Biểu hiện bệnh trầm cảm, bệnh nhân, độ tuổi từ 18–45 đang điều trị, Bệnh viện tâm thần Đà Nẵng (BVTTĐN, tháng 10/08–3/09
Trang 1MỞ ĐẦU
Cuộc sống xã hội hiện ñại – xã hội công nghiệp hoá - hiện ñại hoá cuốn con người vào tất cả các hoạt ñộng mà nó tồn tại ở ñó, ñòi hỏi con người có một sự tập trung cao ñộ, cuộc sống diễn ra với tốc ñộ chóng mặt, nhịp ñiệu hối hả, sôi ñộng ñòi hỏi con người luôn phải cố gắng không ngừng
mà vẫn không ñủ thời gian ñể ñáp ứng với những yêu cầu khắc nghiệp mà
xã hội hiện ñại ñặt ra, nó bắt chúng ta phải lao ñộng nhiều cả chân tay và trí
óc, bắt buộc con người phải hoạt ñộng mọi lúc mọi nơi, và hoạt ñộng ở mọi thời ñiểm trong cuộc sống của mình Con người hiện ñại ít có thời gian dành riêng cho bản thân mình, cho những nhu cầu riêng tư của mình, cho gia ñình mình…Theo W.H.Auden gọi kỉ nguyên hiện ñại là “ Kỉ nguyên của lo âu”, bởi vì muốn sống và tồn tại ở xã hội công nghiệp ñó mỗi người phải bương chải, tảo tần mới ñảm bảo ñược cuộc sống vật chất no ñủ ñược, thế nhưng khi mà ñời sống kinh tế no ñủ, thì sức khoẻ tinh thần (Tâm lý) của con người ( Sức khỏe tinh thần là một trong bốn thành phần chính yếu của sức khoẻ con người) ngược lại nó bị căng thẳng, ức chế mạnh, làm nảy sinh nhiều căn bệnh xã hội nguy hiểm liên quan ñến ñời sống và sức khoẻ tinh thần, một trong những căn bệnh nguy hiểm ñã, ñang gặp phải và rất phổ biến ở xã hội ngày nay là BỆNH TRẦM CẢM
Bệnh trầm cảm là một căn bệnh thuộc về sức khoẻ tinh thần không chừa bất cứ một ai, không phân biệt ñộ tuổi, hoàn cảnh kinh tế, yếu tố chủng tộc, giới tính…Với ñời sống xã hội như Hoa Kỳ, giới chuyên môn y khoa cho biết
có khoảng 12% phụ nữ và 7% nam trong dân số của quốc gia này mắc chứng trầm cảm, bất cứ lúc nào ở Mỹ cũng có khoảng 14 triệu người mắc chứng trầm cảm Theo Viện quốc gia sức khoẻ tâm thần Hoa Kỳ nghiên cứu tại 10
Trang 2quốc gia khác nhau ñều cho thấy có kết quả tương tự như ở Hoa Kỳ Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) bệnh trầm cảm sẽ trở thành nguyên nhân gây mất sức lao ñộng ñứng hàng thứ hai trên thế giới vào năm 2020 và nó sẽ là nguyên nhân hàng ñầu gây tàn phế ở nữ giới, và ở thời ñiểm hiện tại ( 2001 ) có 121 triệu người bị trầm cảm Ở VN theo Trần Văn Cường và cộng sự, trầm cảm chiếm 13,2% dân số Dân số thế giới hằng năm có khoảng 5% mắc những chứng bệnh liên quan ñến trầm cảm, các nghiên cứu dịch tễ lâm sàng riêng của nhiều nước còn cao hơn như: Pháp trong một năm có nam 3,4% và nữ 6,0%, và trong cả cuộc ñời có nam 10,7%, nữ 22,4% ( Theo Levine và Sellouch 1993); Theo Kielhoz (1974) căn cứ vào kết quả ñiều tra của trên 10.000 thầy thuốc hành nghề ở 5 nước Châu Âu ( Áo, Đức, Pháp, Ý, Thuỵ Sĩ )cho biết có 10% những bệnh nhân ñến khám ña khoa có rối loạn trầm cảm và 5% là trầm cảm cơ thể Và 90% các bệnh nhân này ñang ñược các thầy thuốc không chuyên ñiều trị và theo dõi
Bệnh trầm cảm gây ảnh hưởng nghiêm trọng ñến sự phát triển kinh tế, xã hội hằng năm nhà nước phải trích một phần không nhỏ ngân quỷ ñể nghiên cứu, ñiều trị, và tuyên truyền về phòng ngừa về bệnh trầm cảm, trầm cảm là triệu chứng ảnh hưởng trực tiếp ñến tất cả các mặt sinh hoạt, tác ñộng lên cá nhân bệnh nhân như giảm khí sắc, mất hứng thú lao ñộng, học tập, dòng tư duy hoạt ñộng chậm chạp hay kém hiệu quả, hành vi, thái ñộ không phù hợp với cả bản thân bệnh nhân và các chuẩn mực ñạo ñức mà xã hội ñặt ra, không chỉ ảnh hưởng lên bản thân người bệnh mà còn ảnh hưởng ñến những người xung quanh, người thân của họ, bởi vì những cảm giác, tâm trạng buồn chán ñơn thuần nó không ñủ mạnh ñể bộc lộ hết lên trên bề mặt của nhân cách, hành vi của người bị bệnh
Thế nhưng, hiện nay trầm cảm chưa ñược nhìn nhận một cách khoa học, chúng ta có thói quen nghĩ rằng những cảm giác buồn của người khác sẽ
Trang 3nhanh chóng qua mau, tệ hại hơn chúng ta có xu hướng tin rằng ñấy là một tâm trạng, cảm giác khá bình thường, nhiều lúc ta không thể tin rằng vì sao một cá nhân bề ngoài khoẻ mạnh, hoạt bác, yêu ñời như vậy lại có thể mắc bệnh trầm cảm, TC là một căn bệnh tâm thần lâm sàng và cần ñược chữa trị kịp thời, càng ñể lâu bệnh càng trở nên phức tạp, càng khó ñiều trị hơn, nếu không ñiều trị sớm sẽ ñể lại một di hại tâm lý nặng và nguy cơ tự sát cao, ñối với chính bản thân người bị bệnh mà còn ảnh hưởng ñến xã hội, vì vậy trách nhiệm của bản thân mỗi người là hiểu biết về nó ñể nếu bản thân hay những người xung quanh mắc phải cần giúp họ ñến với những cơ sở y tế chuyên ngành ñể chữa trị kịp thời Theo giới chuyên môn ñánh giá bệnh trầm cảm là một căn bệnh có thể chữa trị và phòng ngừa ñược Thế nhưng thực tế trong xã hội hiện nay có mấy người khi ñược hỏi “ Anh chị có biết gì về bệnh trầm cảm không?” có ai biết về nó như thế nào? biểu hiện ra sao …Hơn nữa trong các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước cũng chưa có quan ñiểm thống nhất với nhau về cách nhìn nhận, triệu chứng, nguyên nhân gây bệnh
…Có quan niện cho rằng trầm cảm là do không thoã mãn nhu cầu tình dục, hay trầm cảm là do hậu quả của sự giận dữ chính bản thân mình…Nhưng thực tiễn biểu hiện và nguyên nhân nào dẫn ñến trầm cảm vẫn chưa có bất cứ một
lý thuyết, quan niện nào chứng minh cả, mà hiện nay mỗi nhà nghiên cứu khác nhau ñều cho rằng quan niệm của mình là ñúng ñắn cả
Xuất phát từ thực tiễn nói trên, tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài “Biểu
hiện bệnh trầm cảm của bệnh nhân ở ñộ tuổi từ 18–45 ñang ñiều trị tại Bệnh
viện tâm thần Đà Nẵng (BVTTĐN) từ tháng 10/08–3/09”nhằm tìm hiểu những biểu hiện BTC thực tế trên bệnh nhân ñang ñiều trị tại bệnh viện trong thời gian kể trên, từ ñó ñưa ra một số giải pháp ñể nâng cao hiểu biết, hiệu quả trong công tác ñiều trị, phòng, chống bệnh trầm cảm trong xã hội
2 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 4Biểu hiện bệnh trầm cảm của những bệnh nhân đang điều trị tại BVTTĐN từ tháng 10/2008 – 3/2009
Tiêu chuẩn để chọn đối tượng vào mẫu: Chọn mẫu thuận lợi trên bệnh nhân đã và đang điều trị tại BVTTĐN trong thời gian từ tháng 10/ 08 – 3/09
cĩ đủ tiêu chuẩn chẩn đốn là TC theo tiêu chuẩn của DSM, ICD –10 và theo thang đánh giá trầm cảm thu gọn của Beck với cấu trúc 13 đề mục, mỗi mục
cĩ 4 nội dung
Tiêu chuẩn chẩn đốn của DSM và ICD – 10 như sau:
chịu)
- Khí sắc giảm, buồn rầu, thích nơi tối tăm,tránh tiếp xúc với xung quanh
- Mất mọi hứng thú và hoạt động liên quan đến giảm hoạt động cảm xúc
Bệnh trầm cảm trên bệnh nhân
Khách thể khảo sát: NC được tiến hành trên 50 BN trong độ tuổi
từ 18- 45 đang điều trị tại BVTTĐN từ tháng 10/08- 3/09, thoả mãn yêu cầu các tiêu chuẩn chọn bệnh, khơng phạm phải các tiêu chuẩn loại trừ
Nhằm tìm hiểu những biểu hiện bệnh trầm cảm của bệnh nhân trong độ tuổi từ 18-45 đang điều trị tại BVTTĐN từ tháng 10/2008 –
Trang 53/2009 Trên cơ sở ñó ñưa ra một số giải pháp phù hợp nhằm giúp mọi người hiểu, nhận biết sớm, ñiều trị hiệu quả, phòng và tránh bệnh trầm cảm trong xã hội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Biểu hiện bệnh trầm cảm trên bệnh nhân, ña dạng, phong phú, phức tạp có sự khác nhau về giới tính, ñộ tuổi, nghề nghiệp
Phương pháp lý luận
Phương pháp thực tiễn
Phương pháp quan sát
Phương pháp trắc nghiệm
Phương pháp phân tích tiểu sử
Phương pháp thống kê toán học
NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Trang 61.1: Tổng quan về lịch sử nghiên cứu về bệnh trầm cảm
1.1.1: Trên thế giới: Lịch sử nghiên cứu từ xa xưa cho ñến thời ñiểm tôi tiến hành ñề tài nghiên cứu này có rất nhiều nhà khoa học khác nhau, thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau, tìm hiểu và nghiên cứu về nó,
và trong phạm vi ñề tài này, tôi dựa trên những công trình nghiên cứu sau:
