh tranh luôn liên quan đến quyền
sở hữu Nói cách khác, sở hữu là điều kiện để cạnh tranh kinh tế diễn
ra “Cạnh tranh” là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (giữa các
quốc gia, doanh nghiệp) trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực
kinh tế kết hợp áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất cũng như
dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu khách hàng bằng sản phẩm chất lượng
và giá cả hợp lý và “cạnh tranh” cũng tạo ra sự sai biệt giữa các sản
phẩm cùng loại thông qua các giá trị vô hình mà doanh nghiệp tạo
ra Qua đó, doanh nghiệp sẽ giành lấy những vị thế tương đối trong
sản xuất, tiêu thụ hàng hóa để tối đa hóa lợi nhuận.
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng vàtrong lĩnh vực kinh tế nói chung Cạnh tranh không những có mặt tác động tích cực
mà còn có những tác động tiêu cực Về mặt tích cực:
Trang 3Ở tầm vĩ mô, cạnh tranh mang lại:
Động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế,giúp đất nước hội nhập tốt kinh tế toàn cầu
Ở tầm vi mô, đối với một doanh nghiệp cạnh tranh được xem như công cụ hữu dụngđể:
Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹphơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thức khoa học, công nghệ trong
đó cao hơn để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu dùng
Người tiêu dùng được hưởng những sản phẩm hay dịch vụ tốt hơn với giáthành hợp lý
Ngoài mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những hệ quả không mongmuốn về mặt xã hội cũng như kinh tế
Làm thay đổi cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải, gây ra hiệntượng độc quyền, làm phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo
Dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạm pháp luậthay bất chấp pháp luật
Vì lý do trên, cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởi cácđịnh chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước.“Bên cạnh đó, cần thay đổi tư duy cạnh
tranh từ đối đầu sang hợp tác cùng có lợi Hãy xem Trung Quốc, khi Tập đoàn Wall
Mart vào Trung Quốc giành thị phần, các doanh nghiệp Trung Quốc đành là ngườicung cấp đầu vào, tuy nhiên đến nay chiếm trên 60% sản phẩm hàng hoá của WallMart ở các siêu thị trên thế giới là hàng Trung Quốc, như vậy Trung Quốc đã lợidụng Tập đoàn Wall Mart để "cõng" hàng hoá của Trung Quốc ra bên ngoài… Vìvậy, bài học ở đây là Việt Nam phải vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, trong hợp tác cócạnh tranh, trong cạnh tranh có hợp tác, đó là cách ứng xử thông minh”1
1 TS Nguyễn Đăng Doanh - Nguồn: Lao động
Trang 41988 có rất ít định nghĩa về năng lực cạnh tranh được chấp nhận
Còn M E Porter một chuyên gia hàng đầu thế giới về năng lực cạnh tranhlại chỉ ra rằng cho đến năm 1990, năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cáchđúng đắn, đầy đủ và chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận một cách thốngnhất Năm 1996, Waheeduzzan và các cộng sự cho rằng “năng lực cạnh tranh vẫn làmột khái niệm được hiểu thiếu đầy đủ” Cho đến năm 2004, Henricsson và các cộng
sự chỉ rõ rằng khái niệm năng lực cạnh tranh vẫn còn nhiều tranh cãi giữa các nhàhoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các nhà báo và các học giả ở nhiều nước
Khi tổng thuật tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, một số tác giả nhưThorne (2002, 2004), Momay (2002, 2005) chỉ ra rằng, bắt đầu từ những năm 1990đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bước vào thời kỳ bùng nổ với
số lượng công trình nghiên cứu được công bố rất lớn Theo Thorne, các lý thuyết vềnăng lực cạnh tranh tập trung lại 3 cách tiếp cận sau: lý thuyết thương mại truyềnthống, lý thuyết tổ chức công nghiệp và trường phái quản lý chiếc lược
- Lý thuyết thương mại truyền thống nghiên cứu năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp dựa trên cách tiếp cận của “kinh tế trọng cung”, chú trọng tớimặt cung, chủ yếu quan tâm tới khâu “bán hàng” của người sản xuất – kinhdoanh Theo cách tiếp cận này, tiêu chí đầu tiên của năng lực cạnh tranh làgiá cả và do đó sự khác biệt về giá cả của hàng hóa, dịch vụ được coi là tiêuchí chính để đo lường năng lực cạnh tranh
Trang 5- Lý thuyết này chưa chú trọng đúng mức về cầu hàng hóa, dịch vụ cũng nhưcác yếu tố môi trường kinh doanh Theo Van Duren và các cộng sự (1991),cách tiếp cận này dẫn tới những sai lầm cố hữu do chưa chú trọng đúng mứcđến sự khác biệt về chất lượng sản phẩm, cách tiếp thị và những dịch vụ hậumại của doanh nghiệp Để khắc phục hạn chế của cách tiếp cận thương mạitruyền thống, cần kết hợp mặt cung với mặt cầu hàng hóa, dịch vụ khi nghiêncứu năng lực cạnh tranh doanh nghiệp.
- Lý thuyết tổ chức công nghiệp nghiên cứu năng lực cạnh tranh trên cơ sở xác
định thông số tác động tới các hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp, nhấnmạnh tới mặt cầu của hàng hóa, dịch vụ, coi trọng yếu tố ngoài giá hơn yếu
tố giá cả Tuy nhiên, cách tiếp cận này không chú trọng đúng mức tới lý luận
về năng lực cạnh tranh, chưa chú ý tới các yếu tố tác động năng lực cạnhtranh như vai trò của Nhà nước hay chính sách
- Trường phái quản lý chiến lược được coi là mô hình khá mạnh nghiên cứu vềnăng lực cạnh tranh, làm rõ nguồn lực bảo đảm cho năng lực cạnh tranh.Một số nhà nghiên cứu đã có những công trình nghiên cứu công phu về nănglực cạnh tranh Chẳng hạn như Momaya (2002), Ambastha và cộng sự (2005), hoặccác tác giả người Mỹ như Henricsson và các cộng sự (2004)… đã hệ thống hóa vàphân loại các nghiên cứu và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo 3loại: nghiên cứu năng lực cạnh tranh hoạt động, năng lực cạnh tranh dựa trên khaithác, sử dụng tài sản và năng lực cạnh tranh theo quá trình
Năng lực cạnh tranh hoạt động là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh tranh
chú trọng vào những chỉ tiêu cơ bản gắn với hoạt dộng kinh doanh trên thực tế như:thị phần, năng suất lao động, giá cả, chi phí v.v… Theo những chỉ tiêu này, doanhnghiệp có năng lực cạnh tranh cao là những doanh nghiệp có các chỉ tiêu hoạt độngkinh doanh hiệu quả, chẳng hạn như năng suất lao động cao, thị phần lớn, chi phísản xuất thấp…
Trang 6Năng lực cạnh tranh dựa trên tài sản là xu hướng nghiên cứu nguồn hình
thành năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng các nguồn lực như nhân lực, côngnghệ, lao động Theo đó, các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là nhữngdoanh nghiệp sử dụng các nguồn lực hiệu quả như nguồn nhân lực, lao động, côngnghệ, đồng thời có lợi thế hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực này
Năng lực cạnh tranh theo quá trình là xu hướng nghiên cứu năng lực cạnh
tranh như các quá trình duy trì và phát triển năng lực năng lực cạnh tranh Các quátrình bao gồm: quản lý chiếc lược, sử dụng nguồn nhân lực, các quá trình tác nghiệp(sản xuất, chất lượng…)
Theo thống kê trong nghiên cứu của Momaya và các cộng sự 2005 thìhướng nghiên cứu coi năng lực cạnh tranh như quá trình duy trì và phát triển nănglực cạnh tranh được nhiều nhà nghiên cứu chú trọng và phát triển nhất cho đến nay
Như vậy, cho đến nay, lý thuyết về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp trênthế giới phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau, nhiều trường phái và cáchtiếp cận khác nhau
Tuy nhiên, do ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh nênbất chấp những bất đồng trong lý luận, một số nước như Mỹ, Anh và tổ chức quốc
tế như Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế(OECD), Viện Phát Triển quản lý (IMD), Công ty Standard & Poor’s, Công tyMoody’s… vẫn nghiên cứu và công bố các kết quả tính toán năng lực canh tranh ởcác cấp độ khác nhau Các kết quả này được rất nhiều quốc gia, doanh nghiệp quantâm và tham khảo
1.2.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu nhữngnăm 1990 Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh
là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá
cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồngnghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thunhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp” Định nghĩa này cũng được nhắc lại
Trang 7trong “Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh” (1994) Năm 1998,
Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, nănglực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vàođúng thời điểm Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất vàhiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”
Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chưa được hiểu mộtcách thống nhất Theo Buckley (1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cầnđược gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp với 3 yếu tố: các giá trịchủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính của doanh nghiệp và các mục tiêu giúpcác doanh nghiệp thực hiện chức năng của mình
Điểm lại các tài liệu trong và ngoài nước, có nhiều cách quan niệm về nănglực cạnh tranh doanh nghiệp Dưới đây là một số cách quan niệm về năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp đáng chú ý
Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là cách quan niệm khá phổ biếnhiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so vớicác đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp
Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước
sự tấn công của doanh nghiệp khác Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực cạnhtranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa
và dịch vụ trên thị trường thế giới… Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế có tríchdẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật Ngữ chính sách thương mại(1997), theo đó, năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bịdoanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế” Quan niệm về năng lực cạnhtranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng
Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Theo Tổ chức
Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sứcsản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệuquả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc
Trang 8tế Theo M Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lựccạnh tranh Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu
và nhiệm vụ của doanh nghiệp
Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh
tranh Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thếcạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự:
“Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khảnăng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phầnlớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”
Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpvới năng lực kinh doanh
Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểuthống nhất Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phùhợp, cần lưu ý những đặc thù khái niệm này như Henricsson và các cộng sự (2004)
chỉ ra: đó là tính đa nghĩa (có nhiều định nghĩa), đa trị (có nhiều cách đo lường), đa cấp (với các cấp độ khác nhau), phụ thuộc, có tính quan hệ qua lại, tính chất động
và là một quá trình Ngoài ra, khi đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây:
Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh
và trình độ phát triển trong từng thời kỳ Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự
do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranhđồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh; trong điềukiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa hóa số lượng hànghóa nên năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần; còn trong điều kiện kinh tế tri thứchiện nay, cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng “không gian sinh tồn”, doanh nghiệpphải cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quanniệm về năng lực cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới
Trang 9Đối với Việt Nam hiện nay, với trình độ phát triển kinh tế còn thấp, nhưnglại đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế - cạnh tranh gay gắt, việc đưa ra kháiniệm năng lực cạnh tranh cho phù hợp với bối cảnh hiện nay là không đơn giản.
Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành
giữa các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sảnxuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa, mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn củasản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới
Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức
cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và các phươngthức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh,dựa vào quy chế
Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp như sau:
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.
Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tínhtổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhómdoanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp
1.2.3 Các yếu tố tác động khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Cũng như bản thân doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịutác động của rất nhiều nhân tố khác nhau Theo mô hình Kim cương của M Porter
có thể thấy, có ít nhất 6 nhóm yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp, điều kiện cầu (thị trường), điều kiện yếu tố (nguồn lực đầu vào), các ngànhcung ứng và liên quan (cạnh tranh ngành), các yếu tố ngẫu nhiên và yếu tố nhànước Tuy nhiên, có thể chia các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của
Trang 10doanh nghiệp làm hai nhóm: các yếu tố bên trong doanh nghiệp và các yếu tố bênngoài doanh nghiệp.
1.2.3.1 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Có nhiều yếu tố bên trong doanh nghiệp tác động tới năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đang sử dụng các chỉ tiêu thuộc 5nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp trong việc xác định năng lực cạnh tranh gồm:năng lực quản lý (triết lý kinh doanh, sự tin tưởng vào quản lý nghiệp vụ, sự hiệndiện chuỗi giá trị), chất lượng nhân lực (mở rộng đào tạo nhân viên), năng lựcmarketing (định hướng khách hàng, đổi mới mẫu mã, tăng cường tiếp thị, mở rộngthị trường quốc tế, kiểm soát hoạt động phân phối ở nước ngoài, mở rộng mạng lướibán lẻ), khả năng đổi mới, năng lực nghiên cứu và phát triển (chỉ tiêu cho nghiêncứu và phát triển)
Theo cách tiếp cận truyền thống, các yếu tố bên trong của doanh nghiệp ảnhhưởng đến năng lực cạnh tranh gồm: năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp,trình độ công nghệ, năng lực tài chính, trình độ tay nghề của người lao động… Cóthể phân bổ thành 4 nhóm yếu tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp như sau:
- Trình độ, năng lực và phương thức quản lý
a Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp
Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp được coi là yếu tố quyết định sự tồntại và phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực cạnh tranh doanhnghiệp nói riêng Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp được thể hiện ở các mặtsau:
Trang 11- Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý
- Trình độ của đội ngũ này không chỉ đơn thuần là trình độ học vấn mà còn thểhiện những kiến thức rộng lớn và phức tạp thuộc rất nhiều lĩnh vực liên quantới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ pháp luật trong nước và quốc
tế, thị trường, ngành hàng, … đến kiến thức về xã hội, nhân văn
- Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp: thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộphận Việc hình thành tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng tinh,gọn, nhẹ và hiệu quả cao có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm hiệu quảquản lý cao, ra quyết định nhanh chóng, chính xác, mà còn làm giảm tươngđối chi phí quản lý của doanh nghiệp Nhờ đó mà nâng cao năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp
- Trình độ, năng lực quản lý của doanh nghiệp còn thể hiện trong việc hoạchđịnh chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp… Điều này
có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệptrong ngắn hạn và dài hạn và do đó có tác động mạnh tới việc nâng cao nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp
b Trình độ thiết bị, công nghệ
Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đếnnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thờigian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành sảnphẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh đối với sản phẩm củadoanh nghiệp Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất của doanh nghiệp,nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanh nghiệp
Trang 12c Trình độ lao động trong doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp, lao động vừa là yếu tố đầu vào vừa là lực lượng trựctiếp sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Laođộng còn là lực lượng tham gia tích cực vào quá trình cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóaquá trình sản xuất và thậm chí góp sức vào những phát kiến và sáng chế… Do vậy,trình độ của lực lượng lao động tác động rất lớn đến chất lượng và độ tinh xảo củasản phẩm, ảnh hưởng lớn đến năng suất và chi phí của doanh nghiệp Đây là mộtyếu tố tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để nâng cao sứccạnh tranh, doanh nghiệp cần chú trọng bảo đảm cả chất lượng và số lượng laođộng, nâng cao tay nghề của người lao động dưới nhiều hình thức, đầu tư kinh phíthỏa đáng, khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình quản lý, sáng chế,cải tiến…
d Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả nănghuy động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính… trong doanhnghiệp Trước hết, năng lực tài chính gắn với vốn – là một yếu tố sản xuất cơ bản và
là một đầu vào của doanh nghiệp Do đó, sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòng vốnnhanh… có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm chi phí vốn, giảm giá thành sảnphẩm Đồng thời, vốn còn là tiền đề đối với các yếu tố sản xuất khác
Việc huy động vốn kịp thời nhằm đáp ứng vật tư, nguyên liệu, thuê nhâncông, mua sắm thiết bị, công nghệ, tổ chức hệ thống bán lẻ… Như vậy, năng lực tàichính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên, bắt buộcphải có nếu muốn doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và nâng cao năng lụccạnh tranh
Để nâng cao năng lực tài chính, doanh nghiệp phải củng cố và phát triểnnguồn vốn, tăng vốn tự có, mở rộng vốn vay dưới nhiều hình thức Đồng thời, điềuquan trọng là doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, hoạt động kinh
Trang 13doanh có hiệu quả để tạo uy tín đối với khách hàng, với ngân hàng và những ngườicho vay vốn.
e Năng lực marketing của doanh nghiệp và khả năng xác định lượng cầu
Năng lực marketing của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầu thịtrường, khả năng thực hiện chiến lược 4P (Product, Place, Price, Promotion) tronghoạt động marketing Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụsản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phầntiêu thụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp Đây là nhóm nhân tố rất quantrọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Vì vậy, điều tra cầu thị trường và dựa trên khả năng sẵn có của doanh nghiệp
để lựa chọn lĩnh vực kinh doanh phù hợp, tạo ra sản phẩm có thương hiệu đượcngười sử dụng chấp nhận
Trong điều kiện kinh tế hàng hóa phát triển, văn minh tiêu dùng ngày càngcao, thì người tiêu dùng càng hướng tới tiêu dùng những hàng hóa có thương hiệu
uy tín Vì vậy, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm là một tất yếu đối với nhữngdoanh nghiệp muốn tồn tại trên thị trường
Mặt khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều khâu nhưtiêu thụ, khuyến mãi, nghiên cứu thị trường… do đó dịch vụ bán hàng và sau bánhàng đóng vai trò quan trọng đến doanh số tiêu thụ - vấn đề sống còn của mỗidoanh nghiệp
f Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp
Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp là yếu tố tổng hợp gồmnhiều yếu tố cấu thành như nhân lực nghiên cứu, thiết bị, tài chính cho hoạt độngnghiên cứu và phát triển (R&D), khả năng đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp.Năng lực nghiên cứu và phát triển có vai trò quan trọng trong cải tiến công nghệ,
Trang 14nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã, nâng cao năng suất, hợp lý hóasản xuất
g Yếu tố liên quan đến mức độ cạnh tranh lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh
Vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp cùng loại khẳng định mức
độ cạnh tranh của nó trên thị trường Doanh nghiệp nào lựa chọn lĩnh vực có mức
độ cạnh tranh càng thấp thì càng thuận lợi, vì vậy, hiểu biết thị trường để quyết địnhkinh doanh ở lĩnh vực có mức độ cạnh tranh thấp là yếu tố quan trọng dẫn đến sựthành công và mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp Tuy nhiên, trong môitrường cạnh tranh lành mạnh sẽ có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nhiều hơn làmôi trường độc quyền
Vị thế của doanh nghiệp được thể hiện qua thị phần sản phẩm so với sảnphẩm cùng loại, uy tín thương hiệu sản phẩm đối với người tiêu dùng, sự hoàn hảocủa các dịch vụ và được đo bằng thị phần của các sản phẩm dịch vụ đó trên thịtrường
Ngoài ra, một số yếu tố khác nhau như lợi thế về vị trí địa lý, ngành nghềkinh doanh của doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp… có ảnh hưởng tới năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.3.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Có rất nhiều nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) dựa trên mô hình Kim cương của M.Porter
để đưa ra các yếu tố bên ngoài tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpdưới tiêu đề môi trường kinh doanh của doanh nghiệp” với 56 chỉ tiêu cụ thể (cácchỉ tiêu này được lượng hóa để xếp hạng cho các quốc gia) thuộc 4 nhóm yếu tốnhư sau:
Trang 15Một là, các điều kiện yếu tố đầu vào, gồm 5 phân nhóm: kết cấu hạ tầng vật
chất – kỹ thuật; hạ tầng hành chính, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, thị trườngtài chính
Hai là, các điều kiện về cầu: sở thích của người mua, tình hình pháp luật về
tiêu dùng, về công nghệ thông tin…
Ba là, các ngành cung ứng và ngành liên quan: chất lượng và số lượng các
nhà cung cấp địa phương, khả năng tại chỗ về nghiên cứu chuyên biệt và dịch vụđào tạo, mức độ hợp tác giữa các khu vực kinh tế, khả năng cung cấp tại chỗ các chitiết và phụ kiện máy móc
Bốn là, bối cảnh đối với chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp, gồm hai
phân nhóm là động lực và cạnh tranh (các rào cản vô hình, sự cạnh tranh của cácnhà sản xuất địa phương, hiệu quả của việc chống độc quyền)
Theo logic truyền thống, các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp được chia thànhcác nhóm sau đây: thị trường, thể chế - chính sách, kết cấu hạ tầng, các ngành hỗtrợ…
a Thị trường
Thị trường là môi trường kinh doanh rất quan trọng đối với doanh nghiệp.Thị trường vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm đầu vào thông qua hoạt động mua– bán hàng hóa dịch vụ đầu ra và các yếu tố đầu vào Thị trường còn đồng thời làcông cụ định hướng, hướng dẫn hoạt động của doanh nghiệp, thông qua mức cầu,giá cả, lợi nhuận… để định hướng chiến lược, kế hoạch kinh doanh Như vậy, sự ổnđịnh của thị trường có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệpnói chung và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng Để phát huy vaitrò của các yếu tố thị trường đối với doanh nghiệp, cần có sự can thiệp của nhà nướcvào thị trường nhằm ổn định thị trường (hạn chế những biến động lớn của thịtrường), thông qua việc xây dựng và thực hiện tốt, nghiêm pháp luật thương mại,tạo lập môi trường thị trường cạnh tranh tích cực và hiệu quả, chống gian lậnthương mại, hạn chế độc quyền kinh doanh,…
Trang 16Điều quan trọng là tạo lập môi trường thị trường cạnh tranh tích cực, tăngsức ép đổi mới quản lý, cải tiến quy trình sản xuất, ứng dụng thành tựu khoa học –công nghệ, đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm,… tạo động lực cho doanh nghiệp đểvươn lên.
Trong điều kiện thị trường lành mạnh và ổn định thì doanh nghiệp mới cóđiều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Ngoài ra, cần tạođiều kiện thuận lợi cho việc gia nhập thị trường, tạo ra nhiều nhà cung cấp cũng nhưnhiều đối tác kinh doanh, nhiều khách hàng cho doanh nghiệp
b Thể chế, chính sách
Thể chế, chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanh nghiệp.Nội dung của thể chế, chính sách bao gồm các quy định pháp luật, các biện pháphạn chế hay khuyến khích đầu tư hay kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ, ngànhnghề, địa bàn… Thể chế, chính sách bao gồm pháp luật, chính sách về đầu tư, tàichính, tiền tệ, đất đai, công nghệ, thị trường… nghĩa là các biện pháp điều tiết cảđầu vào và đầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp Do vậy,đây là nhóm yếu tố rất quan trọng và bao quát rất nhiều vấn đề liên quan tới hoạtđộng của doanh nghiệp nói chung và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp nói riêng
Các thể chế, chính sách đối với doanh nghiệp có thể được đánh giá theo từngchính sách hoặc bằng chỉ tiêu tổng hợp với nhiều cách tiếp cận khác nhau Chẳnghạn, để đánh giá việc thực hiện thể chế, chính sách đối với các doanh nghiệp ở ViệtNam, Quỹ Châu Á và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tiếnhành nghiên cứu đánh giá môi trường kinh doanh với 9 chỉ tiêu thành phần: về đăng
ký kinh doanh, chính sách đất đai, tình hình thanh tra – kiểm tra, chính sách pháttriển, tính minh bạch, chi phí giao dịch, năng động của chính quyền
Trang 17c Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng bao gồm hạ tầng vật chất – kỹ thuật và hạ tầng xã hội, baogồm hệ thống giao thông, mạng lưới điện, hệ thống thông tin, hệ thống giáo dục –đào tạo… Đây là tiền đề quan trọng, tác động mạnh đến hoạt động của doanhnghiệp, ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả của sản phẩm Diễn đàn Kinh tế thếgiới (WEF) đã sử dụng tới tiêu chí phản ánh kết cấu hạ tầng trong tổng số 56 tiêuchí đánh giá về môi trường kinh doanh được sử dụng để tính năng lực cạnh tranhquốc gia
Để bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và nâng cao năng lựccạnh tranh, cần có hệ thống kết cấu hạ tầng đa dạng, có chất lượng tốt Điều đó đòihỏi có sự đầu tư đúng mức để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
d Các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ
Hoạt động sản xuất kinh doanh với mỗi doanh nghiệp sẽ liên quan tới mộtchuỗi các ngành khác và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như: những ngành cung cấpnguyên liệu đầu vào, dịch vụ vận tải, cung cấp điện, cung cấp nước… Nếu sử dụngcác dịch vụ với chi phí thấp, chất lượng phục vụ tốt sẽ tạo ra lợi thế cho doanhnghiệp tăng năng lực cạnh tranh, bởi vì mỗi lĩnh vực hoạt động sẽ có cơ hội để thựchiện mức độ chuyên môn hóa cao hơn làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
Vì vậy, doanh nghiệp rất cần duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài với cácngành có liên quan nhằm tạo ra lợi thế tiềm tàng cho cạnh tranh
Trong nền sản xuất hiện đại, cùng với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì
sự liên kết, hợp tác cũng phát triển mạnh mẽ Thực tế chỉ ra rằng, khi trình độ sảnxuất càng hiện đại thì sự phụ thuộc lẫn nhau càng lớn
e Trình độ nguồn nhân lực
Trình độ nguồn nhân lực quốc gia nói chung có vai trò rất quan trọng đối với
sự phát triển doanh nghiệp Trong nền sản xuất hiện đại, đặc biệt là trong xu hướngchuyển sang nền kinh tế tri thức thì chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia hay củamột vùng lãnh thổ là yếu tố được quan tâm nhất khi các doanh nghiệp lựa chọn đầu
tư Trình độ và các điều kiện về nguồn nhân lực thể hiện ở kỹ năng của nguồn nhân
Trang 18lực, mức lương, hệ thống lương, điều kiện làm việc, sức khỏe và an toàn, đầu tư chođào tạo, vai trò của công đoàn Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần chútrọng giáo dục và đào tạo, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các cơ sở đào tạo, các hoạtđộng đào tạo phát triển thông qua cơ chế, chính sách và các biện pháp khác của Nhànước.
1.2.4 Các mô hình và phương pháp để đánh giá năng lực cạnh tranh doanh
nghiệp
Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác Như vậy, năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằngcác tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… mộtcách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt độngtrên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạonên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh vớiđối tác của mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏicủa khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh.Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủtất cả những yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặtnày và có hạn chế về mặt khác; vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết đượcđiều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốtnhất những đòi hỏi của khách hàng Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanhnghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ nhữnglĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính vàđịnh lượng Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnhvực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau
Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranhcủa một doanh nghiệp bao gồm: giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm
Trang 19và bao gói; kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiếnthương mại; năng lực nghiên cứu và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanhnghiệp; trình độ lao động; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thịphần; vị thế tài chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp hiện nay, thông qua phương pháp so sánh trực tiếp cácyếu tố nêu trên để đánh giá năng lực cạnh tranh của mình so với đối tác cạnh tranh.Đây là phương pháp truyền thống và phần nào phản ánh được năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp
Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là không cho phép doanh nghiệpđánh giá tổng quát năng lực cạnh tranh của mình với đối tác cạnh tranh mà chỉ đánhgiá được từng mặt, từng yếu tố cụ thể Để khắc phục nhược điểm trên, việc nghiêncứu vận dụng các mô hình đánh giá các yếu tố môi trường nội bộ và đánh giá mức
độ ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, qua đó, giúp doanh nghiệp sosánh năng lực cạnh tranh tổng thể của mình với các đối thủ trong ngành là một giảipháp mang tính khả thi cao Sau đây, xin giới thiệu một số các mô hình:
1.2.4.1 Mô hình “Kim cương” của M Porter
Mô hình “Kim cương”, một lý thuyết về cạnh tranh nổi tiếng của M Porter,được ông nêu trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (1990), đã nêu lên cácyếu tố quyết định sự cạnh tranh của một quốc gia trong thương mại quốc tế Theoông, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năngsáng tạo và sự năng động của ngành, của quốc gia đó Khi thế giới cạnh tranh mang
tính chất toàn cầu hoá thì nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế.
Mô hình Kim cương của Porter đưa ra khuôn khổ phân tích để hiểu bản chất
và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (hình 1.2)
Trang 20Hình 1.1: Mô hình kim cưong của M Porter, 1990
Nguồn: Năng lực cạnh tranh quốc gia, M Porter, 1990
Mô hình này đã lý giải những lực lượng thúc đẩy sự đổi mới và năng độngcủa các doanh nghiệp và qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanhnghiệp trên thị trường Bốn nhóm nhân tố trong mô hình viên kim cương củaM.Porter phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và tác động quan trọngđến việc hình thành và duy trì năng lực cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệptrong một ngành kinh tế - kỹ thuật nào đó Sự sẵn có cả về số lượng và chất lượngcác nguồn lực cần thiết cho việc phát triển một ngành có khả năng cạnh tranh; thôngtin thông suốt về những cơ hội kinh doanh mà các doanh nghiệp có thể tiếp cận;chiến lược của các doanh nghiệp trong khai thác và sử dụng các yếu tố nguồn lực;quan điểm, triết lý kinh doanh của chủ sở hữu, quản trị viên, các nhân viên trongdoanh nghiệp,… đều có thể “cộng hưởng” thúc đẩy các doanh nghiệp trong mộtngành phải hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới nhanhhơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng Vai trò của Nhà nước là thông quacác chính sách vĩ mô tác động vào cả bốn “mặt” của “viên kim cương” sao chochúng cùng phát triển tương xứng, đồng bộ và hỗ trợ lẫn nhau tạo thuận lợi cho cácdoanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường quốc tế
Trang 21Ma trận SWOT có tác dụng giúp doanh nghiệp xây dựng và phát triển 4 loạichiến lược sau để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình:
- Các chiến lược điểm mạnh – cơ hội (S – O): Sử dụng những điểm mạnh bên
trong để tận dụng cơ hội bên ngoài
- Các chiến lược điểm yếu – cơ hội (W – O): Cải thiện những điểm yếu bên trong
để tận dụng cơ hội bên ngoài
- Các chiến lược điểm mạnh – đe dọa (S – T): Sử dụng các điểm mạnh để tránh
khỏi hay giảm bớt ảnh hưởng của mối đe dọa bên ngoài
- Các chiến lược điểm yếu – nguy cơ (W – T): Cải thiện điểm yếu bên trong để
tránh hay giảm bớt ảnh hưởng của mối đe dọa bên ngoài
Hình 1.2: Mô hình ma trận SWOT
Trang 221.3 Những cơ hội và thách thức của doanh nghiệp khi Việt Nam gia nhập
WTO
1.3.1 Những cơ hội
Một là: Được tiếp cận thị trường hàng hóa và dịch vụ ở tất cả các nước
thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ ở cácnước mở cửa không bị phân biệt đối xử theo Nghị định thư gia nhập của các nướcnày
Hai là: Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lýtheo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của Việt Nam ngày càng được cảithiện
Ba là: Gia nhập WTO Việt Nam có được vị thế bình đẳng như các thành
viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấutranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện
để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp
Đương nhiên, kết quả đấu tranh còn tùy thuộc vào thế và lực, vào khả năngtập hợp lực lượng và năng lực quản lý điều hành của Việt Nam
Bốn là: hội nhập vào nền kinh tế thế giới thúc đẩy tiến trình cải cách trong
nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của Việt Nam đồng bộ hơn, có hiệu quả hơn
1.3.2 Những thách thức
Trong khi nhận thức rõ những cơ hội có được do việc gia nhập WTO mang lại, cần thấy hết những thách thức mà Việt Nam phải đối đầu Những thách thức nàygồm:
Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình
diện rộng hơn, sâu hơn
Hai là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hóa, tính phụ
thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên Sự biến động trên thị trường các nước sẽtác động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏi phải có chính sách kinh tế vĩ môđúng đắn, năng lực dự báo và phân tích tình hình cao, cơ chế quản lý phải tạo cơ sở
Trang 23để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cựctrước những biến động trên thị trường thế giới Trong điều kiện tiềm lực đất nước
có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thịtrường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ
Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ
môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa và truyền thống tốtđẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền
Như vậy, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, hội nhập kinh tế quốc tếvừa có cơ hội lớn, vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ Cơ hội tự nó khôngbiến thành lực lượng vật chất trên thị trường mà tùy thuộc vào khả năng tận dụng cơhội của Việt Nam Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động của nó đến đâucòn tùy thuộc vào nỗ lực vươn lên của Việt Nam Cơ hội và thách thức luôn vậnđộng, chuyển hóa; và thách thức đối với ngành này có thể là cơ hội cho ngành khácphát triển
Thành tựu to lớn sau 20 năm đổi mới, quá trình chuyển biến tích cực trongcạnh tranh và hội nhập kinh tế những năm vừa qua, cùng với kinh nghiệm và kếtquả của nhiều nước gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới trước Việt Nam, choViệt Nam niềm tin vững chắc rằng: Việt Nam hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội,vượt qua thách thức Có thể có một số doanh nghiệp khó khăn, thậm chí lâm vàocảnh phá sản nhưng phần lớn các doanh nghiệp sẽ trụ vững và vươn lên, nhiềudoanh nghiệp mới sẽ tham gia thị trường và toàn bộ nền kinh tế sẽ phát triển theomục tiêu và định hướng của Việt Nam
1.3.3 Tác động của WTO đối với doanh nghiệp Việt Nam
Theo ông Trần Quốc Khánh, Vụ trưởng Vụ Chính sách Thương mại, WTOđược diễn tả tóm tắt bằng những cụm từ: “công khai hóa”, “minh bạch hóa”, “khôngphân biệt đối xử” và “mở cửa thị trường” để thúc đẩy cạnh tranh” Những cụm từnày diễn tả được cơ hội và thách thức của việc gia nhập WTO đối với nền kinh tế
Trang 24Việt Nam nói chung và mỗi doanh nghiệp nói riêng Nhiều doanh nghiệp đã sẵnsàng nhưng cũng không ít doanh nghiệp băn khoăn bởi chưa rõ điều gì sẽ xảy ra saukhi Việt Nam gia nhập WTO.
Mở cửa thị trường thúc đẩy cạnh tranh
Một trong những tác động tích cực của việc gia nhập WTO đối với doanhnghiệp là sẽ phải thực hiện công khai hóa, minh bạch hóa và không phân biệt đối
xử Công khai hóa và minh bạch hóa sẽ đem lại thuận lơi và từ đó là những cơ hộimới cho doanh nghịệp Tuy nhiên, với một bộ phận công chức chưa quen với việcminh bạch hóa và công khai hóa thì đó là thách thức không nhỏ
Nguyên tắc không phân biệt đối xử đặt ra nhiều vấn đề hơn và tác động lớnhơn tới hoạt động của các doanh nghiệp Nguyên tắc này có một số ngoại lệ nhưngnhìn chung thì kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ không thể “ưu ái” hàng hóa vàdịch vụ trong nước hơn là hàng hóa và dịch vụ nước ngoài Trong nhiều trường hợp,Việt Nam cũng sẽ không thể đối xử với doanh nghiệp nước ngoài khác với doanhnghiệp Việt Nam Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu “tổng hợp” sẽ không còn làđặc quyền riêng của doanh nghiệp Việt Nam nữa, bởi mọi doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, kể từ 1/1/2007, cũng sẽ được đặc quyền kinh doanh xuất nhập khẩu
Vấn đề này trong Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳcũng đã đề cập nên không còn là chuyện mới với các doanh nghiệp, khi gia nhậpWTO, do diện áp dụng được mở rộng nên tác động sẽ lớn hơn
Giảm thuế nhập khẩu
Việt Nam đã cam kết giảm thuế nhập khẩu khoảng 22% so với mức hiệnhành, thực hiện chủ yếu trong vòng 5 năm kể từ khi gia nhập WTO Một số doanhnghiệp cho đây là mức giảm quá lớn, lộ trình 5 năm cũng không dài Tuy nhiên cóthể thấy mức giảm thuế bình quân hiện hành (khoảng 17,4%) sẽ được giảm xuốngcòn khoảng 13,4% Việt Nam đàm phán sau Trung Quốc 5-6 năm, lại không ở vịthế mặc cả nên kết quả 13,4% là chấp nhận được
Trang 25Lộ trình 5 năm là ngắn hay dài còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố Với sản xuấtcông nghiệp, 5 năm có thể là khoảng thời gian chấp nhận được nhưng với nôngnghiệp lại khác bởi chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp thường đòi hỏi thời giandài Một doanh nghiệp ở khu vực năng động như TP.Hồ Chí Minh hay Bình Dương
có thể chỉ cần 2-3 năm để tái cơ cấu nhưng một doanh nghiệp ở miền núi có thể cầnthời gian dài hơn Quy mô bình quân trong ngành cũng là yếu tố quan trọng, bởi cácdoanh nghiệp lớn thường khó thay đổi hơn các doanh nghiệp nhỏ Ngoài ra, nếu tỷtrọng doanh nghiệp quốc doanh trong một ngành nào đó quá lớn thì ngành đó có thểcần thời gian chuyển đổi dài hơn ngành khác; bởi doanh nghiệp quốc doanh thườngphải xử lý nhiều vấn đề hơn doanh nghiệp tư nhân khi chuyển đổi, trong đó có cảvấn đề xã hội
Trang 26CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP DỆT MAY HÀN QUỐC Ở KHU VỰC KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
PHÍA NAM
2.1 Giới thiệu vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam(VKTTĐPN) là tên gọi khu vực phát
triển kinh tế động lực khu vực Đông Nam Bộ Việt Nam, gồm các tỉnh, thành phố:Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Phước,Tây Ninh, Long An và Tiền Giang (Tiền Giang thuộc miền Tây Nam Bộ).VKTTĐPN có vai trò rất quan trọng, đóng góp lớn nhất cho kinh tế Việt Nam,chiếm gần 60% nguồn thu ngân sách, trên 70% kim ngạch xuất khẩu và là khu vựcthu hút vốn FDI hàng đầu cả nước, tỷ lệ dân số đô thị gần 50% (so với mức bìnhquân 25% của cả nước)
- Có Tp HCM là đô thị và trung tâm nhiều chức năng lớn nhất nước, có lực lượnglao động dồi dào, tay nghề khá, có nhiều cơ sở giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoahọc, công nghệ, đang đóng góp tích cực cho phát triển của vùng và cả khu vực phíaNam
Trang 27- Có Vũng Tàu, là thành phố cảng, và dịch vụ công nghiệp nằm ở "mặt tiền duyênhải" ở phía Nam, sẽ là cầu nối và "cửa ngõ" lớn giao thương với thế giới.
- Có thị xã Thủ Dầu Một và khu vực Nam Sông Bé, Tp Biên Hòa và khu vực dọctheo quốc lộ 51, nơi có điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển công nghiệp
Về dân số
Mật độ dân số bình quân năm 2006 của vùng là 426 người/km2, so với năm
1996 tăng gấp 1,6 lần Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi như sau: 0 - 14 tuổi chiếm33,4%, 14 - 60 tuổi chiếm 60,0%, trên 60 tuổi chiểm 6,6%
Trình độ dân trí
Dân số từ 5 tuổi trở lên chia theo trình độ văn hóa như sau: chưa đến trườngchiếm 12,4%, đi học nhưng chưa tốt nghiệp phổ thông cơ sở 62,5%, tốt nghiệp phổthông cơ sở 13,8%, tốt nghiệp phổ thông trung học 7,2%, trung học chuyên nghiệptrở lên 3,7% Trong 4 địa phương nói trên, Tp.HCM có trình độ dân trí cao hơn cả.Trình độ học vấn trung bình của người dân thành phố là 5,2 lớp, tỷ lệ dân biết chữ95,44%, trong đó đạt trình độ phổ thông cơ sở 73,2%, phổ thông trung học 22,18%,
có trình độ cao đẳng đại học trở lên 2,1%
Qua các số liệu nói trên cho thấy trình độ văn hóa cư dân nơi đây còn thấp,
số qua đào tạo nghề còn rất ít, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội cảtrước mắt và về lâu dài Đặc biệt số di dân từ các nơi khác đến phần lớn là dân nôngnghiệp, không có nghề nghiệp và 53% số đó có trình độ văn hóa dưới cấp 1
Lao động
Dân số trong độ tuổi lao động của vùng khoảng 4,5 triệu người, chiếm 55,3%tổng số dân Nếu tính cả trẻ em dưới tuổi và người già trên tuổi lao động còn làmviệc (không kể người mất sức) thì nguồn lao động còn cao hơn nữa
Dân số trẻ và nhập cư cao nên mức tăng trưởng hàng năm của lực lượng laođộng thời kỳ 1989- 1994 khoảng 3% Đây là tiềm năng dồi dào về nguồn lao động,song cũng là một gánh nặng về giải quyết việc làm và cải thiện mức sống dân cưcủa vùng
Trang 28Lao động đang làm việc ở vùng phân bổ vào các khu vực năm 2006 như sau:nông- lâm ngư nghiệp 27,8%, công nghiệp xây dựng 30,9%, dịch vụ 41,3% Trongnhóm ngành nông - ngư - lâm nghiệp thì Sông Bé có tỷ trọng cao nhất: 84%, sau đó
là Đồng Nai: 83,5% Tp.HCM có tỷ trọng lao động trong công nghiệp: 39,7% vàdịch vụ: 45,9%
Trong số dân không hoạt động kinh tế, số người có nhu cầu nhưng chưakiếm được việc làm (thất nghiệp) khá cao, toàn vùng là: 4,6% (2006) trong đó khuvực thành thị: 5,47% (2006)
Năm 2003 số lao động có chuyên môn kỹ thuật chiếm gần 21% tổng lựclượng lao động (khoảng 8,84 triệu người) Đặc biệt, vùng Đông Nam Bộ (Tp.HCM,Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương ) vẫn đứng đầu cả nước về tỷ lệ laođộng có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao (đạt 30,13%); thấp nhất là vùng ĐôngBắc với 10,75% Vùng Đông Nam Bộ, tỷ lệ lao động nông - lâm - ngư nghiệp chỉcòn dưới 30%, các vùng khác vẫn chiếm trên 70%.2
Kết cấu hạ tầng
Giao thông vận tải: Hệ thống giao thông trên vùng, bao gồm đường tráng
nhựa và đường cấp phối với tổng chiều dài 1.105km, mật độ 0,23km/km2 Hệ thốngchính gồm:
- Quốc lộ 1A xuyên qua vùng nối liền Hà Nội đến Đồng bằng sông Cửu Long
- Quốc lộ 22 đi Campuchia
- Quốc lộ 13 nối với quốc lộ 14 đi Tây Nguyên và qua Lào
- Quốc lộ 20 đi lên Đà Lạt
- Quốc lộ 51, trục giao thông chính nối liền 3 thành phố lớn của vùng: Tp.HCMBiên Hòa - Vũng Tàu
- Quốc lộ 50 đi Gò Công - Mỹ Tho - Nối liền với Đồng bằng sông Cửu Long
- Nhiều liên tỉnh lộ nối liền các điểm dân cư của vùng với bên ngoài
2 theo số liệu được đưa ra tại hội nghị công bố kết quả điều tra lao động - việc làm 2003 do Bộ LĐTB-XH tổ chức ngày 31-10 ở Hà Nội.)
Trang 29Đường sắt Thống Nhất Nam Bắc, khổ rộng 1m đi qua vùng và ga cuối cùng
tại Tp.HCM
Hàng không: Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, cách trung tâm thành phố 5 km,
là sân bay quốc tế lớn nhất Việt Nam hiện nay Có 20 tuyến bay, trong đó có 17tuyến bay ra nước ngoài Năm 1995 ước tiếp nhận 2,5 triệu hành khách và 50.000tấn hàng hóa Ngoài ra còn sân bay quân sự lớn ở Biên Hòa Sân bay Vũng Tàuphục vụ chủ yếu cho dịch vụ ngành dầu khí và các đường bay ngắn
Đường thủy hiện có:
- Hệ thống cảng Sài Gòn, năng lực thiết kế 10 triệu tấn/năm (hiện nay đã khai tháchết công suất) tiếp nhận được tàu có trọng tải 15.000- 20.000 tấn Từ cảng Sài Gònbằng đường sông, xà lan 200 - 1000 tấn có thể đi đến hầu hết các tỉnh Đồng bằngsông Cửu Long và sang tới Phnông- Pênh
- Hệ thống cảng Vũng Tàu, gồm cảng dịch vụ dầu khí và cảng hàng hóa Năng lựcthiết kế 1 triệu tấn/năm (hiện nay khai thác được 0,5 triệu tấn/năm), có khả năngtiếp nhận tàu 15.000 tấn
- Hệ thống cảng sông ở Tp.HCM, Biên Hòa năng lực ước tính 1 triệu tấn/năm
- Cùng với hệ thống cảng, còn có đội tàu viễn dương khá quan trọng gồm 33 tàu vớitổng trọng tải 177.600 DWT
Trong những khó khăn, yếu kém của cơ sở hạ tầng thì giao thông là gay gắtnhất, là một trong những yêu cầu cần được khắc phục trước tiên
Bưu chính viễn thông
Tp.HCM là một trung tâm bưu chính, viễn thông lớn nhất của Việt Nam Tạiđây có thể liên lạc bằng telex, fax, điện thoại, điện tín, bưu chính với hầu hết các địaphương trong nước và các nước trên thế giới Số máy điện thoại bình quân trên 2máy/100 người dân Hệ thống điện thoại đối ngoại truyền tin qua vệ tinh Sputnik,Landsat với thế giới Đang xây dựng hệ thống cáp quang dưới biển TVH nối liềnVũng Tàu với Hồng Kông và Bangkok
Trang 30Cấp thoát nước
Hệ thống cấp nước tập trung trong vùng có: nhà máy nước Sài Gòn công suất650.000 m3/ngày, nhà máy nước Biên Hòa 20.000 m3/ngày, Bà Rịa 12.000 m3/ngày.Ngoài ra còn nhiều trạm cấp nước cục bộ bằng giếng khoan dưới đất Hệ thốngthoát nước chủ yếu bao gồm cống ngầm mới đạt 32,4 km/ha (theo tiêu chuẩn là 400m/ha) Hệ thống không đồng bộ, năng lực thoát nước kém, hư hỏng, xuống cấp vàkhông có hệ thống xử lý nước thải trước khi đổ vào sông Sài Gòn, sông Đồng Nai,thải ra biển ở Vũng Tàu Nước thải công nghiệp, nước sinh hoạt, nước mưa đều dồnvào cùng hệ thống thải nhỏ bé không tương xứng
Cấp điện: Hiện nay có những khó khăn trong việc cung cấp năng lượng.
Nguồn năng lượng điện hiện có chỉ đáp ứng 80% nhu cầu trước mắt Mạng lưới vàthiết bị chuyển tải điện không đồng bộ, cũ kỹ, xuống cấp, gây hao hụt lớn (tổn thấttrong quá trình chuyển tải đến 18- 20% lượng điện phát ra)
Vùng nằm trong lưới điện miền Nam Việt Nam phân bổ từ Khánh Hòa trởvào Tổng lượng điện phát ra khoảng 4,5 tỷ Kwh/người/năm, bình quân đầu người:
175 Kwh/người/năm Riêng VKTTĐPN là 310 Kwh/người/năm (1992) Tp.HCM,
360 Kwh/người, đáng lưu ý là trong hơn 10 năm qua mức cấp điện cho vùng tăngkhoảng 7- 8%, trong lúc đó tăng trưởng GDP ở đây đạt 10- 12% năm Điều này đãgây sự căng thẳng trong phát triển Lưới điện đến nay chưa phủ khắp các thôn, xãnông thôn Ở ngoại vi của vùng, các tỉnh xung quanh mới có hơn 50% hộ gia đìnhđược cấp điện
Nhà ở: Nhà ở trong khu vực đô thị còn rất khó khăn Bình quân ở các khu
vực đô thị Tp.HCM, Biên Hòa, Vũng Tàu chỉ mới đạt 5- 6m2/người RiêngTp.HCM có khoảng 30.000 hộ ở nhà ổ chuột và 20.000 hộ ở nhà tạm bợ trên kênhrạch, tiện nghi trong nhà ở còn rất kém
Trang 31Thực trạng môi trường
Tình trạng di dân tự phát vào các đô thị đã tạo nên sự quá tải về giao thông,nhà ở, tiện nghi sinh hoạt cùng với việc xuống cấp của cơ sở hạ tầng tạo nên tìnhtrạng ô nhiễm môi trường trầm trọng Nhiều luồng di dân "tự do" vào các địaphương Đồng Nai, Sông Bé, Bà Rịa- Vũng Tàu định cư thành xóm, ấp phá rừngkhai hoang, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường
- Ô nhiễm công nghiệp đã xuất hiện trên nhiều khu vực và ngày càng nghiêmtrọng như: các cơ sở trung tâm công nghiệp ở nội thành, các cụm và cơ sở côngnghiệp ven nội thành Tp.HCM, KCN Biên Hòa, thậm chí ở một số cơ sở côngnghiệp mới xây dựng như VEDAN ở Long Thành- Đồng Nai
- Rác, chất thải và nước thải, khói, bụi giao thông đô thị ở Tp.HCM, Biên Hòa,
Vũng Tàu không được xử lý tốt cũng gây ô nhiễm nghiêm trọng
2.2 Giới thiệu sơ lược về các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc tại Việt Nam
Công nghiệp dệt may Hàn Quốc
Hiện nay, ngành công nghiệp xuất khẩu dệt may Hàn Quốc thuộc top cácquốc gia xuất khẩu dệt may trên thế giới Nếu tính cả hai ngành dệt và may thì HànQuốc đứng thứ 6 sau Trung Quốc, EU, Thổ Nhĩ Kỳ, tiếp sau nữa là Mỹ và Ấn Độ.Nếu tách riêng dệt và may thì thứ hạng của dệt may Hàn Quốc đang là:
Bảng 2.1: Vị trí công nghiệp dệt may Hàn Quốc trên thế giới
Dệt
34,8%
EU26,6%
15,9%
TrungQuốc26,6%
Mỹ6,4%
Hàn Quốc
6%
ĐàiLoan5,5%
Ấn Độ
May
Thổ NhĩKỳ6,4%
Mexico6%
Ấn Độ5,5%
Mỹ3,8%
Hàn Quốc
1,6%Nguồn: Báo Việt Nam ngày nay – số 43 [ 29]
Trang 32Về công nghiệp dệt Hàn Quốc đứng thứ 4 trên thế giới, còn về công nghiệpmay đứng thứ 9, đây đều là những thứ hạng cao Để có được vị trí như vậy, ngànhcông nghiệp dệt may Hàn Quốc vào buổi ban đầu đã đặt ra mục tiêu hướng về xuấtkhẩu
Mà để xuất khẩu, các doanh nghiệp phải đạt đủ mọi tiêu chuẩn về kỹ thuậtmay cũng như chất lượng sản phẩm Nghiên cứu công nghệ máy móc thiết bị caocho ngành dệt may là một trong nhưng điểm nổi bật của ngành công nghiệp dệt mayHàn Quốc
Các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc tại Việt Nam
Hàn Quốc bắt đầu đầu tư vào Việt Nam từ năm 1991 Tính đến hết năm
2007, Hàn Quốc đứng đầu trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vàoViệt Nam, với tổng vốn đăng ký là 11,5 tỷ USD với 1.655 dự án Số vốn đầu tưtrung bình của mỗi doanh nghiệp xứ Hàn tại Việt Nam là 3 triệu USD Trong số cácdoanh nghiệp này có 69,9% đơn vị tập trung vào các ngành công nghiệp chế tạo là
sử dụng nhiều lao động như ngành dệt may Đáng chú ý là có tới 92,6% các nhà đầu
tư Hàn Quốc đánh giá tích cực về môi trường đầu tư Việt Nam. 3
Hiện tại ở khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, các doanh nghiệp Dệt MayHàn Quốc chiếm tỷ trọng khá cao cả về số lượng lẫn chất lượng Tính đến 2007, cókhoảng 355 doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc tại KVKTTĐPN Tất cả doanh nghiệpnày đều hoạt động dưới hình thức 100% vốn của Hàn Quốc hoặc liên doanh để xuấtkhẩu Các doanh nghiệp may Hàn Quốc chủ yếu chú trọng xuất khẩu (gần 100% sảnphẩm); các doanh nghiệp có sản phẩm tiêu thụ ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu.Hằng năm các doanh nghiệp Hàn Quốc đều nằm trong số các doanh nghiệp xuấtkhẩu cao nhất của Việt Nam
Dựa theo phần 1.2.3 các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp, tác giả xin được phân tích sơ bộ về các doanh nghiệp may Hàn Quốctại khu vực kinh tế trọng điểm phía nam như sau:
3 http://www.vietnamnet.com.vn/kinhte/toancanh/2003/6/15673/ , “ Dệt may Việt Nam đối mặt nhiều thách thức”
Trang 332.2.1 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp:
2.2.1.1 Năng lực sản xuất
a Thiết bị, công nghệ:
Công nghệ thiết bị của các doanh nghiệp Hàn Quốc cũng chỉ ở mức trung bình khá dù đã nỗ lực cải tiến công nghệ Tuy nhiên còn cách các nước dệt
may tiên tiến như Ấn Độ, Trung Quốc,… 5-8 năm
Đối với ngành dệt, điều đáng chú ý là trong những năm qua tuy đã bổ sung,thay thế 1.500 máy dệt không thoi hiện đại để nâng cấp mặt hàng dệt trên tổng sốmáy hiện có là 15.500 máy thì cũng chỉ đáp ứng 15% công suất dệt Ngành mayHàn Quốc tuy liên tục mở rộng đầu tư sản xuất, đổi mới thiết bị dây chuyền đồng bộchuyên sản xuất các mặt hàng như: dây chuyền may sơ mi, quần âu, quần Jean,complete, hệ thống giặt là nhưng cũng chưa đáp ứng được những nhu cầu xuất khẩungày càng tăng Thực trạng cho thấy: ở khâu kéo sợi chỉ có 30% máy móc thuộctrình độ khá (gồm cả máy mới, máy đã qua sử dụng, và máy được cải tạo), còn đến70% máy móc thuộc trình độ trung bình và dưới trung bình Khâu dệt, trừ thiết bịdệt kim tương đối khá, còn dệt thoi chỉ có trên 35% máy mới, khoảng 25% máyđược cải tạo, còn 40% là máy cũ Khâu hoàn tất, có 35% số thiết bị mới nhưng đã
sử dụng 10-20 năm.4
Tuy trình độ công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốccũng khá cao so với các doanh nghiệp dệt may còn lại của Việt Nam (với các trangthiết bị hiện đại và chuyển giao công nghệ từ Hàn Quốc- một quốc gia có nền côngnghiệp may phát triển), nhưng số lượng này chỉ chiếm 10% máy móc của toànngành Ngành dệt cũng ở trong tình trạng tương tự nên không có khả năng đáp ứng
đủ nhu cầu
b Lao động:
Khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam có khoảng 300 nhà máy dệt may củaHàn Quốc, thu hút trên 136.077 lao động, chiếm khoảng 1,5% lao động toàn ngành,nhưng quy mô còn nhỏ bé Đặc biệt ngành dệt may hiện nay đang trong tình trạngthiếu lao động, lao động có tay nghề cao chỉ chiếm 20,4% nên năng suất lao động
4 Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam số 134 - 2003
Trang 34thấp, chẳng hạn cùng một ca làm việc năng suất lao động bình quân của một laođộng ngành dệt may Việt Nam chỉ đạt 12 áo sơ mi ngắn tay hoặc 10 chiếc quần thìlao động Hồng Kông năng suất lao động là 30 áo hoặc 15-20 chiếc quần Hiệndoanh nghiệp dệt may trong cả nước cần khoảng 600 ngàn lao động thiết kế, 1200nhân viên nam làm việc trong các khâu marketing, bán hàng và xúc tiến xuất khẩu;40.000 lao động điều hành sản xuất ở các chức danh giám đốc, quản đốc nhà máy,
kĩ thuật viên cùng hàng trăm ngàn lao động phổ thông, nhưng không có nguồn cungứng
Quy mô đào tạo và chất lượng lao động chưa được nâng cao nên ngành dệt may còn thiếu lao động, do đó làm cho cơ cấu tổ chức sản xuất không hợp lý
dẫn đến năng suất thấp Hiện tại, các doanh nghiệp Hàn Quốc cần tăng cường đàotạo nếu muốn tận dụng lợi thế cạnh tranh về lao động
c Sản lượng sản xuất
Năm 2005, năng lực sản xuất sợi của các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc đạt 86.000 tấn, năng lực sản xuất vải đạt 206 triệu mét, năng lực sản xuất hàng dệt kim là 50 triệu sản phẩm, năng lực may đạt 385 triệu sản phẩm. 5
Trong một thập kỷ trở lại đây, ngành dệt may Việt Nam đặc biệt là ngànhmay công nghiệp phục vụ xuất khẩu đã có những tiến bộ đáng kể Trong đó, cácdoanh nghiệp dệt may Hàn Quốc chiếm 23,1% sản lượng vải lụa, đạt 140,6 triệu m
Năm 2000, theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, năng suất sản xuấtdệt kim của các doanh nghiệp Hàn Quốc là 8 triệu sản phẩm Theo các chuyên giađánh giá về dệt kim, sau 10 năm đầu tư, lĩnh vực dệt kim năm 1999 có khoảng 200máy dệt, khả năng sản xuất tương đương 35 triệu sản phẩm áo T-shirt 6
Năm 2002 toàn khối doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc sản xuất được 50.000tấn sợi, 137 triệu m lụa và 26 tấn vải dệt kim loại, tuy nhiên giá trị sản xuất công
5 http://www.itpc.hochiminhcity.gov.vn/vi/nghien_cuu_thi_trong_nuoc_ngoai/chau_a/han_quoc/
quan_he_tm_viet_han/thuong_mai_song_phuong/view
Nguồn: Tài liệu xúc tiến kêu gọi đầu tư phát triển ngành dệt may Việt Nam (2007-trang 9)
[Năng lực sản xuất tòan ngành: Bông 11.000 tấn; Sợi 260.000 tấn; Vải 618 triệu m 2 ; Hàng dệt kim 150 triệu sản phẩm; May 1154 triệu sản phẩm Ước luợng các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc chiếm 1/3 toàn ngành]
6 Nguồn: Số liệu tổng cục Thống Kê 2000
[Năng lực sản xuất toàn ngành: Dệt kim 35 triệu sản phẩm, 450 máy, T-shirt 90 triệu sản phẩm Ước luợng các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc chiếm 1/3 toàn ngành]
Trang 35nghiệp của các doanh nghiệp này cũng chỉ đạt khoảng 6.300 tỷ đồng (theo giá1994) Năm 2006, sản lượng vải lụa đạt 182 triệu m, quần áo dệt kim 45 triệu sảnphẩm, quần áo may sẵn đạt 406 triệu sản phẩm Với giá trị sản lượng như trênkhông tương xứng với tiềm năng sản xuất hàng dệt may của khu vực dệt may HànQuốc với trình độ công nghệ, máy móc và năng lực quản lý cao hơn nhiều so vớinhiều doanh nghiệp dệt may Việt Nam Do đó, khu vực dệt may Hàn Quốc cần nỗlực hơn nữa trong việc cải thiện năng suất lao động và trình độ tay nghề cho côngnhân và chi phí đầu vào sản phẩm qua việc chủ động nguyên phụ liệu đầu vào 7
Nếu tính cả nước, năng lực sản xuất vải trong nước theo công suất thiết kế là
800 triệu m nhưng sản lượng sản xuất ra chỉ mới đạt 376 triệu m, chưa được 50%công suất thiết kế
Trong gần 600 triệu m vải sản xuất được thì phần lớn là đáp ứng nhu cầutrong nước, phần cung cấp cho ngành may xuất khẩu chỉ có hơn 100 triệu m (năm2001)
d Cơ cấu sản phẩm:
Sản phẩm dệt:
Trong những năm gần đây, sản phẩm dệt may Hàn Quốc đã dần được đadạng hóa Trong khâu sản xuất sợi, tỷ trọng các mặt hàng polyester pha bông vớinhiều tỉ lệ khác nhau 50/50, 65/35, 83/17 tăng nhanh; các lọai sợi 100% polyestercũng bắt đầu được sản xuất; các loại sản phẩm cotton/visco, cotton/aceylic,wool/arcilic đã bắt đầu được đưa ra thị trường
Trong khâu dệt vải, nhiều mặt hàng dệt thoi mới, chất lượng cao đã bắt đầuđược sản xuất Đối với mặt hàng 100% sợi bông, các mặt hàng cao đã bắt đầu đượcsản xuất Đối với mặt hàng 100% sợi bông, các mặt hàng sợi đơn chải kỹ chỉ số caophục vụ cho may xuất khẩu, mặt hàng sợi bông dày được tăng cường công nghệ làmbóng, phòng co cơ học đã xuất khẩu sang EU và Nhật Bản
Đối với mặt hàng 100% sợi tổng hợp, nhờ được trang bị thêm hệ thống xesăn sợi với độ săn cao, thiết bị comfit, thiết bị giảm trọng lượng đã tạo ra nhiều mặt
7 Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam số 134 – 22/8/2003)
[Toàn ngành: 150.000 tấn sợi; 500 triệu m 2 lụa; 70 tấn vải dệt kim Ước luợng các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc chiếm 1/3 toàn ngành]
Trang 36hàng giả tơ tằm, giả len thích hợp với khí hậu nhiệt đới, bước đầu giành được uy tíntrong và ngoài nước Ngoài ra mặt hàng dệt kim, 75-80% sản lượng hàng dệt kim từsợi pe/co được xuất khẩu Tuy nhiên, chủ yếu là các mặt hàng thuộc nhóm giá thấp
và trung bình 2,5 – 3,5 USD/sản phẩm, tỷ trọng các mặt hàng chất lượng cao còn rấtthấp, chủ yếu vẫn phải nhập khẩu
Sản phẩm may:
Cơ cấu các sản phẩm may công nghiệp xuất khẩu đã có những thay đổi đáng
kể Các doanh nghiệp Hàn Quốc với công nghệ tiên tiến đã có những sản phẩm chấtlượng cao, đáp ứng nhu cầu của những nhà nhập khẩu “khó tính” như quần áo thểthao, quần áo Jean
Phần lớn các doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu cao của Việt Nam trongnhững năm qua đều là các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc như: HANSAE ViệtNam, Han-Soll Vina, Sae Hwa Vina… Trong đó, HANSAE Việt Nam là doanhnghiệp xuất khẩu lớn nhất của ngành dệt may năm 2007 với kim ngạch đạt177.772.307 USD Sản xuất phụ liệu may cũng đã có những tiến bộ nhất định cả vềchủng loại và chất lượng Tuy nhiên số lượng doanh nghiệp về nguyên phụ liệu củaHàn Quốc tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam rất ít, chỉ chiếm khoảng 0,03 %tổng doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc tại đây Do đó, sản lượng còn ít chưa đáp ứngnhu cầu hiện tại của toàn ngành.8
Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu:
Trong số 355 doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc tại khu vực kinh tế trọngđiểm phía Nam thì có khoảng 200 doanh nghiệp là doanh nghiệp may, còn lại làdoanh nghiệp dệt và doanh nghiệp sản xuất phụ kiện dệt may Do đó, đa số hàngxuất khẩu của các doanh nghiệp Hàn Quốc là hàng may mặc Nguyên nhân cũng dễhiểu, bởi ngành may được đầu tư khá nhiều về máy móc, trang thiết bị cũng như cácyếu tố khác như lao động, trong khi ngành dệt thì tình hình máy móc hiện nay cònrất ít, chưa kể là máy móc lạc hậu, đội ngũ công nhân chưa lành nghề
8 Nguồn: Thông tin Thuơng mại chuyên ngành Dệt May - số Tết Mậu Tý 2008, 28/01-11/02/2008
Trang 37Từ năm 1991 đến nay, danh mục hàng hóa dệt may ngày càng được mở rộng
và phong phú hơn trước Năm 1992 – 1993 mặt hàng xuất khẩu Việt Nam được bổsung thêm loại áo Jacket, sơ mi cao cấp, sản phẩm dệt kim và trở thành sản phẩmchủ đạo xuất khẩu Các loại hàng này ngay lập tức trở thành sản phẩm sản xuất chủyếu tại các doanh nghiệp may Hàn Quốc vì các doanh nghiệp này có máy móc trangthiết bị hiện đại, được đầu tư công nghệ tốt Cho tới năm 1995, số loại hàng dệt mayxuất khẩu của Việt Nam đã lên tới 38 chủng loại trong đó có 24 chủng loại đã phân
Quần áo thể thao
Quần tây, váy ngắn
Sản phẩm Jean
Túi xách, balo
Áo thun
Áo sơ mi cao cấp
Gối, khăn trải giường
Vải: vải polyester, lụa,
Chỉ sợi: cotton, polyester, Spandex, chỉ may, chỉ thêu
Đai: nylon, poly, PP, cotton
Trang 38Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu đem lại lợi nhuận cao cho các doanh nghiệpHàn Quốc là áo sơ mi cao cấp nam, T-shirt, jacket, các chủng loại vải để cung cấpcho nhu cầu thế giới… Tuy nhiên, nếu so với các nước có trình độ tiên tiến vềngành dệt may như Hàn Quốc, Trung Quốc… thì sản phẩm của họ rất nhiều, có đếnhàng trăm loại, ngay cả cách phân bổ hạn ngạch vào thị trường Mỹ những nămtrước 2005 của Trung Quốc cũng đa dạng hơn Việt Nam, hơn thế còn phong phú vềmẫu mã, màu sắc và thiết kế độc đáo Hiện nay chưa có nhiều doanh nghiệp HànQuốc tại Việt Nam làm được do chủ yếu là sản xuất gia công
Lý giải cho vấn đề này một phần do ảnh hưởng chung của ngành dệt may,còn thiếu đội ngũ thiết kế giỏi, sáng tạo, thiếu nguyên phụ liệu cho ngành dệt maykhiến các doanh nghiệp phải tốn chi phí lớn để nhập nguyên liệu sản xuất, khiến cácdoanh nghiệp phải cắt giảm chi phí các khâu không cần thiết trong thời gian này đểnâng cao sức cạnh tranh về giá Mặt khác các doanh nghiệp Hàn Quốc đều muốnthu hồi vốn sau khi đã đầu tư một khoảng lớn vào sản xuất ban đầu nên chỉ tậptrung vào các mặt hàng mà Việt Nam được đánh giá là tốt trên thị trường xuất khẩuthế giới nhằm nâng cao sức cạnh tranh thu lợi nhuận cao Đây là một vấn đề cầnđược các doanh nghiệp Hàn Quốc chú ý trong thời gian tới để khắc phục sản phẩmcủa mình nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
e Tình hình về cung cấp nguyên liệu, phụ liệu
Khó khăn về nguyên phụ liệu đầu vào cho sản xuất kinh doanh cũng là mộtyếu tố được nhắc nhiều trong kết quả điều tra của đại sứ quán và Kotra năm 2007,22,8% doanh nghiệp tham gia điều tra trả lời rất khó huy động nguyên phụ liệu tạichỗ Chính vì vậy mà hàng năm, những đơn vị này phải nhập tới 970 triệu USDnguyên liệu từ Hàn Quốc để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh Đại diện Kotra chobiết, doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc cũng đang có kế hoạch mở rộng đầu tư chongành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam Tuy nhiên khó khăn nằm ở chỗ liệu cácdoanh nghiệp tại Việt Nam có đón nhận sản phẩm nội địa hay không ?
Trang 39Hiện nay, các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc còn gặp khó khăn trong cảhai khâu đầu vào và đầu ra Về khâu đầu vào ngoài yếu tố vốn không mạnh thì sựthiếu thốn nguyên phụ liệu là nguyên nhân chính dẫn đến khó khăn cho các doanhnghiệp
Việc sản xuất nguyên liệu trong nước và vùng nguyên liệu trong nước chưađược chú trọng Vụ bông năm 2000 – 2001, Việt Nam mới chỉ có hơn 2000 habông, sản lượng đạt 8000 tấn So với nhu cầu sản xuất, nguyên liệu bông trong nướcmới đáp ứng được 12 – 15% tổng số khoảng 70.000 tấn bông nguyên liệu. 9
Đến năm 2002, do giá bông của thế giới giảm xuống thấp và lượng sợi nhậpkhẩu trong nước đã tăng 33% so với cùng kỳ năm 2001 Trong khi đó, sợi sản xuấttrong nước bán chậm, làm nhiều doanh nghiệp sợi không hoạt động hết công suất.Tình hình thị trường nội địa khó khăn nên các chỉ tiêu sản xuất và tiêu thụ cũng bịgiảm mạnh Vụ bông năm 2001 – 2002 đạt sản lượng khá lớn nhưng do giá bôngthế giới giảm thấp, nhu cầu và giá sợi giảm nên mức tiêu thụ trong nước chững lại
Tuy nhiên, trong năm 2002 các doanh nghiệp Hàn Quốc vẫn phải nhập khẩu
từ thị trường thế giới 32.377 tấn bông và 70.614 tấn sợi Các doanh nghiệp dệt mayHàn Quốc nhập nguyên phụ liệu chủ yếu từ Hàn Quốc
Bảng 2.2: Tình hình nhập khẩu nguyên liệu của các doanh nghiệp dệt may Hàn Quốc
tại Việt Nam từ Hàn Quốc (Nghìn USD)
Nguồn: Theo KOTIS
Khó khăn trong việc cung cấp nguyên phụ liệu cho ngành may xuất khẩukhông chỉ khiến cho ngành này chỉ đáp ứng được 10-15% nhu cầu, mà còn dẫn tới
9 Nguồn: Báo Thương Mại số 4 năm 2002