Cuộc khủng hoảng từ Mỹ đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới.. Cuộc kh
Trang 1BÁO CÁO ĐỀ TÀI KINH TẾ VĨ MÔ:
VIỆT NAM VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG
ĐỂ GIỮ MỨC TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
GVHD: TS.NGUYỄN TIẾN DŨNG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên nhóm tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Tiến Dũng đã nhiệt tình hướng dẫn để chúng tôi thực hiện đề tài này và cũng xin cảm ơn các bạn trong lớp đã có những đóng góp ý kiến qúy báu cùng những nổ lực của tất cả các thành viên trong nhóm để hoàn thành đề tài này
Trang 3MỤC LỤC
I KHÁI NIỆM KHỦNG HOẢNG
II SƠ LƯỢC VỀ KHỦNG HOẢNG 2008
III ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TỚI VIỆT NAM
IV.VIỆT NAM ĐÃ LÀM GÌ ĐỂ VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG
V.BÀI HỌC KINH NGHIỆM
VI.CÁC CHỈ SỐ TĂNG TRƯỞNG 2009- 2010
Trang 4NỘI DUNG
I.KHÁI NIỆM KHỦNG HOẢNG
- Khủng hoảng là một quá trình, nhờ quá trình đó kinh tế thị trường được cứu thoát khỏi tình trạng
cùng cực, kinh tế trong tương lai tránh được sai lầm từ sự phồn vinh tạm thời cùng với lạm phát lần trước; và tạo động năng để hồi phục tình trạng kinh tế vững chắc Đình đốn là hiện tượng không dễ chịu, nhưng là sự phản ứng cần thiết
- Khủng hoảng kinh tế: là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy
thoái trong chu kỳ kinh tế Là sự tàn phá nền kinh tế Khủng hoảng kinh tế đề cập đến quá trình tái sản xuất đang bị suy sụp tạm thời Thời gian khủng hoảng làm những xung đột giữa các giai tầng trong xã hội thêm căng thẳng, đồng thời nó tái khởi động một quá trình tích tụ tư bản mới
- Suy thoái kinh tế được định nghĩa trong Kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm của Tổng sản phẩm
quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm (nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý) Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kì đình lạm Một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế
Trang 5II.SƠ LƯỢC VỀ KHỦNG HOẢNG
Khủng hoảng tài chính đầu tiên trong lịch sử đã nổ ra vào thời kỳ đế chế La Mã năm 88 trước Công Nguyên ( theo Giáo sư đại học Oxford, nhà lịch sử học Phillip Kay ) Khủng hoảng kinh tế
đã diễn ra vào thời Trung cổ (Florence, năm 1342), thời đại Phục hưng (Venice, năm 1492), thời
kỳ Cận đại (Pháp, năm 1720) Nhưng cho đến giữa thế kỷ 19, những hiện tượng đó mang tính chất địa phương là chủ yếu
Trong quá trình hình thành chủ nghĩa tư bản, tần số và sự ảnh hưởng của chúng tăng lên Nhưng điều chính là tất cả những khủng hoảng đó đều được khắc phục Và cứ mỗi lần một quốc gia nào
đó thoát khỏi cuộc khủng hoảng thì nó lại trở nên hùng mạnh hơn trước khi rơi vào khủng hoảng Khủng hoảng và suy thoái hiện nay thực chất là sự điều chỉnh sự mâu thuẩn giữa sản xuất và tiêu dùng, điều chỉnh sự mâu thuẩn giữa quyền lợi của các giai cấp, mâu thuẩn giữa người nghèo
và người giàu, v.v…
Hơn nữa, khủng hoảng có thể làm chứng cứ về việc kinh tế những nước công nghiệp phát triển chuyển đổi khoa học kỹ thuật và kinh tế-xã hội lên cấp độ mới Khủng hoảng xuất hiện khi hệ thống tài chính và kinh tế tích lũy quá nhiều thành phần xơ cứng, không hiệu quả và không hợp
lý
Một số cuộc khủng hoảng:
- Khủng hoảng vào năm 1825 được coi là thảm họa tài chính toàn thế giới đầu tiên
- Khủng hoảng trong thị trường chứng khoán năm 1836-1837 đã bao phủ Anh, Đức và Hà Lan.Toàn bộ hệ thống ngân hàng những nước đó bị thiệt hại nghiêm trọng
Trang 6- Vào năm 1857, một trong những khủng hoảng có quy mô lớn nhất thế kỷ 19 bùng nổ
- Khủng hoảng tiền tệ ở Mỹ năm 1861
- Vào năm 1914 khủng hoảng tài chính tiếp theo bùng lên
- Thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới hoàn toàn là khủng hoảng kinh tế
- Thời kỳ đình trệ năm 1920-1922 và giai đoạn Đại suy thoái năm 1929-1933 đã tác động đến đời sống mọi giới con người
- Khủng hoảng năm 1957-1958 lan tràn ra Mỹ, Canada và những nước Tây Âu
- Vào năm 1994-1995, khủng hoảng nổ ra ở Mexico, hai năm sau thị trường quỹ của châu Á sụp
đổ
- Khủng hoảng tài chính năm 2007-2010: là một cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ hàng loạt
hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy
mô lớn ở nhiều nước trên thế giới, có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở Mỹ
Bong bóng nhà ở cùng với giám sát tài chính thiếu hoàn thiện ở Mỹ dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính ở nước này từ năm 2007, bùng phát mạnh từ cuối năm 2008 Thông qua quan hệ tài chính nói riêng và kinh tế nói chung mật thiết của Mỹ với nhiều nước Cuộc khủng hoảng từ
Mỹ đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới
Đầu tiên là việc các hợp đồng cho vay bất động sản thế chấp, tổng số khoảng 12 ngàn tỷ USD, trong đó 3 đến 4 ngàn tỷ USD là dưới chuẩn, khó đòi Những người không có khả năng trả nợ cũng được cho vay
Khi các chứng khoán này mất giá thảm hại, thị trường không có người mua, nên các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các tổ chức tài chính nắm hàng ngàn tỷ USD chứng khoán đó không bán được, mất khả năng thanh khoản, và mất khả năng thanh toán, đi đến gục ngã hoặc phá sản
Trang 7Nhiều ngân hàng vì mất khả năng thanh khoản đã co lại, rút lại tín dụng, điều này đã khiến các doanh nghiệp khó tiếp cận thị trường vốn và bị ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất kinh doanh
III ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TỚI VIỆT NAM
Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ diễn biến phức tạp, lan rộng tới nhiều nước và đã dẫn tới suy thoái kinh tế thế giới Sự tác động này tới nền kinh tế Việt Nam được thể hiện qua một số yếu tố sau:
- Đối với thị trường tài chính:
+ Vì chưa có định chế tài chính nào của Việt Nam đầu tư vào trái phiếu MBS và các hợp đồng cho vay cầm cố như Mỹ nên ảnh hưởng trực tiếp thì cũng có giới hạn
+ Tiền tệ Việt Nam, vì kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn chiếm 30% tổng sản lượng, chu chuyển vốn thị trường thế giới Trong điều kiện hội nhập “nhất cử, nhất động” của một nền kinh tế nào đó cũng có ảnh hưởng nhất định đối với thế giới, chưa nói tới một nền kinh tế lớn như Mỹ
Giá bất động sản ở Việt Nam có thể xuống thấp hơn nữa Mà bất động sản xuống thì tài sản ngân hàng cũng xuống theo và nợ xấu có thể tăng lên Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước thì dư nợ cho vay bất động sản tính đến cuối tháng 9/2008 là 115.500 tỷ VND, chiếm 9,15% tổng dư nợ toàn hệ thống
+Thị trường chứng khoán Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh mẽ, nửa đầu năm 2008 tỉ số chứng khoán tụt dốc nhanh chóng Đầu tháng 1-2008, Vn-Index còn trên 900 điểm, tới đầu tháng 6-2008, hàn thử biểu kinh tế lần đầu rơi xuống dưới ngưỡng 400 điểm Thị trường tiếp tục giằng co trong quý III-2008 Từ sau tháng 10-2008, thị trường chứng khoán liên tục giảm điểm Tới ngày 11-12-
2008, Vn-Index chỉ còn 288 điểm Tại Hà Nội, HaSTC-Index còn 101 điểm Trước đó, thị trường
Hà Nội thậm chí còn lùi về sau vạch xuất phát, tụt xuống 97,61 điểm khi kết thúc phiên giao dịch ngày 27-11-2008 Đến cuối năm 2008, giá trị các chỉ số chứng khoán giảm tới 70% so với đầu
Trang 8năm Ngay một số cổ phiếu thuộc nhóm “blue-chip” còn có mức sụt giảm lớn hơn nhiều, như SSI (- 84%) và FPT (- 78%)
Bảng 2: Tương quan chặt chẽ giữa các chỉ số chứng khoán
GDP sức mua theo đầu người
Trang 9da giày, thuỷ sản…của nước ta Điều này được thể hiện thông qua hai tác động sau:
- Thứ nhất, nhu cầu nhập khẩu hàng hoá của Mỹ đối với Việt Nam (Việt Nam là một trong 37 nước xuất khẩu lớn nhất vào thị trường Mỹ, trong đó có một số mặt hàng đứng thứ hạng cao như: Dệt may, hạt tiêu, hạt điều, cà phê, đồ gỗ, thuỷ sản ) có xu hướng giảm sút vì hai lý do
+ Hàng xuất khẩu của Việt Nam phần lớn vẫn là các loại hàng thô, trong khi giá các nguyên liệu thô trên thị trường thế giới đang giảm, kể cả khi không có khủng hoảng ở Mỹ
+ Sự eo hẹp của thị trường tài chính dẫn đến eo hẹp thị trường nhập khẩu hàng hóa, nhu cầu về hàng xuất khẩu của Việt Nam giảm đi
- Thứ hai, tỷ giá VND/USD bị tác động nhiều và cần được điều chỉnh linh hoạt do đồng Việt Nam được xác định giá gắn với đồng USD Khi đồng USD giảm trên thị trường thế giới thì có thể dẫn tới lạm phát trong nước nếu đồng VND không lên giá, và khi đó người tiêu dùng chịu giá cả tăng do nhập khẩu Nhưng nếu tỷ giá VND/USD giảm (tức là VND lên giá so với USD) ở mức không phù hợp sẽ làm cho xuất khẩu vào Mỹ của các doanh nghiệp Việt Nam bị lỗ Trong khi để cạnh tranh bán hàng vào Mỹ, nhiều nước có mặt hàng tương đồng cũng đã giảm giá Nhìn vào lĩnh vực xuất khẩu, năm 2008 mức xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng trưởng ngoạn mục (do tăng
Trang 10về số lượng và cả giá cả) Nhưng sáu tháng đầu năm 2009 tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 27,6
tỷ USD, kém xa so với mục tiêu đề ra (mục tiêu đặt ra cho cả năm là 64,75 tỷ USD) giảm tới 10,15% so với cùng kỳ (mục tiêu là tăng 13%)
Tăng trưởng
2007 71,4 823 8,5%
2008 89,83 1024 6,2%
2009 92,84 1040 5,3%
Hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đều suy giảm: Nếu so cùng kỳ, 6 tháng đầu năm
2009 hàng dệt nay giảm 1,3%; giày dép giảm 8,7%; thuỷ hải sản giảm 10,7% Nếu năm 2008 giá xuất khẩu rất cao thì năm nay giá các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều giảm sút nghiêm trọng: giá dầu thô giảm 53%; giá cà phê giảm 28,3% và còn có xu hướng giảm tiếp, giá cao su giảm 44%; giá gạo giảm hơn 20%
Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, nhu cầu nhập khẩu hàng Việt Nam ở hầu hết các thị trường chính đều giảm như thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc, Australia Hơn nữa
để chống trọi với tình trạng thiếu hụt phương tiện thanh toán và bảo vệ các doanh nghiệp trong nước, ở hầu hết các thị trường này đều đang gia tăng các biện pháp bảo hộ, từ chối đơn hàng, tung tin thất thiệt để hạ uy tín của hàng Việt Nam
Các chỉ số về xuất nhập khẩu
Trang 11Năm Xuất khẩu
(tỷ USD)
Nhập khẩu (tỷ USD)
Thâm hụt (tỷ USD)
2007 48,38 60,83 -12,45
2009 56,58 68,83 -12,25
- Đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI):
Khủng hoảng tài chính lan rộng, hầu hết các doanh nghiệp Mỹ và Châu Âu sẽ giảm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nên việc thu hút FDI ở hai thị trường này của Việt Nam đều bị tác động đáng
kể Hơn thế nữa, chi phí huy động vốn toàn cầu có thể ngày càng tăng do biên độ tín dụng gia tăng dẫn tới khả năng thu hút đầu tư bị hạn chế; tiêu dùng có thể giảm sút dẫn tới việc giải ngân FDI giảm Hầu hết các nước trên thế giới đều phải đối mặt với tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm hoặc
âm Việt Nam cũng không thoát khỏi yếu tố này
Ngoài ra, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có thể chững lại, thậm chí vốn đã cam kết sẽ thực hiện trễ hơn bởi khoảng 80% vốn đầu tư vào Việt Nam là đi vay Khi không đi vay được thì nhà đầu tư sẽ khó giải ngân vào Việt Nam Vốn cam kết thì lớn, nhưng vốn thực hiện có thể thấp, tình hình giải ngân những tháng cuối năm sẽ gặp khó khăn
Tiền gửi ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng trong nước sẽ bị giảm lợi tức do nhiều nước nới lỏng tiền tệ để tránh lâm vào suy thoái sâu rộng; dòng ngoại hối sẽ suy giảm; nhiều hoạt động kinh tế ở nước ta cũng gặp khó khăn, đặc biệt các hợp đồng đã ký kết với đối tác nước ngoài có thể bị ngưng trệ và có thể các hợp đồng này sẽ không còn được ký kết
Trang 12Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Năm FDI đăng ký
Bên cạnh đó khủng hoảng còn làm gia tăng tỉ lệ thất nghiệp,ảnh hưởng tới đời sống người dân,gây bất ổn trong xã hội…
Mặc dù khủng hoảng tài chính đã gây ra một số tác động tiêu cực, nhưng nó cũng tạo ra cho Việt Nam một số cơ hội:
+ Việc thu hút vốn đầu tư có nhiều thuận lợi do dòng vốn trên thế giới sẽ tập trung vào những nước có môi trường kinh doanh và chính trị ổn định
Trang 13+ Hoạt động xuất khẩu có thể tăng do nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có nhiều lợi thế so sánh như hàng dệt may ; nhập khẩu có thể chọn lọc do nhiều nước trên thế giới phải bán các mặt hàng, công nghệ do kinh tế đi xuống
+ Việc giảm các loại nguyên vật liệu này tuy gây khó khăn cho nền kinh tế nhưng cũng tác động tích cực tới nền kinh tế như: Hạn chế lạm phát; xăng dầu giảm dẫn tới chi phí vận chuyển và giá của nhiều loại vật liệu xây dựng như sắt, thép, xi măng, cát, đá cũng giảm, góp phần thúc đẩy thị trường bất động sản hồi phục sau một thời gian "đóng băng"
IV VIỆT NAM ĐÃ LÀM GÌ ĐỂ VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG
Trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, từ qúy I năm 2008 Chính Phủ Việt Nam đưa ra một loạt giải pháp để ngăn chặn phòng ngừa những hậu quả khôn lường của “Cơn Bão Tài Chính” Việt Nam đã kịp thời áp dụng các biện pháp hợp lý nhằm đưa đất nước vượt qua khủng hoảng:
- Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt nhiều biện pháp kích thích tài chính trong giai đoạn từ tháng
1 – tháng 5/2009 làm dịu tác động của sự suy giảm kinh tế toàn cầu đối với nền kinh tế Việt Nam.“Nền kinh tế Việt Nam được "giải cứu" bởi gói kích thích trị giá 147.000 tỷ đồng (8,6 tỷ USD) Tuy nhiên ngày 04/05/2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã công bố gói kích cầu 8 tỷ USD thay vì 6 tỷ USD như công bố Nhiều chuyên gia kinh tế nhận định, đây là một quyết sách nhậy bén và kịp thời của Chính phủ
Trang 14Theo đó, gói kích cầu tương đương 8 tỷ USD được chia thành 8 phần có các giá trị khác nhau
Cụ thể các phần của gói kích cầu này bao gồm:
+Thứ nhất, hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng khoảng 17.000 tỷ đồng
+Thứ hai, tạm thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước khoảng 3.400 tỷ đồng
+Thứ ba, ứng trước ngân sách nhà nước để thực hiện một số dự án cấp bách khoảng 37.200 tỷ đồng
+Thứ tư, chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch năm 2008 sang năm 2009 khoảng 30.200 tỷ đồng +Thứ năm, phát hành thêm trái phiếu Chính phủ khoảng 20.000 tỷ đồng
+Thứ sáu, thực hiện chính sách giảm thuế khoảng 28.000 tỷ đồng
+Thứ bảy, tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp khoảng 17.000 tỷ đồng
+Thứ tám, các khoản chi kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội khoảng 7.200 tỷ đồng
-Việt Nam cũng đã sử dụng các công cụ chính sách truyền thống mạnh mẽ để giải quyết những bất cân bằng kinh tế vĩ mô
-Khi đối mặt với tình trạng phát triển nóng, Chính phủ Việt Nam đã cho thấy sự sẵn sàng thực hiện các biện pháp cứng rắn để ổn định nền kinh tế Những biện pháp này gồm cả việc thắt chặt các chính sách tài khóa và tiền tệ, bất chấp phản ứng từ các doanh nghiệp trong nước , Chính phủ
đã thống nhất xác định nhiệm vụ trọng tâm hiện nay của đất nước ta là: kiềm chế lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường - chính sách lãi suất thực dương, kiểm soát chặt chẽ tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng nhưng phải bảo đảm tính thanh khoản của nền kinh tế và hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng Kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm theo đúng quy định của pháp luật để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng
- Cùng với việc ổn định nền kinh tế, Chính phủ Việt Nam đã tiếp tục các nỗ lực tự do hóa nền kinh tế thay vì ngừng công cuộc cải tổ kinh tế thực hiện trong những năm gần đây như một số