- Thời cổ ñại: Các rối loạn cảm xúc ñã ñược nhận dạng như một bệnh, Saul ñã mô tả các triệu chứng, biểu hiện của bệnh trầm cảm
- Rối loạn cảm xúc lưỡng cực (Gọi tắc là bệnh trầm cảm), trước ñây gọi là loạn thần hưng - trầm cảm, ñã từng ñược các thầy thuốc và các triết gia người Hi Lạp nhận biết, ñặc biệt là Hippocrates vào thế kỷ IV trước công nguyên Theo quan ñiểm thể dịch thời bấy giờ, ông ta cho rằng
ñó là do mất thăng bằng hoặc loạn thăng bằng thể dịch với sự góp mặt của môi trường, cơ thể và cảm xúc Ông mô tả mỗi cơn hưng cảm có liên quan ñến việc tiết sữa lại có vẻ thích hợp hơn với tình trạng mê sảng có kết hợp với nhiễm trùng hậu sảu
- Bốn thế kỷ sau ông Hippocrates , Areteus ñã mô tả một cách
rõ ràng chu kỳ khí sắc, theo ông trầm cảm xuất hiện trước cơn hưng cảm ( Học thuyết thể dịch)
- Galen, một thầy thuốc Hi Lạp, hành nghề ở Rôma vào thế kỷ
II sau công nguyên, tiếp tục truyền thống quan ñiểm thể dịch, cho rằng trầm cảm là do thừa mật ñen ( Cho nên mới có từ melankhole, melan có nghĩa là ñen, khole là mật) mặc dù ông ta cũng ñã bắt ñầu xét ñến yếu tố tâm lý, xúc cảm như là do ước muốn khiêu dâm
- Năm 1896 bệnh trầm cảm ñã ñược Emil Kraepelin, nhà TLH người Đức ñã tách ra thành một bệnh ñộc lập dựa trên sự thống nhất về các biểu hiện lâm sàng và tính chất tiến triển, ông ñã hợp nhất các thể bệnh trước kia ñược coi như là những bệnh ñộc lập như “ Bệnh thao cuồng”, “ Bệnh sầu
Trang 7uất”, “ Bệnh loạn tâm thần tuần hoàn”, với sự thay ñổi lần lượt các giai ñoạn trái ngược nhau hoặc sự kết hợp những giai ñoạn tương phản nhau ( Falret, Baillarger, Magnam )
- I.P.Paplôp: Đã nói rằng trạng thái hưng cảm là do hưng phấn toàn bộ não từ cao xuống thấp với sự tăng cường hết sức mạnh hoạt ñộng liên tưởng ñến bán cầu ñại não rơi vào trạng thái hoạt ñộng hỗn loạn và là do hưng phấn hết sức ưu thế của dưới vỏ Ngược lại trong trầm cảm, theo ông có sự giảm hoạt ñộng của não với sự suy kiệt hết sức của dưới vỏ và ức chế mọi bản năng
-Levitan (1997) ñã nghiên cứu trên 8116 bệnh nhân từ 15 - 64 tuổi và xác ñịnh tỉ lệ rối loạn trầm cảm ñiển hình là 8%, và có xu hướng tăng lên gấp 2 -
3 lần trong 25 năm gần ñây, nữ cao gấp 2 lần nam và tăng lên ở tuổi 40 Viện nghiên cứu sức khoẻ tâm thần Hoa Kỳ ( NIMH ), cũng cho thấy tỉ lệ trầm cảm ñiển hình là 5%
→ Ngoài ra trên thế giới còn rất nhiều nhà khoa học khác nghiên cứu về bệnh trầm cảm như Kielhoz ( 1974 , Pichot.P ( 1973 )…Nhưng các tư tưởng từ xưa ñến nay vẫn chưa có sự thống nhất với nhau, mà mỗi nhà nghiên cứu nói lên một khía cạnh khác nhau của bệnh trầm cảm Hiện nay, các nghiên cứu hay chữa trị ở Việt Nam ñều ñồng ý và thống nhất theo cách nhìn nhận và phân chia của Hiệp hội tâm thần Mỹ ( Viết tắc là DSM- IV) và Tổ chức Y tế thế giới ( Viết tắc là ICD- 10)
- Theo tổ chức y tế thế giới, do rối loạn khí sắc là một bệnh rối loạn tâm thần , trong phân loại lần thứ 8 và 9 chỉ chú trọng ñến loại gọi là hưng - trầm cảm ( Pyschose manico- depressive) Trong bảng phân loại lần thứ 10 này ( ICD- 10 năm 1992 ) sắp xếp tấc cả các rối loạn khí sắc có nguyên nhân khác nhau vào một nhóm Với mã số từ F30- F39 dùng ñể chỉ các rối loạn khí sắc ( Mood disorders)
Trang 8- Theo Hội Tâm Thần học Mỹ ( DSM-IV năm 1994 ): Phân loại của HHTTMỹ hoàn thiện hơn, phát triển hơn Rối loạn khí sắc với mã số lưu hành cho trầm cảm chủ yếu hoặc rối loạn lưỡng cực ñược biểu hiện ở chữ số thứ 5
1.1.2: Ở Việt Nam: Tuy chưa phát triển mạnh như các nước trên thế giới và cũng chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về bệnh trầm cảm, nhưng nó cũng ñã phát triển, có nhiều ñóng góp vào việc nhận biết sớm, ñiều trị, phòng ngừa hiệu quả hơn
- Theo tiến sĩ Trần Hữu Bình, ĐH Y Hà Nội, có nghiên cứu về rối loạn trầm cảm trong bệnh lý của các bệnh nhân bị bệnh tiêu hoá dạ dày- ruột
- Theo nghiên cứu của Trần Văn Cường và cộng sự ( 2002 ) trầm cảm chiếm 13,2% dân số, nó diễn ra ở 10 xã thuộc các vùng kinh tế khác nhau trên cả nước hiện nay
- Tiến sĩ Cao Tiến Đức trong nghiên cứu về một số ñặc ñiểm lâm
người ñó nam chiếm 41,9%, nữ chiếm 58,1%, tuổi trung bình của nam là 39,5 tuổi và nữ là 39 tuổi Triệu chứng lâm sàng là mệt mỏi, mất sinh lực, rối loạn giấc ngủ là 95,4%; buồn rầu là 83,7%; lo lắng về bệnh tật 76,7%; bứt rứt, bồn chồn, cử ñộng chậm 72,1%; chán ăn 69,8%; mất quan tâm thích thú, khó tập trung 67,4%; chán nản buôn xuôi 62,8%; ý nghĩ và hành vi tự sát 44,2% Trong ñó tỉ lệ trầm cảm nặng là 58,2%; trầm cảm vừa 27,9%; trầm cảm nhẹ là 13,9%
- Theo những nghiên cứu trong thời gian gần ñây ở Việt Nam, trầm cảm cũng biểu hiện mạnh mẽ trên trẻ em và thanh thiếu niên VN như: Năm 1982 – 1989 ( Viện nhi ) có thấy biểu hiện rối loạn hành vi và cảm xúc ở học sinh trong ñộ tuổi từ 6- 15 là 10- 26% Giai ñoạn từ 1990 – 1995 ( Viện nhi ) có biểu hiện tổn thương về hành vi và cảm xúc ở học sinh từ 3 – 32%
Trang 9Theo ñiều tra toàn quốc của Viện nhi thực hiện thấy rối loạn cảm xúc chiếm 1 -6% Trong nghiên cứu “ Xây dựng mô hình chăm sóc sức khoẻ tinh thần cho học sinh ở thành phố Đà Nẵng” do bác sĩ Nguyễn Văn Thọ và cộng sự thực hiện năm 1998 – 2000, cho thấy lo âu - trầm cảm chiếm 10 – 21% trong số những học sinh có vấn ñề về sức khoẻ tâm thần
→ Tóm lại ở trên thế giới và VN ñã có rất nhiều nghiên cứu về bệnh trầm cảm, tuy nhiên ở ñây mỗi nhà nghiên cứu ñã ñi theo một cách nghĩ, cách nhìn nhận của cá nhân họ, chính vì thế ở ñây chưa có một quan niện nào chính thống, chưa có có cách nhìn nhận nào bao quát hết tấc cả các mặt của bệnh trầm cảm, cho nên tuỳ theo các mục ñích nghiên cứu khác nhau, mà nhà nghiên cứu hiện tại nên chọn cho mình một lý thuyết, một cách nhìn nhận
mà nó phù hợp với yêu cầu mình ñã ñặt ra Và trong phạm vi ñề tài này, tôi tiến hành nghiên cứu và so sánh kết quả thực nghiệm thu ñược theo cách nhìn nhận và ñánh giá của DSM- IV và ICD- 10
1.2 Các lý thuyết khác nhau về bệnh trầm cảm:
Trong lịch sữ bệnh ñã có rất nhiều học thuyết tâm lý khác nhau ñề cập ñến trầm cảm ở các góc ñộ khác nhau Dưới ñây là một số thuyết cơ bản
1.2.1 Thuyết phân tâm học về bệnh trầm cảm:
- Trong tác phẩm “ Tiếc nối và trầm muộn” S.Freud ( 1917 ) ñã
lý luận rằng khả năng tiềm ẩn của trầm cảm ñược tạo ra rất sớm trong thời kỳ
ấu thơ Trong suốt giai ñoạn môi miệng, nhu cầu của ñứa trẻ có thể không ñược thỏa mãn, không ñầy ñủ hay quá thừa thãi, dẫn ñến việc chủ thể trở nên gắn bó với giai ñoạn này và trở nên lệ thuộc vào những ñòi hỏi bản năng ñặc thù của nó Với sự ngưng lại này, với sự phát triển tâm tính dục, với sự gắn kết ở giai ñoạn môi miệng, chủ thể có thể phát triển khuynh hướng lệ thuộc quá nhiều vào người khác ñối với việc duy trì lòng tự trọng
Trang 10- Trên sơ sở phân tích sự thiếu hụt tình cảm, Freud ñã giả thuyết rằng ñối với một ñứa trẻ sau sự mất mát một người thân yêu hoặc một cái chết, sự ly tán hay một tình thương yêu…Đứa trẻ phóng chiếu, nhập tâm vào người ñã mất hay ñồng hóa với người ñã mất ñể xóa bỏ nỗi mất mát Ông
ñã khẳng ñịnh, người bệnh nuôi dưỡng một cách vô thức những cảm xúc âm tính ñối với người mà họ yêu quý, từ ñó mà họ trở thành ñối tượng của sự thù ghét hay giận dữ của chính bản thân họ Ngoài ra, người bệnh cảm thấy uất ức khi bị bỏ rơi và xuất hiện mặc cảm tội lỗi, những tội lỗi có thực hay tưởng
S.Freud ñã có những ñóng góp ñáng kể, bởi luận thuyết của ông ñã chỉ ra rằng
có khả năng tiềm ẩn của trầm cảm ñược tạo ra từ rất sớm trong thời kỳ ấu thơ
và trầm cảm ñược thúc ñẩy từ những sự kiện gây stress trong cuộc sống như
sự mát mát, chia ly, ly dị, hay sự thất bại, mất việc làm…
1.2.2 Thuyết nhận thức vê trầm cảm:
- Có hai giả thuyết ñược xem là trung tâm của tiếp cận nhận thức với trầm cảm Một giả thuyết cho rằng nếu nhận thức tiêu cực dẫn ñến một cái nhìn tiêu cực về các sự kiện trong cuộc sống bản thân mình tự cảm thấy có trách nhiệm, theo mô hình không tự lực ñược cho rằng trầm cảm bắt nguồn từ niềm tin con người ít có hoặc không có kiểm soát cá nhân ñối với các sự kiện
có ý nghĩa trong cuộc sống
- Thuyết nhận thức của A Beck về trầm cảm, ( Một nhà nghiên cứu hàng ñầu về trầm cảm ): Luận ñề trung tâm của Aron Beck ( 1967, 1985, 1987 ) là coi quá trình tư duy là yếu tố khởi phát trong trầm cảm Theo ông những người trầm cảm, tư duy của họ thường hướng về phía những giải thích tiêu cực Ông cho rằng ngay từ thời niên thiếu người trầm cảm ñã có khuynh hướng này, nhìn nhận thế giới một cách tiêu cực, qua sự mất mát cha mẹ, qua một chuỗi thành công không ñược nhớ ñến, qua việc bị cô lập khỏi nhóm bạn
Trang 11ñồng trang lứa, những lời phê bình của giáo viên, hay sự suy sụp tinh thần của cha mẹ
+ Beck gọi ba tuýp nhận thức này là bộ ba nhận thức ( Cognitivi triad ) về trầm cảm: Nhìn nhận tiêu cực về bản thân, nhìn tiêu cực
về các trải nghiệm ñang tiếp diễn, và nhìn nhận tiêu cực về tương lai
→ Mặc dù còn một vài ñiểm không chắc chắn khi ñánh giá vai trò của ñời sống cảm xúc trong việc ñiều chỉnh, ñiều khiển hành vi của người bệnh nhưng học thuyết của Beck có ưu việt là có thể kiểm tra ñược bằng thực nghiệm và khuyến khích nhà trị liệu hướng vào tư duy của bệnh nhân ñể thay ñổi và làm dịu những căng thẳng cảm xúc của họ
1.2.3 Thuyết liên cá nhân về bệnh trầm cảm:
- Trong thuyết này chúng ta ñề cập ñến những khía cạnh hành vi của người bị trầm cảm, bao gồm trong ñó tổng thể mối quan hệ giữa người trầm cảm với những người khác
- Những người trầm cảm có mạng lưới giao tiếp xã hội thưa thớt và coi chúng như là nguồn nâng ñỡ Sự nâng ñỡ xã hội giảm sút có thể làm yếu ñi năng lực của cá nhân trong việc phản ứng với những sự kiện tiêu cực trong cuộc sống, và làm cho cá nhân dễ cảm ứng với trầm cảm ( Billings, Cronkite
và Moos 1983)
- Người trầm cảm cũng có thể nhận ñược những phản ứng tiêu cực từ phía người khác ( Coyne, 1976 ), khả năng này ñã ñược nghiên cứu theo nhiều cách khá nhau, từ các cuộc nói chuyện hướng dẫn qua ñiện thoại với bệnh nhân trầm cảm, ñến việc băng ghi âm của họ, và thậm chí cả việc tiếp xúc trực tiếp Dữ kiện thu ñược ñã chỉ ra rằng, hành vi của bệnh nhân trầm cảm nhận ñược sự hắt hủi từ phía người xung quanh
- Liên quan ñến nhận thức chung về sự thiếu hụt kỹ năng xã hội, nhưng ở mức ñộ nào ñó chuyên biệt hơn là ý tưởng cho rằng người trầm cảm luôn tìm
Trang 12kiếm sự ñảm bảo và ñó là tính hay thay ñổi, ñáng phê phán ( Joiner và Metalsky, 1995 ) Có lẽ do hậu quả của sự nuôi dưỡng trong sự ghẻ lạnh và cách ly với môi trường ( Carnelly, Pietomonaco và Jaffe, 1994 ), bệnh nhân trầm cảm luôn kiếm sự ñảm bảo rằng họ luôn ñược người khác quan tâm một cách thật sự, nhưng thậm chí ngay cả khi ñã ñược ñảm bảo họ cũng chỉ yên tâm ñược một lúc Cái tự nhận thức tiêu cực của họ làm cho họ nghi ngờ sự thật về những phản hồi mà họ nhận thức ñược Sau ñó họ ñi tìm những phản hồi âm tính mà họ cảm thấy có giá trị Sự hất hủi xảy ra chủ yếu bởi những hành vi không nhất quán của họ
→ Thuyết liên cá nhân ñã không vạch ra ñược nguyên nhân sâu xa dẫn ñến trầm cảm, nhưng có một ñóng góp to lớn của học thuyết này là ñã chỉ ra những hành vi kém thích nghi của người bệnh ñóng vai trò tư duy bệnh và mối quan hệ của người bệnh với những người xung quanh Điều này sẽ ñịnh hướng cho các nhà trị liệu tập trung vào xây dựng những mẫu hành vi mới cho bệnh nhân và xây dựng một mạng lưới giúp ñỡ người bệnh từ những người thân xung quanh
1.2.4 Thuyết phân thần:
- Không có lý thuyết phân thần ñơn thuần về trầm cảm Quan ñiểm kinh ñiển thừa nhận trầm cảm có thể là một dạng của ñau khổ bệnh lý Đáp ứng giống như ñau buồn có thể xảy ra ngay cả khi không có cái chết thực sự của người thân, ñổ vỡ mối quan hệ, mất một công việc có thu nhập cao và ñịa vị, suy giảm sức khỏe hay cái chết của một con vật nuôi là những trải nghiệm mất mát kèm theo các phản ứng giống như ñau buồn Thậm chí, sự tang vỡ của những lý tưởng có thể gây ñau buồn theo nghĩa rộng hơn của khái niệm Con người, những mối quan tâm và các khó khăn mà chúng ta quan tâm và tình yêu ñó là năng lượng cảm xúc thực sự ñược coi như là một “Đối tượng”
Trang 13- Lý thuyết phân thần khẳng ñịnh rằng nhân cách ñược hình thành trong những năm ñầu của cuộc sống Sự rạng nức của thời thơ ấu, ñặc biệt trong mối quan hệ của trẻ với mẹ hoặc người chăm sóc ban ñầu ( Quan hệ gần gũi sớm ), những người nhạy cảm khi trưởng thành dễ bị trầm cảm Họ thể hiện
sự yêu ghét trong mối quan hệ và phụ thuộc vào người khác ñể nâng ñỡ, ñộng viên, chỉ dẫn và khẳng ñịnh bản thân
→ Trên ñây là những lý thuyết khác nhau về bệnh trầm cảm, mỗi lý thuyết tiếp cận trầm cảm với những hướng nghiên cứu khác nhau, ñứng trên góc nhìn của mỗi nhà nghiên cứu khác nhau nhưng nhìn chung nó ñều nói lên ñược những khía cạnh khác nhau của bệnh trầm cảm
1.3: Các khái niệm khác nhau liên quan ñến bệnh trầm cảm:
1.3.1: Khái niệm cảm xúc: Cảm xúc là sự phản ánh thế giới quan, thể hiện ở thái ñộ của chủ thể ñối với sự vật hiện tượng có liên quan ñến sự thoả mãn những nhu cầu của chủ thể ñó
1.3.2: Khái niệm rối loạn cảm xúc: Rối loạn cảm xúc là sự hình thành tính cách và xu hướng hành vi của một cá nhân gắn liền với sự ñảo lộn lớn về mặt cá nhân và xã hội Rối loạn cảm xúc là một bệnh tâm thần ranh giới biểu hiện bằng những nét tính nết bệnh lý ñặc biệt, cảm xúc mất thăng bằng, rối loạn sự thích nghi của cá nhân với môi trường và các mối quan hệ bình thường với người xung quanh
1.3.3: Khái niệm rối loạn khí sắc: Rối loạn khí sắc là trạng thái bệnh lý biểu hiện bằng các rối loạn trầm cảm ñơn thuần hoặc xen kẽ với những rối loạn hưng cảm hoặc rối loạn khí sắc ở mức ñộ cao, trong thời gian dài hoặc có những rối loạn hành vi tác phong rõ rệt làm cho bệnh nhân mất khả năng hoạt ñộng xã hội, nghề nghiệp và không thích ứng với môi trường xung quanh
Trang 141.3.4: Khái niệm liệu pháp tâm lý: Liệu pháp tâm lý là những biện pháp tác ñộng lên tâm lý người bệnh một cách có kế hoạch, có tổ chức nhằm mục ñích chữa bệnh Từ năm 1970 và ñặc biệt là hai thập kỷ gần ñây, liệu pháp tâm lý ñã có những thay ñổi rất ñáng kể, mục ñích từ ñiều trị sang cải thiện tình trạng sức khoẻ ( Tâm lý và thể chất ) nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân Nó ñược thay ñổi từ psychotherapy bằng psychological intervention
1.3.5: Khái niệm rối loạn lo âu: Là sự sợ hãi quá mức, không có nguyên nhân, do chủ quan của người bệnh và không thể giải thích ñược do một bệnh tâm thần khác hoặc do một bệnh cơ thể Rối loạn lo âu là rối loạn
mà bệnh nhân không thể kiểm soát ñược, biểu hiện vững chắc, mạn tính và khuếch tán, thậm chí có thể xảy ra dưới dạng kịch phát
1.3.6 Khái niệm bệnh nhân: Là người có những triệu chứng khác
lạ ở cả sức khoẻ cơ thể và sức khoẻ tinh thần cần ñược khám và chữa bệnh ở những nơi chuuyên khoa như bệnh viện tâm thần, bệnh viện ña khoa, trung tâm y tế…
13.7: Khái niệm giới tính: Giới tính là toàn bộ những ñặc ñiểm ở con người tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ ( Tâm lý học giới tính và giáo dục giới tính, PGS.TS Bùi Ngọc Oanh, NXB giáo dục, 6/2006 )
1.3.8: Khái niệm bệnh trầm cảm:
- Nhà tâm lý học Martin Seligman cho rằng, trầm cảm phần lớn
là phản ứng ñối với tình trạng không tự lực ñã học tập trước ñó ( Tình trạng không tự lực học tập là trạng thái trong ñó người ta nhận thức và sau cùng học tập rằng không có nào trốn thoát hay thích ứng với căng thẳng Do ñó họ hoàn toàn từ bỏ sự ñấu tranh chống lại căng thẳng và chấp nhận, do ñó làm xuất hiện trầm cảm) Seligman năm 1975, 1988
Trang 15- Theo quan điểm của các nhà phân tâm học thì trầm cảm là kết quả của sự giận dữ về chính bản thân mình theo quan điểm này, con người cảm thấy cĩ trách nhiệm với những điều xấu xảy ra cho mình và điều khiển sự giận dữ của mình hướng nội
- Theo nhà tâm lý học Aaron Beck cho rằng : Nhận thức sai lầm của con người làm nền tảng cho cảm thức trầm cảm của họ
- Thạc sĩ tâm lý học Nguyễn Thơ Sinh: Trầm cảm là một căn bệnh lâm sàng khơng chỉ ảnh hưởng lên hệ thần kinh của chúng ta mà cịn ảnh hưởng lên cơ thể cũng như tâm trạng của chúng ta Bệnh gây ảnh hưởng lên quá trình ăn uống, nghỉ ngơi, chu kỳ giấc ngủ cũng như tác động lên cách chúng ta đánh giá và cảm nhận chính mình
-> Từ các định nghĩa ở trên, qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu và thực tiễn trên bệnh nhân trầm cảm mà tơi đã được tiếp xúc, tơi đưa ra định nghĩa về trầm cảm như sau: Trầm cảm là một căn bệnh thuộc về sức khoẻ tinh thần, thường xuyên gặp phải và phát triển mạnh mẽ trong xã hội hiện đại, với những biểu hiện như khí sắc trầm buồn, dịng tư duy hoạt động chậm chạp hay kém hiệu quả, chú ý, trí nhớ giảm sút, giảm hứng thú và nhu cầu trong tất
cả các hoạt động… Và đặc biệt hay thấy ở BNTC cảm là họ luơn cĩ ý nghĩ và hành vi tự sát
1.3.9: Khái niệm bệnh nhân bệnh trầm cảm: Là những bệnh nhân nhập viện với biểu hiện như khí sắc buồn, lo lắng, mất ngủ…với chẩn đốn của bác sĩ mã số bệnh từ F30 – F39 ( Theo tiêu chuẩn của ICD- 10 ) và khơng phạm phải các tiêu chuẩn loại trừ nào về các biểu hiện lâm sàng về bệnh trầm cảm ( Thơng qua test Beck rút gọn )
1.4: Các triệu chứng của bệnh trầm cảm: Trong giai đoạn hiện nay cĩ rất
nhiều quan điểm khác nhau về triệu chứng của bệnh trầm cảm và dưới đây là một số quan niện cụ thể như sau:
Trang 161.4.1: Theo quan ñiểm cổ ñiển : Rối loạn trầm cảm theo quan ñiểm cổ ñiển gồm các loại phân chia và gồm các triệu chứng sau:
Có hai loại trầm cảm và có ba triệu chứng sau:
- R ối loạn trầm cảm ñiển hình : Có ba triệu chứng sau
hiện rõ qua nét mặt thì ủ rũ, mắt mở to, ñăm chiêu suy nghĩ hoặc rơm rớm nước mắt…dáng ñiệu buồn kèm theo uể oải, chân tay rã rời, cảm giác khó chịu, bất an Bệnh nhân nhìn sự vật cả quá khứ, hiện tại và tương lai với màu sắc ảm ñạm
+ Tư duy bị ức chế : Qúa trình liên tưởng của bệnh nhân chậm chạp, dòng tư duy bị ngừng trệ, khó diễn ñạt ý nghĩ thành lời Thường xuất hiện ý nghĩ tự ti, hoang tưởng tự buộc tội mình như bệnh nhân cho rằng mình là người có phẩm chất xấu, có tội không dám ăn, không dám nhìn mọi người, trên cơ sở ñó có ý nghĩ và hành vi tự sát
+ Hoạt ñộng bị ức chế: Bệnh nhân ngồi im hàng giờ, ñi lại chậm chạp, khúm núm chui vào gầm gường như kẻ trốn chạy, có thể hoạt ñộng rất hạn chế ñơn ñiệu quanh quẩn trong phòng Cơn buồn sâu sắc, la hét, thổn thức, khóc lóc và ñột nhiên có những hành vi tự sát và kích ñộng trầm cảm
+ Rối loạn trầm cảm thực vật: Các rối loạn thực vật nổi bậc ñôi khi át
cả các rối loạn khí sắc, rối loạn cảm xúc Các rối loạn thực vật rất ña dạng như cơn vã mồ hôi, cơn ñánh trống ngực, cơn ñau vùng trước tim, các cơn ñau không xác ñịnh vị trí, cơn nôn mửa, cơn mạch nhanh, khô miệng, táo báo,
+ Rối loạn trầm cảm mất cảm giác tâm thần: Giải thể nhân cách và tri giác sai thực tại nổi bậc và ñơn ñộc, ít thấy kết hợp các triệu chứng khác
Trang 17+ Rối loạn trần cảm nghi bệnh: Người bệnh cĩ cảm giác nặng nề vì nghĩ mình cĩ bệnh cơ thể dễ nhằm với các bệnh thực thể khác
+ Rối loạn trầm cảm ám ảnh: Cĩ ám ảnh đa dạng, khi rối loạn trầm cảm tăng thì ám ảnh sợ thuyên giảm và rối loạn trầm cảm kết thúc thì ám ảnh sợ hết
+ Các rối loạn trầm cảm khơng điển hình khác: Rối loạn dinh dưỡng do
ăn uống, đẻ khĩ, sảy thai, suy nhược sau nhiễm khuẩn và các bệnh do căn nguyên tâm lý khác
1.4.2: Triệu chứng của trầm cảm theo quan điểm của Thạc sĩ Nguyễn Thơ Sinh: ( Trong sách “ Bệnh trầm cảm trong cuộc sống hiện đại, cách nhận diện và phịng tránh, NXB Phụ nữ ) Ơng chia rối loạn cảm xúc thành hai loại và bao gồm các triệu chứng sau:
- Rối loạn trầm cảm:
+ Thường xuyên cảm thấy buồn chán, lo lắng, cảm giác trống rỗng
+ Cảm thấy tuyệt vọng, yếu thế, bi quan
+ Luơn mặc cảm, thấy mình khơng xứng đáng, khơng giá trị, sống vơ dụng + Đánh mất những hứng thú trong cơng việc, vui chơi cả tình dục
+ Giảm thiểu năng lượng, luơn cảm thấy mệt mỏi, chậm chạp, lười biếng + Giảm khả năng tập trung, trí nhớ, suy thối khả năng xử lý quyết đốn + Mất ngủ, khĩ ngủ, hoặc dậy quá sớm, luơn cĩ cảm giác buồn ngủ cả ngày + Giảm hứng thú trong ăn uống nên giảm cân
+ Tăng hứng thú trong ăn uống dẫn đến tăng cân
+ Nghĩ đến cái chết, cĩ ý định tự sát, cĩ hành vi tìm đến cái chết
+ Khơng thể nào thư giãn được, dễ bị kích động, dễ nỗi nĩng
+ Xuất hiện những triệu chứng lâm sàng như nhức đầu, sốt, ăn khơng tiêu, +Mệt mỏi, đau nhứt khơng thuyên giảm
Trang 18+ Cảm giác hạnh phúc quá độ hoặc phấn kích một cách khác thường
+ Rất dễ bị kích thích, dễ cáu gắt khĩ chịu, dễ nổi quạu
+ Giảm nhu cầu ngủ
+ Cĩ những suy nghĩ trịch thượng, ngạo mạn, hống hách
+ Nĩi chuyện rất nhanh, rất nhiều
+ Cĩ những ý tưởng diễn ra thật nhanh trong đầu
+ Tăng đột ngột những hứng thú tình dục
+ Năng lượng tăng một cách đáng kể bất ngờ
+ Khả năng đánh giá xử lý chuẩn xác suy giảm
+ Nhiều hành vi ứng xử xã hội khơng thể chấp nhận được
1.4.3: Theo quan điểm của ICD-10F ( 1992):
Cĩ 3 triệu chứng chủ yếu theo tiêu chuẩn chẩn đốn:
Cĩ 7 triệu chứng khác là:
- Ăn uống khơng ngon
Cần chú ý: Đối với các triệu chứng này nĩ phải biểu hiện trên bệnh nhân ít nhất là hai tuần; Giảm khí sắc khơng tương ứng với hồn cảnh; Hay lạm dụng rượi, ám ảnh sợ, lo âu và nghi bệnh; Khĩ ngủ về buổi sáng và thức giấc sớm;
Trang 19Ăn khơng ngon miệng, sút cân trên 5%/ 1 tháng hoặc chỉ số Quetalet lớn hơn hay bằng 17,5 ( Chỉ số cân nặng)
1.4.4: Triệu chứng rối loạn trầm cảm theo quan điểm DSM- IV( 1994 ): Theo tiêu chuẩn chẩn đốn: Cĩ 5 tiêu chuẩn gồm
- Cĩ ít nhất 5 triệu chứng cùng tồn tại trong một thời gian tối thiểu là hai tuần và cĩ thay đổi chức năng so với trước đây trong đĩ phải cĩ ít nhất 1 trong 2 triệu chứng là khí sắc trầm cảm và mất quan tâm, hứng thú bao gồm: + Khí sắc trầm cảm biểu hiện cả ngày và kéo dài
+ Giảm hoặc mất quan tâm, hứng thú với mọi hoạt động trước đây vốn cĩ + Giảm trọng lượng cơ thể trên 5% / 1 tháng
+ Mất ngủ cuối giấc ( Dậy sớm ít nhất 2 giờ so với bình thường )
+ Ức chế tâm thần vận động hoặc kích động trong phạm vi hẹp ( Kích động trong phạm vi xung quanh gường ngủ của mình )
+ Mệt mỏi hoặc cảm giác mất năng lượng kéo dài
+ Cĩ cảm giác vơ dụng hoặc cĩ ý tưởng tự tội quá đáng hoặc cĩ cảm giác khơng thích hợp khác
+ Giảm năng lượng suy nghĩ, tập trung chú ý, khả năng đưa ra các quyết định + Cĩ ý tưởng và hành vi tự sát
- Các triệu chứng khơng đáp ứng tiêu chuẩn của giai đoạn hỗn hợp
- Các triệu chứng gây ra đau khổ, ảnh hưởng đến chức năng hoạt động xã hội, nghề nghiệp và các chức năng khác
- Các triệu chứng khơng do hậu quả của một chất hoặc bệnh cơ thể khác
- Các triệu chứng khơng thể giải thích do stress, các triệu chứng tồn tại dai dẳng trên hai tuần kèm theo giảm rõ rệt các chức năng xã hội, nghề nghiệp
Trang 20ξξξξ Tĩm lại các triệu chứng của bệnh trầm cảm mà theo ICD- 10 và DSM- IV kết hợp bao gồm các triệu chứng sau ( Hay các tiêu chí để chẩn đốn trầm cảm ):
- Giảm cân liên tục
và về đêm cảm thấy dễ chịu hơn )
trầm cảm.( Dễ nổi nĩng khi cĩ kích động nhẹ )
- Mất mọi hứng thú và hoạt động liên quan đến giảm hoạt động cảm xúc
- Xác định một trạng thái bệnh lý cần phải theo dõi hàng ngày cĩ thay đổi triệu chứng bệnh rõ rệt
-Triệu chứng được mơ tả phải là nguyên nhân làm thay đổi hoạt động xã hội và nghề nghiệp của bệnh nhân
→Cũng như định nghĩa về trầm cảm, cĩ triệu chứng của trầm cảm cũng được nhìn nhận và đánh giá nĩ theo nhiều quan niện khác nhau và mỗi nhà nghiên cứu đã dựa trên những kết quả của những nghiên cứu của mình, trên những bình diện khác nhau của bệnh mà đã đưa các triệu chứng của bệnh như trên Ở những nhà nghiên cứu trên chưa cĩ quan điểm hay quan niện nào thống nhất với nhau về các triệu chứng của bệnh trầm cảm cho nên tuỳ theo hồn cảnh cụ thể của mỗi bệnh nhân mà nhà trị liệu cần xác định đầy đủ các triệu chứng họ mắc phải để cĩ hướng điều trị cho phù hợp
Trang 211.5: Các thể bệnh lâm sàng của rối loạn trầm cảm: ( Các loại phân chia bệnh trần cảm điển hình)
1.5.1: Quan điểm thứ nhất ( Dựa theo triệu chứng )
1.5.1.1: Trầm cảm ẩn:
- Các triệu chứng cơ thể chiếm ưu thế che lấp các triệu chứng trầm cảm Biểu hiện chính là đau, thường gặp ở ống tiêu hố, tim, đau xương, cơ… Đau khơng biệt định cho các cơ quan nào và khơng đáp ứng với các điều trị biệt định cho bệnh cơ thể
- Một số bệnh nhân chỉ cĩ biểu hiện phù hợp một phần với sự phát triển của rối loạn trầm cảm nội sinh, thường gặp các bác sĩ nội chung, họ khơng thừa nhận mình bị trầm cảm, họ thường muốn làm các xét nghiệm và
kế hoạch điều trị bằng các loại thuốc khác nhau Khám thấy các triệu chứng rối loạn trầm cảm như mệt mỏi, mất sức sống, mất tập trung chú ý, hoạt động chậm chạp, khơng quyết đốn và bi quan Việc điều trị bằng thuốc chống trầm cảm cĩ thể giúp xác định rõ chẩn đốn
1.5.1.2: Trầm cảm paranoid: Người ta thừa nhận bệnh sinh rất quan trọng để chẩn đốn phân biệt với bệnh tâm thần phân liệt
- Bệnh cĩ đặc điểm là các ảo thanh phù hợp với khí sắc, cĩ thể
là ảo thanh bình phẩm tiêu cực về bệnh nhân
- Nặng nhất là ảo thanh ra lệnh cho bệnh nhân tự sát
- Cĩ thể xuất hiện hoang tưởng loại paranoid như bị theo dõi, bị hành hạ, bị đầu độc
Hoang tưởng cĩ thể đặc trưng cho rối loạn trầm cảm như hoang tưởng
cĩ tội, thảm hoạ hoặc tiêu biến một số cơ quan Cĩ thể xuất hiện hoang tưởng khơng phù hợp như hoang tưởng bị chi phối và hoang tưởng nội dung tín ngưỡng -> các hoang tưởng này dẫn đến khĩ khăn cho việc chẩn đốn bệnh
Trang 221.5.1.3: Trầm cảm khơng biệt định: Horvath ( 1992 ) đã nghiên cứu thấy cĩ 16% bệnh nhân rối loạn trầm cảm chủ yếu cĩ triệu chứng ngủ nhiều, ăn nhiều Khi so sánh nhĩm này với nhĩm rối loạn trầm cảm khác cĩ một số đặc điểm khác:
- Khởi phát ở lứa tuổi trẻ
- Đáp ứng tốt với thuốc chống trầm cảm loại IMAO
- Phối hợp với các rối loạn cơ thể
- Thường lạm dụng đồ uống cĩ cồn hoặc các chất kích thích tâm thần khác
- Phối hợp với các cơn hoảng sợ
- Phát triển dài hơn và theo mùa
1.5.1.4: Trầm cảm ở người cao tuổi:
- Ở người cao tuổi, rối loạn nhận thức như: Rối loạn chú ý, trí nhớ và tư duy, trong trầm cảm rất nặng được gọi là mất trí giả trong trầm cảm Bệnh nhân mất định hướng quên ngược chiều
- Cĩ hoang tưởng nghi bệnh, khi chẩn đốn ở người già cần chú ý người già cĩ bệnh thực thể như; Mệt mỏi, giảm khả năng tập trung chú ý, vận động chậm, cho nên các triệu chứng này khơng đặc trưng cho bệnh trầm cảm
và cả bệnh cơ thể Rối loạn trầm cảm ở người già cĩ nguyên nhân sau:
+ Cĩ thể là sự phát triển tiếp tục của rối loạn cảm xúc
+ Cĩ thể là rối loạn cảm xúc khởi phát
+ Cĩ thể do một bệnh cơ thể như: Bệnh mạch máu não, tổn thương thần kinh, bệnh tim, gan, tiết niệu…
+ Cĩ thể do thuốc do hố chất như: Thuốc chữa cao huyết áp
1.5.1.5: Rối loạn trầm cảm thứ phát ( Secondary ) và rối loạn trầm cảm tiên phát ( Primary )
Trang 23- Rối loạn trầm cảm tiên phát là rối loạn cảm xúc, không do bệnh cơ thể hoặc sử dụng hoá chất gây ra Rối loạn thứ phát là rối loạn trầm cảm gây ra bởi các rối loạn cơ thể hoặc sử dụng hoá chất ( Không bao gồm ma tuý )
1.5.2: Quan ñiểm thứ hai: Dựa theo thời gian kéo dài của bệnh
- Bệnh trầm cảm trường kỳ ( Dysthymia ): Đây là dạng trầm cảm kéo dài lâu nhất bao gồm những triệu chứng mãn tính và cũng là dạng trầm cảm nhẹ nhất Triệu chứng tuy không ảnh hưởng nghiêm trọng ñến sức khoẻ nhưng ảnh hưởng ñến những sinh hoạt mang tính xã hội của một cá nhân, có thể chuyển sang những dạng khác phức tạp hơn, khi có biến cố tai nạn cá nhân lớn xảy ra
- Bệnh trầm cảm chủ yếu ( Maijor depression ): Đây là dạng bệnh trầm cảm ảnh hưởng ñến chất lượng sinh hoạt cuộc sống như khả năng làm việc, khả năng học tập, thói quen ăn uống và chu kỳ giấc ngủ Bệnh nhân mắc hội chứng trầm cảm này thường không có khả năng hưởng thụ và yêu mến cuộc sống, bệnh này có thể xảy ra một hoặc nhiều lần trong ñời
- Bệnh trầm cảm lưỡng cực ( Bipolar disorder ): Đây là một căn bệnh còn ñược biết ñến quan một cái tên khác là bệnh loạn tâm thần hưng trầm cảm ( Maniac- depressive illness ) Bệnh này thường không xảy ra nhiều như hai loại trên, nhưng trầm cảm lưỡng cực có triệu chứng chu kỳ bao gồm hai thái cực cảm xúc tâm trạng ñối ngược nhau:
+ Tâm trạng hưng cảm ( Mania ): Đây là trạng thái cảm xúc dâng lên rất mạnh, cá nhân có nhiều biểu hiện gần giống với bệnh ñiên Triệu chứng của nó bao gồm: Cảm xúc nóng nảy, họ có rất nhiều năng lượng, nói chuyện không biết mệt, có những cử chỉ khác biệt do quá trình tư duy suy nghĩ bị ảnh hưỡng, hành vi của họ khi bệnh nặng có thể gây nguy hiểm cho bản thân và cho người khác, bệnh nhẹ thì hành vi của họ gây ra gồm những lần ứng xử khiến họ xấu hổ sau này khi cơn hưng cảm lắng xuống Nhiều
Trang 24người có những hành vi thiếu cân nhắc như lao vào những quyết ñịnh làm ăn táo bạo, ñầy tự tin một cách hoang tưởng, họ có những quan hệ tình cảm một cách ñầy tự do phóng khoáng
+ Tâm trạng trầm cảm ( Depreession ): Đây là trạng thái cảm xúc khi cá nhân cảm thấy mình cùng cực tuyệt vọng, chán nản, buồn bã gần như không còn thiết tha ñến cuộc sống của mình nữa Tâm trạng của họ rơi xuống mức thấp nhất của cảm xúc
→ Hai trạng thái cảm xúc hưng cảm và trầm cảm này thay phiên nhau làm khổ bệnh nhân, có lúc hai trạng thái này chuyển ñổi nhanh chóng, có một số bệnh nhân hai trạng thái này chuyển ñổi tương ñối chậm
1.5.3: Quan ñiểm thứ ba: Theo dạng phân chia
- Trầm cảm u sầu : Là một dạng lâm sàng của BTC nặng
- Trầm cảm hoang tưởng (Dépression délerante ), khánh kiệt, tội lỗi
- Trầm cảm lo âu (Dépression anxieuse, formes àdominance anxieuse )
- Trầm cảm ñược che dấu (Dépression masquée )
- Trầm cảm theo mùa (Dépression saisonniere ).Nó xuất hiện vào mùa thu hoặc mùa ñông và cải thiện vào mùa xuân hay mùa hè, biểu hiện có khi là
ăn nhiều ( Hyperphagie ), ngủ nhiều ( Hypersomnie )
- Trầm cảm tuổi mãn kinh (Dépression dinvolution )
- TC hậu sinh (Dépression du postpartum) Biểu hiện bằng những ñợt khóc lóc hay cáu kỉnh, có cảm giác không ñủ khả năng ( Imcapcité), không thể dung nạp ( Intolérance ), ñối với trẻ em là suy nhược, mất ngủ, lo âu
- Trầm cảm theo thể ñiạ ( Thường gặp ở trẻ em, thiếu niên, người già )
- Dạng trầm cảm theo giới tính
→ Tuỳ theo mục ñích nghiên cứu khác nhau mà mỗi nhà nghiên cứu chọn cho mình một cách phân chia dựa theo tiêu chí và cách phân chia cho phù hợp với
ñề tài mình chọn
Trang 251.6: Nguyên nhân gây rối loạn trầm cảm Các yếu tố làm nảy sinh BTC rất
ña dạng, phong phú song người ta có thể chia và phân nó làm ba nhóm chính:
- Các yếu tố duy truyền: Nó ñóng vai trò rất quan trọng, người ta thấy
có 80% BNTC có cha mẹ bị các rối loạn tâm thần khác nhau, và nhiều thành viên trong cùng một gia ñình mắc một chứng bệnh này, khảo sát nơi các gia ñình có nhiều thành viên thế hệ thành viên mắc BTC, các nhà nghiên cứu thấy
sự khác biệt giữa hệ gien của người mắc bệnh và không mắc bệnh trong một gia ñình Một số cá nhân có hệ gien với nguy cơ mắc bệnh cao hơn nhiều ( Biological vulnerability ) Tuy nhiên các nghiên cứu nơi những cá nhân có cùng hệ gian với nguy cơ mắc bệnh cao cho thấy không phải bất cứ ai có hệ gien này ñều mắc bệnh → Cho nên yếu tố duy truyền ñang ñược ñưa ra bàn cãi về nó là một trong những nguyên chính gây nên TC
- Các yếu tố stress tâm lý - xã hội như:
+ Căng thẳng trong sinh hoạt gia ñình
+ Những khó khăn quá tải trong công việc
+ Những ñòi hỏi vượt quá khả năng ñáp ứng trong công tác và trong học tập + Cá nhân có lòng tự trọng thấp, não trạng yếu, khi tiếp xúc căng thẳng trong cuộc sống, họ dễ rơi vào tình trạng quá tải dẫn ñến nguy cơ mắc TC cao + Tổn thất mất mát quan trọng như sự qua ñời của người thân, ñỗ vỡ hay bế tắc trong quan hệ tình cảm, những gánh nặng quá tải về mặt tài chính
+ Giao tiếp xã hội của con cái có vấn ñề
+ Mâu thuẩn giữa BN và những người thân trong gia ñình
+ Một người thân trong gia ñình ñau nặng hay bị tai nạn
+ Người bạn ñời thờ ơ, lãnh ñạm, thiếu trách nhiệm
+ Nhà cửa chật chội không có không gian riêng tư…
-Ngoài ra còn có các thiếu sót, khuyết tật bẩm sinh ở hệ thần kinh, nội tiết hay các cơ quan khác trong cơ thể có tính chất cá thể
Trang 26+ BNTC có cấu trúc bộ não và chức năng của các bộ phận não hoạt ñông khác biệt so với những người bình thường
+ Biến ñổi sinh lý, thể lý bất ổn có những tác ñộng lên khả năng hoạt ñộng tâm lý của cơ thể, ñột quỵ, ñau tim, ung thư, …Tạo nguy cơ mắc BTC cao
→ Hiện nay, có rất nhiều giả thuyết khác nhau về nguyên nhân gây ra BTC nhưng chưa có một giả thuyết nào có tính thuyết phục cả, hơn nữa mỗi một người sống trong xã hội là một tiểu vũ trụ nhỏ cần ñược khám phá, không ai giống ai cả, nên nguyên nhân gây nên, hay dẫn ñến bệnh của họ cũng ña dạng không kém, ñối với một NTL muốn chữa tận gốc bệnh tình của BN mình thì cần nắm ñược tất cả các vấn ñề của họ, cái gốc của vấn ñề gây bệnh cho họ…
1.7: Ảnh hưởng và hậu quả của BTC ñối với bệnh nhân, ñối với xã hội 1.7.1: Ảnh hưởng
- Đối với bệnh nhân: TC là một căn bệnh thuộc về sức khỏe tinh thần không chừa bất cứ một ai, không phân biệt người già, trẻ em, người trưởng thành…Thế nhưng theo những nghiên cứu gần ñây nhất trầm cảm thường tấn công phụ nữ nhiều hơn nam giới, ñây là một căn bệnh ảnh hưởng ñến tâm trạng, tinh thần và thể chất của những người mắc phải, trong nền văn hóa Việt chúng ta BTC mới ñược nhắc ñến rộng rãi trong thời gian gần ñây,
và sau ñây là những ảnh hưởng cơ bản của trầm cảm lên bản thân người bệnh
+ Ý thức của bệnh nhân : BN không ý thức ñược bệnh mình mắc phải như thế nào, nặng hay nhẹ… Khả năng ñịnh hướng không gian kém, không ý thức ñược tầm quan trọng của bản thân ñối với mọi người và ñối với cuộc sống xung quanh, họ chỉ ý thức ñược một ñiều là họ bị bệnh rất nặng, chán sống có ý tưởng tự sát rất cao 2/3 số BN và 10 – 15% họ ñã thực hiện ñược tự sát
+ Tri giác cảm giác: Thường hay sai sự thật về bệnh tình của mình, trống rỗng hay mất cảm giác với mọi thứ xung quanh, cảm giác tội lỗi,
Trang 27đau khổ, buồn chán luơn xâm chiếm lấy họ “ Đau khổ khi nhìn về quá khứ, chán nản cho hiện tại và thất vọng ở tương lai”
+ Tư duy: Tư duy hoạt động chậm chạp hay kém hiệu quả, cĩ khi nhanh cĩ khi chậm hay là khơng hợp lơgich với nội dung cần diễn đạt ( BNTC nặng ) gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình giao tiếp của BN, làm cho họ ngại hay khơng muốn giao tiếp với bất kỳ ai “ Tơi thấy cĩ gì đĩ nghẹn
ở cổ làm tơi khơng muốn nĩi và chẳng thở nổi” Cĩ những trường hợp nặng
BN nĩi nhanh đến nỗi thành dịng ý tưởng ( Nhảy từ dịng tư duy, dịng suy nghĩ này sang dịng tư duy, dịng suy nghĩ khác ) dẫn đến “Ý nghĩ hời hợt” Ngơn ngữ trở nên khĩ hiểu, phán đốn suy giảm để lại nhiều hậu quả nặng nề cho bản thân họ như chi tiêu thái hĩa, lái xe liều lĩnh, quyết định sự việc khơng sáng suốt ( Hay khơng quyết định được ) và họ luơn tìm cách giải tỏa bản năng tình dục
+ Chú ý: Khả năng tập trung chú ý kém hay giảm đối với tất cả các hoạt động, với tất cả các vấn đề xung quanh của BN kể cả những vấn đề
mà lúc chưa bệnh họ rất thích “ Mắt họ nhìn xa xâm, mơ hồ khơng chủ định, khơng định hình được là đang nhìn về nơi nào cả” hay khi nĩi chuyện họ khơng tập trung vào câu chuyện hay nội dung của câu chuyện là gì cả
+ Trí nhớ: Giảm sút một cách đáng kể, ghi nhớ máy mĩc phát triển mạnh, nhớ nhiều chuyên xưa, ghi nhớ ý nghĩa kém phát triển, quên chuyện hiện tại và đặc biệt hay nhớ những chuyện gây ra và đêm đến cho họ
sự đau khổ, buồn tủi “ Thường nhớ và kể lại chi tiết một viễn cảnh tối tăm, u
ám và cảm giác thất vọng”
+ Ngơn ngữ: Thường mang chủ đề bi quan và phủ định “ Tơi khơng muốn sống nữa, cuộc sống bên kia của tơi chắc là sung sướng hơn ở đây” Lời nĩi mang chủ đề về bệnh tật của họ và họ thường hay suy nghĩ tiêu cực về bệnh mang ý nghĩa và hành vi tự sát 30 -35% BNTC cĩ ý định và đã
Trang 28thực hiện tự sát, theo các nghiên cứu gần ñây tỉ lệ BTC tự tử cao gấp 28 lần so với bệnh thường
+ Xúc cảm, tình cảm: Nghèo nàn, khí sắc trầm buồn, BN ít biểu
lộ cảm xúc của mình ñối với tất cả các vấn ñề xung quanh BN, thế giới trong mắt BN dần thu hẹp lại và chỉ cần một va chạm nhỏ với môt trường xung quanh cũng ñủ làm họ phản ứng dữ dội, xúc cảm xấu lập tức ñược dịp bùng
nổ, họ không làm chủ ñược bản thân cũng như xúc cảm của cá nhân họ
+ Không hoàn thành các chức năng thông thường của bản thân
họ như: Không tự ñịnh ñoạt ñược việc muốn và không muốn làm; Không giao tiếp, tiếp xúc với tất cả mọi người ( Kể cả người thân trong gia ñình ); Họ hay chui vào những chỗ tối tăm hay giam mình trong phòng tối
☻Làm chất lượng cuộc sống và các mối quan hệ của bệnh nhân giảm sút nghiêm trọng ( Thậm chí họ còn không hay tránh tiếp xúc với
Tóm lại: BNTC nhìn thế giới xung quanh với cái nhìn vô hồn, vô cảm, thế giới trong mắt họ bị thu hẹp, sức khỏe cơ thể giảm sút nghiêm trọng, giảm ăn ngủ, giảm cân nặng, giảm hứng thú với tất cả các hoạt ñộng xã hội và tất cả các hoạt ñộng khác ñối với họ ñều trở nên vô cảm, và TC ñược coi là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây loạn thần và các chứng bệnh khác liên quan ñến sức khỏe tinh thần
- Đối với xã hội :
Trang 29+ Theo nghiên cứu của Mỹ ( 1993 ) hằng năm chi phí của chính phủ nước này bỏ ra cho bệnh trầm cảm và cho những BNTC và những vấn đề cĩ liên quan đến TC lên đến con số kỷ luật là 43,7 tỷ USD chi phí trực tiếp cho trầm cảm là 29% ( Gồm nhập viện và điều trị ngoại trú ), số chi phí cịn lại, gián tiếp cho nghỉ việc và chế độ bảo hiểm cho BNTC
+ Theo bác sĩ Lê Quốc Nam ( BVTT Thành phố Hồ Chí Minh) đăng trên báo Người lao động ( 15/5/2006 ) hằng năm thế giới tốn khoảng 240 tỷ USD cho bệnh trầm cảm và các rối loạn liên quan đến TC Việc điều trị TC phải cần thời gian lâu dài phải ít nhất là hai năm, và nếu nặng thì cĩ thể lâu dài hơn, cần kết hợp nhiều biện pháp khác nhau, gây tốn kém nhiều mặt cả kinh
tế và thời gian + cơng sức và tâm huyết…
+ Theo tổ chức y tế thế giới ( WHO ) TC mỗi năm cướp đi trung bình khoảng 850.000 ngàn người và theo dự đốn đến năm 2020 BTC được xếp hạng là một trong những căn bệnh phổ biến tồn cầu với 121 triệu người mắc, nhưng chỉ cĩ 25% BN cĩ hiểu biết và được điều trị kịp thời, và là nguyên nhân thứ hai cĩ tỉ lệ tử vong cao sau bệnh tim Hằng năm BTC cướp
đi của xã hội một lực lượng lao động lớn …
+ Bên cạnh đĩ nhận thức của người dân về căn bệnh khá mới mẻ này cịn hạn chế, đặc biệt là người thân của những BNTC chưa cao hay họ chưa cĩ những hiểu biết tối thiểu về biểu hiện của bệnh này, nên việc điều trị cịn gặp nhiều khĩ khăn, họ cịn mê tín dị đoan tin vào cúng bái mà chưa tin tưởng vào việc điều trị của các bác sĩ ( Theo bác sĩ Tơ Thanh Phương – Báo lao động cuối tuần, số 48 ngày 9/12/2007: Cĩ một bệnh nhân bị trầm cảm người Thanh Trì – Hà Nội, chỉ trong một thời gian ngắn đã nhảy Sơng Hồng tự tử 4 lần, do gia đình khơng đưa đi điều trị khi biết mắc bệnh trầm cảm mà chỉ mời thầy về tận nhà cúng bái trừ ma quỷ hết 60 triệu đồng mà bệnh vẫn khơng thuyên
Trang 30giảm, được đưa vào nhập viện với tình trạng bệnh trầm cảm nặng hết sức nghiêm trọng.)
+ TC là nguyên nhân chính gĩp phần vào việc gia tăng tỉ lệ người sử dụng ma túy, rượu, bia và các chất kích thích khác gây ảnh hưởng mạnh mẽ lên trật tự an tồn xã hội, lên sự hình thành và phát triển nhân cách của BN
→ Tĩm lại đây là một căn bệnh thuộc về sức khỏe tinh thần ảnh hưởng lên tất
cả các mặt đời sống của con người, của xã hội
☻Nĩ phá tan chất đàn ơng trong con người những BN nam,
biến họ thành những “ Hoạn quan” thứ thiệt, tàn phế khả năng tình dục mặc
dù cấu tạo khơng bị tổn thương gì, cơ bắp BNTC chùng xuống, mệt mỏi…
☻Thần sắc giảm, giao tiếp thu hẹp, trong người bứt rứt khĩ chịu, bồn chồn đứng ngồi khơng yên
☻Hoang tưởng xuất hiện nhiều ở BNTC họ thường phán đốn sai sự thật, khơng đúng với thực tế nhưng bản thân họ lại cho là đúng và người khác khơng thể giải thích hay tác động được
Ý tưởng đĩ khiến họ lên động cơ chương trình và hành động tự sát
→Đây là nguyên nhân làm giảm nguồn lao động lớn đối với các nước phát triển và đang phát triển cĩ tỉ lệ bệnh nhân mắc trầm cảm lớn ( Nguyên nhân gây tử vong lớn thứ hai sau bệnh tim ) như ở Pháp cĩ khoảng 30 – 35% tai nạn lao động xảy ra do BTC mang lại
Trang 31☻Đặc biệt ñối với trẻ em trong giai ñoạn tuổi dậy thì, giai ñoạn
có nhiều biến ñổi tâm sinh lý mà bị BTC thì nó sẽ tạo cho trẻ một áp lực tâm
lý lớn, khó thích nghi với môi trường xung quanh, không còn thấy hứng thú, thích ứng ñược với các hoạt ñộng ñặc biệt là hoạt ñộng học tập, tính cách trở nên khó dạy bảo, có hành vi hỗn loạn ở gia ñình và nhà trường như thích ñua
xe, bỏ học, dẽ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội ( Ở thành phố HCM có 40% số ñối tượng tự tử có BTC kèm theo và còn lệ thuộc vào ma túy – các chất kích thích khác
+ Là nguyên nhân chủ yếu của các trường hợp tự tử: Các khảo sát liên nghành của giáo dục và y tế gần ñây cho thấy có 27% nữ sinh THPT và
có 16% nam sinh THPT có biểu hiện trầm cảm trong ñó có khoảng 3% học sinh có hành vi cố ý gây thương tích cho bản thân mình, trong ñó có 21% học sinh có biểu hiện trầm cảm bỏ học, 19% uống rượi 16% hút thuốc lá, 11% ñua xe, 6% gây rối trật tự nơi công cộng ñánh nhau có vũ khí hay ñã có quan
hệ tình dục -> Để lại nhiều hậu quả nặng nề cho bản thân BN nếu không ñược chữa trị kịp thời
+ Mất hoàn toàn khả năng lao ñộng, học tập và tất cả các hoạt ñộng khác ( Kể cả hoạt ñộng mang tính bản năng, yêu thích và hoạt ñộng có ý chí )
- Đối với xã hội:
+ Tổ chức y tế thế giới vừa công bố trong The Lancet Trầm cảm kết hợp với các bệnh mãn tính khác gây hậu quả xấu nhất về việc mất sức khỏe ñây là một vấn ñề mà y tế công cộng rất quan tâm và ñưa vào chương trình trọng ñiểm ( 2- 15% tỉ lệ mắc phải ) trầm cảm có khuynh hướng trở thành bệnh mãn tính, tái phát hoặc nhiều hậu quả làm gia tăng trầm trong tình trạng tàn phế trong ñội ngữ lao ñộng mà ñặc biệt là lao ñộng trẻ
+ BN trầm cảm là một gánh nặng cho gia ñình cho xã hội, gia ñình phải bỏ công sức, tiền bạc, của cải nhiều trong việc chữa trị thời gian lâu dài
Trang 32như vậy, xã hội phải bỏ nhiều chi phí nghiên cứu, dự đốn, điều trị và phịng chống về nĩ, BTC cho xã hội tụt hậu, chậm phát triển, kinh tế khĩ khăn, đất nước cĩ tỉ lệ BNTC cao sẽ đưa nền kinh tế đất nước đi xuống khơng thể phát triển nhanh mạnh như các nước cĩ tỉ lệ trầm cảm thấp
+ Là nguyên nhân, nền tảng xấu để từ đĩ làm nảy sinh nhiều căn bệnh nguy hiểm khác liên quan đến sức khỏe tinh thần như TTPL, hoang tưởng, các rối loạn khác…nguyên nhân gây mất sức lao động trong năm
2020
→ Tĩm lại ảnh hưởng và hậu quả mà BTC để lại cả trên bản thân BN và xã hội là hết sức lớn lao Nĩ địi hỏi sự quan tâm đúng mức của tồn xã hội, nĩ khơng là nhiệm vụ của riêng nghành y tế mà là tất cả các cấp các nghành… của chính bản thân người bệnh, gia đình của BN… Cĩ đầu tư như vậy thì trong tương lai cơng tác điều trị, phịng chống bệnh mới phát huy được tác dụng được nhằm làm cho các cá nhân trong xã hội cĩ cơ hội phát huy hết khả năng nhằm khai thác triệt để nhân tài làm phát triển kinh tế đất nước
1.8 Các biện pháp điều trị được dùng trong giai đoạn hiện nay:
Trong giai đoạn hiện nay ở tất cả các cơ sở chuyên khoa chữa trị về bệnh
tâm thần trong đĩ cĩ BTC, các bác sĩ thường dùng thuốc chống TC và các LPTL, bên cạnh đĩ đối với những BN nặng cịn dùng biện pháp sốc điện Trong phạm vi đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp đối với sinh viên chuyên nghành tâm lý thì tơi chỉ trình bày các LPTL được dùng và nĩ mang lại hiệu quả cao nhất trong việc chữa trị hiện nay
Cĩ 4 liệu pháp chính được dùng trong giai đoạn hiện nay:
-Liệu pháp kích hoạt hành vi: LP này khơng chú tâm đến nguyên nhân của
TC như các suy nghĩ, các xung đột bên trong hoặc các rối loạn chức năng của
hệ Serotonin Nĩ chú tâm vào các sự kiện cĩ thể ảnh hưởng đến sự xuất hiện của các đáp ứng khơng hữu ích – cả về hành vi ở ngồi và quá trình nhận thức
Trang 33+ Trong quá trình ñiều trị, NTL dạy cho BN biết cách phân tích hậu quả không chủ ñịnh của các ñáp ứng của họ, ñó là việc không hoạt ñộng hoặc nghiền ngẫm, cần chỉ cho bệnh nhân thấy hậu quả của các ñáp ứng như vậy là
BN trở nên thu mình lại và trốn tránh các hoạt ñộng thông thường cũng như tránh tương tác xã hội Chính ñiều này làm cho BTC trở nên nặng hơn, BN nghiền ngẫm hơn, và họ bỏ qua các hoạt ñộng mà trước ñây nó tạo hứng thú cho BN trước ñây, hơn nữa cách BN ñáp ứng ảnh hưởng xấu ñến môi trường của họ và ñến những người xung quanh → Làm cho bệnh tình của họ trở nên nặng nề hơn
vi, NTL Không có ý ñịnh ñề cập ñến nội dung các suy nghĩ của BN, thật vậy họ dùng phân tích chức năng ñể tập trung vào nội dung và tiến trình ñáp ứng của
họ Các ñáp ứng nhận thức phổ biến nhất là sự nghiền ngẫm, sự kết hợp và sự
tự công kích bản thân
+ Thư giãn ñược dịch từ “ Relaxaion”, ñó là một trạng thái tâm sinh lý trong ñó bao gồm sự thư thái về tinh thần và giãn mềm về cơ dắp Đây là trạng thái nghỉ ngơi tích cực, giảm tiêu hao năng lượng và giảm sự căng thẳng tối ưu nhất
Các phương pháp thư giãn ñược dùng: PP Jacobson,thư giãn luyện tập + Tác dụng liệu pháp thư giãn: Cơ chế tác dụng của liệu pháp thư giãn – luyện tập dựa vào 2 cơ chế chính ñó là tự ám thị ( Autosuggestion ) và cơ chế phản hồi sinh học ( Bio- feedbeck ) Hai cơ chế này thường xuyên ảnh hưởng qua lại và có tác ñộng tương hổ nhau
Tự ám thị ñược hiểu là sự tiếp nhận một cách chủ ñộng những tác ñộng tâm lý từ chính bản thân và từ ñó gây ra những biến ñổi nhất ñịnh Về cơ chế
Trang 34sinh lý thần kinh, tự ám thị ñược giải thích như là sự ám thị ( Theo giải thích của Pavlov )
Phản hồi sinh học, trong phương pháp thư giãn luyện tập có hiện tượng phản hồi: Phản hồi giữa trương lực cơ và cảm xúc, phản hồi giữa cơ thể và tâm thần, phản hồi giữa hô hấp và tâm thần
-Liệu pháp tiếp xúc: Là một kỹ thuật của liệu pháp hành vi nhận thức, nó làm giảm phản ứng sợ hãi và lo âu, liệu pháp này gần giống với liệu pháp giải mẫn cảm nhưng tác dụng của nó nhanh và ñem lại hiệu quả tốt
Nguyên tắc ñể liệu pháp tiếp xúc ñạt kết quả:
+ Bệnh nhân nên chọn cho mình một mục tiêu cuối cùng ñó là thực hiện những hành vi không sợ hãi VD như ñến gần con rắn khoảng 1 mét
+ Bệnh nhân nên nghĩ ñến một loạt các giai ñoạn trung gian ñể ñi ñến ñích, các giai ñoạn này nên kế tục nhau Tốt nhất là lập một danh sách các giai ñoạn với các nhiện vụ ngày càng nặng nề hơn
+ Ở mỗi bước, sự tiếp xúc của BN nên hoàn toàn tự giác Do ñó khi tiếp xúc với tình huống gây sợ hãi BN sẽ có cách ñể chấm dứt sự tiếp xúc, hoặc trốn tránh hoặc không Bằng cách chọn trốn tránh BN sẽ giảm tình trạng lo âu Nếu chọn không trốn tránh BN sẽ làm yếu ñi mối liên kết giữa sự cảnh tỉnh và trốn thoát
+ Sự cảnh tỉnh nên ñạt mức ñộ tối ña mà BN chuẩn bị chấp nhận
+ Người ta nhận thấy thực hành hằng ngày tối thiểu một giờ là tối ưu, và buổi trị liệu nên chấm dứt khi mức ñộ cảnh tỉnh giảm ñi một nữa so với mức ñỉnh
-Liệu pháp nhận thức của Beck Xuất phát từ lý thuyết nhận thức của ông về bệnh trầm cảm ( Beck 1967,1985, 1987 )
+ Qua liệu pháp nhận thức, nó cung cấp cho người bệnh những kinh nghiệm, hiểu biết, giúp họ ñiều chỉnh những sai lệch về nhận thức, theo hướng
Trang 35phù hợp hơn Động viên, cổ vũ những người quá bi quan với thất bại, rằng những điều này là đáng tiếc song khơng phải vì thế mà đi đến kết luận là tương lai, thất bại sẽ lặp lại
Ngồi 4 liệu pháp chính được dùng để điều trị BTC ở trên, cịn cĩ các liệu pháp khác cũng thường xuyên được áp dụng cho những BNTC như các liệu pháp sau
-Liệu pháp cảm xúc hợp lý của Ellis: Nếu chúng ta cứ thầm nhắc lại một
từ nào đĩ nhiều lần thì sẽ xuất hiện hiện tượng mà TLH gọi là nghĩa từ Theo Ellis, nếu nhắc đi nhắc lại một câu thì cĩ thể gây ra phản ứng cảm xúc nhất định và cũng theo nguyên lý đĩ và những niền tin khơng hợp lý dẫn đến các phản ứng cảm xúc khơng hợp lý Nhiệm vụ của LP này đặt ra là phải vơ hiệu hĩa những ý nghĩ, niền tin bất hợp lý bằng cách thăm khám, kiểm tra một cách lơgich Và sau khi nắm được vấn đề của BN, NTL trao đổi với BN về những nét cơ bản của LP cảm xúc hợp lý sao cho BN hiểu và chấp nhận, tiếp đĩ NTL dẫn dắt BN đi vào từng khía cạnh của vấn đề phức tạp, chỉ ra những điều khơng
cĩ cơ sở, khơng hợp lý Kết thúc NTL chuyển qua việc hướng dẫn người bệnh thay đổi cách suy nghĩ khơng hợp lý bằng những đối thoại nội tâm giúp cho BN thanh thản hơn
- Liệu pháp lao động: Liệu pháp này nhằm làm thay đổi, điều chỉnh cái tâm lý bên trong thơng qua việc tổ chức thực hiện các thao tác bên ngồi
- Liệu pháp hĩa dược: Đây là phương pháp chữa trị trầm cảm dựa trên sự chẩn đốn và kê đơn dùng thuốc của các bác sĩ ở BVTT, cĩ một số loại thuốc được dùng để chữa trị trầm cảm như: Litium, Amitrymodim… Nhưng phải dựa trên hướng dẫn của thầy thuốc, khơng uống thuốc khi khơng cĩ chỉ định của bác sĩ.Đây là phương pháp được dùng rộng rãi ở giai đoạn hiện nay, đối với những bệnh nhân trầm cảm nặng việc kết hợp thuốc, các liệu pháp tâm lý sẽ mang lại hiệu quả cao
Trang 36- Liệu pháp tâm lý nhóm, liệu pháp gia ñình…
♥ Hiện nay hầu hết các LPTL trình bày ở trên ñược dùng hầu hết trên BN, nhưng tùy theo nguyên nhân, hoàn cảnh, triệu chứng, biểu hiện của BN như thế nào… mà NTL nên lực chọn những liệu pháp hợp lý nhất cho BN của mình, nhằm thu lại hiệu quả cao nhất trong việc ñiều trị Hơn nữa cũng phải phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế của cơ sở ñiều trị có ñáp ứng ñược với những nhu cầu của BN hay không? thực tế họ có mong muốn ñược dùng những LP ñó hay không? Đó mới chính là vấn ñề mà một NTL nếu áp dụng tốt sẽ thu ñược hiệu quả trong công tác của mình
1.9 Mối quan hệ của bệnh trầm cảm ñối với các bệnh khác:
1.9.1 Mối quan hệ giữa trầm cảm và lo âu:
- Rối loạn lo âu là sự sợ hãi quá mức, không có nguyên nhân, do chủ quan của người bệnh và không thể giải thích ñược do một BTT khác hoặc do một bệnh
cơ thể nào ñó Rối loạn lo âu là một rối loạn mà BN không thể kiểm soát ñược,
nó biểu hiện vững chắc, mãn tính và khuếch tán dưới dạng kịch phát, BN lo âu ñặc biệt là cơn hoảng sợ thường ñi kèm với các rối loạn chức năng xã hội và có nguy cơ lạm dụng thuốc cao hơn người bình thường
+ Theo một nghiên cứu “ Đặc ñiểm lâm sàng của rối loạn TC với các tổ chức cơ thể” do bác sĩ Đặng Quốc Tuyên và cộng sự cho thấy rằng
Bệnh nhân
Trang 37Tổng 30 100
Theo bảng số liệu ở trên, ta thấy cĩ 50% trầm cảm kèm theo lo âu, chúng biểu hiện chồng chéo, xen kẽ với nhau giữa trầm cảm và lo âu
biệt rạch rịi và chúng thường kết hợp với nhau trên cùng một bệnh nhân, cĩ khoảng 2 – 5% dân số cĩ trầm cảm và trong đĩ cĩ 8% ở họ cĩ biểu hiện chồng lấn của dạng kết hợp trầm cảm và lo âu
→ Trầm cảm và lo âu thường đi kèm với nhau, cho nên trong khi chẩn đốn
và điều trị cho bệnh nhân NTL phải thận trọng, chẩn đốn dựa trên hội chứng chứ khơng dựa trên những triệu chứng thơng thường bên ngồi, cĩ như vậy việc điều trị mới đúng bệnh, đúng người mang lại hiệu quả điều trị cao nhất
1.9.2 Mối quan hệ gữa trầm cảm và stress:
- Theo Hans Selye ( Nhà nghiên cứu người Canada – 1936 ) Stress được coi là mối tương tác giữa kích thích và phản ứng của cơ thể Trong điều kiện bình thường, stress thiết lập một cân bằng mới, trong điều kiện bệnh lý nĩ gây nên rối loạn tâm thần và các rối loạn cơ thể khác
- Biểu hiện của stress: BN thường phàn nàn đa dạng về nhiều rối loạn các
hệ thống trong cơ thể mà khơng cĩ nguyên nhân thực tổn nào được tìm thấy sau một thời gian dài, cuộc đời của một bệnh nhân stress chỉ tồn là bệnh tật
và họ chú ý tìm kiếm bệnh tật, chúng được mơt tả như là “ Cĩ bệnh là một phong cách sống” và các rối loạn kể trên thường khĩ phân biệt và nĩ thường
đi kèm với trầm cảm nên gây khĩ khăn cho nhà trị liệu chẩn đốn và điều trị -Trong cuộc sống con người cĩ rất nhiều biến cố, sự kiện xảy ra nĩ vượt quá khả năng giải quyết của cá nhân, khi đĩ stress xuất hiện, biểu hiện cụ thể
đĩ là những trạng thái tích cực về xúc cảm, nhận thức, stress làm thay đổi hoạt động của hệ thống cơ thể, làm thay đổi khả năng nhiễm bệnh theo hướng
Trang 38cá nhân dễ nhiễm bệnh hơn, nĩ tạo mơi trường thuận lợi cho TC phát triển mạnh, theo nhiều nghiên cứu khác nhau cho thấy khi một cá nhân cĩ biểu hiện stress rõ rệt thì dễ nảy sinh các bệnh tâm lý khác mà đặc biệt là BTC →
TC và stress cĩ mối quan hệ gần gũi với nhau cái này làm nền cho cái kia dễ nảy sinh và ngược lại
1.9.3 Mối quan hệ trầm cảm và rối loạn nhân cách:
- Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân quy định bản sắc và giá trị xã hội của con người
- Rối loạn nhân cách là các rối loạn sự hình thành tính cách và xu hướng hành vi của một cá nhân gắn liền với một sự đảo lộn lớn về mặt cá nhân và xã hội Rối loạn nhân cách là một BTT ranh giới, biểu hiện bằng những nét tính nết bệnh lý đặc biệt, xúc cảm mất thăng bằng, rối loạn sự thích nghi của cá nhân với mơi trường và các mối quan hệ bình thường với những người xung quanh
→ TC và rối loạn nhân cách cĩ biểu hiện tương đối giống nhau, dễ bị chẩn đốn nhầm, nên trong điều trị và chẩn đốn bệnh NTL phải hết sức thận trọng tránh sự nhầm lẫn đáng tiếc cĩ thể xảy ra
1.9.4 Mối quan hệ trầm cảm với các rối loạn dạng cơ thể khác:
- Rối loạn dạng cơ thể ( Somatoform disorder ): Đây là một dạng rối loạn tâm thần đa dạng được biểu hiện chủ yếu bằng các triệu chứng cơ thể như ( Đau khắp người nhưng khám thực thể thì khơng phát hiện được bệnh gì cả )
+ Đây là rối loạn thể hiện bằng sự tái diễn các triệu chứng của một bệnh cơ thể nào đĩ cùng với những yêu cầu về khám và chữa bệnh mặc dù đã nhiều lần được kết luận là âm tính
→ Tĩm lại: Rối loạn TC chủ yếu – rối loạn lo âu – stress – rối loạn nhân cách,
là các rối loạn thường xuyên phối hợp với các rối loạn dạng cơ thể, cần phân biệt với rối loạn TC, khi cĩ nhiều triệu chứng cơ thể hay gặp nhất là đau đầu,
Trang 39rối loạn dạ dày- ruột hoặc ñau mà không thể giải thích ñược nguyên nhân, còn rối loạn dạng cơ thể có triệu chứng kéo dài, mạn tính thậm chí kéo dài suốt ñời, trong khi ñó trầm cảm chỉ có giới hạn trong một giai ñoạn TC nào ñó thôi
→ Rối loạn dạng cơ thể và rối loạn TC rất khó phân biệt với nhau
Kết luận cho mục 1.9: Rối loạn TC có mối quan hệ với tất cả các bệnh thuộc về sức khỏe tinh thần của cơ thể sống, có ảnh hưởng mạnh mẽ lên cuộc sống, hoạt ñộng, hành vi, thái ñộ của người mắc phải
và có hiệu quả
- Trong lịch sữ nghiên cứu về BTC có rất nhiều quan ñiểm, quan niệm khác nhau về tiến trình, nguyên nhân, triệu chứng… và những vấn ñề khác liên quan ñến bệnh, thế nhưng, mỗi nghiên cứu, mỗi nhà khoa học ñứng trên một quan ñiểm và lập trường khác nhau khi nhìn nhận về căn bệnh ñó Nhìn chung, dù ñứng trên góc ñộ nào nhìn nhận về bệnh nào, ở mỗi quan ñiểm, mỗi cách nhìn nhận ñều bao quát ñược tất cả những mặt, những khía cạnh, những vấn ñề của bệnh ñược biểu hiện trực tiếp trên BN
- Dựa trên việc phân tích lý thuyết các vấn ñề liên quan ñến TC, tôi nhận thấy, biểu hiện BTC trong các cách nhìn nhận khác nhau rất ña dạng, phong phú, và phức tạp rất khó phân biệt ñược các thể bệnh khác nhau ( TC có rất nhiều thể bệnh khác nhau ) nên tùy từng trường hợp cụ thể, tùy biểu hiện cụ
Trang 40thể trên mỗi bệnh nhân khác nhau mà NTL nên dựa theo, nhìn nhận một cách khác nhau để chẩn đốn đúng bệnh và cĩ biện pháp điều trị mang lại hiệu quả cao
CHƯƠNG II TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỰC