1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn

108 460 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 9,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhiều địa phương chính quyền và các cơ quan chuyên môn chưa có được một giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy, lôi kéo sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển t

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ SỸ TRUNG

Thái nguyên, năm 2014

Trang 2

Tôi xin cam đoan nghiên cứu này là của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Ma Thị Thêm

Trang 3

Tác giả

Ma Thị Thêm

Trang 4

MỤC LỤC

i

ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC HÌNH vi

vii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa nghiên cứu 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

4

5

1.2 Các nghiên cứu trên thế giới 7

1.2.1 Những nghiên cứu về quản lý rừng cộng đồng 7

1.2.2 M .9

1.3 Những nghiên cứu ở trong nước 12

12

1.3.2 Thực trạng quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam 13

1.3.3 Các loại hình quản lý rừng cộng đồng đang tồn tại ở trong nước 16

1.3.4 Những thực tiễn tốt của cộng đồng 18

1.3.5 Yêu cầu thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng 23

1.4 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 24

1.4.1 Đặc điểm tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên 24

24

1.4.1.2 Các nguồn tài nguyên 26

1.4.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 28

1.4.2.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 28

1.3.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 31

1.4.2.2 Nhận xét 33

Trang 5

1.4.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 34

1.4 34

35

CHƯƠNG II , NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

37

37

2.3 Nội dung nghiên cứu 37

phát triển rừng cộng đồng tại địa phương 37

phương 37

2.3.3 Đánh giá quản lý rừng cồng đồng tại khu vực nghiên cứu 37

2.3.4 Phân tích thành, quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn 38

2.4 Phương pháp nghiên cứu 38

38

2.4.2 Phương pháp kế thừa các số liệu thứ cấp 38

2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 39

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 40

2.4.5 Phương pháp chuyên gia 40

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ 41

hính sách của nhà nước liên quan đế ển rừng cộng đồng tại địa phương 41

tham gia quản lý, phát triển rừng cộng đồng 41

3.1.2 Chính sách hưởng lợi liên quan đến quản lý rừng cộng đồng 45

3.2 Thực trạng quản lý, bảo vệ và sử dụng rừng cộng đồng phương 48

48

3.2.1.1 48

ừ ồ 50

Trang 6

3.2.1.3 Tình hình quả ừng và đấ 52

54

54

3.2.2.2 Những biến đổi về diện tích và chất lượng rừ ạ 55

ản lý rừng cồng đồng tại khu vực nghiên cứu 57

57

61 3.3.3 Tác động của mô hình đến phát triển kinh tế - xã hội - môi trường 64

ậ ề xuất một số giải pháp hình thành, quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn 66

đồng tại tỉnh Bắc Kạn 66

3.4.2 Một số giải pháp hình thành, quản lý và sử dụng rừng cộng đồng 70

3.4.2.1 Các bước hình thành và quản lý rừng cộng đồng 70

74

3.4.2.2 Giải pháp kỹ thuật 76

3.4.2.3 Giải pháp chiến lược 79

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84

1 Kết luận 84

2 Tồn tại 86

3 Kiến nghị 86

1 Tài liệu trong nước 87

2 Tài liệu nước ngoài 89

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 2010 - 2013 29

Bảng 1.2: Dân số, mật độ dân số của tỉnh Bắc Kạn năm 2013 31

Bảng 1.3: Thành phần dân tộc, dân số 35

3.1: Khái quát chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn 44

Bảng 3.2: Diện tích và các loại rừng của tinh Bắc Kạn 49

Bảng 3.3: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp của cộng đồng và UBND 50

Bảng 3.4: Tình trạng quản lý rừng và đấ ịa bàn 53

ất rừ 54

Bảng 3.6: Kết quả phỏng vấ ừng cộng đồng 56

61

3.8: Các nguồn lợi từ rừng cộng đồng 63

Bảng 3.9: Ý kiến của người dân về ủ 65

Bả , quả ừng cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn 68

DANH MỤC HÌNH Hình 3.1: Chu trình quản lý rừng cộng đồng 58

Trang 8

PES: Chi trả dịch vụ môi trường

PFES: Chi trả dịch vụ môi trường rừng

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trong những năm qua, xu hướng nhận thức về vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã có nhiều thay đổi Khái niệm về rừng cộng đồng đã được nhìn nhận một cách rộng rãi và đang phát triển một cách nhanh chóng Theo đánh giá của Tổ chức nông lương thế giới thì khái niệm về quản lý rừng cộng đồng đã phát triển nhanh hơn tất cả các lĩnh vực quan tâm khác trong quản lý và phát triển tài nguyên rừng (Arnold, J 1992)[24] Thực tế

đã chỉ ra rằng trải qua nhiều thế hệ, những cộng đồng sống trong rừng, phụ thuộc vào các sản phẩm từ rừng đã đúc kết cho mình những kiến thức bản địa, những luật tục truyền thống trong quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên rừng xung quanh họ Những lễ hội truyền thống được tổ chức hàng năm của cộng đồng thể hiện lòng tin, tín ngưỡng của người dân đối với rừng, sự tôn trọng của họ với rừng, nơi đã cung cấp những nhu yếu phẩm cần thiết hàng ngày cũng như cuộc sống tâm linh của họ

Hơn hai thập kỷ qua Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong phát triển tài nguyên rừng Tuy nhiên, trên bình diện chung thì tỷ lệ che phủ rừng vẫn còn ở mức độ thấp Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy thoái rừng ở Việt Nam Trong đó việc người dân chưa được trực tiếp tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ rừng là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất nhiều địa phương chính quyền và các cơ quan chuyên môn chưa có được một giải pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy, lôi kéo sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Những kinh nghiệm bản địa, luật tục và thể chế truyền thống vẫn chưa được nhận diện, nhìn nhận

vận dụng, phát huy và lồng ghép một cách có hiệu quả với những thể chế và luật pháp của Nhà nước trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng

Trang 10

Bắc Kạn là tỉnh có nhiều tiềm năng về phát triển rừng cộng đồng, theo

số liệu thống kê thì Bắc Kạn có đến 24.479 ha đất rừng do cộng đồng quản

lý [11] Trong vài năm gần đây, xuất phát từ yêu cầu quản lý rừng, Bắc Kạn đã từng bước triển khai các hoạt động giao đất, giao rừng cho cộng đồng (bản làng, nhóm hộ) để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Tuy nhiên, đến nay diện tích rừng được giao cho cộng đồng mới chỉ 1.371,8 ha [2] Mặt khác, các mô hình quản lý rừng cộng đồng tại Bắc Kạn cũng còn gặp rất nhiều khó khăn thách thức như: Đòi hỏi sự chỉ đạo và vào cuộc của các ngành chức năng hay sự cần thiết của việc tìm ra phương thức quản lý hiệu quả, phù hợp với điều kiện địa phương để người dân có thể yên tâm sinh sống, bảo vệ

và phát triển bền vững những mô hình quản lý rừng này Xuất phát từ yêu cầu

trên đề tài “Nghiên cứu cơ sở n cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn” được thực hiện nhằm tìm ra một số giải pháp khắc

phục những khó khăn trong việc quản lý rừng cộng đồng tại Bắc Kạn

2 Mục đích nghiên cứu

Quản lý có hiệu quả và bền vững các khu rừng cộng đồng góp phần vào việc bảo vệ, phát triển nguồn tài nguyên rừng tại tỉnh Bắc Kạn

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích và đánh giá được các chính sách có liên quan đến quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn

- Đánh giá được kết quả quản lý rừng cộng đồng tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất được một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của quản lý rừng cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng

4 Ý nghĩa nghiên cứu

Đề tài là công trình nghiên cứu có tính hệ thống tiềm năng quả

ắc Kạn Các kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho việc đề xuấ

Trang 11

ản lý rừ , góp phần vào công tác quản

lý bền vững tài nguyên rừ ắc Kạ

khác có điều kiện tự nhiên và xã hội tương tự

- Giúp các nhà quản lý tại khu vực nghiên cứu tham khảo đề xuất chính sách quản lý phù hợp hơn

- Là tài liệu tham khảo trong quản lý rừng cộng đồng cho khu vực

Trang 12

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1

điểm, góc nhìn khác nhau:

giới hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn bản gần rừng gắn bó chặt chẽ với nhau qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời số - [1]

Theo (Lê Hồng Phúc, 2007) [9] “Cộng đồng là một tập hợp người với những đặc trưng về địa lý, chủng tộc, văn hoá, tín ngưỡng nghề nghiệp hoặc kinh tế xã hội tương tự Các cộng đồng có thể được định rõ tính chất bởi tính địa phương, chủng tộc, dân tộc, tuổi tác, nghề nghiệp, lợi ích hay thu nhập

trong những vấn đề đặc biệt hoặc là những ràng buộc chung khác”

Lâm nghiệp cộng đồng không chỉ giới hạn trong việc trồng cây rừng trang trại, khu nhà ở hay ven đường mà còn cả tập quán du canh, việc sử dụng, quản lý rừng tự nhiên và việc cung cấp các sản phẩm cây trồng từ nhiều nguồn khác nhau [1]

Theo FAO (2000) Lâm nghiệp cộng đồng cũng đề cập đến sự xác định nhu cầu của địa phương, tăng cường quản lý sử dụng cây cối để cải thiện mức sống của người dân theo một phương thức bền vững, đặc biệt là cho người nghèo [1]

Theo Arnold, J (1992) [29] đưa ra: Lâm nghiệp cộng đồng là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người dân nông thôn với trồng rừng cũng như các sản phẩm và lợi ích thu được từ rừng trồng và rừng tự nhiên

Trang 13

Một số người quan niệm: Lâm nghiệp cộng đồng được gọ

Wietsum (1994) nêu khái niệm [1]:

“Lâm nghiệm xã hội có thể được xem xét như là một chiến lược phát triển hoặc can thiệp của các Nhà lâm nghiệp và các tổ chức phát triển khác với mục đích khuyến khích sự tham gia tích cực của người dân địa phương vào các hoạt động quản lý rừng ở mức độ nhỏ khác nhau, như là một biện pháp nâng cao điều kiện sống của người dân địa phương”

Hay Simon (1994) đã nêu khái niệm [1]:

“Lâm nghiệm xã hội là một chiến lược mà nó tập trung vào giải quyết các vấn đề của người dân địa phương và duy trì môi trường của khu vực Vì vậy sản phẩm chính của lâm nghiệp không chỉ là gỗ đơn thuần mà lâm nghiệp

có thể trực tiếp sản xuất nhiều loại hàng hóa phụ thuộc vào nhu cầu của người dân trong khu vực bao gồm: Chất đốt, lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, nước, cảnh quan du lịch ”

Có khá nhiều các khái niệm về lâm nghiệp cộng đồng tuy nhiên có thể hiểu một cách khái quát như sau: LNCĐ là quá trình Nhà nước giao rừng và đất rừng cho cộng đồng để họ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đất rừng theo hướng bền vững nhằm góp phần cải thiện sinh kế của cộng đồng ngày một tốt hơn [1]

Khái niệm quản lý rừng cộng đồng lần đầu tiên được tổ chức FAO đưa

ra vào năm 1978 trong hội nghị lâm nghiệp thế giới đó là “tất cả các hoạt động lâm nghiệp mà cộng đồng người dân tham gia, bao gồm những hoạt động nhỏ lẻ ở các khu vườn, đến thu hái các sản phẩm lâm nghiệp cho nhu cầu cuộc sống của người dân và đến việc trồng cây ở các trang trại cây hàng

Trang 14

hoá, sản xuất chế biến các sản phẩm lâm nghiệp ở quy mô hộ gia đình, hợp tác xã để tăng thu nhập cho những cộng đồng sống trong rừng” Tổ chức Fern (2005) lại đưa ra một khái niệm cô đọng và đơn giản hơn đó là "tiến trình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng dựa vào những kiến thức bản địa, cấu trúc truyền thống, những lễ hội và luật tục của cộng đồng” Hoạt động quản

lý rừng cộng đồng bao gồm cả các hoạt động của cá nhân và cộng đồng liên quan đến rừng, đến quản lý, bảo vệ và phát triển rừng [1]

Thực ra, khó có một định nghĩa nào đầy đủ có thể phản ánh được thực

tế của việc quản lý rừng cộng đồng mà nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện

tự nhiên, kinh tế, xã hội ở mỗi nơi một khác nhau Từ đó các hình thức quản

lý rừng cộng đồng cũng trở nên rất khác nhau Ngoài ra, việc quản lý rừng cộng đồng không chỉ đóng khung trong các hoạt động của cộng đồng mà nó liên quan đến nhiều bên tham gia như các nhà lập định chính sách, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, các cơ quan tài trợ và các nhà khoa học Sự tham gia của các tổ chức này ít nhiều cũng có tác động đến tiến trình quản lý, bảo

vệ rừng cũng như điều kiện kinh tế, xã hội của các cộng đồng [1]

Mặc dù không có một định nghĩa hoàn toàn chính xác về quản lý rừng cộng đồng, nhưng không vì thế mà tiến trình của phát triển rừng cộng đồng trên thực tế lại giảm đi Các hoạt động quản lý rừng cộng đồng đã được người dân thực hiện hàng trăm năm trước đây, công bằng mà nói thì hoạt động quản

lý rừng cộng đồng đã được người dân thực hiện trước tất cả những khái niệm

về rừng cộng đồng được các nhà khoa học nhắc tới Hiệu quả về mặt sinh thái, xã hội của các khu rừng cộng đồng đã chỉ ra rằng quản lý rừng cộng đồng là một trong những hoạt động mang tính logíc và hiệu quả nhất trong việc tìm ra những nguyên lý, những chiến lược cơ bản về quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng [1]

Trang 15

1.2 Các nghiên cứu trên thế giới

1.2.1 Những nghiên cứu về quản lý rừng cộng đồng

uản lý rừng cộng đồ được nhận diện vào những năm đầu của thập kỷ 70, khi mà hạn hán ở châu Phi và lũ lụt ở

đã làm cho tài nguyên rừng bị suy giảm một cách nghiêm trọng Nhiên liệu và chất đốt cho các cộng đồng nông thôn trở nên ngày càng khó khăn Chính tại thời điểm này các kinh nghiệm về quản lý rừng cộng đồng ở n Độ (mô hình lâm nghiệp xã hội), Hàn Quốc (mô hình vườn cây cấp bản), Thái Lan (mô hình rừng cấp bản) và ở Tanzania (trồng rừng cấp bản) đã được các nhà khoa học trên thế giới đặc biệt chú ý và chúng được coi như là một giải pháp nhằm phát triển rừng và giải quyết vấn đề chất đốt ở nông thôn Đến những năm cuối thập kỷ 70 thì khái niệm về quản lý rừng cộng đồng đã được thừa nhận một cách rộng rãi trên toàn thế giới Năm 1978 đại hội thế giới về lâm nghiệp

đã lấy tiêu đề là “rừng cho cộng đồng” nhằm tôn vinh và thúc đẩy các hoạt động rừng cộng đồng Arnold, J (1992) [29][1]

Trong thập kỷ 80 các dự án phát triển rừng cộng đồng được mở rộng ra khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở n Độ và Nepal Tên gọi về rừng cộng đồng cũng có những thay đổi như “cùng quản lý rừng – Join Forest Management”; “lâm nghiệp xã hội – Social Forestry”, “quản lý rừng dựa vào cộng đồng – Community Based Forest Management” … Tuy nhiên về bản chất của các hoạt động quản lý rừng cộng đồng vẫn không thay đổi, đó là quá trình lấy người dân làm trung tâm trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Cuối những năm 80 và thập kỷ 90, các nhà khoa học tập trung nhiều hơn về nghiên cứu thể chế trong quản lý rừng cộng đồng, kể cả những thế chế truyền thống và thể chế của nhà nước, nhằm tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển rừng cộng đồng Trong giai đoạn này các khái niệm về quyền sở hữu được đưa ra để thảo luận một cách rộng rãi, bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tư

Trang 16

nhân, sở hữu cộng đồng và sử dụng tự do Đã có lúc khái niệm rừng cộng đồng bị phê phán một cách kịch liệt theo cách nhìn nhận của Hardin trong “Bi kịch của sở hữu chung” (1968) [30] cho rằng phương thức sở hữu cộng đồng

về rừng là đồng nghĩa với sử dụng tự do Đó là hình thức sử dụng mà mọi thành viên đều muốn lợi dụng của chung để tối đa hoá lợi ích cho mình, vì thế rừng bị khai thác một cách kiệt quệ [1]

Trái ngược với Hardin, Arnold, J (1978) lại cho rằng rừng cộng đồng mang lại hiệu quả lớn trong phát triển rừng và phát triển cộng đồng Ông nhấn mạnh rằng rừng cộng đồng phải là một hợp phần không thể thiếu trong phát triển nông thôn, mà mục tiêu chủ yếu là nhằm giúp đỡ những cộng đồng nghèo tự duy trì và phát triển cuộc sống của họ … Vì thế, rừng cho phát triển cộng đồng phải là rừng của người dân, cho người dân và phải có sự tham gia của người dân trong quản lý và phát triển Với cách nhìn như vậy thì Arnold

đã chỉ ra 3 mục tiêu cơ bản của rừng cộng đồng là (1) cung cấp nhiên liệu và những nhu yếu phẩm khác nhằm phục vụ cho những nhu cầu cơ bản của cộng đồng, (2) cung cấp bền vững nguồn lương thực và môi trường sống cho một quá trình sản xuất lương thực liên tục, và (3) tạo nguồn thu nhập, giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương [1]

Burda (1997) cũng đã nhìn nhận về quản lý rừng cộng đồng rằng [1]:

“Những người dân sống lâu ở trong rừng có những kiến thức đặc biệt

về sinh thái bản địa và những ảnh hưởng dài hạn về mặt xã hội, môi trường của rừng đến cuộc sống của họ Sự tập trung hoá trong hệ thống quản lý quan liêu thiếu đi sự linh động và khả năng thích ứng với những điều kiện thực tiễn của các địa phương khác nhau

Trong khi đó quản lý rừng cộng đồng giúp cho con người sống gần gũi hơn với thiên nhiên và từ đó lập ra những thiết chế, kế hoạch nhằm quản lý và

sử dụng rừng một cách hiệu quả hơn Quản lý rừng cộng đồng đã tạo ra một

Trang 17

hệ thống nhạy bén để nhanh chóng đưa ra những quyết định và hành động nhằm thích ứng với những thay đổi của điều kiện cụ thể Các quyết định này nhằm đáp ứng lợi ích của toàn thể cộng đồng, những người chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc đưa ra những quyết định đó”

Herb (1991:34) cũng đã đưa ra những lập luận nhằm ủng hộ quản lý

rừng cộng đồng rằng “quản lý rừng bởi cộng đồng tạo ra những cơ hội để tìm kiếm các giải pháp mà ở hệ thống tập trung quyền lực không có được Cộng đồng là nơi mà các hoạt động được thực tế diễn ra, và kế hoạch được xác lập hàng ngày Quá trình lập kế hoạch và hành động được lồng ghép một cách có trách nhiệm bởi vì chúng được thực hiện ở tại một nơi và bởi cùng một cộng đồng” [1]

Bất chấp những tranh luận thì rừng cộng đồng vẫn phát triển một cách

tự nhiên và nhanh chóng Rất nhiều nơi trên thế giới nó đã được chấp nhận rộng rãi và được xem như một chiến lược quan trọng trong quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng

1.2.2 M

Ở Nêpan, LNCĐ mới xuất hiện nổi bật là sự tham gia của người dân vào quản lý rừng Ngày nay LNCĐ trở thành nguồn thu nhập và cơ hội tạo việc làm, cải thiện đời sống của các cộng đồng nông thôn Với sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của nhiều tổ chức phi chính phủ và tổ chức tài trợ quốc tế, chương trình này đã được thực thi ở toàn quốc và phần lớn chương trình đã thành công trong giai đoạn này [1]

Ở Ấn Độ, hình thức “đồng quản lý rừng” đang được mở rộng nhanh chóng bởi cải cách thể chế trong chính sách về rừng đang được thực thi với dấu hiệu rõ nhất là phi tập trung hóa và dân chủ hóa quản lý nguồn tài nguyên

Trang 18

D’Silva (1997) tin rằng chương trình “đồng quản lý rừng” tuy còn ở giai đoạn đầu – giai đoạn chuyển việc bảo vệ rừng từ sự kiểm soát của Nhà nước sang việc kiểm soát của cộng đồng Ấn Độ đang thực hiện bước cải cách thể chế tổ chức mặc dù các vấn đề đặt ra cho việc cải cách thì còn xa mới đạt tới [1]

Ở Bănglađét, vấn đề xây dựng chiến lược, thể chế với sự trợ giúp của lâm nghiệp xã hội đã nổi lên từ những năm 1967 Sự phản ứng rất hạn chế của Chính phủ về xác định quyền sử dụng đất và tài nguyên thiên nhiên, cái chính

là không an toàn một cách phổ biến, đã làm suy yếu quản lý lâm nghiệp cộng đồng Những vấn đề pháp lý không tìm được câu trả lời như quyền chiếm hữu không chắc chắn và mâu thuẫn giữa tư nhân và sở hữu công về rừng, đất rừng, quyền quản lý đất đai theo truyền thống xảy ra bởi sự kiện những người sống về đất, những người thiếu đất và việc dân chủ hóa là nguyên nhân chính của việc phá hoại nguồn tài nguyên rừng và mất đa dạng sinh học Sự thiếu tin tưởng giữa người dân địa phương với cơ quan lâm nghiệp, thiếu chính sách minh bạch để thực thi quản lý xã hội và quản lý rừng có người dân tham gia cũng là nguyên nhân dẫn đến mất rừng [1]

Tại Srilanka, từ năm 1982 đến 1988 pha 1 của Dự án LNCĐ do ADB tài trợ cho Cục Lâm nghiệp Srilanka đã tạo cơ hội tiếp cận kinh nghiệm có người dân tham gia trong quản lý rừng Quá trình này được thực thi không đem lại lợi ích nào về kiến thức địa phương và sự phản ứng hạn chế tới nguồn tài nguyên địa phương, nhận biết nhu cầu và các ưu tiên Sự thiếu vắng tổ chức cộng đồng được ủy quyền để quyết định việc giao đất rừng cho trồng trọt và với một số lượng rất hạn chế của cán bộ Bộ Lâm nghiệp đã dẫn đến việc kiểm soát lỏng lẻo việc chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệp trong toàn quốc Năm 1995, Chính phủ Srilanka đã đưa ra một kế hoạch tổng quan lâm nghiệp mới, trong đó đề ra việc tăng độ che phủ rừng, tăng năng suất nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại và tương lai, nâng cao mức sống, kinh tế

Trang 19

của người dân địa phương cũng như toàn dân tộc Rừng thuộc sở hữu Nhà nước phải quản lý theo nguyên tắc bền vững về sinh thái Ngày nay các chương trình đồng quản lý rừng thông qua sự tham gia của người dân đang được thực thi [1]

Tại Philipin, việc chuyển đổi lâm nghiệp công đồng của Philipin có thể chia làm 3 giai đọan Giai đoạn đầu tiên là khai phá (1971-1980); giai đoạn thứ hai là củng cố và hợp nhất (1982-1989) và giai đoạn thứ 3 là mở rộng và thể chế hóa Trong giai đoạn khai phá về quản lý lâm nghiệp cộng đồng, trồng rừng và trồng cây công cộng là khuynh hướng chính của LNCĐ thông qua sự tham gia của người dân địa phương Việc hợp nhất chương trình LNXH và LNCĐ là chương trình chủ yếu trong giai đoạn thứ 2 và tăng trưởng rừng cộng đồng trong giai đoạn 3 Người dân trở thành đối tác, người quản lý và người chủ của các nguồn tài nguyên rừng Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng

là thông qua hợp đồng thuê quyền sử dụng bằng việc tăng cường bảo vệ, quả, phục hồi và phát triển rừng Các tổ chức của người dân đang làm việc trên diện tích này với quyền sử dụng an toàn trong 25 năm Quyền 25 năm với rừng tạo ra cơ hội để bảo vệ, quản lý và bán các sản phẩm rừng ở các rừng cộng đồng của họ [1]

Ở Thái lan, Wasi (1997) cho rằng lâm nghiệp cộng đồng là một nhân tố trợ giúp cho việc phát triển xã hội dân sự ở Thái Lan Các cộng đồng có đòi hỏi rất lớn được tham gia vào quản lý các nguồn tài nguyên địa phương của

họ do một diện tích rừng lớn đã bị mất bởi việc khai thác gỗ hợp pháp trong những thập kỷ trước đây Vandergeets (1996) nhận thấy rằng khai thác rừng ở Thái Lan đã bị cấm từ năm 1989, Cục Lâm nghiệp Hoàng gia Thái Lan đã chuyển các mục tiêu từ quản lý khai thác gỗ sang mở rộng bảo tồn rừng Quyền của các cộng đồng địa phương quản lý các nguồn tài nguyên của họ đã trở thành mục tiêu chính của nhiều tổ chức phi chính phủ và cơ quan nghiên

Trang 20

cứu Gỵmour và Fisher (1997) nhận xét rằng các họat động quản lý rừng cộng đồng có liên quan đến việc mở rộng trồng rừng trên diện tích đã mất rừng, ở mức độ nào đó khá hơn là việc phối hợp quản lý hoặc chuyển giao việc kiểm soát cho các cộng đồng [1]

1.3 Những nghiên cứu ở trong nước

Trang 21

+

1.3.2 Thực trạng quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam

cộng đồng được hình thành từ lâu đời và đang trở thành một phương thức quản lý rừng có hiệu quả được nhà nước quan tâm, khuyến khích phát triển Công tác giao rừng, giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng được thực hiện thí điểm tại các tỉnh Hòa Bình, Thừa Thiên Huế và Đắc Nông từ năm

2005 [8] Hiện nay mô hình này đang được nhân rộng và Bắc Kạn là một trong những địa phương đang từng bước thực hiện công tác này

Tính đến 31 tháng 12 năm 2007 [4] cả nước có 10.006 cộng đồng dân cư thôn, chủ yếu là các cộng đồng các đồng bào dân tộc ít người, đang quản lý và

sử dụng 2.792.946,3 ha rừng và đất trống đồi trọc (gọi chung là đất lâm nghiệp) để xây dựng và phát triển rừng, trong đó: 1.916.169,2 ha đất có rừng (chiếm 68,6%) và 876.777,1 ha đất trống đồi trọc (chiếm 31,4%) Diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý nêu trên chiếm 17,20% diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp trên toàn quốc (16,24 triệu ha); diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý chiếm 15% tổng diện tích rừng của

cả nước (12.873.815 ha)[8]

Trang 22

Trong diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý và sử dụng thì rừng tự nhiên chiếm tuyệt đai đa số lên đến 96%, rừng trồng chỉ chiếm có 4% Cộng đồng quản lý chủ yếu rừng phòng hộ, đặc dụng (71%), rừng sản

xuất chỉ chiếm 29%

Nếu xét về vùng địa lý, vùng Tây Bắc có tỷ lệ rừng cộng đồng cao nhất với 1.893.300,9 ha, chiếm 67,8% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng quản lý trên cả nước Tiếp đến là các vùng Đông Bắc 760.131,1 ha, vùng Tây Nguyên 62.422,3 ha và Bắc Trung Bộ 58.541,7 ha Các vùng còn lại diện tích đất lâm nghiệp giao cho cộng đồng chiếm một tỷ lệ nhỏ Một số tỉnh không có diện tích rừng và đất rừng giao cho cộng đồng quản lý bảo vệ [8] Qua việc giao rừng cho cộng đồng đã tạo công ăn việc làm cho người dân trong cộng đồng, phát huy được các luật tục tích cực tại địa phương Thông qua việc thực hiện các quy định bảo vệ rừng do người dân cùng nhau xây dựng lên Cả cộng đồng đoàn kết nhất trí trong việc quản lý bảo vệ rừng, hạn chế tình trạng khai thác rừng, phát rừng làm nương rẫy, săn bắn, bẫy bắt động vật hoang dã trong cộng đồng được hạn chế Rừng sinh trưởng, phát triển tốt hơn, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, duy trì nguồn nước, chống xói mòn sạt lở đất, giảm thiểu các thiệt hại do thiên tai gây ra Các khu rừng được cộng đồng bảo vệ theo tập quán, phong tục và truyền thống, như các khu rừng thiêng được bảo vệ nghiêm ngặt, không xảy ra tình trạng chặt phá, xâm lấn Mọi người trong cộng đồng tự giác nhắc nhở nhau cùng bảo vệ khu rừng khỏi sự tác động từ bên ngoài [8]

Cho đến nay chưa có đánh giá hiệu quả của quản lý rừng cộng đồng trên phạm vi cả nước nhưng căn cứ vào một số nghiên cứu ban đầu và ý kiến của các địa phương cho thấy[8]:

- Nhiều nơi rừng cộng đồng được bảo vệ và phát triển tốt Những nơi rừng được giao cho cộng đồng quản lý hầu như rừng không bị chặt phá Hiện

Trang 23

tượng phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép giảm hẳn Rừng sinh trưởng, phát triển tốt hơn

- Bước đầu rừng cộng đồng đã góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân, giúp họ có việc làm, tăng thêm thu nhập, đáp ứng nhu cầu lâm sản chung cho cộng đồng và một số thành viên trên cơ sở có sự đồng thuận của cả cộng đồng Như việc một bộ phận dân cư trong cộng đồng tham gia trực tiếp vào công tác tuần tra, bảo vệ, phát triển rừng được trả tiền công lao động, giúp họ có thể trang trải chi tiêu, giải quyết một phần khó khăn trong cuộc sống Cộng đồng dân cư có thể làm nông lâm kết hợp hoặc trồng các loài cây lâm sản xen với cây lâm nghiệp hoặc trồng dưới tán rừng giúp tăng thu nhập cho người làm nghề rừng Với rừng đã thành thục thì phần lớn các loại lâm sản ngoài gỗ và trong một số trường hợp thì các cây gỗ lớn thành thục sẽ được khai thác phục vụ cho nhu cầu của cộng đồng

- Tiết kiệm các chi phí cho nhà nước Hiện nay kinh phí cho quản lý rừng cộng đồng hầu như không có hoặc nếu có thì cũng rất ít nhưng rừng cộng đồng vẫn được bảo vệ tốt, hiệu quả cao hơn so với một số phương thức quản lý khác Có thể nói đây là một trong những mô hình quản lý bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả

- Góp phần khôi phục truyền thống văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của cộng đồng Thông qua việc quản lý rừng cộng đồng, có sự giúp đỡ và hướng dẫn của các cơ quan chức năng, các tổ chức đã góp phần thúc đẩy việc xây dựng và thực hiện quy chế quản lý bảo vệ rừng ở cộng đồng, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, khôi phục truyền thống văn hóa tốt đẹp cũng như các hương ước, quy định tiến bộ của cộng đồng

Trang 24

1.3.3 Các loại hình quản lý rừng cộng đồng đang tồn tại ở trong nước

Ở Việt Nam cả trên phương diện về lý thuyết và thực tế thì các hoạt động quản lý rừng cộng đồng đã và đang được công nhận Luật quản lý, bảo

vệ và phát triển rừng năm 2004 đã xác nhận quyền sở hữu của cộng đồng đối với rừng và từ đó đã có những quy định về giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản ở các vùng cao, đặc biệt là các vùng dân tộc thiểu số đều có các hoạt động quản lý rừng cộng đồng thông qua các khu “rừng thiêng”, “rừng ma”, “rừng nhóm hộ” Các khu rừng này được người dân quản lý, bảo vệ một cách khá chặt chẽ và có hiệu quả Có 4 loại hình quản lý rừng cộng đồng được nhận dạng ở Việt Nam bao gồm [28]:

Rừng truyền thống (cộng đồng tự công nhận)

Đây là loại hình rừng cộng đồng được xây dựng dựa trên niềm tin, tín ngưỡng của người dân vào rừng Loại hình rừng này đã được hình thành từ lâu đời và trải qua nhiều thế hệ Về mặt pháp lý, loại hình rừng này chưa có quyền sử dụng đất và sở hữu tài nguyên rừng cũng chưa được xác lập Tuy nhiên, trong tiềm thức của cộng đồng thì họ vẫn coi đây là rừng của họ Chính

vì vậy rừng được quản lý rất chặt chẽ và nghiêm túc thông qua các luật tục, quy định truyền thống của cộng đồng Phần lớn cộng đồng quản lý, bảo vệ rừng không vì mục đích kinh tế mà chủ yếu là vì mục đích tín ngưỡng và sinh tồn (Nguyễn Xuân Quát, 2004) Tuỳ từng vùng sinh thái, cộng đồng dân tộc

mà loại hình rừng cộng đồng này có tên gọi khác nhau như: rừng đầu nguồn, rừng mó nước, rừng bến nước, rừng ma, rừng thiêng, rừng thổ công đình chùa, rừng dòng họ …

Rừng thôn bản

Về mặt xuất xứ, những khu rừng này tiền thân là những rừng làng, rừng bản, được thành lập từ trước khi có Luật bảo vệ và phát triển rừng Đây phần lớn là những khu rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng và rừng tái sinh

Trang 25

phục hồi Những khu rừng này được hình thành chủ yếu dựa trên những nhu cầu thực tế của người dân địa phương như bảo vệ nguồn nước cho sinh hoạt, tưới tiêu, nhu cầu về củi đun, thức ăn và các sản phẩm phụ thu hái ở trong rừng

Kể từ khi có luật bảo vệ và phát triển rừng, và đặc biệt sau khi có sự đầu tư của

dự án 327 và 661 thì các khu rừng này thuộc quyền sở hữu của nhà nước và được giao khoán cho cộng đồng quản lý, bảo vệ theo nghị định 01/CP, hoặc nghị định 178/CP

Về hình thức tổ chức quản lý, thông thường loại hình rừng này có ban quản lý rừng cấp thôn bản (hoặc là tổ bảo vệ) Khi chưa có sự đầu tư của nhà nước thì người dân trong thôn bản tự đóng góp tiền hoặc lương thực để hỗ trợ cho tổ bảo vệ này Khi có sự đầu tư của nhà nước thì kinh phí cho tổ bảo vệ được trích từ khoản ngân sách mà nhà nước đầu tư

Rừng nhóm hộ

Đây là loại hình rừng được thành lập dựa trên sự liên kết của các hộ gia đình, phần lớn là những khu rừng sản xuất Các hộ gia đình được nhà nước giao (hoặc khoán) rừng theo nghị định 01, 163, hoặc 178 nhưng do diện tích nhỏ lẻ và thiếu nhân công vệ nên các hộ gia đình có xu hướng liên kết lại với nhau để thuận tiện hơn trong quá trình trình chăm sóc, bảo vệ và kinh doanh rừng Cũng có những nơi (như ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh) các hộ gia đình liên kết với nhau và thành lập hợp tác xã lâm nghiệp để quản lý, bảo vệ Đây cũng là bước đi sáng tạo của người dân trong quản lý, phát triển và kinh doanh rừng

Rừng cộng đồng được xã giao

Loại hình rừng này thực chất là rừng của nhà nước, được thực hiện theo quy định của nghị định 245/CP về phân cấp quản lý rừng Đây chủ yếu là những phần rừng đã hết thời hạn đầu tư của dự án 327 và 661 nhưng chưa giao lại được cho người dân theo nghị định 178 hay 163 Lý do có thể do trữ

Trang 26

lượng và chất lượng rừng quá thấp, hoặc do những khu rừng này ở những nơi quá xa xôi, hẻo lánh, điều kiện quản lý, bảo vệ gặp nhiều khó khăn Hoặc cũng có thể là do chính quyền và các ban ngành chưa hoàn toàn tin tưởng vào khả năng của người dân trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng So với 3 loại hình rừng cộng đồng ở trên thì loại hình rừng này hiện đang gặp nhiều khó khăn trong quản lý, bảo vệ vì cơ chế quản lý của nó chưa thật sự rõ ràng

1.3.4 Những thực tiễn tốt của cộng đồng

+ Quy hoạch sử dụng đất

Phương pháp quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân được giới thiệu ở Việt Nam từ giữa thập kỷ 90 Các công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) được sử dụng để người dân quy hoạch như đắp sa bản, khảo sát tuyến, điều tra điểm, phỏng vấn Nhiều dự

án Quốc tế tại Việt Nam như: Dự án Quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân tại Quảng Ninh của FAO/Italy, Dự án Phát triển Lâm nghiệp xã hội Sông Đà của GTZ/CHLB Đức và nhiều dự án của các tổ chức khác như KFW, SNV, ADB FSP, ADB/PPTA 3818 đó thử nghiệm phương pháp quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân [20]

Bản quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cấp xã tỉ lệ 1:10.000 được người dân cùng tham gia xây dựng phải phân định rõ trên thực địa và trên bản

đồ 3 loại rừng: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất; phân định rõ đối tượng đất và rừng để giao cho các chủ thể được nhận đất và rừng, rừng đó

có rừng được quy hoạch là rừng cộng đồng và sẽ được giao hoặc hợp đồng sử dụng cho cộng đồng [20]

+Giao đất giao rừng (GĐGR) cho cộng đồng

GĐGR cho cộng đồng được thực hiện dựa trên 2 cơ sở quan trọng, đó

là bản quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch quản lý rừng cộng đồng Phương pháp GĐGR có sự tham gia của người dân được áp dụng Ví dụ, từ 2001 đến

Trang 27

2003, tỉnh Sơn La tiến hành giao đất lâm nghiệp trên địa bàn của 170 xã với kết quả như sau: giao 140.468 ha cho 48.684 hộ; 367.060ha cho 2.021 cộng đồng dân cư thôn; 31.014ha cho 4.168 nhóm hộ; 120.374 ha cho 1.742 tổ chức Như vậy, 4 đối tượng nói trên được GĐGR lâu dài, được cấp sổ đỏ và được quyền hưởng lợi Kết quả cũng cho thấy ngoài hộ gia đình, các đối tượng trên đều thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng và phát triển rừng Không có bất cứ biểu hiện nào cho thấy cộng đồng, nhóm hộ yếu kộm rừng việc quản lý rừng như nhiều người cũng nghi ngờ về tính pháp

lý, khả năng của cộng đồng và nhóm hộ trong quản lý rừng Thậm chí ở nhiều nơi, rừng do cộng đồng quản lý cũng được khôi phục và bảo vệ tốt hơn rừng của hộ gia đình như tại bản Nà Ngà của xã Chiềng Hặc, tỉnh Sơn La [20]

và quyền hưởng lợi; Lập kế hoạch thực hiện, giám sát và đánh giá [20]

Nhiều kinh nghiệm hay về lập kế hoạch quản lý rừng đó được triển khai ở Việt Nam như: Dự án PAM 5233, từ 1995 đến 1997 đó tiến hành hỗ trợ 52.000 hộ gia đình lập kế hoạch quản lý rừng cấp hộ làm cơ sở cho đầu tư trồng rừng 52.000 ha rừng PAM, bình quân mỗi hộ lập kế hoạch và thực hiện

1 ha rừng; Chương trình Phát triển Nông thôn Miền Núi (MRDP) Việt Nam - Thụy Điển trong giai đoạn 1997-2001 đó lập kế hoạch quản lý rừng của 300 thôn bản ở 5 tỉnh miền núi phía Bắc Dự án Phát triển Lâm nghiệp xã hội Sông Đà đó xây dựng quy trình lập kế hoạch phát triển thôn bản (VDP) và Dự

án Phát triển Nông thôn Sơn La – Lai Châu của EU thực hiện lập kế hoạch

Trang 28

quản lý rừng cộng đồng đều cho thấy việc lập kế hoạch quản lý rừng ở cấp làng bản, nhóm hộ và hộ gia đình phải được thực hiện ngay sau khi quy hoạch

sử dụng đất để làm cơ sở cho giao đất giao rừng [20]

+ Cộng đồng tổ chức quản lý rừng

Kinh nghiệm về cộng đồng tổ chức quản lý rừng rất đa dạng và phong phú Mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc có những kinh nghiệm riêng, phù hợp với truyền thống, văn hoá của cộng đồng Sau đây là một số thực tiễn tốt [20]:

đó, chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý lâm nghiệp đó thừa nhận quyền quản lý, sử dụng các diện tích rừng này của cộng đồng

- Cộng đồng quản lý rừng theo Nhóm đồng sử dụng:

Tại xã Chiềng Hặc, huyện Sơn Châu, tỉnh Sơn La mô hình nhóm hộ đồng sử dụng rừng của người Thái được hình thành UBND huyện giao đất giao rừng cho nhóm hộ đồng sử dụng bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (bìa đỏ), có sổ mục kê ghi thửa rừng của các hộ gia đình đồng

sử dụng Đồng sử dụng ở đây được hiểu là: Rừng thửa rừng giao cho nhóm

hộ, mỗi hộ có quyền quản lý, sử dụng, đầu tư và khai thác như nhau, cùng chịu trách nhiệm trong việc gây ra cháy rừng, giám sát các thành viên trong

Trang 29

hộ Mỗi hộ có quyền nhận một diện tích đều nhau để sản xuất nông lâm kết hợp hoặc thu hồi củi, lâm sản phụ và có trách nhiệm bảo vệ rừng Sản phẩm khai thác chính, khai thác Trung gian và tỉa thưa được chia đều cho các hộ gia đình Việc thừa kế, chuyển nhượng của mỗi hộ gia đình phải được nhóm đồng ý

- Cộng đồng quản lý rừng bằng tự xây dựng cơ chế hưởng lợi theo lượng tăng trưởng và “Tạm ứng gỗ”:

Tại thôn Thuỷ Sơn Thượng, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, cộng đồng người kinh nhận 404,5 ha rừng phòng hộ xung yếu Được sự hỗ trợ của Hạt Kiểm lâm Phú Lộc, người dân tiến hành đánh giá rừng bằng phương pháp đơn giản cho thấy rừng có trữ lượng Trung bình 75,5 m3

/ha, tổng trữ lượng 31.829m3, lượng tăng trưởng bình quân: 1,5 m3/ha/năm, tổng lượng tăng trưởng toàn khu rừng: 606 m3/năm, mật độ cây tái sinh bình quân: 3000 cây/ha Cơ chế hưởng lợi được xây dựng dựa vào lượng tăng trưởng của rừng như sau:

Nếu lượng tăng trưởng của rừng 2%/năm, tương đương 1,5m3/ha/năm thực thôn được quyền hưởng 50% lượng gỗ tăng trưởng của rừng

Nếu lượng tăng trưởng > 1m3/ha/năm, thôn được hưởng 30%

Nếu lượng tăng trưởng > 0,5 m3/ha/năm, thôn được hưởng 20%

Nếu lượng tăng trưởng 0,5 m3/ha/năm, thôn được hưởng 10%

Nếu không tăng trưởng thôn không được hưởng và thu hồi lại rừng

Để giải quyết nhu cầu gỗ trước mắt, cộng đồng xây dựng phương án

“Tạm ứng gỗ” Rừng 10 năm đầu tiên, thôn được tạm ứng khai thác tối đa

50m3 gỗ/năm theo phương thức chặt chọn tỉ mỉ để giải quyết những nhu cầu thiết yếu cho cộng đồng Sau 3 năm nhận rừng tự nhiên, rừng được bảo vệ và phát triển tốt, thôn Thuỷ Sơn Thượng đó có hưởng lợi từ rừng tự nhiên Năm

2002 và 2003, UBND tỉnh đó cho phép thôn khai thác 92 m3 tạm ứng Đây là

Trang 30

thành quả đầu tiên về áp dụng cơ chế hưởng lợi dựa trên lượng tăng trưởng

của rừng và “Tạm ứng gỗ”

+ Đào tạo và phổ cập trong lâm nghiệp cộng đồng

Dự án Hỗ trợ Đào tạo và Phổ cập Vùng cao (ETSP) của tổ chức Helvetas (Thụy Sĩ) tại Việt Nam đang triển khai chu trình đào tạo Tập huấn viên (TOT) cho 3 tỉnh Đắc Nông, Thừa Thiên Huế và Hoà Bình Đến nay, 2 trong 3 modul đào tạo đó thực hiện thành công Những người tham gia ở các tỉnh, thông qua các mô hình thí điểm về quản lý rừng cộng đồng để thực hiện chu trình đào tạo

cả về lý thuyết và thực tiễn trên hiện trường TOT đó góp phần đảm bảo tính bền vững của quản lý rừng cộng đồng mà thông qua đó quy trình kỹ thuật, cơ chế hưởng lợi từ rừng đó được cộng đồng đánh giá, thử nghiệm [20]

+ Nguyên lý phát triển quản lý rừng cộng đồ [6]:

(1) Quy cách đề xuất quyết định và tính chất hội viên được ấn định rõ ràng kể cả quyền chuyển cho các thế hệ mới

(2) Quy tắc đề ra mạch lạc, tạo khả năng dự kiến, được ảnh hưởng của chúng

(3) Quy tắc kiểm tra và thực thi quyền lợi, xác định rõ với các đơn vị tham gia như hộ gia đình, nhóm hộ, dòng tộc

(4) Chương trình hoạt động dài và ngắn hạn được thoả thuận

(5) Quyết định rõ ràng về quy tắc, mục tiêu và giải quyết tranh chấp,

kể cả việc làm thế nào để đạt được sự tuân thủ và giải quyết được tranh chấp trong nội bộ và bên ngoài nhóm

(6) Các mối tương quan qua lại quy định giữa tài nguyên chung, thành viên của nhóm, thành viên và người ngoài

(7) Khả năng đề ra các điều chỉnh tích cực để đáp ứng những điều kiện

thay đổi

Trang 31

Kinh nghiệm hay ở đây là để khắc phục tính phức tạp về tiến trình quản

lý rừng cộng đồng, khó khăn trong việc thu hút các bên liên quan và cộng đồng phải cùng tham gia xây dựng một khung quản lý đơn giản, tiến trình thực hiện dễ dàng, quy chế và trách nhiệm rõ ràng để cộng đồng có khả năng

tự thực hiện, giám sát và nhân rộng Mặt khác cần phải có sự đối thoại giữa cộng đồng với cán bộ ra chính sách ở các cấp địa phương và Trung Ương để cùng tìm ra các giải pháp cùng cam kết thực hiện

1.3.5 Yêu cầu thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng

Quan điểm trong quản lý rừng cộng đồng là việc bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên rừng chính là để nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư thôn, bản Khái niệm bền vững ở đây được hiểu là, bên cạnh công tác quản lý bảo vệ đa dạng sinh học tại diện tích rừng cộng đồng quản lý một cách có hiệu quả, thì các nhu cầu tối thiểu (gỗ, củi, văn hóa, tín ngưỡng) của cộng đồng cũng phải được tôn trọng ngang bằng Công tác bảo vệ rừng cần phải được tiến hành đồng thời với sự phát triển kinh tế- xã hội và góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư thôn bản trên địa bàn Vừa bảo vệ được tài nguyên rừng vừa giải quyết vấn đề không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng Bảo vệ tài nguyên rừng nếu không có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn, bản thì không thành công Vì vây, việc đề xuất các giải pháp để nâng cao trách nhiệm và quyền hưởng lợi của cộng đồng dân

cư thôn, bản trong công tác bảo vệ, phát triển rừng là rất cần thiết Hoạt động bảo vệ rừng chỉ đạt được hiệu quả cao khi đi kèm theo nó là các biện pháp khuyến khích, thu hút sự tham gia tích cực và chính sách hỗ trợ kinh tế- xã hội đối với cộng đồng dân cư thôn, bản

Cần có chiến lược quản lý rừng cộng đồng nhằm:

Trang 32

- Nâng cao vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của cộng đồng trong quản lý bảo vệ rừng, phát huy những luật tục, phong tục, tập quán tích cực của cộng đồng trong quản lý rừng bền vững

- Tăng cường các giải pháp về chính sách hỗ trợ về kinh tế - xã hội để khuyến khích người dân tham gia, trong đó chú trọng phát triển đào tạo nghề, tập huấn cho cộng đồng để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng

- Xây dựng hệ thống tuần tra bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng ở trên từng địa bàn cơ sở với sự tham gia tích cực của người dân Quản lý bảo

vệ rừng cộng đồng, giao rừng và đất lâm nghiệp cho cộng đồng quản lý là chủ trương đúng, cần thiết, mang lại hiệu quả cao Nhất là ở các vùng sâu, vùng

xa, giao thông khó khăn, nơi mà ý thức pháp luật và khả năng thực thi pháp luật của người dân chưa cao

Nhìn chung quản lý rừng cộng đồng là một vấn đề tổng hợp và phụ thuộc vào nhiều khuôn khổ thể chế, chính sách của từng quốc gia, của từng địa phương và đặc thù, điều kiện của từng cộng đồng cụ thể Không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiên việc chia

sẻ kinh nghiệm, các bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực

là việc làm rất cần thiết giúp hoàn thiện chính sách và thể chế lâm nghiệp đối với một phương thức quản lý còn khá mới mẻ

1.4 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

1.4.1 Đặc điểm tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên

1.4

* Vị trí địa lí

Bắc Kạn là tỉnh thuộc vùng núi Đông Bắc, nằm trong khoảng tọa độ địa

lý từ 21048’22’’ đến 22044’17’’ vĩ độ Bắc và từ 105025’08’’ đến 106024’47’’kinh độ Đông

Trang 33

Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng

Phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên

Phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn

Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang

Hiện nay tỉnh Bắc Kạn có 7 huyện và 1 thị xã với tổng diện tích tự nhiên

là 485.941 ha, chiếm 4,7% diện tích vùng Đông Bắc và 1,45% diện tích cả nước

Là tỉnh có địa hình núi cao, có vị trí rất quan trọng trong chiến lược an ninh - quốc phòng, có nhiều nét tương đồng với các tỉnh xung quanh về địa hình, tài nguyên và con người tuy nhiên do nằm sâu trong nội địa nên gặp nhiều khó khăn trong việc trao đổi hàng hoá với các trung tâm kinh tế lớn cũng như các cảng biển Mạng lưới giao thông chủ yếu trong tỉnh chỉ là đường bộ nhưng chất lượng đường lại kém Chính vị trí địa lý cũng như những khó khăn về địa hình đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh

tế - xã hội của toàn tỉnh

* Địa hình, địa mạo

Bắc Kạn là tỉnh thuộc vùng cao, địa hình khá phức tạp và khá đặc biệt,

độ cao, độ dốc lớn, lại là đầu nguồn của nhiều hệ thống sông nên tập trung dòng chảy về mùa mưa rất nhanh do vậy việc bảo vệ rừng đầu nguồn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sản xuất và đời sống nhân dân trong tỉnh nói riêng và cả vùng hạ lưu nói chung

* Khí hậu

Tỉnh Bắc Kạn nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh, mưa ít; mùa hè nóng, mưa nhiều Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4, kết thúc vào tháng 10 dương lịch, mùa khô bắt đầu từ tháng 11, kết thúc vào tháng 3 năm sau

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 - 240C, cao nhất là 28,40C, thấp nhất

là 17,20C Tổng tích ôn trung bình năm là 7.500 - 8.0000C Tổng số giờ nắng

Trang 34

bình quân năm khoảng 1.557,2 giờ phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mùa hè có số giờ nắng nhiều (dao động từ 117,3 đến 241,0 giờ/tháng), mùa đông có số giờ nắng thấp (dao động từ 68,7 đến 97,0 giờ/tháng)

* Thuỷ văn

Tỉnh Bắc Kạn có các hệ thống sông suối gồm: sông Cầu, sông Bắc Giang, sông Năng, sông Gâm, Phó Đáy và sông Yến Lạc, các sông suối có đặc điểm chung là lòng nhỏ và dốc, nên tốc độ dòng chảy lớn, nhất là trong mùa mưa lũ

Do ảnh hưởng của địa hình và cấu tạo địa chất đã chi phối mạng lưới sông suối trong tỉnh Phần lớn đồi núi bò sát thềm sông, thềm suối đã khống chế quá trình bồi tụ phù sa Chính vì vậy trong tỉnh Bắc Kạn không có những cánh đồng phù sa rộng lớn, mà chỉ có những dải đất bồi tụ phù sa nhỏ hẹp và rải rác theo triền sông, triền suối Mặt khác, do ảnh hưởng của tốc độ dòng chảy xiết cho nên trong đất phù sa bồi tụ có nhiều hạt thô hơn so với vùng hạ lưu

Trong mùa mưa, nước chảy dồn từ các sườn núi xuống các thung lũng hẹp, nước sông suối lên rất nhanh gây lũ, ngập lụt ở những vùng đất thấp Ngược lại về mùa khô nước sông xuống thấp, dòng chảy trong các tháng kiệt rất nhỏ Sự phân bố dòng chảy đối với các sông suối ở Bắc Kạn theo mùa rõ rệt Hầu hết các sông, suối ở tỉnh Bắc Kạn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của mưa lũ

1.4.1.2 Các nguồn tài nguyên

* Tài nguyên đất

Nhìn chung chất lượng đất tỉnh Bắc Kạn khá tốt, nhiều nơi tầng đất dày, đất đồi núi có lượng mùn cao Đã được khai thác đất ruộng cho sản xuất nông nghiệp trồng cây lương thực, cây công nghiệp và cây ăn quả và lâm nghiệp Tuy nhiên do việc khai thác chặt phá rừng, khai thác khoáng sản bừa bãi, do một bộ phận dân cư sống du canh, du cư… thảm thực vật bị phá huỷ

Trang 35

kéo dài để lại hơn 4,5 vạn ha đất đồi núi đất không có rừng cây ở các huyện Pác Nặm, Chợ Đồn, Na Rì, Ngân Sơn… đất bị thoái hoá, xói mòn, nghèo dinh dưỡng, khô cằn không dễ khắc phục trong một thời gian ngắn

* Tài nguyên rừng

Đến nay, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có 288,15 nghìn ha đất có rừng, trong đó có 151,46 ngàn ha rừng gỗ (5,69 ngàn ha rừng trung bình; 32,42 ngàn ha rừng nghèo; 113,28 ngàn ha rừng phục hồi); 7,82 ngàn ha rừng tre nứa; 31,5 ngàn ha rừng hỗn giao và 59,11 ngàn ha rừng trồng (chỉ có khoảng 24,96 ngàn ha rừng có trữ lượng)

Tài nguyên rừng của Bắc Kạn khá đa dạng và phong phú với 148 họ,

537 chi, 826 loài trong đó có trên 300 loài cây họ gỗ, trên 300 loài cây thuốc, ngoài ra còn có loài cho sợi, dầu nhựa, hoa cảnh,… Hiện nay có 52 loài được ghi vào sách đỏ Việt Nam như đinh, ngũ gia bì gai, trai lý, nghiến, trò đãi, trầm hương, cầu điệp,…

Trữ lượng lâm sản còn gần 6,0 triệu m3

gỗ, 150 triệu cây tre nứa Trong

đó trữ lượng gỗ của rừng tự nhiên là hơn 4,5 triệu m3, được phân bố ở các đai cao trên 700 m, độ dốc lớn điều kiện khai thác có nhiều khó khăn Trữ lượng tre nứa rừng thuần loại gần 40%, rừng hỗn giao 60% Tiềm năng khai thác tre, nứa những năm trước mắt tập trung ở hơn 9.000 ha rừng thuần có độ cao dưới

700 m, độ dốc dưới 350

Nằm ở giữa hai khu hệ động vật Đông Bắc và Tây Bắc với sự đa dạng của địa hình, địa chất, sinh cảnh đã tạo cho Bắc Kạn có sự phong phú và đa dạng của hệ động vật Theo kết quả điều tra, động vật ở Bắc Kạn có 366 loài,

110 họ thuộc 34 bộ tập trung nhiều ở các khu núi đá Kim Hỷ (huyện Na Rì), Cao Sơn (huyện Bạch Thông), Bản Thi (huyện Chợ Đồn) và khu hồ Ba Bể Hiện có 64 loài được ghi vào sách đỏ Việt Nam, đặc biệt có 10 loài đặc hữu

Trang 36

của Việt Nam Khu hệ động vật Bắc Kạn có giá trị cao về nhiều mặt, đặc biệt

có giá trị trong bảo tồn gen của các loài đặc biệt quý hiếm như: voọc mũi hếch, hươu xạ, lửng chó, chuột chũi, cày vằn bắc, hoẵng mũi đen, sóc chuột,…

Tóm lại, rừng Bắc Kạn là một tài nguyên quý, phong phú và đa dạng, ngoài khả năng cung cấp gỗ và các loại lâm sản, đây còn là một trong những trung tâm bảo tồn gen động, thực vật quý hiếm của Việt Nam

* Tài nguyên khoáng sản

Do đặc điểm tỉnh Bắc Kạn nằm trong 2 kiểu kiến trúc địa chất có chế

độ địa động khác nhau đã tạo cho tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng, phong phú rất đặc trưng như: Tài nguyên vàng, chỉ kẽm, Antimon,thiếc, sắt – sắt mangan, gạch sét ngói, đá quý,…

Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản của tỉnh rất đa dạng và phong phú, thuận lợi cho tỉnh phát triển một số ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp khai khoáng, sản xuất nguyên vật liệu xây dựng làm tiền đề cho

xây dựng và phát triển nông thôn

Tuy nhiên trong điều kiện khai thác khó khăn, trong tương lai cần có sự

hỗ trợ rất lớn của các ngành Trung ương, của Nhà nước, tài nguyên khoáng sản của tỉnh mới trở thành sản phẩm hàng hoá có giá trị

( o Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tỉnh Bắc Kạn)

1.4.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội

1.4.2.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tổng GDP của tỉnh (theo giá so sánh năm 1994) đã tăng từ 736,17 tỷ đồng năm 2010 lên 1.300,68 tỷ đồng năm 2013, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 12,06%, trong đó:

- Khu vực kinh tế nông nghiệp tăng 7,05%;

- Khu vực kinh tế công nghiệp tăng 14,61%;

Trang 37

- Khu vực kinh tế dịch vụ tăng 16,75%

Kết quả của sự tăng trưởng kinh tế đã góp phần quan trọng để củng cố, tăng cường cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống dân sinh, giữ vững ổn định tình hình xã hội của tỉnh, tuy nhiên mức tăng trưởng kinh tế chưa thực ổn định, nền kinh tế vẫn dựa nhiều vào sản xuất nông, lâm nghiệp

Bảng 1.1: Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 2010 - 2013

STT Chỉ tiêu

Năm 2010 Năm 2013 Tốc độ tăng

trưởng Giá trị (tỷ

đồng)

Cơ cấu (%)

Giá trị (tỷ đồng)

Cơ cấu (%) 2010 - 2013

(Nguồn: Niên giám thống kê các năm 2010 và năm 2013 của tỉnh)

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ trọng khu vực kinh tế nông nghiệp giảm từ 47,7% năm 2010 xuống còn 38,01% năm 2013, tỷ trọng khu vực kinh tế công nghiệp tăng từ 19,67% năm 2010 lên 22,02% năm 2013; dịch vụ tăng từ 32,56% năm 2010 lên 39,97% năm 2013

Trong những năm qua, thu ngân sách trên địa bàn liên tục tăng nhanh

Trang 38

qua các năm, tăng từ 1.524,75 tỷ đồng năm 2010 và đến năm 2013 đạt 4.165,02 tỷ đồng (gấp 2,73 lần) Tuy nhiên nguồn thu ngân sách hàng năm trên địa bàn tỉnh chủ yếu là từ sự hỗ trợ của Trung ương (chiếm 89,09%), nguồn thu khác (chiếm 4,85%) Đồng thời trong năm 2010 tỉnh cũng đã chi ngân sách 2.270,25 tỷ đồng, trong đó chi cho đầu từ phát triển 497,68 tỷ đồng; chi cho sự nghiệp xã hội 713,51 tỷ đồng

Cùng với việc tăng nhanh về thu ngân sách, nguồn vốn đầu tư cho phát triển tăng bình quân 27 - 28%/năm với tổng nguồn vốn khoảng 5.000 tỷ đồng Đặc biệt là đã tiếp cận được một số nguồn vốn lớn có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như vốn vay IFAD 21 triệu USD, vốn vay Quỹ KUWAIT 30 triệu USD, vốn JBIC, vốn vay WB, ADB, UNDP,…

Tuy đã đạt được những kết quả nhất định nhưng nền kinh tế của tỉnh còn những hạn chế, yếu kém Trong thời kỳ 2010 - 2013 nhiều chỉ tiêu kinh tế

- xã hội chưa đạt mục tiêu kế hoạch đề ra, nguyên nhân do:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh và chưa đạt mục tiêu kế hoạch đề ra Ngành công nghiệp tăng trưởng rất không

ổn định và phụ thuộc lớn vào ngành công nghiệp khai thác, tỷ trọng công nghiệp chế biến còn thấp trong cơ cấu nội ngành công nghiệp

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và mất cân đối: tỷ trọng khu vực kinh tế nông nghiệp trong cơ cấu có giảm trong 2 năm đầu nhưng lại tăng trong 2 năm tiếp theo và vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo; tỷ trọng khu vực kinh tế công nghiệp giảm, khu vực kinh tế dịch vụ tương đối ổn định

- Xuất nhập khẩu còn nhiều khó khăn nhất là hoạt động xuất khẩu chưa thực sự ổn định và đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của tỉnh Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh hàng năm giảm 11%/năm

Trang 39

1.3.2.2 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

* Dân số

Theo số liệu thống kê, 2013 dân số của tỉnh Bắc Kạn có 296.500 người, trong đó khu vực thành thị có 47.838 người, chiếm 16,13%; khu vực nông thôn có 248.662 người, chiếm 83,87%

Bảng 1.2: Dân số, mật độ dân số của tỉnh Bắc Kạn năm 2013

Đơn vị hành chính

Dân số năm 2013 (người)

Mật độ dân số (người/km 2

) Tổng số

(Nguồn: Niêm giám thống kê tỉnh Bắc Kạn năm 2013)

Mật độ dân số bình quân thấp, chỉ đạt 61 người/km2, tuy nhiên dân cư phân bố không đều, tập trung nhiều ở các đô thị, ven các trục đường giao thông Thị xã Bắc Kạn là nơi có mật độ dân số cao nhất đạt 275 người/km2, tiếp đến là các huyện Ba Bể 68 người/km2, huyện Pác Nặm 63 người/km2; nơi

có mật độ dân số thấp là các huyện Na Rì và Ngân Sơn (44 người/ km2)

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã giảm bình quân 0,02%/năm, đến năm

Trang 40

2010 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của tỉnh còn 0,99% Dân số cơ học biến động không đều có xu hướng tăng dần đặc biệt là ở khu vực đô thị

* Lao động và việc làm

Dân số trong độ tuổi lao động năm 2013 là 187,90 ngàn người, chiếm 63,37% số dân toàn tỉnh, trong đó có 172,72 ngàn lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân Phần lớn số lao động tập trung trong khu vực kinh tế nông nghiệp (chiếm 69,94% tổng số lao động đang làm việc), lao động trong khu vực kinh tế công nghiệp chiếm 5,77%, còn lại là trong lĩnh vực dịch

vụ Cơ cấu lao động của tỉnh còn khá trẻ, tỷ lệ lao động trong độ tuổi 16 - 35 chiếm khoảng 50%, nhóm lao động trong độ tuổi từ 24 - 35 chiếm trên 20%

* Thu nhập và mức sống

Trong những năm qua, nền kinh tế của tỉnh đã có nhiều khởi sắc, nâng mức thu nhập bình quân đầu người lên 4,39 triệu đồng/năm (giá so sánh năm 1994) và 10,85 triệu đồng/năm (giá hiện hành) Tuy nhiên sự chênh lệch ngày càng lớn giữa các tầng lớp dân cư và giữa các địa phương trong tỉnh, hiện nay bình quân thu nhập đầu người ở khu vực thành thị đạt 1.860 ngàn đồng/tháng, gấp 1,89 lần so với thu nhập ở khu vực nông thôn (982 ngàn đồng/tháng)

Trong những năm gần đây bên cạnh các chương trình, dự án của Chính phủ và các Bộ, ngành hỗ trợ cho vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, tỉnh Bắc Kạn đã có nhiều nỗ lực trong công tác xóa đói giảm nghèo như cấp đất cho đồng bào thiếu đất sản xuất, cho vay vốn ưu đãi Đến năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo chung trên địa bàn tỉnh đã giảm chỉ còn 32,13% (theo chuẩn mới - trong đó 5,11% số hộ nghèo lương thực, thực phẩm), cải thiện đáng kể điều kiện sinh hoạt, học hành, chăm sóc sức khỏe và từng bước nâng cao mức sống của người dân, đặc biệt là ở những xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc

Ngày đăng: 15/02/2015, 18:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 12/11/2001về Quyền lợi nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.20 ,8/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: về Quyền lợi nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
29. Arnold, J (1992). Community forestry – Ten years in review (revised edition). Food and Agriculture Organisation of the United Nations (FAO), Rome Sách, tạp chí
Tiêu đề: Community forestry – Ten years in review (revised edition)
Tác giả: Arnold, J
Năm: 1992
13. Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Khác
14. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Luật đất đai Khác
15. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Luật Bảo vệ và phát triển rừng Khác
18. Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ngày 27/11/2006/ về việc Ban hành Bản Hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn Khác
21. Thông tƣ liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN-BTC ngày 3/9/2003 về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 Khác
22. Thông tƣ 17/2006/TT-BNN của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định số 304/QĐ-BNN ngày 7/01/2005.23 (2013) Khác
28. Văn phòng thực địa Si Ma Cai, Quản lý rừng cộng đồng một hướng đi trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Lào Cai Khác
30. Burda, Cheri; Deborah Curran, Fred Gale and Michael M'Gonigle Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 2010 - 2013 - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn
Bảng 1.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời kỳ 2010 - 2013 (Trang 37)
Bảng 1.2: Dân số, mật độ dân số của tỉnh Bắc Kạn năm 2013 - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn
Bảng 1.2 Dân số, mật độ dân số của tỉnh Bắc Kạn năm 2013 (Trang 39)
Bảng 1.3: Thà  và - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn
Bảng 1.3 Thà và (Trang 43)
Bảng 1.4: Thành phần dân tộc, dân số xã Văn Minh - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn
Bảng 1.4 Thành phần dân tộc, dân số xã Văn Minh (Trang 44)
Bảng 3.2: Diện tích và các loại rừng của tinh Bắc Kạn - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn
Bảng 3.2 Diện tích và các loại rừng của tinh Bắc Kạn (Trang 57)
Bảng 3.3: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp của cộng đồng và UBND - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn
Bảng 3.3 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp của cộng đồng và UBND (Trang 58)
Bảng 3.4: Tình trạng quả  trên địa bàn - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn
Bảng 3.4 Tình trạng quả trên địa bàn (Trang 61)
Hình 3.1: Chu trình quản lý rừng cộng đồng - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn
Hình 3.1 Chu trình quản lý rừng cộng đồng (Trang 65)
Bảng 3.9: Ý kiến của người dân về   của - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn
Bảng 3.9 Ý kiến của người dân về của (Trang 73)
Bảng 3.10 , quả rừng  cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn
Bảng 3.10 quả rừng cộng đồng tại tỉnh Bắc Kạn (Trang 76)
Hình ảnh rừng trông của cộng đồng tại thôn Nà Mực – Văn Minh - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn
nh ảnh rừng trông của cộng đồng tại thôn Nà Mực – Văn Minh (Trang 107)
Hình ảnh rừng cộng đồng tại thôn Khuổi Bản Eng – Xuân Lạc - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn
nh ảnh rừng cộng đồng tại thôn Khuổi Bản Eng – Xuân Lạc (Trang 107)
Hình ảnh rừng cộng đồng tại thôn Phja Khao – Bản Thi - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh bắc kạn
nh ảnh rừng cộng đồng tại thôn Phja Khao – Bản Thi (Trang 108)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm