1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận vấn đề hiệu quả và công bằng trong giáo dục

33 1,3K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 488,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viêc cải cách giáo dục ở nước ta đã có nhiều tiến bộ và thành tựu như : nhu cầu học tập của nhân dân được đáp ứng tốt hơn nhất là ở bậc trung học phổ thông, nâng cao trình độ dân trí ,tă

Trang 2

   

 

Mục Lục

A LỜI MỞ ĐẦU: 1

1 Lý do chọn đề tài : 1

2 Mục tiêu nghiên cứu : 2

3 Phương pháp nghiên cứu: 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2

5 Cơ sở lí luận : 2

B NỘI DUNG 4

1 Sơ Lược Tình Hình Giáo Dục Việt Nam Từ 2008 Đến Nay 4

1.1 Về những thành tựu: 4

1.2 Những tồn tại: 6

2 Mục Tiêu Ngành Giáo Dục 8

2.1 Mục tiêu chung: 8

2.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển giáo dục trong 5 năm (2011 – 2015) và năm 2012: 9

3 Các chính sách phát triển giáo dục.: 13

3.1 Về Vấn Đề Công bằng: 14

3.2 Về Vấn Đề Hiệu Quả : 17

4 Kết quả đạt được theo góc độ công bằng và hiệu quả 20

4.2 Về Vấn Đề Công Bằng: 20

4.3 Về Vấn Đề Hiệu Quả 23

5 Giải pháp của chính phủ: 27

5.1 Công bằng trong giáo dục: 27

5.2 Nâng cao hiệu quả trong giáo dục 30

C NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO : 30

Trang 3

Viêc cải cách giáo dục ở nước ta đã có nhiều tiến bộ và thành tựu như : nhu cầu học tập của nhân dân được đáp ứng tốt hơn nhất là ở bậc trung học phổ thông, nâng cao trình độ dân trí ,tăng nguồn nhân lực có tay nghề,đã chú trọng đến bồi dưỡng nhân tài ,các chính sách về giáo dục đã tốt hơn và được thực hiện có hiệu quả hơn.Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực trên thì nền giáo dục ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập Đặc biệt là trong vấn đề hiệu quả và công bằng Chất lượng giáo dục đại trà, đặc biệt ở bậc đại học còn thấp, phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới, các điều kiện bảo đảm phát triển giáo dục còn nhiều bất cập, con em gia đình nghèo, gia đình có thu nhập thấp (cận nghèo) và con em đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục, nhất là ở bậc cao, một số hiện tượng tiêu cực trong giáo dục chậm được giải quyết

Chính vì thế mà nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài :”Vấn đề hiệu quả và công bằng trong giáo dục “ Đề tài này sẽ giúp các bạn hiểu được thế nào là hiệu quả , công bằng trong giáo dục ,vai trò của nó với nền kinh tế Nhóm cũng đưa ra thực trạng giáo dục ở Việt nam hiện nay ,các nguyên nhân gây ra , các chính sách của nhà

Trang 4

L ời Mở Đầu

2  

nước nhằm cải cách và nâng cao chất lượng giáo dục Đồng thời nhóm cũng có cái nhìn nhận và đánh giá riêng về các chính sách đó

2 Mục tiêu nghiên cứu :

Tìm hiểu về các chính sách giáo dục của Nhà nước

Đánh giá được hiệu quả và công bằng trong giáo dục của Việt Nam hiện nay

3 Phương pháp nghiên cứu:

Định tính:phân tích số liệu và phương pháp tổng hợp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Giáo dục những năm gần đây

5 Cơ sở lí luận :

Công bằng là gì ? Giáo dục là động lực thúc đẩy và là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước Giáo dục đào tạo phải gắn với yêu cầu phát triển đất nước, phù hợp với xu thế thời đại – phát triển nền kinh

tế tri thức trên phạm vi toàn cầu, thực hiện giáo dục thường xuyên cho mọi người, hướng tới xây dựng một xã hội trong đó mọi người cùng học tập suốt đời Giáo dục đào tạo đã và đang đóng vai trò vô cùng quan trọng, là động lực thúc đẩy tăng trưởng, xoá đói giảm nghèo, đảm bảo cân bằng xã hội,… Chính vì vậy, việc đầu tư phát triển giáo dục đào tạo có một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của đất nước nói chung và của ngành giáo dục nói riêng.Có hai loại công bằng đó là công bằng ngang và công bằng dọc Công bằng ngang là sự đối xử như nhau đối với những

người có tình trạng kinh tế như nhau Công bằng dọc là đối xử khác nhau với những

người có khác biệt bẩm sinh hoặc có tình trạng kinh tế ban đầu khác nhau nhằm khắc

phục những khác biệt sẵn có

Nếu như công bằng ngang có thể được thực hiện bởi cơ chế thị trường, thì cân bằng dọc cần có sự diều tiết của nhà nước Chính phủ thực thi chính sách phân phối theo công bằng dọc nhằm giảm chênh lệch phúc lợi giữa các cá nhân

Trang 5

Các chỉ số về hiệu quả thường có các đặc trưng đó là: 1)Tính toán dựa trên cơ sở các chỉ số về số lượng; 2) Thiên về các giá trị đầu ra Khi xét hiệu quả, người ta phân biệt hiệu quả bên trong và hiệu quả bên ngoài Nếu như ưu điểm của việc sử dụng khái niệm hiệu quả để đánh giá hoạt động của nhà trường là sự đơn giản, tiện dụng và

dễ tính toán thì nhược điểm chủ yếu thường có xu hướng quá tập trung vào mục tiêu của các nhà quản lý hơn là tập trung vào mục tiêu của giáo viên, học sinh, phụ huynh

và các đới liên quan khác

Khái niệm hiệu quả của nhà trường hiện nay đang chịu nhiều thách thức của đòi hỏi mới, ví dụ: 1) Thành tích học tập dù được đo đạc như thế nào thì cũng không thể phản ánh đầy đủ các nỗ lực của nhà trường dành cho quá trình giáo dục học sinh; 2) Ảnh hưởng của các nỗ lực này sẽ tiếp tục dần được bộc lộ ở các học sinh trong suốt cuộc đời sau khi rời khỏi nhà trường; 3) Dùng thành tích học tập của học sinh để đánh giá tác động của giáo dục trong một nhà trường là không đầy đủ và khập khiễng

Hiệu quả và công bằng trong giáo dục luôn đi liền với nhau.Khi sự bất bình đẳng được giảm bớt sẽ tạo điều kiện cho trẻ em được đi học,có kiến thức ,kỹ năng, trình độ chuyên môn và nhận thức được nâng cao ,tạo động lực để thúc đẩy sản xuất ,phát triển nền kinh tế

Cần phải có hiệu quả và công bằng trong giáo dục.Vì giáo dục giúp chúng ta học làm người, nghĩa là rèn luyện đạo đức và nhân cách con người Giáo dục đồng thời cung cấp kiến thức, kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống hạnh phúc, văn minh hơn Từ đó góp phần thức đẩy xã hội phát triển bền vững hơn

Trang 6

Sơ Lư•c Tình Hình Giáo D•c Vi•t Nam

4  

B NỘI DUNG

1 Sơ Lược Tình Hình Giáo Dục Việt Nam Từ 2008 Đến Nay

Nền giáo dục Việt Nam đã hình thành từ rất lâu, quá trình hình thành và phát triển của ngành gắn với những giai đoạn lịch sử của đất nước Trải qua một quá trình dài xây dựng và phát triển tới nay ngành giáo dục đã có rất nhiều những thành tựu nổi bật bên cạnh đó là những tồn tại, yếu kém cần được khắc phục Nhìn lại hai khía cạnh đối ngược này để từ đó tìm ra hướng đi đưa nền giáo dục Việt Nam ngày càng phát triển

về quy mô cũng như chất lượng

1.1 Về những thành tựu:

Đầu tư phát triển giáo dục đào tạo thời gian qua đã làm cho hệ thống giáo dục nước nhà lớn mạnh, phát triển tương đối hoàn chỉnh và đa dạng ở mọi cấp bậc học Cho đến nay hệ thống giáo dục mới ở Việt Nam từ mầm non đến đại học về cơ bản đã xác lập mạng lưới trường học phát triển rộng khắp từ nông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi Quy mô về số trường học, phòng học, số lượng giáo viên liên tục tăng qua các năm Nhà nước đã xây dựng được hệ thống các trường học dân tộc nội trú với điều kiện tương đối tốt để đào tạo con em các dân tộc ít người Hệ thống các trường ngoài công lập được hình thành đã góp phần đáp ứng nhu cầu học tập ngày

càng cao của xã hội

Giáo dục mầm non và phổ thông

Tại thời điểm đầu năm học 2011-2012, cả nước có 13384 trường mẫu giáo, 15337 trường tiểu học, 10243 trường THCS và 2433 trường THPT Số giáo viên của các cấp học cũng tăng so với năm học trước trong đó mẫu giáo là 181,9 nghìn người, giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy là 829,6 nghìn người Cả nước có 3,4 triệu trẻ em đến lớp mẫu giáo, 7,1 triệu học sinh tiểu học, 4,9 triệu học sinh THCS và 2,8 triệu học

Trang 7

Sơ Lư•c Tình Hình Giáo D•c Vi•t Nam

5  

sinh THPT Tính đến hết tháng 3 năm 2012 cả nước có 59/63 tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 63/63 tỉnh,

Thành phố trực thuộc trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS

Giáo dục mầm non bước đầu đã khôi phục và phát triển sau một thời gian dài

gặp khó khăn ở nhiều địa phương, số xã trắng về cơ sở giáo dục mầm non giảm rõ rệt

Về giáo dục phổ thông, số lượng trường học tăng mạnh ở tất cả các bậc học và hầu hết các vùng miền; ở các vùng khó khăn đã tích cực trong việc xoá phòng học tranh tre và kiên cố hoá trường lớp; sách cho thư viện và thiết bị dạy học đã được bổ sung đáng kể; SGK mới được biên soạn ở các khối lớp trên toàn quốc đúng tiến độ và mục tiêu đề ra, tiếp cận trình độ các nước tiên tiến trong khu vực, góp phần thay đổi cách

dạy và học trong nhà trường

Giáo dục sau phổ thông cũng dần lớn mạnh

Giáo dục nghề nghiệp được phục hồi sau nhiều năm suy giảm Dạy nghề ngắn

hạn và dạy nghề cho nông dân được mở rộng Số trường dạy nghề và trường trung học chuyên nghiệp tăng Tổng số học sinh trung cấp chuyên nghiệp đạt 734 nghìn học sinh tăng 7% (năm học 2011 – 2012) Đến nay hầu hết các tỉnh đều có trường dạy

nghề, bắt đầu phát triển các trường dạy nghề thuộc một số ngành kinh tế mũi nhọn

Về giáo dục bậc cao đẳng, đại học và sau đại học không ngừng phát triển, liên

tục mở rộng quy mô, đa dạng hoá các loại hình nhà trường, phát triển các hình thức giáo dục không chính quy đã tạo thêm nhiều cơ hội học tập cho người dân mà trước hết là bộ phận thanh niên trẻ của nước nhà Trong năm học 2011 – 2012 tổng số sinh viên đại học, cao đẳng cả nước là 2478 nghìn sinh viên, đạt tỷ lệ 280 sinh viên trên 1 vạn dân, tăng 14,6% so với năm học trước

Về chất lượng giáo dục đào tạo đã có những chuyển biến bước đầu mang

tính tích cực

Trang 8

Sơ Lư•c Tình Hình Giáo D•c Vi•t Nam

dục đào tạo ngày một tốt hơn

Chất lượng giáo dục của nước ta trong những năm gần đây đang từng bước được cải thiện và đã đạt được một số kết quả trong việc thực hiện các mục tiêu chiến

lược như nâng cao dân trí, xoá mù chữ, phổ cập giáo dục phổ thông được duy trì, củng cố và phát huy, lực lượng lao động được đào tạo đã và đang góp phần quan

trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Xu hướng đầu tư và phát triển ngành giáo dục đào tạo đang dần đi theo

chiều hướng tích cực

Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ chốt trong huy động nguồn lực đầu tư phát triển và định hướng trong hoạt động đầu tư Bên cạnh đó, xu hướng đầu tư đang

được điều chỉnh theo quy luật thị trường, đặc biệt là giáo dục đào tạo sau phổ thông

chuyển hướng từ đào tạo theo cái đã có sang đào tạo theo nhu cầu

1.2 Những tồn tại:

Về quy mô:

Cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy chưa đáp ứng được nhu cầu học tập và giảng dạy ngày càng cao của giáo viên, học sinh, sinh viên Quy mô giáo dục đại học

và trung học chuyên nghiệp còn nhỏ chưa đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của

xã hội Giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng khó khăn đang có dấu hiệu giảm sút cả về quy mô và chất lượng

Về chất lượng:

Trang 9

Sơ Lư•c Tình Hình Giáo D•c Vi•t Nam

7  

Chất lượng giáo dục nói chung còn nhiều yếu kém, bất cập; lối học khoa cử

vẫn còn nặng nề, nặng về truyền đạt kiến thức để đối phó với các kỳ thi, chưa chú trọng đến xây dựng về mặt tư duy sáng tạo; trình độ ngoại ngữ, tin học của bộ phận lớn học sinh, sinh viên còn yếu, kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế; việc giáo dục đào tạo chưa chú trọng đúng mức vào việc giáo dục đạo đức, lối sống, động cơ học tập cho học sinh, sinh viên dẫn tới tình trạng tha hoá về đạo đức của một bộ phận thanh

niên, một vấn đề gây xôn xao dư luận trong thời gian qua

Bên cạnh đó, đời sống của giáo viên còn gặp nhiều khó khăn, truyền thống tôn

sư trọng đạo tốt đẹp ngàn đời nay của dân tộc đang bị suy giảm Thêm vào đó là

hệ thống các trường sư phạm còn yếu kém, chất lượng thấp, không thu hút được

người tài

Về quản lý giáo dục:

Cơ cấu giáo dục bất hợp lý Quản lý giáo dục chậm chuyển biến, phân công,

phân cấp trách nhiệm, quyền hạn giữa các ngành, các cấp chưa hợp lý Cán bộ quản lý giáo dục các cấp thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, ít được quan tâm đào tạo,

bồi dưỡng

Về đầu tư phát triển giáo dục:

Quy mô vốn đầu tư phát triển giáo dục đào tạo qua các năm đều tăng nhưng chưa phản ánh được toàn bộ tiềm lực huy động vốn trong xã hội Một số lượng

lớn vốn nhàn rỗi trong xã hội chưa được huy động cho công cuộc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đầu tư phát triển ngành giáo dục đào tạo nói riêng Tuy tốc độ tăng vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo hàng năm ở mức cao, nhất là đóng góp của ngân sách nhà nước nhưng nếu xét về số vốn đầu tư trên một đầu người trong độ

tuổi đi học thì lại thấp hơn nhiều so với các nước phát triển

Sử dụng và quản lý các nguồn đầu tư cho giáo dục kém hiệu quả, chưa thực

sự tập trung vào những hướng ưu tiên Cơ cấu sử dụng vốn đầu tư phát triển giáo

dục còn bất hợp lý Thể hiện sự mất cân đối giữa giáo dục dạy nghề, trung học chuyên

Trang 10

Các M•c Tiêu Ngành Giáo D•c

8  

nghiệp với cao đẳng và đại học Quy mô dạy nghề dài hạn và trung học chuyên nghiệp còn thấp so với yêu cầu của thị trường lao động, cơ cấu đào tạo ngành nghề còn mất cân đối Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp phân bổ chưa hợp lý, còn tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn và vùng kinh tế trọng điểm Giáo dục đào tạo ở

vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn

Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư chưa cao dẫn đến quy mô vốn đầu tư phát triển

ngành giáo dục đào tạo tăng kéo theo quy mô ngành tăng lên, tuy nhiên có sự mất

cân bằng giữa tăng quy mô và chất lượng giáo dục đào tạo Đội ngũ nhà giáo thiếu

về số lượng và yếu về chất lượng, cơ sở vật chất nhà trường tuy được đầu tư nhưng còn thiếu thốn không đáp ứng được chất lượng công trình như đã đề ra Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư ở một số dự án và công trình phát triển giáo dục đào tạo cần được khắc phục Nhìn chung, chất lượng giáo dục đào tạo ở Việt Nam ở mức thấp và lạc hậu so với sự phát triển như vũ bão của toàn cầu

2 Mục Tiêu Ngành Giáo Dục

2.1 Mục tiêu chung:

Mục tiêu giáo dục chung của ngành giáo dục đã được xây dựng qua nhiều thế hệ nhằm trả lời cho câu hỏi: Sau khi nhận được sự giáo dục, những người đi học sẽ trở nên người như thế nào đối với cá nhân mình, đối với gia đình, quốc gia, xã hội, và nhân loại?, những mục tiêu đó là:

- Phát triển toàn diện mỗi cá nhân Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và

giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức

- Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào

Trang 11

Các M•c Tiêu Ngành Giáo D•c

9  

- Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh Điều này thực hiện bằng

cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần

tự tin, tự lực, và tự lập

- Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học Điều này thực hiện

bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp học sinh phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp học sinh

có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại

2.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển giáo dục trong 5 năm (2011 – 2015)

Trang 12

Các M•c Tiêu Ngành Giáo D•c

10  

triển khai chương trình dạy nghề, nhất là cho lao động nông thôn và đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội Tiếp tục thực hiện các chương trình kiên cố hóa trường lớp học, nhà công vụ cho giáo viên và đạt được những kết quả cụ thể…”

Từ những mục tiêu cơ bản căn bản , Việt Nam đề ra những mục tiêu chính sau đây cho nền giáo dục của mình :

Nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo Chỉ thị số CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 Đổi mới cơ chế, chính sách, thu hút và đào tạo nhân tài phục vụ cho sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo

40-Phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, tạo bước đột phá về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tập trung triển khai thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục và Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 - 2020

Khẩn trương rà soát, hoàn thiện quy hoạch hệ thống các cơ sở giáo dục đào tạo Tăng cường đầu tư các nguồn lực phát triển giáo dục, đào tạo; đầu tư cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị đồ dùng dạy học

Đổi mới quản lý giáo dục đồng thời với việc đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nhất là giáo dục đại học và dạy nghề Tăng cường công tác phân cấp quản lý cho các cơ sở đào tạo theo hướng đảm bảo quyền tự chủ, nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm

Hoàn thiện cơ chế tài chính và đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, thực hiện 3 đủ (đủ

ăn, đủ mặc, đủ đồ dùng học tập và sách vở), tạo phong trào toàn dân chăm lo cho

sự nghiệp giáo dục và đào tạo

Chú trọng phát triển giáo dục ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn Tăng cường đào tạo theo nhu cầu xã hội Huy động mọi nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhất là ở 96 xã vùng khó khăn

Kết quả trong năm 2011:

Trang 13

Các M•c Tiêu Ngành Giáo D•c

11  

Tỷ lệ huy động trẻ mầm non đến trường tăng gần 1%

57/63 địa phương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi

63/63 địa phương đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở

Tỷ lệ người lớn biết chữ tăng lên khoảng 94%

Tốt nghiệp THPT năm học 2010 - 2011 đạt 95,72%

Năm 2011, tuyển mới đại học, cao đẳng tăng 11,6%, trung cấp chuyên nghiệp tăng10,8%, tuyển mới cao đẳng nghề và trung cấp nghề tăng 16,7%

Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 40%

Sau gần 4 năm thực hiện Đề án của Chính phủ về công tác đổi mới và phát triển giáo dục, đến nay đã có 84.294 phòng học kiên cố được xây dựng, trong đó có 67.784 phòng học đã hoàn thành đưa vào sử dụng; có 22.792 nhà công vụ giáo viên được xây dựng, trong đó 19.057 nhà đã hoàn thành, đưa vào sử dụng

5 nhóm nhiệm vụ giáo dục trọng tâm năm 2012

Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết công tác quản lý, chỉ đạo điều hành của ngành giáo dục năm 2012 sẽ tập trung vào 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm Theo đó, 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục trong năm 2012 sẽ tập trung vào:

• Hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý giáo dục : Xây

dựng và thực hiện Luật Giáo dục, các Nghị quyết của Quốc hội về giáo dục, bổ sung

để hoàn thiện Dự án Luật Giáo dục ĐH ;Thực hiện phân cấp quản lý giáo dục cho địa phương ; Xiết chặt và xử lý nghiêm các vi phạm về thu chi trong các cơ sở giáo dục; Công tác thanh tra thi tốt nghiệp THPT, thi tuyển sinh ĐH, CĐ, việc cam kết thực hiện cam kết thành lập trường, các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục, liên kết đào tạo, thanh tra các cơ sở giáo dục ngoài công lập, các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài… cũng sẽ được đẩy mạnh trong năm 2012

• Nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục năm 2012 : Bộ tiếp tục

triển khai thực hiện các cuộc vận động, các phong trào thi đua trong toàn ngành giáo dục; thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục Tiểu học,

Trang 14

Các M•c Tiêu Ngành Giáo D•c

12  

THCS và xóa mù chữ cho người lớn Giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, ngăn chặn bạo lực trong học sinh, sinh viên, tìm giải pháp để khắc phục hiện tượng học sinh ngồi sai lớp, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém, bỏ học, tăng tỷ lệ học sinh khá giỏi

• Phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục năm 2012 : Đề án

đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường ĐH, CĐ từ nay đến năm 2020 Xây dựng và triển khai đề án về chính sách thu hút chuyên gia Việt Nam trình độ cao

ở nước ngoài về tham gia quản lý và triển khai nghiên cứu khoa học, giảng dạy ĐH giai đoạn 2012-2015

• Kế hoạch, tài chính, tăng cường cơ sở vật chất : Tiếp tục hoàn thiện về

cơ chế, chính sách đối với lĩnh vực tài chính Giáo dục và Đào tạo Xây dựng đề án di dời một số trường ĐH và CĐ từ nội thành thành phố Hà Nội và TP HCM đến các khu quy hoạch…

• Tăng cường liên kết đào tạo quốc tế : Tăng cường ký kết các điều ước và

thỏa thuận quốc tế về Giáo dục và Đào tạo Bên cạnh đó, thanh tra các cơ sở giáo dục

có chương trình hợp tác đào tạo với nước ngoài trên phạm vi toàn quốc Công tác cử lưu học sinh đi nước ngoài theo các đề án đã được phê duyệt, tuyển chọn lưu học sinh đi học tập ở nước ngoài… sẽ được đôn đóc đẩy mạnh trong năm 2012 Bên cạnh

đó, việc triển khai, xây dựng các trường ĐH xuất sắc và thực hiện tiếp tục “Đề án hợp tác giáo dục đào tạo Việt Nam – