MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh là một bộ phận quan trọng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, là nguồn nhân lực chất lượng cao của bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Đội ngũ cán bộ này giữ vai trò quyết định trong việc hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản lý nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội nói chung mà đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Sự vững mạnh của hệ thống chính trị cũng như hiệu lực, chất lượng của bộ máy hành chính nhà nước được quyết định bởi nhiều yếu tố. Nhưng xét cho đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt. Sự phát triển hay trì trệ của một quốc gia, một vùng, một địa phương hay một lĩnh vực, một ngành nào đó phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ cán bộ chủ chốt, lực lượng lãnh đạo, quản lý của bộ máy nhà nước. Những thành tựu trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta những năm qua, trong đó có sự đóng góp lớn lao của đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế với những lớp người tâm huyết, năng động, dám nghĩ, dám làm… Trong quá trình đổi mới ở nước ta, nếu xem xét từ sự phân chia hành chính với 63 tỉnh, thành phố trong cả nước có sự phát triển không đều nhau do những điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị chi phối. Và tất nhiên, tỉnh, thành phố nào có lợi thế sẽ có điều kiện phát triển tốt hơn. Tuy nhiên không phải cứ có điều kiện khách quan thuận lợi thì phát triển tốt. Thực tiễn công cuộc đổi mới những năm qua đã chứng minh điều đó. Không ít các tỉnh có điều kiện khách quan thuận lợi nhưng phát triển kinh tế chưa được như mong muốn, chưa khơi dậy hết tiềm năng, thế mạnh. Ngược lại, nhiều tỉnh có điều kiện khách quan rất khó khăn nhưng đã đoàn kết, thống nhất ý chí vươn lên, khắc phục khó khăn, năng động, sáng tạo, dám làm, tích cực đổi mới… để phát triển. Điều đó chứng tỏ vị trí, vai trò rất quan trọng của yếu tố chủ quan,trong đó phát huy nguồn lực con người mà trọng tâm là đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế của các tỉnh, thành phố. Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá khoa học, khách quan về đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh có ý nghĩa hết sức quan trọng. Là cơ sở góp phần giúp cho công tác tổ chức, công tác cán bộ của Đảng và nhà nước có chiến lược xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Hoà Bình là một tỉnh miền núi khó khăn với 63% là người dân tộc thiểu số. Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã bước đầu đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội. Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP 10,5%/năm; xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và đặc biệt là sự đoàn kết khắc phục khó khăn, vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Đóng góp vào thành tích chung ấy, có sự đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh trong việc hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ và vận hành bộ máy quản lý nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên, so với yêu cầu và tiềm năng phát triển của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, nhìn chung, đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh nước ta còn kém về nhiều mặt: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực, phẩm chất đạo đức… và đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế còn nhiều hạn chế và hiệu quả sử dụng thấp, chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh… thậm chí có những mặt còn tụt hậu so với yêu cầu phát triển. Hiện nay, đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh ở Hoà Bình không nằm ngoài tình trạng chung của cả nước. Thậm chí, là một tỉnh miền núi nên bộc lộ những khó khăn, yếu kém, hạn chế còn ở mức cao hơn. Điều đó đang tạo nên những lực cản đối với quá trình phát triển kinh tế- chính trị- văn hoáxã hội của tỉnh. Vì vậy, vấn đề: “Đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh ở Hoà Bình thời kỳ hội nhập quốc tế” được chọn làm đề tài nghiên cứu luận án. Nhằm đóng góp những ý kiến nhỏ bé của mình đối với công tác tổ chức,cán bộ của tỉnh để đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Hoà bình đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.1. Mục đích Nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh trong hội nhập quốc tế. Đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế ở tỉnh Hoà Bình những năm qua. Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và giải pháp phù hợp để đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. 2.2. Nhiệm vụ Để đạt được mục đích trên, luận án có nhiệm vụ: - Hệ thống hoá và bổ sung cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt kinh tế cấp tỉnh trong hội nhập quốc tế. - Nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh trong hội nhập quốc tế có điều kiện tương đồng để rút ra các bài học cần thiết. - Phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh ở Hoà Bình và đánh giá những ưu điểm và nhược điểm, chỉ ra nguyên nhân và các vấn đề cần tập trung giải quyết để phát triển đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh trong hội nhập quốc tế. - Đề xuất các giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh ở Hoà Bình đáp ứng yêu cầu thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3.1. Đối tượng Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh (do tỉnh quản lý) về: số lượng, chất lượng, cơ cấu, hiệu quả công tác,... với tư cách là lực lượng có vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình thời kỳ hội nhập quốc tế.
Trang 1NGUYỄN VĂN ĐÔNG
§éI NGò C¸N Bé CHñ CHèT VÒ KINH TÕ CÊP TØNH
ë HßA B×NH THêI Kú HéI NHËP QUèC TÕ
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS NGUYỄN MINH QUANG
PGS.TS ĐOÀN XUÂN THỦY
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào.
Tác giả luận án
Nguy ễn Văn Đông
Trang 3MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT
VỀ KINH TẾ CẤP TỈNH Ở HÒA BÌNH THỜI KỲ HỘI
1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đội ngũ cán bộ chủ chốt về
1.2 Tổng hợp từ tổng quan nghiên cứu liên quan đến đội ngũ cán bộ chủ
chốt về kinh tế cấp tỉnh và vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 22
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CHỦ CHỐT VỀ KINH TẾ CẤP TỈNH TRONG THỜI KỲ
2.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và các tiêu chí đội ngũ cán bộ chủ
chốt về kinh tế cấp tỉnh trong thời kỳ hội nhập quốc tế 392.2 Nội dung công tac xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế
2.3 Kinh nghiệm về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế
Chương 3: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT VỀ KINH
TẾ CẤP TỈNH Ở HOÀ BÌNH NHỮNG NĂM QUA 923.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến đội ngũ cán bộ
3.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh ở tỉnh
Chương 4: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY
DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT VỀ KINH TẾ CẤP TỈNH Ở HOÀ BÌNH THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1424.1 Những quan điểm, phương hướng và mục tiêu đối với đội ngũ
cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh ở Hòa Bình 1424.2 Những giải pháp đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp
Trang 4CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
UNDP : Chương trình phát triển Liên Hiệp quốc
Trang 5Bảng 3.1: Tăng trưởng kinh tế theo ngành kinh tế giai đoạn 2001 - 2013 96
Bảng 3.2: Cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2005 - 2012 97
Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu lao động tỉnh Hòa Bình 102
Bảng 3.5: Quy mô học sinh giai đoạn 2001-2010 103
Bảng 3.6: Cơ cấu cán bộ chủ chốt về kinh tế ở các sở, ban, ngành
Bảng 3.7: Cơ cấu cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh ở Hòa Bình
Bảng 3.8: Trình độ đào tạo của cán bộ chủ chốt về kinh tế ở các
sở, ban, ngành Hòa Bình (2005 - 2013) 109
Bảng 3.9: Cơ cấu cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh ở Hòa Bình
trong quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ Hòa Bình
Biểu 3.10: Kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt
cấp tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2007 - 2013 122
Bảng 3.11: Luân chuyển, điều động cán bộ thuộc Tỉnh ủy Hòa
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu ngành theo GDP của tỉnh Hòa Bình năm 2013 97
Biểu đồ 3.2: Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ chủ chốt về
Biểu đồ 3.3: Trình độ lý luận của đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh là một bộ phận quan trọng của độingũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, là nguồn nhân lực chất lượng cao của bộ máyhành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương Đội ngũ cán bộ này giữvai trò quyết định trong việc hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ của bộ máyquản lý nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội nói chung màđặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Sự vững mạnh của hệ thống chính trị cũng nhưhiệu lực, chất lượng của bộ máy hành chính nhà nước được quyết định bởinhiều yếu tố Nhưng xét cho đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, nănglực và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt Sự phát triểnhay trì trệ của một quốc gia, một vùng, một địa phương hay một lĩnh vực, mộtngành nào đó phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ cán bộ chủ chốt, lực lượng lãnhđạo, quản lý của bộ máy nhà nước Những thành tựu trong công cuộc đổi mớitoàn diện đất nước ta những năm qua, trong đó có sự đóng góp lớn lao của độingũ cán bộ chủ chốt về kinh tế với những lớp người tâm huyết, năng động,dám nghĩ, dám làm…
Trong quá trình đổi mới ở nước ta, nếu xem xét từ sự phân chia hànhchính với 63 tỉnh, thành phố trong cả nước có sự phát triển không đều nhau
do những điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị chi phối Và tất nhiên, tỉnh,thành phố nào có lợi thế sẽ có điều kiện phát triển tốt hơn Tuy nhiên khôngphải cứ có điều kiện khách quan thuận lợi thì phát triển tốt Thực tiễn côngcuộc đổi mới những năm qua đã chứng minh điều đó Không ít các tỉnh cóđiều kiện khách quan thuận lợi nhưng phát triển kinh tế chưa được như mongmuốn, chưa khơi dậy hết tiềm năng, thế mạnh Ngược lại, nhiều tỉnh có điềukiện khách quan rất khó khăn nhưng đã đoàn kết, thống nhất ý chí vươn lên,khắc phục khó khăn, năng động, sáng tạo, dám làm, tích cực đổi mới… đểphát triển Điều đó chứng tỏ vị trí, vai trò rất quan trọng của yếu tố chủ quan,
Trang 7trong đó phát huy nguồn lực con người mà trọng tâm là đội ngũ cán bộ chủchốt về kinh tế của các tỉnh, thành phố.
Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá khoa học, khách quan về đội ngũ cán
bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh có ý nghĩa hết sức quan trọng Là cơ sở gópphần giúp cho công tác tổ chức, công tác cán bộ của Đảng và nhà nước cóchiến lược xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầuđẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Hoà Bình là một tỉnh miền núi khó khăn với 63% là người dân tộc thiểu
số Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã bước đầu đạtđược những thành tựu đáng kể về kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội Tốc độtăng trưởng bình quân GDP 10,5%/năm; xoá đói giảm nghèo, giải quyết việclàm và đặc biệt là sự đoàn kết khắc phục khó khăn, vượt qua thời kỳ khủnghoảng kinh tế toàn cầu Đóng góp vào thành tích chung ấy, có sự đóng gópquan trọng của đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh trong việc hoànthành các chức năng, nhiệm vụ và vận hành bộ máy quản lý nhà nước trongcác lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, so với yêu cầu và tiềm năng phát triển củathời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, nhìn chung,đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh nước ta còn kém về nhiều mặt:Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực, phẩm chất đạo đức… và đặc biệtnhững kiến thức về kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế còn nhiềuhạn chế và hiệu quả sử dụng thấp, chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh…thậm chí có những mặt còn tụt hậu so với yêu cầu phát triển
Hiện nay, đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh ở Hoà Bình khôngnằm ngoài tình trạng chung của cả nước Thậm chí, là một tỉnh miền núi nênbộc lộ những khó khăn, yếu kém, hạn chế còn ở mức cao hơn Điều đó đangtạo nên những lực cản đối với quá trình phát triển kinh tế- chính trị- văn hoá-
xã hội của tỉnh Vì vậy, vấn đề: “Đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh
ở Hoà Bình thời kỳ hội nhập quốc tế” được chọn làm đề tài nghiên cứu luận
án Nhằm đóng góp những ý kiến nhỏ bé của mình đối với công tác tổ chức,
Trang 8cán bộ của tỉnh để đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Hoà bình đáp ứng yêu cầuthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 M ục đích
Nghiên cứu cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về xây dựng đội ngũcán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh trong hội nhập quốc tế Đánh giá đúngthực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế ở tỉnh Hoà Bình những nămqua Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và giải pháp phù hợp để đội ngũcán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
2.2 Nhi ệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá và bổ sung cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ cán bộchủ chốt kinh tế cấp tỉnh trong hội nhập quốc tế
- Nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tếcấp tỉnh trong hội nhập quốc tế có điều kiện tương đồng để rút ra các bài họccần thiết
- Phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh ở HoàBình và đánh giá những ưu điểm và nhược điểm, chỉ ra nguyên nhân và cácvấn đề cần tập trung giải quyết để phát triển đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh
tế cấp tỉnh trong hội nhập quốc tế
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt vềkinh tế cấp tỉnh ở Hoà Bình đáp ứng yêu cầu thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình xây dựng đội ngũ cán bộchủ chốt về kinh tế cấp tỉnh (do tỉnh quản lý) về: số lượng, chất lượng, cơ cấu,hiệu quả công tác, với tư cách là lực lượng có vai trò quyết định trong sựphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình thời kỳ hội nhập quốc tế
Trang 93.2 Ph ạm vi
Luận án không nghiên cứu đội ngũ cán bộ chủ chốt nói chung mà chỉ tậptrung nghiên cứu đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh Hoà Bình gồm:
- Giám đốc, phó giám đốc các sở, ban, ngành, khối kinh tế
- Giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng, các doanh nghiệp thuộc tỉnh(Doanh nghiệp hạng II trở lên)
- Chủ tịch huyện (thành phố trực thuộc tỉnh), phó chủ tịch UBNDhuyện (thành phố trực thuộc tỉnh) phụ trách kinh tế
Về thời gian: Giai đoạn 2000 đến nay và đề xuất giải pháp ngắn hạnđến 2020 và dài hạn đến 2030
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án sử dụng phương pháp luận nghiên cứu kết hợp phép duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử để phân tích, đánh giá vấn đề Đồng thời kếthợp các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản với tư tưởng Hồ Chí Minhxuyên suốt chủ đề nghiên cứu của luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu trong luận án là kết hợp: diễn giải, phântích, tổng hợp, hệ thống hóa, thống kê, điều tra khảo sát, tư vấn chuyên gia,
để nghiên cứu Những phương pháp cụ thể này được áp dụng phù hợp theomục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của từng chương, tiết Cụ thể:
Chương 1: Chủ yếu sử dụng phương pháp hệ thống hóa, phân tích,đánh giá tổng hợp kết quả nghiên cứu của các công trình trong và ngoài nướcliên quan đến đề tài luận án, rút ra các kết luận khoa học về kết quả đạt được,vấn đề đang nghiên cứu và vấn đề chưa được nghiên cứu
Chương 2: Luận án sử dụng phương pháp diễn giải - quy nạp, hệ thốnghoá để tìm hiểu khái niệm cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh; vị trí, vai trò,đặc điểm, cơ cấu của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh; khái quát một số bàihọc kinh nghiệm của các địa phương gắn với nội dung luận án
Trang 10Chương 3: Luận án tiếp cận phương pháp duy vật lịch sử, logic quátrình xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh Luận án bám sátphương pháp nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế chính trị là trừu tượng hóakhoa học để phân tích đối tượng nghiên cứu là quan hệ sản xuất trong sựtương tác với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng để từ đó làm sáng
tỏ kết quả đạt được, những mâu thuẫn, vấn đề nảy sinh trong đội ngũ cán bộchủ chốt về kinh tế cấp tỉnh ở Hòa Bình thời kỳ hội nhập quốc tế Các phươngpháp: thống kê, điều tra, khảo sát, phân tích tổng hợp, đối chiếu, so sánh cũngđược sử dụng để hoàn thành nhiệm vụ của chương này Đồng thời sử dụng sơ
đồ, biểu đồ, đồ thị để minh họa kết quả nghiên cứu
Chương 4: Luận án tiếp tục sử dụng phương pháp hệ thống hoá và quynạp, đồng thời phân tích tổng hợp để chỉ ra phương hướng và giải pháp xâydựng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh phù hợp với những vấn đề đặt
ra ở chương 3 để giải pháp có tính khả thi và đúng hướng đáp ứng yêu cầu độingũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh thời kỳ hội nhập quốc tế
5 Những đóng góp về khoa học của luận án
- Góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về đội ngũ cán bộ về kinh tế cấptỉnh Nêu bật đặc điểm và các nhân tố tác động và vị trí, vai trò của đội ngũ cán
bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh Và sự cần thiết nâng cao vai trò đội ngũ cán bộchủ chốt về kinh tế cấp tỉnh đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
- Phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấptỉnh ở tỉnh Hoà Bình Chỉ ra những mặt mạnh, điểm yếu trong công tác độingũ này một cách khách quan, khoa học làm tiền đề xây dựng chính sách pháttriển đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh trong hội nhập quốc tế
- Đề xuất phương hướng và những giai pháp vừa trước mắt, vừa lâu dài
để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh ở Hoà Bình đáp ứngyêu cầu hội nhập quốc tế
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung gồm 04 chương, 09 tiết
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT VỀ KINH TẾ CẤP
TỈNH Ở HÒA BÌNH THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT VỀ KINH TẾ CẤP TỈNH
Cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh là một bộ phận quan trọng của độingũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, giữ vai trò quyết định trong việc hoàn thànhcác chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản lý nhà nước trong các lĩnh vựckinh tế - chính trị - xã hội Vai trò và tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ chủchốt về kinh tế đã được đề cập đến trên nhiều phương diện như những kỹnăng lãnh đạo, quản lý, kỹ năng lập, ban hành và thực thi các quyết định,phẩm chất, tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, cách thức đào tạo, bồi dưỡng, tuyểndụng, sử dụng và đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế, trongrất nhiều những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1 Khái quát các công trình nghiên cứu ngoài nước có liên quan đến cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh
- Carol Kinsey Goman, "Ngôn ngữ thầm lặng của người lãnh đạo" (TheSilent Language of Leaders) [31] Trong tác phẩm này, chuyên gia về nănglực lãnh đạo và giao tiếp Carol Kinsey Goman đã khai triển ý tưởng đặc sắcrằng: Trong môi trường kinh doanh đa dạng và nhanh chóng của thời đại hiệnnay, nơi mà những tương tác toàn cầu đang gia tăng, việc tinh thông, thànhthạo nghệ thuật về ngôn ngữ cơ thể trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.Không gian cá nhân, các cử chỉ, các tư thế điệu bộ, các nét mặt, và sự tiếp xúcbằng mắt truyền đạt mạnh mẽ hơn lời nói, và do đó, về phương diện chiếnlược, có thể được sử dụng để giúp cho những người lãnh đạo quản lý, độngviên đội ngũ trên toàn cầu, và truyền đạt ý tưởng một cách rõ ràng trong thờiđại kỹ thuật số Từ những kinh nghiệm trong hơn hai mươi năm nghiên cứu
Trang 12về tâm lý và khoa thần kinh học, tác giả chỉ rõ cho những người lãnh đạo cáchthức điều chỉnh ngôn ngữ cơ thể để đạt được hiệu quả tối đa trong mọi lĩnhvực hoạt động của con người, đặc biệt là trong kinh doanh Đây là một phẩmchất mà người cán bộ chủ chốt cần thiết phải học hỏi và sử dụng nhuầnnhuyễn trong công tác lãnh đạo, quản lý.
- Tom Plate, “Đối thoại với Mahathir Mohamad” [49] Mahathir bin
Mohamad là Thủ tướng của Malaysia từ năm 1981 đến năm 2003 Trong thờigian cầm quyền, ông đã có công vạch ra quá trình hiện đại hóa nhanh chóngcho Malaysia và đề xướng "các giá trị châu Á” Nhà lãnh đạo hơn 2 thập kỷcủa Malaysia được nhìn nhận như một nhân vật vừa thực tế vừa viển vôngnhưng đến các chuyên gia khó tính nhất cũng phải thừa nhận, ông đã thựchiện thành công việc kiểm soát chặt chẽ nền kinh tế đất nước Thủ tướngMahathir cũng là người được coi là có công đầu mang lại sự ổn định về chínhtrị, hàn gắn các chia rẽ về sắc tộc tại Malaysia cũng như tạo ra nhiều đổi thaytích cực khác cho đất nước
Cuốn sách là các cuộc đối thoại của nhà báo Tom Plate với Thủ tướngMalaysia Mahathir Mohamad về cách thức ông đã xây dựng và lèo lái đấtnước Malaysia từ một nước nghèo trở thành một trong những nền kinh tế pháttriển nhanh ở châu Á cũng như trên thế giới Qua đó xây dựng nên hình ảnhmột vị cựu thủ tướng mạnh mẽ, cương trực với các phân tích về kinh tế, xãhội, tôn giáo rất sắc bén
- Tom Plate, “Đối thoại với Lý Quang Diệu - Nhà nước công dân
Singapore: cách thức xây dựng một quốc gia” [48] Lý Quang Diệu là Thủtướng Singapore giai đoạn 1959 - 1990, ông là thiên tài chính trị, một nhânvật gây nhiều tranh cãi và có nhiều điểu bí hiểm, nhưng là người đã lãnhđạo đất nước Singapore trở thành con rồng của Châu Á Với khả năng lãnhđạo thiên tài, những kỹ năng quản lý và xây dựng, thực thi chính sách hiệuquả, Lý Quang Diệu đã xây dựng quốc đảo sư tử từ một quốc gia ly khainhỏ bé, nghèo tài nguyên trở thành một điểm hút về tri thức và công nghệ,
Trang 13môi trường trong lành bậc nhất - đã khiến cả thế giới kinh ngạc - một thànhtựu của thế kỉ XX.
- Anthony F Smith, “10 sự thật thường bị che giấu của nhà lãnh đạo”
[53] Tác giả Anthony F Smith là nhà tư vấn quản lý đã tiết lộ những thực tếhiếm khi phơi bày về nghệ thuật lãnh đạo - những bí mật mà ngay cả nhà lãnhđạo cũng không dám công khai thừa nhận vì sợ mất đi quyền lực, lòng kínhtrọng, hay thậm chí mất việc Dựa trên những hiểu biết về những điểm mạnh
và điểm yếu của một người lãnh đạo, người lãnh đạo và cấp dưới có thể hiểubiết nhau thực sự và cùng nhau tạo ra một văn hóa hai chiều, cởi mở, tin cậy,nâng cao năng suất trong tổ chức Đây cũng là một nhân tố quan trọng đểngười cán bộ quản lý có thể xây dựng mối gắn kết trong hoạt động chung củađơn vị, tổ chức
- Philip Delves Broughton, “Những điều trường Harvard thực sự dạybạn” [9]
Sau nhiều năm làm nghề báo, Philip Delves Broughton, một nhà báo có
vị thế của tờ Telegraph danh tiếng, muốn có những trải nghiệm và cuộc sốngkhác nên đã đăng ký nhập học vào trường Kinh doanh Harvard (HarvardBusiness School - HBS) Từ góc nhìn chuyên nghiệp của một nhà báo, việchọc tập và cuộc sống của Harvard đã được Philip miêu tả tỉ mỉ và tinh tế trongNhững điều trường Harvard thực sự dạy bạn
Tấm bằng MBA ở Harvard là mối quan tâm của đông đảo bạn đọc,không chỉ những người đã có hay muốn có bằng MBA Thực tế, các trườngdạy kinh doanh không chỉ sản sinh ra các nhà lãnh đạo trong kinh doanh; mà
là hàng loạt các nhà lãnh đạo đã có nhiều quyết định quan trọng về mặt lịch
sử trên toàn cầu Cuốn sách mô tả trải nghiệm của bản thân tác giả và nhữngngười học trong môi trường tri thức kinh doanh hàng đầu nước Mỹ là trườngHarvard Khối lượng bài học nặng nề, nhất là trong những tuần đầu tiên, họcviên phải đánh vật với các lĩnh vực chuyên môn của kinh doanh như tài chính,
kế toán, điều hành, marketing và ứng xử trong tổ chức; áp lực tìm việc, một
Trang 14công việc “thích hợp” sau một vài tháng học tập tại trường đã là những kỹnăng vô cùng quan trọng của một người lãnh đạo, quản lý.
- Mark H McCormack, “Những điều trường Harvard không dạybạn” và “Những điều trường Harvard vẫn không dạy bạn" [19]
Những điều trường Harvard không dạy bạn là một trong những lờikhẳng định chắc chắn nhất cho quan điểm: đừng trông chờ sẽ nhận được tất cảthông qua trường đại học Trường Kinh doanh Harvard nổi tiếng vì đã đào tạo
ra rất nhiều cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ về kinh doanh có đẳng cấp hàng đầu thếgiới Mark Mc Cormack cũng từng tin rằng nhờ giáo dục, những người tốtnghiệp cao học kinh doanh này là những người tốt nhất để hoạt động trong cáclĩnh vực kinh doanh và điều hành doanh nghiệp Tuy nhiên, bằng quan sát và trảinghiệm trong suốt hơn 20 năm ông đã đưa ra một luận điểm gây nhiều bất ngờ.Tác giả đã khám phá ra là văn bằng cao học kinh doanh đôi khi có thể ngăn khảnăng làm chủ kinh nghiệm của học viên Và ông đi đến khẳng định, bằng cấpkhông đủ để thay thế cho khả năng nhận thức hợp lý sự việc, sự nhạy cảm vềcon người cũng như sự khôn ngoan từng trải Ông cung cấp những kinh nghiệmthực tế về: Cách thức thấu hiểu con người, những bí ẩn của một cuộc đàm phán,cách điều hành và tham dự một cuộc họp, biến sự giận dữ của đối tác thành cơhội, đón nhận những thách thức, nhạy bén để nhận biết vận may Điều đó đòihỏi, để đạt được những thành công trong công tác lãnh đạo quản lý, mỗi cá nhânphải tự tích luỹ và học hỏi để làm dày kinh nghiệm của chính mình
- John C Maxwell, “Phát triển kỹ năng lãnh đạo” [40] Kỹ năng lãnhđạo là một yếu tố trọng yếu trong công tác quản lý Một nhà quản lý giỏi phải
có các kỹ năng lãnh đạo Tương tự, một nhà lãnh đạo hiệu quả cũng phải thựchiện tốt vai trò của một nhà quản lý John C Maxwell trình bày 5 cấp độ lãnhđạo: bao gồm: Cấp độ 1: Chức vị (Mọi người đi theo bạn vì họ buộc phảitheo) Cấp độ 2: Sự chấp thuận (Mọi người đi theo bạn vì họ muốn thế) Cấp
độ 3: Định hướng kết quả (Mọi người đi theo bạn vì những gì bạn đã làm chohọ) Cấp độ 4: Phát triển con người (Mọi người đi theo bạn vì những gì bạn đã
Trang 15làm cho họ) Cấp độ 5: Cá nhân (Mọi người đi theo bạn vì bạn là ai và bạn đạidiện cho điều gì) Từ đó, ông chỉ ra những yếu tố cần thiết cũng như nhữngvấn đề mà các nhà lãnh đạo hay phải đối mặt, cùng với những giải pháp rất cụthể để giúp rèn luyện các tố chất lãnh đạo hay giải quyết vấn đề.
- Nicolai J Foss, “Strategy, Economic Organization, and theKnowledge Economy: The Coordination of Firms and Resources”, Publisher:Oxford University Press, USA [81] Nền kinh tế tri thức có ý nghĩa sâu rộngđối với hoạt động kinh doanh cũng như chiến lược của các công ty, trong đó
có tư duy về lãnh đạo, quản lý Tư duy lãnh đạo quản lý ngày càng dựa trên
“tri thức” hay là phương pháp tiếp cận dựa trên “hoạt động quản lý tri thức”nhằm tổ chức hiệu quả và xây dựng chiến lược kinh doanh trong nền kinh tếtri thức Tác giả thông qua phân tích các hoạt động tổ chức dựa trên tri thức
và vai trò của quản lý nhân sự, bồi dưỡng, chia sẻ kiến thức và cùng sáng tạogiữa nhà lãnh đạo với các thành viên trong công ty là nhân tố ý nghĩa quantrọng đối với quản lý tri thức, thiết kế tổ chức và chiến lược công ty trong nềnkinh tế tri thức hiện nay
- Bill Gates, “Tốc độ của tư duy” (Business @ the Speed of Thought)[29] Bill Gates chính là người đầu tiên nhìn trước và nhận thức được tốcthông tin có vai trò quyết định trong kinh doanh thời đại công nghệ thông tinhiện nay Mức độ thành công của một công ty hay doanh nghiệp tùy thuộcvào rất nhiều yếu tố và điều kiện chủ quan, khách quan, nhưng trong thời đạingày nay, thông tin là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành bại của một tổchức Tác giả chú trọng đến việc hướng dẫn cách sử dụng những công cụ kỹthuật số để quản lý và sử dụng thông tin một cách hiệu quả nhất để địnhhướng tư duy chiến lược cho một tổ chức, công ty, với các ví dụ thực tế từnhững thành bại của các công ty hàng đầu thế giới
Từ đó, những người làm công tác điều hành, quản lý hiểu rõ hơn hiệuquả và cách thức tận dụng những sự thay đổi lớn lao đang diễn ra trong lĩnhvực công nghệ thông tin để tạo ra ưu thế cạnh tranh hiệu quả
Trang 16- Christian Batal, “Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực nhà nước” [1].Nội dung chủ yếu phân tích về năng lực làm việc cán bộ, công chức, khối doanhnghiệp nhà nước Xây dựng khung năng lực tiêu chuẩn trên cơ sở đó phân loạinăng lực Đồng thời, mô tả công việc chuyên môn của một số công việc chuyêntrách yêu cầu nhân lực chất lượng cao như: Phụ trách đào tạo trong một cơ quannhà nước, công việc của một thủ trưởng đơn vị trong doanh nghiệp nhà nước.
1.1.2 Khái quát các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh
1.1.2.1 Một số sách tham khảo, chuyên khảo liên quan đến đề tài
- Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng và Lê Văn Yên, “Kinh nghiệm xây dựngđội ngũ cán bộ ở Trung Quốc” [20]
Để phát triển thuận lợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặcsắc Trung Quốc, đẩy mạnh công cuộc cải cách, mở cửa, vấn đề xây dựng độingũ cán bộ có tố chất cao, có tri thức, nắm vững nghiệp vụ, hoàn thành tốttrọng trách được giao, trung thành với chủ nghĩa Mác, kiên trì con đường xãhội chủ nghĩa, biết lãnh đạo, quản lý đất nước, xã hội, đặc biệt là quản lý nềnkinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc được Đảng và Nhànước Trung Quốc rất quan tâm
Cuốn sách phân tích, luận giải theo từng vấn đề mang tính tổng quát vềcông tác tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ của Trung Quốc trong thời giangần đây, bao gồm chế độ cán bộ, công chức; việc cải cách thể chế chính trị;vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; việc nâng cao tố chất và năng lực đối vớicán bộ lãnh đạo; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; tiến cử, lựa chọn, đề bạt,
sử dụng và nhận xét, đánh giá cán bộ; quản lý cán bộ ở Trung Quốc
- Trần Bích, “Đột phá phát triển nhân lực, nhìn từ kinh nghiệm ĐàiLoan” [4] Trong thế kỷ XX, Đài Loan là một trong những nền kinh tế năngđộng và phát triển nhanh nhất châu Á Một trong những yếu tố quan trọnglàm nên thành công kinh tế của Đài Loan là có chiến lược phát triển nguồnnhân lực hợp lý Trong đó, chú ý các yếu tố như: Phát triển nguồn nhân lực
Trang 17phù hợp với đặc trưng các giai đoạn phát triển kinh tế; thực thi các chínhsách hiệu quả về dân số, giáo dục và thu hút nhân tài từ bên ngoài Từ saunhững năm 80 của thế kỷ XX, khi nền kinh tế đạt tới trình độ phát triển caohơn, nguồn lao động phổ thông trong nước thiếu, Đài Loan tích cực thúcđẩy việc chuyển dịch các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động ra cácnước có nguồn nhân công dồi dào hơn trong khu vực Bên cạnh việc đàotạo nhân lực phù hợp, Đài Loan còn rất thực dụng trong thu hút nhân tài ởhải ngoại Sau nhiều năm cho phép lưu học sinh đến các nước phát triểnnhư Mỹ, Anh, Nhật Bản… du học, những năm 1980, Đài Loan đã có mộtđội ngũ đông đảo trí thức làm việc ở nước ngoài Để thu hút được ngườitài về nước làm việc, chính quyền Đài Loan đã thực hiện việc cho phépcác doanh nghiệp, cơ quan trả mức lương cao đối với nhân tài là kiềubào, coi đây là một trong những “trọng điểm” của công tác khai thácnguồn nhân lực.
Đài Loan đặc biệt chú trọng đào tạo nhân lực cho các ngành nghề “mớinổi”; phát triển các ngành khoa học kỹ thuật như: công nghệ sinh học, hàngkhông vũ trụ, năng lượng mặt trời, thông tin không dây, chất bán dẫn, thôngtin, phần mềm đa phương tiện, lập ra chương trình đào tạo đặc biệt để tăngcường nhân tài cho các ngành khoa học kỹ thuật trên
- Nguyễn Đình Phong, Phạm Thanh Tuyền, “100 câu hỏi - đáp về tâm
lý học và những tình huống thường gặp trong lãnh đạo, quản lý” [45] Xã hộingày càng phát triển, các vấn đề nảy sinh trong công việc, cuộc sống càng trởnên khó khăn, phức tạp, trong đó các vấn đề tâm lý học hiện nay ngày càngtrở nên quan trọng đối với con người nói chung và các nhà lãnh đạo, quản lýnói riêng Vì thế, những kiến thức, kỹ năng, hiểu biết về tâm lý học lãnh đạo,quản lý thực sự trở nên quan trọng đối với mỗi người
Một nhà lãnh đạo, quản lý giỏi phải là người biết sử dụng người khác,chứ không phải là người áp đặt quyền lực của mình lên người khác Muốnlàm được điều đó cần nắm được các yếu tố tâm lý trong lãnh đạo, quản lý, từ
Trang 18đó có những cách xử lý hiệu quả trong mỗi tình huống xảy ra Thông qua hỏiđáp, cuốn sách giới thiệu một cách ngắn gọn, súc tích, rõ ràng những nộidung cơ bản về tâm lý học lãnh đạo, quản lý, đưa ra những tình huống tiêubiểu, phù hợp với một số đơn vị, cơ quan và gợi ý những cách xử lý hiệu quảnhất Những tình huống này lại được phân thành hai loại: những tình huốngmang tính sự kiện, nghi thức; những tình huống về nghiệp vụ cụ thể.
- Cao Khoa Bảng, “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
thời kỳ CNH, HĐH thủ đô” [3].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XI về vấn đề xây dựng Đảng hiện nay đã khẳng định nhiệm vụ cấp bách là
“xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, đápứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế” Tác giả đã phântích về thực trạng, chất lượng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay, gắnliền với đó là những vấn đề lí luận và thực tiễn, chỉ ra những ưu điểm cần đượcphát huy và những điểm khuyết điểm còn tồn tại trong bộ máy lãnh đạo, quản lýcác cấp hiện nay Từ những phân tích của mình, tác giả đã đề ra phương hướng
và giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, quản lý trong bốicảnh sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước đang phát triển mạnh
- Nguyễn Duy Hùng - Vũ Văn Phúc, “Phát triển nguồn nhân lực đápứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế” [36]
Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của lực lượng sảnxuất xã hội, quyết định sức mạnh của một quốc gia Trong các nguồn lực,nguồn nhân lực được coi là nguồn lực “nội sinh” chi phối quá trình phát triểnkinh tế - xã hội, và nó có ưu thế nổi bật là không có “giới hạn” hay “vô tận”nếu biết bồi dưỡng, khai thác hợp lý Trong bối cảnh thế giới có nhiều biếnđộng và cuộc cạnh tranh quốc tế khác biệt trên nhiều lĩnh vực (kể cả cạnhtranh về nguồn nhân lực) thì phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có nguồnnhân lực chất lượng cao, có môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư và môitrường chính trị - xã hội ổn định
Trang 19Việt Nam được coi là quốc gia có lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào(với trên 90 triệu người), là nước đông dân thứ ba trong khu vực ASEAN vàthứ 13 trên thế giới Nước ta đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượngtrong độ tuổi lao động khá dồi dào đồng thời với bản chất cần cù, thông minh
và có khả năng tiếp thu nhanh những thành tựu khoa học - công nghệ mới,hiện đại… Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiệnthành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 đãđược Đại hội XI của Đảng thông qua Tuy nhiên, nguồn nhân lực của nước tahiện nay được đánh giá chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội
và hội nhập quốc tế, chưa có những đóng góp đáng kể để tăng năng suất laođộng xã hội, cải thiện năng lực cạnh tranh và thoát khỏi “bẫy thu nhập trungbình” Qua khảo sát của nhiều tổ chức quốc tế, chất lượng nguồn nhân lực củanước ta được xếp hạng thấp so với ngay các nước châu Á Điều đó thể hiệnnguồn nhân lực của nước ta còn đang thiếu hụt trầm trọng và chất lượngnguồn nhân lực lại rất thấp kém
Để đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, Việt Nam cần lực lượngđông đảo nhân lực có trình độ cao, có khả năng làm việc trong môi trườngcông nghệ và cạnh tranh Do vậy, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, cótrình độ chuyên môn cao, nhất là có khả năng thích ứng nhanh với những thayđổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ, là yếu tố then chốt bảo đảm chonền kinh tế Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, bền vững
Các tác giả đã tập trung nghiên cứu kinh nghiệm về phát triển nguồnnhân lực của một số quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật Bản và những quốc gia
đã đạt được nhiều thành công trong phát triển kinh tế những thập kỷ gần đâynhư Trung Quốc, Hàn Quốc, Xingapo, Thái Lan,… Từ đó, tác giả tập trungphân tích thực trạng, làm rõ những bất cập trong phát triển nguồn nhân lựccủa nước ta những năm qua, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, trongthời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay; các nguyên nhân dẫn đến tình trạng
Trang 20thiếu hụt cả về chất lượng và số lượng nguồn nhân lực Đồng thời các tác giảđưa ra những quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồnnhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế trong thời gian tới.
- Nguyễn Văn Phúc - Mai Thu Hồng, “Khai thác và phát triển tài nguyênnhân lực Việt Nam” [47]
Trong xây dựng và phát triển một xã hội nhân văn, phát triển conngười vừa là mục tiêu, vừa là động lực Với mọi quốc gia, tài nguyên nhânlực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Để Việt Nam nhanh chóng thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thực hiện thànhcông sự nghiệp CNH, HĐH, duy trì được sự phát triển nhanh và bền vững,khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực đang trở thành một vấn đề bứcthiết Đó là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong các chiến lược, chươngtrình, kế hoạch phát triển kinh tế của toàn quốc cũng như của mỗi ngành, mỗiđịa phương
Khai thác, sử dụng có hiệu quả và phát triển tài nguyên nhân lực củaquốc gia là một nhiệm vụ cấp bách, là một nội dung, một giải pháp trọng tâm
để phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn tới Đây là một vấn đề
có tính quy luật của mọi quốc gia, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối vớinhững nước đang ở trình độ phát triển thấp như ở Việt Nam Cũng là một chủtrương lớn được Đảng và Nhà nước ta đề ra và triển khai từ nhiều năm qua,đồng thời cũng tiếp tục là một giải pháp đột phá, chiến lược trong phát triểnkinh tế - xã hội Việt Nam trong giai đoạn tới
Nội dung của cuốn sách đề cập đến quá trình hình thành và phát triểncủa nguồn nhân lực Việt Nam trong thời gian qua dưới sự tác động của cácyếu tố văn hóa, lịch sử, kinh tế và chính trị cũng như quá trình hội nhập quốc
tế trong xu thế toàn cầu hóa Cuốn sách khẳng định, trên thực tế, tài nguyênnhân lực Việt Nam đã hình thành được những lợi thế nhất định, đã được khaithác và sử dụng và phát huy được vai trò tích cực của mình đối với sự nghiệpxây dựng và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên, tài nguyên nhân lực nói chung và lực
Trang 21lượng lao động Việt Nam nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập Việckhai thác, sử dụng tài nguyên này vẫn có những yếu kém đòi hỏi cần cónhững nỗ lực to lớn để khắc phục.
Bao trùm tất cả những giải pháp, chính sách cụ thể về khai thác, sửdụng và phát triển tài nguyên nhân lực trong giai đoạn tới là nâng cao nhậnthức về tầm quan trọng, nội dung và cách tiếp cận đối với khai thác, phát triểntài nguyên nhân lực quốc gia Điều quan trọng là những nhận thức này phảichuyển hóa thành các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch được cân nhắc kỹlưỡng và toàn diện, có tính toán tới nhu cầu, các giải pháp và điều kiện cụ thểcũng như khả năng bảo đảm của nền kinh tế cũng như của toàn xã hội
- Nguyễn Minh Tuấn, “Tiếp tục đổi mới đồng bộ công tác cán bộ thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH” [63] Đổi mới công tác cán bộ vừa là nhiệm vụtrước mắt và lâu dài, vừa là mục tiêu, yêu cầu tất yếu, bảo đảm sự lãnh đạocủa Đảng trong công cuộc đổi mới Việc đổi mới công tác cán bộ phải đặttrong tổng thể của công tác xây dựng Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạocủa Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị Các cấp ủy, tổ chức đảng
và toàn bộ hệ thống chính trị phải thống nhất quan điểm, nhận thức, có giảipháp đồng bộ và quyết tâm cao để thực hiện, tạo chuyển biến mạnh mẽ, manglại hiệu quả thiết thực, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vàchủ động hội nhập quốc tế, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh” Đánh giácông tác xây dựng cán bộ trong thời kỳ CNH, HĐH, tác giả đã chỉ rõ thựctrạng của đổi mới công tác cán bộ vẫn chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao nănglực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng Tình trạng suy thoái về chính trị, tưtưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và
tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa được ngăn chặn, đẩy lùi Đội ngũcán bộ còn nhiều mặt hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu Công tác cán
bộ còn thiếu những giải pháp mang tính đột phá Mối quan hệ giữa ngườiđứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác cán bộ chưa được quy định rõ.Nhiều khuyết điểm, yếu kém vốn có trong công tác cán bộ đã được phát
Trang 22hiện nhưng chậm được khắc phục Phân tích thực trạng của công tác cán bộtrong thời kỳ mới, tác giả đã có những đề xuất, giải pháp nhằm đổi mớiđồng bộ công tác cán bộ một cách hiệu quả.
- Phạm Văn Sơn, “Nghiên cứu phát triển đội ngũ cán bộ, công chứclãnh đạo quản lí nhà nước trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế”,
Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH và hội nhập quốc tế” do Tạp chí Cộng sản- Nhà xuất bản Chính trị quốcgia tổ chức 8/2012 tại Hà Nội [54]
Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo quản lý nhà nước củanước ta hiện nay ra đời và trưởng thành trong sự nghiệp đấu tranh, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, hăng hái hưởng ứng và thực hiện công cuộc đổi mới củaĐảng Trong những năm khó khăn, gian khổ, đội ngũ này luôn có ý thứcvươn lên, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ Đặc biệt độingũ này luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với Đảng, Tổquốc và nhân dân, luôn giữ vững phẩm chất đạo đức, thể hiện là công bộccủa dân Bước vào thời kỳ đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền, xâydựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đội ngũ cán bộ, công chứcnhà nước đã có những bước chuyển biến tích cực, cố gắng học tập để tiếpthu kiến thức và nâng cao năng lực thực tiễn quản lý kinh tế, quản lý xã hội.Trong hơn 25, năm qua đến nay đội ngũ này đã dần thích ứng với cơ chế thịtrường, với yêu cầu tình hình mới
Bên cạnh, mặt tích cực thì đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cònnhiều hạn chế, bất cập Đó là từ khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, một bộphận đáng kể cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý nhà nước không theo kịp,không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, thiếu kiến thức chuyên môn, kỹ năngquản lý hành chính nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội Nhiều người dotuổi cao, ý thức trì trệ không muốn tham gia và tự bồi dưỡng nên trình độngoại ngữ, tin học không đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác quản
lý Một số không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức còn có thái độ quan liêu,
Trang 23hách dịch, cửa quyền, gây sách nhiễu trong công việc làm ảnh hưởng xấu đến
uy tín của các cơ quan công quyền Thực tiễn ở các bộ, ngành, địa phươngcòn tình trạng thiếu cán bộ lãnh đạo, quản lý có trình độ chuyên môn, có nănglực tổ chức quản lý giỏi; thừa cán bộ lãnh đạo quản lý kém cả về phẩm chấtđạo đức, năng lực chuyên môn và sức khỏe Nhiều cán bộ, công chức, viênchức thụ động, thiếu tính sáng tạo trong đề xuất giải quyết các nhiệm vụ đượcgiao Chính sự yếu kém của đội ngũ cán bộ quản lý, chất lượng nguồn nhânlực ngành nội vụ hiện nay là một thách thức lớn đối với tiến trình CNH, HĐH
và hội nhập quốc tế hiện nay
1.1.2.2 Các chương trình khoa học cấp Nhà nước, Đề tài khoa học
- Đề tài KX.05.07, “Xây dựng con người Việt Nam theo định hướng xãhội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế”,Phạm Minh Hạc chủ nhiệm [33]
Đề tài nghiên cứu nhân cách người Việt Nam qua thang giá trị và trắcnghiệm tâm lý, làm rõ hiện trạng nhân cách định hướng giá trị người Việt-điểm mạnh và yếu; ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhậpquốc tế tới việc xây dựng con người Việt Nam; định hướng xã hội chủ nghĩađối với sự phát triển con người Việt Nam; đề xuất giải pháp giáo dục chính
Trang 24trị, tư tưởng, đạo đức, hành động thực tiễn nhằm xây dựng con người ViệtNam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- UNDP và Bộ Ngoại giao, Dự án “Chương trình lãnh đạo nữCambridge - Việt Nam: Nâng cao năng lực lãnh đạo của phụ nữ trong khuvực nhà nước” [65]
Mục tiêu của Dự án là giúp xác định các cách thức và biện pháp đểnâng cao vị thế cho phụ nữ làm việc trong khu vực công để giải quyết cácthách thức mới liên quan đến việc hội nhập kinh tế sâu rộng hơn của ViệtNam và chuẩn bị cho những phụ nữ tài năng xuất chúng trong khu vực côngcủa Việt Nam đảm nhận vai trò lãnh đạo trong mọi lĩnh vực Kể từ khi khởiđộng vào cuối năm 2008, dự án đã tích cực hỗ trợ hơn 1.500 lãnh đạo nữ đầynhiệt huyết trong lĩnh vực chính trị và dịch vụ dân sự Những phụ nữ nàyđược hưởng lợi từ các cơ hội học tập và mở rộng mối quan hệ, cũng nhưđược đào tạo về kỹ năng lãnh đạo và về các vấn đề vốn là thế mạnh củanam giới, ví dụ như lĩnh vực kinh tế Bên cạnh việc giúp phụ nữ vượt quanhững rào cản vô hình, dự án còn hỗ trợ công tác hoạch định chính sáchtrong lĩnh vực này, bao gồm nghiên cứu tác động tiêu cực của việc quyđịnh tuổi nghỉ hưu khác nhau ở phụ nữ và nam giới (55 tuổi cho phụ nữ và
60 tuổi cho nam giới) đến bản thân phụ nữ, mức thu nhập tiềm năng cũngnhư con đường sự nghiệp của họ Dự án hướng đên nghiên cứu tính khả thicủa việc xây dựng một chương trình đào tạo dài hạn về năng lực lãnh đạocho cán bộ nữ, nghiên cứu về tầm ảnh hưởng của những nhà lãnh đạo nữđến các chương trình và chính sách
- "Công tác quy hoạch cán bộ thuộc diện ban thường vụ tỉnh uỷ quản lý
ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn hiện nay" do TS Thân Minh Quế chủbiên [51] Tác giả đề cập đến công tác quy hoạch cán bộ là một nội dung trọngyếu bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, có chủ động, có tầm nhìn xa,đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài
Trang 25- Đề tài “Thị trường hàng hoá sức lao động chất lượng cao: Những vấn
đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Chủ nhiệm đềtài Nguyễn Minh Quang [50]
Đề tài đã luận giải rõ cơ sở lý luận và thực tiễn hàng hoá sức lao độngchất lượng cao và thị trường hàng hoá sức lao động chất lượng cao Đặc điểm,vai trò, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng của thị trường hàng hoá sức laođộng chất lượng cao đối với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vừa phù hợpvới yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực, vừa phù hợp với yêu cầu thời kỳđẩy mạnh CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân
Từ cơ sở lý luận làm căn cứ để đánh giá khách quan khoa học về thị trườnghàng hoá sức lao động chất lượng cao ở nước ta hiện nay (chủ yếu từ 2000 đếnnay), khái quát thành tựu, kết quả đạt được và những yếu kém, tồn tại trên thịtrường sức lao động chất lượng cao và nguyên nhân của tình trạng trên
Qua đó, đề tài khái quát những quan điểm, định hướng cơ bản củaĐảng, Nhà nước về phát triển thị trường hàng hoá sức lao động chất lượngcao trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Đưa ra những dự báo về thịtrường này đến năm 2020 Đồng thời đề xuất những giải pháp cụ thể, có tínhkhả thi để phát triển thị trường hàng hoá sức lao động chất lượng cao ở nước
ta, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ đẩy mạnhCNH, HĐH và hội nhập quốc tế
- Nguyễn Phú Trọng: “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượngđội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước” [62] Tác phẩm đã trình bày những vấn đề lý luận và phương pháp luận
về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nướcgồm: một số khái niệm cơ bản, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ Kinh nghiệm xây dựng độingũ cán bộ công chức trong lịch sử nước ta và một số nước trên thế giới, thựctrạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay Một số quan điểm chung vàphương hướng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnhCNH, HĐH đất nước
Trang 261.1.2.3 Các đề tài khoa học là luận án tiến
sĩ Nguyễn Vĩnh Giang, “Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý trongcác doanh nghiệp quốc doanh ở Hà Nội” [30] Đề tài tập trung làm rõ những
lý luận cơ bản về năng lực của cán bộ quản lý nói chung và đội ngũ cán bộlàm công tác quản lý kinh tế trong các doanh nghiệp quốc doanh ở Hà Nội.Đây là một bộ phận của đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh, thànhphố Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp có vị trí vai trò rất quan trọngtrong việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệpnhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nguồn vốn nhà nước,thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nước giao Phân tích thựctrạng năng lực thực tế của đội ngũ cán bộ quản lý trong một số doanh nghiệpnhà nước ở Hà Nội, tác giả nhấn mạnh vào kỹ năng mềm trong lãnh đạo quản
lý của đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế như kỹ năng khuyến khích, động viênnhân viên, kỹ năng xây dựng, thực thi chiến lược sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp và các kỹ năng trong giao tiếp Đây là những kỹ năng mà độingũ cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế trong các doanh nghiệp nhà nước tại HàNội còn rất thiếu và cần phải được bổ sung kịp thời trong điều kiện nền kinh
tế đang hội nhập quốc tế mạnh mẽ Từ đó, tác giả cũng đưa ra những quanđiểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản
lý trong doanh nghiệp nhà nước hiện nay
- Lê Trung Thành, “Hoàn thiện mô hình đào tạo và phát triển cán bộquản lý cho các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước tại Việt Nam” [59] Tácgiả trình bày cơ sở lý luận về mô hình đào tạo và phát triển cán bộ quản lýdoanh nghiệp nói chung và với các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước tại ViệtNam Mô hình đào tạo và phát triển cán bộ quản lý doanh nghiệp ở mỗi quốc gia
có sự khác biệt, bởi chính mô hình sở hữu của mỗi quốc gia Phân tích thực trạng
mô hình đào tạo và phát triển cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp nhà nướcViệt Nam và giải pháp hoàn thiện các mô hình này
Trang 27- Vy Văn Vũ, “Quy hoạch, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ, côngchức quản lý nhà nước về kinh tế của tỉnh Đồng Nai” [69] Tác giả trình bày
cơ sở khoa học của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lí nhànước về kinh tế của tỉnh Đồng Nai Từ các tiêu chí về đội ngũ cán bộ, côngchức quản lý nhà nước về kinh tế, tác giả đã đánh giá thực trạng, chỉ rõ ưukhuyết điểm của còng tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ quản
lý kinh tế Qua đó tác giả đề xuất những biện pháp nhằm xây dựng đội ngũcán bộ, công chức quản lí nhà nước về kinh tế
1.2 TỔNG HỢP TỪ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT VỀ KINH TẾ CẤP TỈNH VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
1.2.1 Các vấn đề được nghiên cứu thống nhất
Tổng hợp từ 10 công trình nước ngoài và 16 công trình nghiên cứutrong nước trên đây, có thể khái quát ba nhóm nội dung nghiên cứu đã đượcphân tích, luận giải cơ bản
1.2.1.1 Năng lực và kỹ năng lãnh đạo quản lý của cán bộ chủ chốt là
y ếu tố quyết định sự thành công, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế
Kỹ năng lãnh đạo quản lý của cán bộ chủ chốt là khả năng quyết địnhtoàn bộ mọi vấn đề một cách đúng đắn, chính xác; tổ chức chỉ đạo thực hiệnnhững vấn đề ấy có hiệu quả; chỉ đạo kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ mọi hoạtđộng bảo đảm đúng Nghị quyết, đúng đường lối, chính sách, pháp luật củaĐảng, Nhà nước và có kết quả cụ thể, thiết thực
Vì vậy, cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước trong bất cứ lĩnh vựchoạt động nào cũng phải là những chủ thể hội đủ các phẩm chất và năng lựctương ứng Cán bộ chủ chốt là người chịu trách nhiệm tổ chức người dướiquyền thực hiện những nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao phó; là đầu nãocủa một cơ thể hết sức nhạy cảm trước mọi biến cố cuộc sống, biết lựa chọnnhững giải pháp tối ưu để chỉ huy, điều khiển bộ máy hoạt động một cáchhiệu quả Cán bộ chủ chốt trong thời kỳ hội nhập quốc tế đòi hỏi phải đầy tính
Trang 28sáng tạo, kết hợp nhuần nhuyễn khoa học và nghệ thuật, cần sự nhìn nhận,phân tích, liên kết, tổng hợp, điều hòa vô vàn mối quan hệ để vạch ra chủtrương, đường lối, chiến lược, sách lược, điều hành hệ thống công việc đạtđược mục đích cao.
Người cán bộ chủ chốt trong thời kỳ hội nhập quốc tế vừa là chủ thể cónhững phẩm chất phù hợp với xã hội hiện đại, vừa có đủ năng lực để lãnh đạothực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đơn vị.Phẩm chất và năng lực cần thiết đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt trong các giaiđoạn cách mạng trước đây rõ ràng là không thể đáp ứng hoàn toàn các yêucầu về phẩm chất và năng lực của người lãnh đạo trong giai đoạn mới Cán bộchủ chốt trong thời kỳ hội nhập quốc tế phải là chủ thể làm chủ các phươngtiện khoa học - công nghệ hiện đại, nắm chắc cơ cấu và phương thức vận hànhcủa nền sản xuất công nghiệp, của cơ cấu, tổ chức, vận hành của xã hội hiệnđại; vừa phải nâng cao tính độc lập, vừa phải đặt mình trong tổng thể cơ cấuthống nhất - liên hoàn của một xã hội phát triển cao; vừa phải nắm vững chủtrương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và vận dụngtrung thành sáng tạo vào đơn vị mình vừa phải nắm vững các quy tắc và thông
lệ trong mối quan hệ quốc tế, đặc biệt là các chế tài trong quan hệ kinh tếquốc tế
Để đáp ứng được những yêu cầu nói trên, cán bộ chủ chốt phải hội tụnhững năng lực, kỹ năng lãnh đạo quản lý, đó là khả năng thực hiện côngviệc, nhiệm vụ của chủ thể lãnh đạo được cấp trên giao Yếu tố đầu tiên củanăng lực là tri thức chung, là kiến thức tổng hợp do kiến thức và kinh nghiệmloài người đem lại, tạo nên trình độ hiểu biết rộng Yếu tố thứ hai là tri thứcchuyên môn trong lĩnh vực mà người cán bộ chủ chốt đảm nhiệm Năng lựckhông chỉ nằm yên với tư cách nguồn lực dự trữ, nó phải được bộc lộ ra tronghoạt động của người cán bộ chủ chốt Đó là năng lực hoạt động thực tiễn Kỹnăng lãnh đạo của người cán bộ chủ chốt thể hiện khi họ vận dụng toàn bộtiềm năng sáng tạo vào ứng xử, điều hành công việc mình đảm đương trước
Trang 29Đảng, Nhà nước và nhân dân Vai trò, giá trị của cán bộ chủ chốt thể hiện ởhiệu quả lãnh đạo Tiêu chí của hiệu quả lãnh đạo là đem lại thành tựu lớn chotập thể, cơ quan, cho ngành nghề.
Như vậy, có thể nói năng lực và kỹ năng lãnh đạo quản lý của cán bộchủ chốt là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của mỗi địaphương, cơ quan, đơn vị Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, năng lực của cán bộchủ chốt là một trong những nhân tố quyết định sự thành công hay thất bạicủa các chính sách kinh tế của Nhà nước ở địa phương Người cán bộ chủchốt về kinh tế là những người trực tiếp tham gia quản lý các ngành, lĩnh vực,các hoạt động kinh tế ở địa phương Do đó, họ là người nắm rất vững thựctiễn ở cơ sở Những báo cáo về tình hình thực tế ở địa phương, những ý kiến
đề xuất của họ là những căn cứ đầu tiên và không thể thiếu được trong việcxây dựng cơ chế, chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước Chất lượng cácbáo cáo và những ý kiến của họ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng các chínhsách, cơ chế quản lý mà Nhà nước sẽ ban hành Đồng thời, cán bộ chủ chốt vềkinh tế là lực lượng trực tiếp bảo đảm cho sự thành công của những cơ chếchính sách quản lý kinh tế do Nhà nước ban hành Đội ngũ này là người triểnkhai cơ chế, chính sách của Trung ương tại địa phương, sở, ban, ngành mìnhquản lý và cũng là người trực tiếp kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ,chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước, bảo đảm cho những chính sách nàyđược thực hiện đúng đắn và đầy đủ Thông qua hoạt động kiểm tra giám sát,cán bộ chủ chốt về kinh tế sẽ phát hiện những bất hợp lý của cơ chế, chínhsách trong hoạt động thực tiễn, sự bất hợp lý này có thể xuất phát từ chính bảnthân chính sách, cơ chế quản lý hoặc do điều kiện thực tiễn đã thay đổi Trên
cơ sở đó, cán bộ chủ chốt về kinh tế sẽ đề xuất những thay đổi, điều chỉnhchính sách, cơ chế quản lý phù hợp hơn với thực tiễn, bảo đảm nâng cao hiệuquả quản lý nhà nước về kinh tế đối với nền kinh tế quốc dân Do đó, nếungười cán bộ chủ chốt về kinh tế không có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu côngviệc sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của thực hiện, giám sát thực hiện và
Trang 30phản biện đối với cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước; kết quả pháttriển kinh tế - xã hội của địa phương, đơn vị mình quản lý.
1.2.1.2 Cần phải xây dựng hệ tiêu chuẩn của người cán bộ chủ chốt đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, mạnh mẽ
Lãnh đạo, quản lý kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường định hướngXHCN trước xu thế hội nhập, hợp tác quốc tế ở nước ta hiện nay đặt ngườicán bộ chủ chốt vào vị trí và nhiệm vụ quan trọng, song không ít khó khăn,phức tạp Các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước đều khẳngđịnh thời kỳ hội nhập quốc tế đòi hỏi người cán bộ chủ chốt không chỉ hội tụnhững tiêu chuẩn cơ bản về phẩm chất cá nhân, năng lực chuyên môn, nănglực lãnh đạo mà phải rèn luyện những kỹ năng quản trị hiện đại, khả năng tiếpnhận và xử lý vấn đề theo các tiêu chuẩn quốc tế Vì vậy, để xây dựng đội ngũcán bộ hiện đại, có năng lực, làm tốt các khâu trong công tác cán bộ, cần phảixây dựng hệ tiêu chuẩn của người cán bộ chủ chốt trong thời kỳ hội nhậpquốc tế Đồng thời, tiêu chuẩn của người cán bộ chủ chốt thời kỳ hội nhậpquốc tế là một trong những cơ sở giúp người cán bộ chủ chốt từng bước hoànthiện mình, góp phần đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn trong điều kiệnphát triển đó
Những tiêu chuẩn của người cán bộ chủ chốt trong thời kỳ hội nhậpquốc tế có thể bao gồm những nội dung cơ bản sau:
Một là, tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị của người cán bộ chủ chốt.
Người cán bộ chủ chốt phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mụctiêu lý tưởng, trung thành với lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân Ngườicán bộ chủ chốt phải giữ vững quan điểm lập trường tư tưởng, tự tin, dámlàm, dám dấn thân vào việc khó, quyết tâm vượt qua thử thách, thực hiện mụctiêu đã đặt ra, không dao động trước những khó khăn, tác động bên ngoài, lờinói và hành động đi đôi với nhau, đã nói ra là quyết tâm làm bằng được Luônnhất quán trong lời nói và hành động, tạo lòng tin cho cấp dưới Sẽ không cócán bộ nào muốn làm việc dưới quyền một lãnh đạo hay thay đổi, dao động,
Trang 31thiếu kiên quyết, thiếu tự tin Ngoài ra bản lĩnh còn thể hiện ở việc nói
“Không” với tiêu cực, đó là bản lĩnh từ chối Điều đó thể hiện sự tự tin và tạodựng niềm tin vững chắc để có bản lĩnh vượt qua khó khăn Người được giaogiữ trọng trách là cán bộ chủ chốt của một cơ quan, đơn vị phải thể hiện vaitrò đại diện của mình với mọi người, chức trách được giao là trách nhiệm màĐảng và nhân dân tin tưởng giao phó, vì vậy phải luôn phấn đấu hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ, giữ được tín nhiệm vững bền, sự kính trọng tin yêu củamọi người với mình
Hai là, tiêu chuẩn về phẩm chất năng lực của người cán bộ chủ chốt.
Cán bộ chủ chốt trước hết phải là người giàu trí tuệ, có kiến thức chuyên môn,giỏi ngoại ngữ, biết sử dụng công nghệ thông tin, kiến thức xã hội và năng lựcthực tiễn, năng lực quản lý Một người cán bộ chủ chốt có kiến thức chưa chắc
đã là người có năng lực, chỉ khi áp dụng kiến thức đó vào thực tiễn tạo ra hiệuquả công tác cao thì đó mới là người cán bộ chủ chốt có năng lực Năng lực củangười cán bộ chủ chốt phải bao gồm năng lực dự báo, dự đoán tương lai, nănglực phát hiện, tìm tòi, sáng tạo, biết khái quát từ những việc nhỏ hàng ngày để cógiải pháp giải quyết tình hình chung Năng lực người cán bộ chủ chốt thể hiệnbằng trí óc, bằng tư duy thông qua chương trình công tác, nghị quyết, quyết định,thông qua kế hoạch, chiến lược và chỉ đạo hiệu quả công việc Có cách làm việckhoa học, không vùi đầu vào bận rộn công việc sự vụ, giành thời gian học tậpvươn lên, tạo ra môi trường làm việc thân thiện, tốt đẹp, hăng hái, nhiệt tình, tạođộng lực làm việc, khát vọng cống hiến cho cấp dưới và lan tỏa ra xã hội Xâydựng tổ chức bộ máy hoạt động hiệu quả, khi lãnh đạo đi vắng thì bộ máy vẫnhoạt động bình thường
Bên cạnh đó, cán bộ chủ chốt còn phải có năng lực phát hiện, bố trí cán
bộ Người cán bộ chủ chốt phải có năng lực phát hiện người giỏi, người tốt để
bố trí vào những việc quan trọng, phù hợp với chuyên môn của cấp dưới; theodõi, bồi dưỡng, đề bạt, tạo nguồn cán bộ, bồi dưỡng được người thay thếmình; bố trí cán bộ khách quan, đúng đắn, tạo dựng được lòng tin đối với cấp
Trang 32trên, cấp dưới, đảng viên và quần chúng Người cán bộ chủ chốt phải pháthiện những kẻ ô dù, cơ hội, né tránh, động tác giả, thoái hóa, biến chất… đểgiáo dục, bồi dưỡng, uốn nắn và sử dụng hợp lý Năng lực người cán bộ chủchốt không những thể hiện tầm nhìn xa mà phải có tính quyết đoán mạnh mẽ,dám đương đầu với mọi thử thách, có giao tiếp rộng rãi, chọn lọc thông tinphục vụ việc lãnh đạo điều hành.
Ba là, những kỹ năng “mềm” trong công tác lãnh đạo, quản lý của
người cán bộ chủ chốt Kỹ năng “mềm” trong công tác lãnh đạo, quản lý là tấmlòng nhân hậu, phẩm chất trong sáng và kỹ năng lãnh đạo, tác phong gươngmẫu; chính những tố chất này làm nên “uy quyền mềm” của người cán bộ chủchốt Người cán bộ chủ chốt không chỉ thể hiện được vai trò của thủ trưởng màcòn phải thể hiện được vai trò của thủ lĩnh đối với cơ quan, đơn vị mình phụtrách Do vậy, người cán bộ chủ chốt phải gương mẫu, gương mẫu chính làmệnh lệnh không lời Thái độ chân thành, chia sẻ với cấp dưới, xử sự công bằngtạo ra niềm tin và sự kính trọng của cấp dưới đối với cán bộ chủ chốt Thái độlàm việc tận tâm, nhiệt tình, nói đi đôi với làm, làm việc tập thể, dân chủ, quyếtđoán, sâu sát với thực tế, gần gũi với quần chúng, trong xử lý công việc vừacứng rắn, linh hoạt, mềm dẻo là những yếu tố thu phục cấp dưới, tạo sự đồngthuận cao trong tập thể cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi những mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội của cơ quan, đơn vị Vì vậy, để thực hiện đượcmục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, ngườicán bộ chủ chốt ở các cấp, các ngành phải thể hiện vai trò là thủ lĩnh của ngành,đơn vị mình, biến khát vọng của mình thành động lực phấn đấu của cả tập thể
Có thể ví người cán bộ chủ chốt như đầu tàu, đầu tàu chạy nhanh thì đoàn tàu sẽchạy nhanh, đầu tàu chạy chậm thì đoàn tàu cũng chạy chậm
1.2.1.3 Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt đóng vai trò quan tr ọng trong xây dựng bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước ta
Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tốquyết định sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây
Trang 33dựng Đảng” [11, tr.239] Trong đó, cán bộ chủ chốt là lực lượng nòng cốt, lànhân tố quan trọng nhất trong bộ máy tổ chức Đảng và Nhà nước Cán bộ chủchốt là những người đứng đầu một ngành, một địa phương, một đơn vị côngtác, sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối, nhiệm
vụ chính trị ở đó, phân công nhiệm vụ, chỉ đạo cán bộ công chức của mìnhhoàn thành nhiệm vụ được giao phó
Cán bộ chủ chốt giỏi thì đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, chuyên mônnghiệp vụ được sử dụng phát huy được mọi khả năng Cán bộ chủ chốt giỏithì tổ chức sẽ mạnh, nâng cao được hiệu quả, chất lượng công tác Cùng một
tổ chức bộ máy tương tự, cùng một cơ chế chính sách giống nhau, nhưng cóđịa phương kinh tế - xã hội phát triển nhanh, mọi nhiệm vụ đều thực hiện vàhoàn thành xuất sắc; có địa phương kinh tế - xã hội trì trệ, mọi nhiệm vụ bêtrễ Có những ngành, địa phương sản xuất đình đốn, kinh doanh thua lỗ, đờisống cán bộ nhân dân hết sức khó khăn, thế nhưng chỉ cần thay cán bộ đứngđầu, tình hình mọi mặt được cải thiện
Điều đó nói lên là vai trò quyết định của cán bộ chủ chốt Việc xâydựng đội ngũ cán bộ chủ chốt có đầy đủ phẩm chất và tài năng ở các cấp, cácngành đóng vai trò quan trọng trong xây dựng bộ máy tổ chức của Đảng vàNhà nước ta Công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt có nghĩa
là phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ của cấp mình, đơn vị mình, nhất làcán bộ lãnh đạo quản lý Đồng thời với việc chuẩn bị đường lối, nghị quyếtcũng như chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương,đơn vị phải chuẩn bị chiến lược cán bộ tương ứng, trong đó cần chú trọng đếncán bộ chủ chốt Nội dung quan trọng là xây dựng được quy hoạch cán bộ vàchăm lo bồi dưỡng, đào tạo, giáo dục cán bộ Trong công tác xây dựng độingũ cán bộ chủ chốt, phải nắm vững tiêu chuẩn cán bộ, nhất là tiêu chuẩn đốivới cán bộ chủ chốt của các cơ quan đơn vị, giải quyết mối quan hệ giữa tiêuchuẩn và cơ cấu cán bộ Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng vàNhà nước ta trong công tác cán bộ, phải tăng cường đoàn kết, tập hợp rộng rãi
Trang 34các loại cán bộ, trọng dụng mọi nhân tài cho đất nước Cần thu hút nhữngngười có đủ đức, đủ tài, đủ năng lực trình độ vào đội ngũ cán bộ chủ chốt, kể
cả những người chưa phải là đảng viên
Bên cạnh đó, đánh giá đúng và biết sử dụng cán bộ chủ chốt phù hợpvới năng lực cá nhân của cán bộ và đáp ứng yêu cầu phát triển của địaphương, đơn vị Đánh giá đúng thì mới sử dụng cán bộ đúng chỗ, đúng việc.Đánh giá cán bộ là hiểu cán bộ trong sự vận động phát triển, từ hiện tượng tìm
ra bản chất, từ biểu hiện bề ngoài tìm ra thực chất bên trong, tìm hiểu về quákhứ và hiện tại thấy hướng phát triển tương lai Khi đánh giá đúng cán bộ thìcần mạnh dạn sử dụng đề bạt, cất nhắc và giao nhiệm vụ đúng lúc; không chờđợi, không để chậm trễ mất thời cơ của cán bộ
Chính sách cán bộ phải nhất quán, thực sự dân chủ, công bằng Mọi cán
bộ đều được đối xử như nhau, đều được tạo điều kiện để phát huy năng lực sởtrường của bản thân Đồng thời tất cả cán bộ đều được hưởng những chínhsách về bồi dưỡng, đào tạo, sử dụng, đề bạt cất nhắc, đãi ngộ một cách côngbằng, hợp lý
Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt đóng vai trò quan trọnghàng đầu trong xây dựng bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước ta Đó là
cơ sở vững chắc để công tác cán bộ của Đảng ngày càng được tăng cường,phát triển và có hiệu quả, góp phần quyết định vào việc xây dựng đội ngũcán bộ nói chung và trong đó có đội ngũ cán bộ chủ chốt đủ năng lực vàphẩm chất, đáp ứng yêu cầu của phát triển của đất nước thời kỳ hội nhậpquốc tế
1.2.2 Các vấn đề đang tiếp tục nghiên cứu
Bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng trên tất cả các lĩnh vựckinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, Việt Nam muốn thành công trong phát triểnkinh tế, giữ vững chế độ chính trị, ổn định xã hội phụ thuộc rất lớn vào quy
mô và chất lượng nguồn nhân lực, trong đó trước hết phải kể đến đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các ngành, các cấp, các đoàn thể chính trị - xã
Trang 35hội Đội ngũ này phải được đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện thường xuyên đểđáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mục tiêu “dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; hội tụ cả năng lực tư duy vànăng lực hoạt động thực tiễn, đủ sức gánh vác những nhiệm vụ to lớn, phứctạp trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế dưới tác động mạnh
mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ gắn với nền kinh tế tri thức Vìvậy, công tác cán bộ, đặc biệt là công tác cán bộ với đội ngũ cán bộ chủ chốtnói chung, đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế nói riêng đang đặt ra những vấn
đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ
1.2.2.1 Th ực hiện đổi mới công tác đánh giá cán bộ
Để đánh giá cán bộ đúng người, đúng việc, đúng năng lực phải xâydựng tiêu chuẩn các chức danh cán bộ và đồng thời phải xây dựng tiêu chíđánh giá cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh, theo hiệu quả công việc và sự tínnhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân Nghị quyết Trung ương 3 (khoáVIII) đã ban hành tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn riêng đối với cán bộ thuộc 4lĩnh vực công tác là cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân; cán
bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang; cán bộ khoa học, chuyên gia; cán bộ quản lýkinh doanh
Tuy nhiên, đó vẫn là những tiêu chuẩn chung của các cán bộ chủ chốttrong mỗi lĩnh vực công tác, những tiêu chuẩn cụ thể cho từng chức danh cán
bộ ở từng cấp, từng ngành thì hiện nay vẫn chưa xây dựng Mặt khác, để đánhgiá đúng chất lượng cán bộ giữa các ngành, lĩnh vực, địa phương cần phải có
bộ khung tiêu chuẩn và khung tiêu chí đánh giá đối với các chức danh cán bộ
ở từng cấp ủy quản lý (cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện quản lý), trên cơ
sở đó, các cấp uỷ, tổ chức đảng xây dựng tiêu chuẩn cụ thể các chức danh cán
bộ thuộc cấp mình và cấp dưới quản lý làm cơ sở để đánh giá đúng cán bộ
Trong công tác đánh giá cán bộ cần phải xác định rõ thẩm quyền, tráchnhiệm người đứng đầu trong đánh giá cán bộ, coi trọng đánh giá của cấptrưởng đối với cấp phó; coi trọng đánh giá của người đứng đầu đối với thủ
Trang 36trưởng các đơn vị trực thuộc Đồng thời với việc xác định thẩm quyền, tráchnhiệm người đứng đầu trong đánh giá cán bộ cũng cần nghiên cứu, quy định
rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu trong tất cả các khâu kháccủa công tác cán bộ, trong quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm,khen thưởng, kỷ luật cán bộ… Có làm như vậy thì chất lượng công tác đánhgiá cán bộ mới được nâng cao và đi vào chiều sâu
Để đánh giá đúng trình độ, năng lực của cán bộ, nhất là đối với cán bộtrẻ, cán bộ dự nguồn quy hoạch các chức danh, một trong những tiêu chí đặt
ra là cần phải thực hiện thi, sát hạch hàng năm đối với cán bộ Thực hiện cơchế thi sát hạch định kỳ cũng sẽ thúc đẩy việc tự học tập, tự nâng cao trình độcủa cán bộ, đồng thời cũng góp phần đổi mới nội dung, hình thức đào tạo, bồidưỡng đối với cán bộ, đưa việc tự học tập, tự nâng cao trình độ trở thành nhu cầuthiết thân của mỗi cán bộ, công chức; góp phần khắc phục tình trạng chạy theobằng cấp, tuyệt đối hoá bằng cấp của cả người dạy, người học và của cơ quanlàm công tác cán bộ, cơ quan sử dụng cán bộ Tuy nhiên, để tiêu chí thi, sáthạch hàng năm đối với cán bộ trở thành một tiêu chí chất lượng đòi hỏi phảinghiên cứu, ban hành cơ chế thi, sát hạch hằng năm và xây dựng phương thứcđánh giá cán bộ trong mối quan hệ biện chứng giữa kết quả thi, sát hạch vớithành tích công tác và sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân
1.2.2.2 Đổi mới phương thức xây dựng quy hoạch cán bộ
Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra yêu cầu phải thực hiện nghiêm cơ cấu 3
độ tuổi trong quy hoạch cấp uỷ và ban lãnh đạo, quản lý các cấp, bởi vì, chính
3 độ tuổi là yếu tố căn bản, bảo đảm việc chuẩn bị cán bộ từ xa, giúp chocông tác quy hoạch cán bộ đúng hướng, đúng mục đích, yêu cầu của Nghịquyết Trung ương 3 (khoá VIII) đề ra Tuy nhiên, đây là công việc khó, đòihỏi phải kiên trì và quyết tâm, phải tiến hành đồng bộ các giải pháp trước khiphát hiện, giới thiệu nhân sự đưa vào quy hoạch
Vấn đề quan trọng nhất trong công tác quy hoạch chính là việc tạo nguồncán bộ, phát hiện những nhân tố trẻ, điển hình từ phong trào thi đua của các
Trang 37ngành, các cấp, các lĩnh vực công tác, đồng thời với việc lựa chọn sinh viên tốtnghiệp loại giỏi ở các trường đại học có chất lượng cử về cơ sở (những nơi khókhăn, có nhu cầu) để đào tạo, rèn luyện trong phong trào lao động, sản xuất vàcông tác, từ đó chọn lọc ra những nhân tố có triển vọng, đưa đi đào tạo, bồidưỡng rồi lại đưa trở về cơ sở đảm nhiệm các chức vụ cao hơn và cứ từng bướcnhư vậy sẽ dần hình thành các lớp cán bộ trẻ tuổi, dự nguồn cho các cấp lãnh đạotương lai…Việc tạo ra các lớp cán bộ trẻ tuổi kế tiếp nhau, có phẩm chất, cótrình độ và năng lực lãnh đạo, quản lý, chính là công việc cốt lõi của công tácquy hoạch cán bộ và cũng là đặc điểm căn bản, khác với công tác nhân sự cụ thể,
mà trước đây chúng ta vẫn thường có sự nhầm lẫn trong xây dựng quy hoạch
Để thực hiện những yêu cầu trên cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới vềphương pháp, cách thức xây dựng quy hoạch, khắc phục những vướng mắc
mà thực tế công tác quy hoạch đặt ra, nhất là những vấn đề còn ý kiến khácnhau về ba độ tuổi trong quy hoạch, về quy hoạch đối với cán bộ đương chức;
về số lượng nguồn quy hoạch trong từng chức danh…
1.2.2.3 Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ góp phần nâng cao ch ất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt
Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước nói chung, của hệ thống hànhchính nói riêng được quyết định bởi phẩm chất năng lực và kết quả công táccủa đội ngũ cán bộ Phẩm chất của đội ngũ cán bộ ngoài khả năng và tinh thần
tự học tập, lại phụ thuộc rất nhiều vào công tác đào tạo, bồi dưỡng thườngxuyên kiến thức và kỹ năng thực hành cho họ Trong điều kiện đội ngũ cán bộ
ở nước ta hiện nay chưa được chuẩn hoá theo tiêu chuẩn chức danh, chưa đápứng được đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đấtnước, xây dựng nền kinh tế thị trường, hội nhập khu vực và quốc tế, đặc biệt
là trong điều kiện khoa học công nghệ và thông tin phát triển như vũ bão,thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, việc ứng dụng nhữngthành tựu khoa học công nghệ tin học vào hiện đại hoá nền hành chính, côngtác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Trang 38Điểm hạn chế lớn nhất của đội ngũ cán bộ chủ chốt ở nước ta hiện nay là
kỹ năng lãnh đạo quản lý của các cán bộ chủ chốt chưa đồng đều Trước yêu cầucủa quá trình hội nhập, tham gia các định chế khu vực và quốc tế, những kiếnthức về kinh tế đối ngoại, kinh tế thị trường, luật pháp và thông lệ quốc tế nhất
là ngoại ngữ đang là thách thức đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt Công tác đàotạo, bồi dưỡng mặc dù đã được tăng cường nhưng chủ yếu để đáp ứng yêu cầuchuẩn hóa trình độ, chưa sát với tình hình thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch chotừng chức danh Thiếu một kế hoạch tổng thể về quản lý, đào tạo, còn hạn chếđào tạo chuyên sâu theo chức danh Chương trình đào tạo có nội dung lý thuyếtchung chung, chủ quan phiến diện, xa rời thực tế và không bám sát nhu cầu củangười học (học để vận dụng, thực hành thành thạo kỹ năng, nghiệp vụ hànhchính, giỏi về thực hành quản lý) Điều này đặt ra yêu cầu đổi mới công tác đàotạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt
Trước hết, cần phải xác định nhu cầu đào tạo thực tế đối với nguồn lực
này Trên cơ sở xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng kế hoạchcho từng giai đoạn và tổ chức thực hiện có hiệu quả Xác định nhu cầu đàotạo là xác định sự khác nhau, sự chênh lệch giữa năng lực, trình độ kiến thức,
kỹ năng so với yêu cầu cần có của mỗi vị trí công việc nhằm xác định nộidung và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cho các chức danh
Thứ hai, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng về lý luận
chính trị, quản lý nhà nước, kiến thức, nghiệp vụ, kỹ năng công việc và thái
độ công tác đối với công chức theo hướng sát với thực tế, “làm việc gì thì bồidưỡng nghiệp vụ ấy’’, hướng vào các vấn đề thiết thực đã đặt ra từ quá trìnhthực thi công vụ, nâng cao kỹ năng hành chính, qua đó đảm bảo tính thốngnhất trong hoạt động của các cơ quan hành chính
Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và đổi mới phương
pháp giảng dạy Ngoài kiến thức, phải có kỹ năng và kinh nghiệm trong giảiquyết công việc đồng thời phải qua khóa đào tạo, bồi dưỡng về phương phápgiảng dạy tích cực, lấy học viên làm trung tâm Ngoài ra, cần xây dựng đội
Trang 39ngũ giảng viên kiêm chức, có kinh nghiệm, đã được đào tạo cơ bản, có nănglực giảng dạy tham gia vào quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Thứ tư, thực hiện đánh giá kết quả sau đào tạo Hiệu quả từ đào tạo là
lợi ích lâu dài, không thể đo lường ngay được bằng các chỉ tiêu định lượng,song đào tạo phải đem lại lợi ích thực cho tổ chức khi các học viên trở về nơilàm việc Đào tạo phải giúp đội ngũ cán bộ thực thi nhiệm vụ tốt hơn khi trở
về với công việc, hình thành các chuẩn mực thực thi nhiệm vụ, nâng cao khảnăng tiết kiệm nguồn nhân lực thông qua việc đề xuất và thực hiện các sángkiến, cải tiến trên cơ sở áp dụng kiến thức, kỹ năng đã được học
1.2.2.4 Định hình tố chất của nhà quản lý đối với đội ngũ cán bộ chủ
ch ốt về kinh tế cấp tỉnh trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Trong nền kinh tế tri thức, thách thức quan trọng nhất đối với nhà quản
lý là nâng cao năng suất lao động các công việc tri thức, hay năng suất laođộng của người lao động tri thức Điều này đặt ra những yêu cầu mới đối vớingười quản lý nói chung và với đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh.Người quản lý chắc chắn không thể thiếu những phán đoán, xu thế, hiểu biết
để gắn chặt với hành trang của mình trên con đường khẳng định vị trí, vai trò,trách nhiệm cá nhân đối với sự phát triển của tổ chức, doanh nghiệp trong môhình kinh tế tri thức - xã hội thông tin
Đối với bất kỳ tổ chức, doanh nghiệp nào, người lao động tri thức vànăng suất lao động của họ đang nổi lên với vai trò quan trọng hơn Lao độngtri thức đang nhanh chóng trở thành bộ phận lớn nhất của lực lượng lao độngtại các nước này với gần 30% dân số làm việc ở trong “những dịch vụ dữliệu”, thu nhập, xử lý, khôi phục hay phân tích thông tin
Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, với sự phát triển mạnh mẽ của khoahọc công nghệ, người cán bộ chủ chốt về kinh tế bị ràng buộc hoàn toàn bởicác phương tiện công nghệ thông tin hiện đại Vì thế, ngoài sự linh hoạt tiếpcận, làm chủ nó như một nhiệm vụ đương nhiên, người cán bộ chủ chốt vềkinh tế sẽ phải là người khai thác dữ liệu, chuyển chúng sang thông tin - vì đó
là cơ sở để ra quyết định
Trang 40Những tiêu chuẩn cần bổ sung đối với người cán bộ chủ chốt về kinh
tế trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế: ngoài những tiêu chuẩn đã nêuđối với người cán bộ chủ chốt về kinh tế cấp tỉnh, trong xu thế hội nhậpquốc tế mạnh mẽ và sâu rộng hiện nay, người cán bộ chủ chốt về kinh tếcũng cần phải am hiểu thông lệ quốc tế, những tổ chức quốc tế mà ViệtNam là thành viên, những quy tắc, luật pháp và tập quán của nước ngoài
mà mình có quan hệ làm ăn Điều này đặc biệt quan trọng khi nước ta đanghội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Bên cạnh đó, do yêu cầu của
mở rộng mối quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, người cán bộ quản lý kinhdoanh phải có trình độ về ngoại ngữ, biết sử dụng thành thạo vi tính, amhiểu các quy tắc và pháp luật kinh doanh quốc tế để phục vụ cho nhu cầucông việc của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp
1.2.2.5 Qu ản lý đội ngũ cán bộ chủ chốt về kinh tế có vai trò hết
s ức quan trọng
Đây là khâu ảnh hưởng có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu khác trongcông tác xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ QLNN về kinh tế cấptỉnh nói riêng Chúng ta có thể có đội ngũ cán bộ đầy đủ về số lượng với một
cơ cấu hợp lý, đảm bảo về chất lượng nhưng nếu không làm tốt công tác quản
lý thì chúng ta có thể mất cán bộ, có thể vô hiệu hóa đội ngũ cán bộ Chính vìvậy, cấp ủy, chính quyền cấp tỉnh và các cơ quan quản lý cán bộ liên quan cầnnhận thức đúng tầm quan trọng, đề cao trách nhiệm của việc quản lý đội ngũcán bộ của mình theo phân cấp, tránh tình trạng khoán trắng công tác này chocác cơ quan, bộ phận làm công tác tổ chức cán bộ
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển nhanh về kinh tế - xã hội và đặcbiệt bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các giải pháp đưa ra của một số đề tài
có phần còn chưa phù hợp với thực tiễn có nhiều biến đổi do sự phát triển củacách mạng khoa học - công nghệ và toàn cầu hoá đặt ra Chưa có công trìnhnào nghiên cứu một cách đầy đủ, chi tiết về việc xây dựng đội ngũ cán bộquản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh của tỉnh Hòa Bình thời kỳ đẩy mạnh