Tiềm năng đất có khả năng canh tác NN của cả nước khỏang từ 10-11 triệu ha trong đó mới chỉ sử dụng được 6, 9 triệu ha đất NN chiếm 21 % diện tích đất tự nhiên gồm 5, 6 triệu ha là đất t
Trang 2VN có diện tích tự nhiên khoảng 33 triệu ha, trong đó, diện tích sông suối và núi đá khoảng 1.370.100ha (chiếm khoảng 4,16% diện tích đất tự nhiên), phần đất liền khoảng 31,2 triệu ha (chiếm khoảng 94,5% diện tích tự nhiên), xếp hàng thứ 58 trong tổng số
200 nước trên thế giới, nhưng vì dân số đông (khoảng 90 triệu người) nên diện tích đất bình quân đầu người thuộc loại rất thấp, xếp thứ 159 và bằng 1/6 bình quân của thế giới Tiềm năng đất có khả năng canh tác NN của cả nước khỏang từ 10-11 triệu ha trong đó mới chỉ sử dụng được 6, 9 triệu ha đất NN (chiếm 21 % diện tích đất tự nhiên) gồm 5, 6 triệu ha là đất trồng cây hàng năm và 1, 3 triệu ha là đất trồng cây ăn quả và cây lâu năm khác và phân bố không đồng đều ở các vùng sinh thái khác nhau Diện tích đất canh tác vốn đã thấp nhưng lại giảm theo thời gian do sức ép tăng dân số, đô thị hoá, công nghiệp hoá và chuyển đổi mục đích sử dụng
Nhìn chung, đất của VN đa dạng về loại, phong phú về khả năng sử dụng Căn cứvào nguồn gốc hình thành có thể phân thành hai nhóm lớn: Nhóm đất được hình thành dobồi
tụ (đất thuỷ thành) có diện tích khoảng 8 triệu ha, chiếm 28,27% tổng diện tích đất
tựnhiên, trong đó đất đồng bằng 7 triệu ha.Nhóm đất được hình thành tại chỗ (đất địa thành) có khoảng 25 triệu ha
1.1.2 Khái niệm đất NN
Đất NN là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về NN, lâm
nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất NN, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất NN khác
1.1.3 Đặc điểm chung của đất NN
Thứ 1:Đất NN là một tư liệu sản xuất đặc biệt
Đất NN mang cả tính chất của đối tượng lao động và tư liệu lao động nên là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt của NN Trong NN, nếu sử dụng hợp lý đất đai thì sức sản xuất của
nó không ngừng được nâng lên, khác vớicác tư liệu sản xuất khác khi sử dụng, theo thời gian sẽ bị hao mòn và hỏng đi Sức sản xuất của đất đai tăng lên gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, với việc thực hiện phương thức
thâm canh và chế độ canh tác hợp lý
Trang 3Đặc điểm này có được là do đất đai có nhiều độ phì Độ phì của đất là khả năng đất cung cấp cho thực vật nước, các chất dinh dưỡng và các yếu tố khác (nhiệt độ, không khí…)
để thực vật sinh trưởng và phát triển
¾ Độ phì tự nhiên: Kết quả có được hình thành bởi quá trình tự nhiên do tác động bởi các yếu tố lý, hóa, sinh của đất và môi trường xung quanh
¾ Độ phì nhiêu nhân tạo: Kết quả có được là do tác động có ý thức của con người, bằng cách áp dụng hệ thống canh tác hợp lý
¾ Độ phì nhiêu tiềm tàng: Tổng hợp của độ phì tự nhiên và độ phì nhân tạo có trong đất ở một thời điểm nào đó
¾ Độ phì nhiêu kinh tế: Là độ phì mà con người đã khai thác sử dụng cho mục đích kinh tế thông qua sự hấp thụ và chuyển hóa của cây trồng sau một quá trình sản xuất Biểu hiện qua số sản phẩm thu hoạch được trên một đơn vị diện tích
Sức sản xuất của đất đai biểu hiện tập trung ở độ phì nhiêu của đất đai Vì vậy cần phải thực hiện các biện pháp hữu hiệu để nâng cao độ phì nhiêu của đất đai, cho phép năng suất đất đai tăng lên
Thứ 2: Đất đai có vị trí cố định, tính chất cơ học, vật lý, hóa học và sinh học trong đất cũng không đồng nhất
Đất đai được phân bổ trên một diện rộng và cố định ở từng nơi nhất định Do vị trí cố định và gắn liền với các điều kiện tự nhiên và các điều kiện kinh tế nên tính chất và độ màu mỡ của đất ở mỗi vùng khác nhau là khác nhau Đây cũng là một trong những yếu tố qui định tính khu vực của sản xuất NN Vì vậy việc sử dụng đất đai vào các quá trình sản xuất của mỗi ngành kinh tế cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng tính chất của đất cho phù hợp Trong sản xuất NN, việc sử dụng đất đai phải phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế
và chất lượng ruộng đất của từng vùng để mang lại hiệu quả kinh tế cao
Thứ 3:Đất đai có giới hạn cả về số lượng tuyệt đối lẫn tương đối
Sự giới hạn đó là do toàn bộ diện tích bề mặt của trái đất cũng như diện tích đất đai của mỗi quốc gia, mỗi lãnh thổ bị giới hạn “ Chúng ta không thể thêm gì vào không gian vốn
có của đất đai” Sự giới hạn đó còn thể hiện ở chổ nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành kinh tế quốc dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ngày càng tăng Đặc điểm này đặt ra yêu cầu quản lý đất đai phải chặt chẽ, quản lý về số lượng, chất lượng đất, cơ cấu đất đai theo mục đích sử dụng cũng như cơ cấu sử dụng đất đai theo các thành phần kinh tế, và xu hướng biến động của chúng để có kế hoạch phân bố và sử dụng đất đai có cơ
sở khoa học Đối với nước ta diện tích bình quân đầu người vào loại thấp so với các quốc gia trên thế giới Vấn đề quản lý và sử dụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả và bền vững lại càng đặc biệt quan trọng
Trang 4- Môi trường xung quanh: Khu vực lân cận nơi có đất sản xuất, dân cư và nguồn lao động ảnh hưởng ở tới đất đai bởi dân cư vừa là lực lượng sản xuất trực tiếp vừa là nguồn tiêu thụ các nông sản
1.1.4 Vai trò của đất NN
Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành
NN Đặc điểm đất đai ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu và phân phối cuả ngành NN Vai trò của đất đai càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất… ngày càng tăng và NN phát triển, trở thành ngành kinh tế chủ đạo
9 Đất NN là một điều kiện tối cần thiết cho hoạt động kinh tế nông thôn
Đất đai là tặng vật của tự nhiên cho con người Nhờ có đất mà nông dân đã sản xuất
ra lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu của họ, gia đình và của cải xã hội Trong điều kiện kinh tế NN, đất đai đã trở thành tư liệu sản xuất quan trọng nhất và là điều kiện sống còn đối với hoạt động sản xuất NN của người nông dân Người nông dân không thể tiến hành sản xuất NN nếu như không có đất Đất NN là điều kiện tối cần thiết để người nông dân đem kết hợp nó với sức lao động sẵn có của mình để tạo ra sản phẩm nông sản Vì vậy, đất NN là một tư liệu sản xuất không thể thiếu đối với
bất kỳ người nông dân nào
9 Đất NN là một nguồn lực đầu vào đặc biệt quan trọng của sản xuất NN
Khi nói đến vai trò của đất đai, C.Mác viết: "đất là không gian, yếu tố cần thiết của tất thảy mọi sự sản xuất và mọi hoạt động của loài người" Cũng như đối với sản xuất nói chung, sản xuất NN tất yếu cần đến sự tham gia của đất đai
Do đó, để có được nông sản, cần phải kết hợp hai yếu tố sức lao động với tư liệu sản xuất, trong đó quan trọng nhất và cũng là nhân tố không thể thiếu được của tư liệu sản xuất là đất NN Đất NN không chỉ thuần tuý là tư liệu sản xuất, mà là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt Nó là một trong những nhân tố quyết định đến giá trị của nông phẩm hàng hoá sản xuất ra
Hơn nữa, sản xuất NN có tính đặc thù cao so với các ngành sản xuất khác Đó là ngành sản xuất dựa trên mối quan hệ của các cơ thể sinh vật sống với môi trường, tuân theo các quy luật sinh học và chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi điều kiện ngoại cảnh
Như vậy, đất NN là một trong những nguồn lực đầu vào quan trọng không thể thiếu được của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực NN
9 Đất NN là một nhân tố tự nhiên đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng cơ cấu kinh tế NN
Việc phát hiện ra đặc tính của từng loại đất có ý nghĩa quan trọng trong phân bổ đất đai giữa các ngành NN, qua đó xây dựng cơ cấu NN hợp lý
Các loại đất khác nhau có độ phì khác nhau, thành phần trong đất cũng khác nhau cho nên, từng loại đất chỉ phù hợp với từng loại cây trồng, vật nuôi nhất định Chỉ trong điều kiện được canh tác trên loại đất phù hợp với đặc tính sinh lý, sinh hoá của cây trồng, vật nuôi thì chúng mới có thể cho thu hoạch sản phẩm năng suất cao, chất lượng tốt.Do vậy, việc phát hiện ra đặc tính của các loại đất khác nhau có một ý nghĩa
Trang 5vô cùng quan trọng trong việc lựa chọn và phân bổ đất đai trong quá trình canh tác Từ
đó, mới có thể xây dựng một cơ cấu kinh tế NN hợp lý, tận dụng có hiệu quả các tiềm năng sẵn có của đất đai nhằm phát triển một nền NN hàng hoá có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới
1.2 Quỹ đất NNVN
Đối với một nước mà dân số chủ yếu sống bằng nghề nông thì thông tin về quy mô đất
NN của từng khu vực giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong lập kế hoạch.Vùng ĐBSH và ĐBSCLcó tỷ lệ đất NN caoso với hai vùng đồng bằng này thì các vùng ven biển có ít đất
NN hơn nhưng thấp nhất là các xã miền núi của vùng Đông Bắc, Tây Bắc, và Tây
Nguyên Vùng này đất lâm nghiệp và đồi núi chiếm phần lớn diện tích
Cây CN hàng năm
Tổng số Cây CN
lâu năm
Cây ăn quả
1.2.1.1 Đất trồng cây hàng năm
Trong đất trồng cây hằng năm cây lương thực có hạt chiếm phần lớn diện tích gấp hơn 10 lần quỹ đất trồng cây cây công nghiệp hằng năm
Trang 6Trong quỹ đất trồng cây lương thực, lúa chiếm diện tích phần lớn diện tích(hơn 60% ) và
tỉ lệ này ngày càng giảm theo thời gian, diện tích đất trồng ngô chiếm vị trí thứ 2( xấp xĩ 10% ) và diện tích trồng loại cây này tăng nhiều nhất trong các loại cây hằng năm Diện tích đất trồng mía chiếm không nhiều nhưng ngày càng giảm , quỹ đất trồng lạc dao động nhưng không nhiều còn diện tích đất trồng tương tăng theo thời gian Bông chiếm diện tích thấp nhất trong quỹ đất trồng cây hằng năm nhưng diện tích trồng loại cây này giảm qua các năm
Quỹ đất trồng cây lương thực chiếm phần lớn diện tích, có ý nghĩa quan trọng trong NN.Chiếm diện tích nhiều nhất là ở vùng ĐBSCL (hơn 50%) tuy diện tích có tăng theo thời gian nhưng tỉ lệ ngày càng giảm Qũy đất trồng cây lương thực ởĐBSH; BTB và DHMT chiếm vị trí thứ 2 ( chiếm hơn 10% ở mỗi vùng) trong đó diện tích ở vùng ĐBSH giảm còn ở vùng BTB và DHMT tăng theo thời gian Qũy đất trồng cây lương thực ở TDMNBB chiếm vị trí thứ 3 và ngày càng tăng Qũy đất trồng cây lương thực ở TN và ĐNB nhỏ so với cả nước nhưng ở TN ngày càng tăng còn ởĐNB ngày càng giảm
1.2.1.2 Đất trồng cây lâu năm
Trong diện tích đất trồng cây lâu năm cây công nghiệp lâu năm chiếm diện tích lớn hơn
và gấp hơn 2 lần diện tích trồng cây ăn quả
Sự phân bố đất cây lâu năm không liên quan mật thiết với mật độ dân số Hơn nữa, các vùng khác nhau trồng các loại cây lâu năm khác nhau Vùng ĐNB chủ yếu trồng cao su,
cà phê, cây ăn quả, trong khi đó TN, đặc biệt là Đak Lắk và Gia Lai lại chuyên về trồng
cà phê, cao su Một số huyện vùng ĐB có tỷ lệ đất cây lâu năm trong tổng diện tích đất
NN khá cao, trên 70% Tỷ lệ đất cây lâu năm ở vùng ĐBSH, ĐBSCL và vùng ven biển, nơi điều kiện thổ nhưỡng thích hợp hơn đối với trồng cây hàng năm thấp hơn nhiều Sự phân bố cây trồng ở VN bao gồm tỷ trọng đất cây lâu năm so với cây hàng năm thay đổi liên tục do ảnh hưởng của giá cả thị trường nông sản Khi nhu cầu thị trường thay đổi, một số hộ và địa phương, đặc biệt ở vùng ĐNB có xu hướng chuyển đổi từ cây hàng năm sang trồng cây lâu năm và ngược lại
1.2.2 Đất dành cho lâm nghiệp:
VN có tổng diện tích tự nhiên 33,12 triệu ha, trong đó diện tích có rừng là 12,61 triệu ha
và 6,16 triệu ha đất trồng đồi núi trọc là đồi tượng của sản xuất lâm NN Như vậy, ngành Lâm nghiệp đã và đang thực hiện hoạt động quản lý và sản xuất trên diện tích đất lớn nhất trong các ngành kinhtế quốc dân Diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu ở trên các vùng đồi núi của cả nước, đây cũng là nơi sinh sống của 25 triệu người với nhiều dân tộc ítngười, có trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậmphát triển
và đời sống còn nhiều khó khăn
Đất lâm nghiệp nhìn chung tăng dần qua các năm, từ 11575,03 nghìn ha vào năm 2000 tănglên 16243,67 nghìn ha vào năm 2010, chủ yếu do chuyển từ đất đồi chưa sử dụng sang trồng rừng.Trong đó, diện tích đất rừng sản xuất và đất rừng phòng hộ chiếm phần lớn đất lâm nghiệp Đất rừng sản xuất tăng từ 39,1% năm 2006 lên chiếm khoảng 47,4% năm 2010 Ngược lại, đất rừng sản xuất giảm từ 46,7% năm 2006 xuống còn 40,4% năm
2010 Chỉ chiếm một phần nhỏ 12,2% trong cơ cấu đất lâm nghiệp là đất rừng phòng hộ
Cơ cấu cây lâm nghiệp ở rừng trồng rất đa dạng, chủ yếu là trồng nhiều keo, bạch đàn,
Trang 7ngoài ra còn có thông, sưa, lim, mỡ, xoan, bồ đề, quế… Trong quá trình canh tác, một phần đất lâm nghiệp có rừng được chuyển sang sử dụng vào những mục đích khác, cụ thể như sau :
- Chuyển đất lâm nghiệp có rừng sang sử dụng vào các mục đích khác: 105.600 ha
- Chuyển đất lâm nghiệp có rừng sang đất sản xuất NN: 46.600 ha
- Chuyển đất lâm nghiệp có rừng sang đất phi NN không phải đất ở: 56.100 ha
- Chuyển đất lâm nghiệp có rừng sang đất ở: 2.900 ha
1.2.3 Đất dùng cho chăn nuôi
1.2.3.1 Nuôi trồng thủy hải sản
Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước năm 2011 ước đạt 1,05 triệu hecta, giảm 0,2% so với năm trước; trong đó diện tích nuôi cá 367.700 ha, tăng 2,2%; diện tích nuôi tôm 626.800 ha, giảm 2% Mặc dù diện tích nuôi giảm chút ít nhưng sản lượng tăng 7,4% so với năm 2010, ước đạt 2,93 triệu tấn, trong đó cá đạt 2,26 triệu tấn, tăng 7,5%; tôm 482.200 tấn, tăng 7,2% Tổng diện tích nuôi cá tra theo các hình thức trong cả nước ước đạt 12.900 ha, giảm 2,2% so với năm trước, tuy nhiên sản lượng ước đạt 1,12 triệu tấn, tăng 9,3% so với năm trước
1.2.3.2.Diện tích đồng cỏ chăn nuôi
Chăn nuôi gia súc ăn cỏ trâu, bò, dê, cừu, thỏ là nghề truyền thống lâu đời của nông dân nước ta Tuy nhiên, chăn nuôi gia súc của nước ta vẫn còn phát triển chậm Chăn nuôi chủ yếu tồn tại trong nông hộ nhỏ lẻ, phân tán; thức ăn chủ yếu là tận dụng cỏ tự nhiên
và phụ phẩm trong NN, sử dụng thức ăn công nghiệp còn rất ít Năng suất, sản lượng thịt, sữa và hiệu quả chăn nuôi chưa cao Chăn nuôi bò sữa còn nhỏ bé và bấp bênh Chăn
nuôi gia súc ăn cỏ trâu, bò, dê, cừu, thỏ chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có
Đồng cỏ của ta hiện nay còn rất hạn chế, chủ yếu là trồng xen, tận dụng chưa thành phổ biến đại trà
Trang 8Chương 2: Tình hình sử dụng đất giai đoạn 2000- 2010
2.1.Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng đất NN
2.1.1.Trước năm 2003:
Sau 3 năm qua, thực hiện Nghị quyết 09/2000/NQ-CP của Chính phủ về một số
chủ trương, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm NN, cơ cấu sản
xuất nông, lâm nghiệp nước ta có nhiều chuyển biến tích cực Mặc dù diện tích cây lương thực giảm, nhưng năng suất, sản lượng, chất lượng tăng khá, bảo đảm an ninh lương thực, tăng khối lượng, giá trị xuất khẩu So với năm 2000, cả nước giảm 217 nghìn ha lúa, nhưng nhờ năng suất bình quân tăng 3,9 tạ/ha, sản lượng lúa năm 2003 đạt 34,52 triệu tấn, tăng hai triệu tấn, vượt mục tiêu Ðại hội IX của Ðảng đề ra (34 triệu tấn) trước hai năm Ðồng thời với giảm diện tích lúa bấp bênh và các cây trồng hiệu quả thấp, thì diện tích, sản lượng một số cây thay thế nhập khẩu, dễ tiêu thụ tăng nhanh như ngô đạt
910 nghìn ha (tăng 180 nghìn ha), sản lượng 2,93 triệu tấn (tăng gần một triệu tấn); đậu tương 166 nghìn ha (tăng 42 nghìn ha), sản lượng 225 nghìn tấn (tăng 60%); bông tăng
10 nghìn ha, sản lượng tăng 80% Diện tích rau màu thực phẩm đạt 545 nghìn ha (tăng 92
nghìn ha), sản lượng đạt 7,6 triệu tấn (tăng 1,6 triệu tấn)
Nhờ khai thác tốt thị trường thế giới và đầu tư thâm canh, các cây công nghiệp cũng đạt mức tăng khá cả về diện tích, năng suất, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu Tỷ trọng ngành chăn nuôi vươn lên chiếm 20% giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp Quá trình
chuyển dịch cơ cấu sản xuất cũng góp phần làm sản xuất NN gắn bó hơn với công nghiệp chế biến, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 5,5 tỷ USD, chiếm 27% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước; đưa giá trị sản xuất/ha canh tác từ 15,3 triệu đồng (năm 2000) lên gần 20 triệu đồng/năm(năm 2003), hộ đạt thu nhập 20 triệu đồng/năm; đặc biệt trong đó gần 500 nghìn ha (chiếm 5,3% diện tích đất NN) đạt từ 50 triệu
đồng/ha/năm trở lên
Với tốc độ tăng dân số bình quân từ năm 1990 đến năm 2004 là 1,6%/năm làm đất canh tác ở các vùng nông thôn VN ngày càng bị thu hẹp lại Theo Niên giám thống kê năm 2003, tổng diện tích đất đai VN năm 2002 là 32929,7 nghìn ha, nhưng đất đã giao
và cho thuê là 24519,9 nghìn ha, chiếm tỷ trọng 74,46% Trong đó, đất NN đã giao và cho thuê (nghĩa là được sử dụng) là 9406,8 nghìn ha, chiếm 28,57% diện tích đất cả nước Trong khi đó năm 2002 có 25,5725 triệu lao động làm việc trong ngành NN Như vậy, bình quân mỗi một nông dân có 0,3678 ha đất canh tác, thuộc loại thấp nhất thế giới Nếu chia bình quân đầu người cho mỗi đơn vị đất đai được sử dụng để sinh sống thì khoảng 0,3 ha/người Trong đó, đất bằng chưa sử dụng là 535,7 nghìn ha, chiếm 1,627% diện tích đất cả nước; đặc biệt đất đồi núi chưa sử dụng 7136,5 nghìn ha, chiếm 21,67% diện tích cả nước; đất có mặt nước chưa sử dụng 150,3 nghìn ha, chiếm 0,46%; sông suối 748,9 nghìn ha, chiếm 2,27%; núi đá không có rừng cây 618,3 nghìn ha, chiếm 1,88%; đất chưa sử dụng khác 215 nghìn ha, chiếm 0,65%
Trang 9Các khu vực trong cả nước đất cũng phân bổ rất manh mún: ở đồng bằng sông Hồng bình quân đất NN/người là 0,0585ha, thấp nhất cả nước, kế đến là Bắc Trung Bộ 0,71 ha, Duyên hải Nam Trung Bộ: 0,0796 ha Cao nhất là Tây Nguyên 0,282 ha, đồng bằng sông Cửu Long 0,175 ha
Bảng 2.1.1.2: Hiện trạng sử dụng đất bình quân mỗi người theo địa phương
Phân theo vùng Dân số năm
2003 (nghìn người)
Tổng diện tích đất đai(ng hìn ha)
Đất nôngnghiệp (nghìn ha)
Bình quân đất /người
Bình quân đất NN/ng ười
Tỷ lệ (%) Tổng diện tích đất NN 21224,85 25127,3 3902,45 18,3%
6282,5 4089,1
218,16 -248,65
Trang 10sản
Nguồn: Bộ Tài Nguyên và Môi Trường
Tuy có tăng so với năm 2002 nhưng nói chung diện tích đất NN ở nước ta đang bị thu hẹp dần qua từng năm
Theo thống kê đến 1/1/2009, cả nước có quỹ đất là 33105,1 nghìn ha, trong đó đất NN là 25127,3 nghìn ha, nhưng đất dùng để sản xuất NN chỉ có 9598,8 nghìn ha Đất chưa sử dụng 4508,6 nghìn ha, đất bằng chưa sử dụng 305,8 nghìn ha, đất đồi núi chưa sử dụng 3831,3 nghìn ha, núi đá không có rừng cây 371,5 nghìn ha Như vậy quỹ đất có thể khai thác thêm là rất hạn hẹp, dùng vào NN là nhỏ do đó trong NN cần quản lý đất đai một cách chặt chẽ và phát triển theo hướng nâng cao năng suất trên một đơn vị diện tích
Diện tích đất NN năm 2009 tăng 18,3% ( 3902,45 nghìn ha) so với năm 2002, trong đó từng loại đất có mức biến động khác nhau: Mặc dù một số diện tích sản xuất NN được chuyển sang đất ở, đất sản xuất kinh doanh, đất xây dựng các công trình công cộng và đất nuôi trồng thủy sản nhưng tổng diện tích đất sản xuất NN năm 2009 là 9,6 triệu ha, tăng 719,74 nghìn ha (+3,6%), so với năm 2001 chủ yếu do chuyển đổi đất chưa sử dụng
Đất cây hàng năm tăng 218,16 nghìn ha chủ yếu do đất khai hoang trồng sắn,
ngô…Ngược với xu hướng tăng của các loại đất khác, đất trồng lúa giảm 248,65nghìn
ha, (-5,7%), bình quân giảm 27,6 nghìn ha/ năm, chủ yếu do chuyển đổi sang chuyên dùng và đất nuôi trồng thủy sản
Bảng 2.2 :Một số chỉ tiêu theo World Bank:
Diện tích đất ( km
vuông) 310070 310070 310070 310070 310070 310070 310070 310070 Đất NN (% diện tích
đất) 30,757571 31,58964 32,42494 32,50234 32,45074 33,0248 33,128
Diện tích đất
trồng (ha) 6581000 6469000 6358000 6348000 6309000 6282000 6280000 Đất canh
tác (ha mỗi người) 0,0817837 0,079435 0,077166 0,076195 0,07491 0,0738 0,073002
Đất canh tác (% diện
tích đất) 21,22424 20,86303 20,50505 20,4728 20,34702 20,25994 20,25349
Đất theo sản lượng
ngũ cốc (ha) 8366800 8437800 8383400 8359495 8305085 8541830 8528527 Đất canh tác thường
giới chỉ khoảng 0,12%.:Qua kiểm kê cho thấy cả nước có tổng diện tích tự nhiên 33.093.857
ha bao gồm đất NN 26.100.106 ha chiếm 79%, đất phi NN 3.670.186 ha chiếm 11% và đất chưa sử dụng 3.323.512 ha chiếm 10% diện tích tự nhiên, trong đó có 24.989.102 ha chiếm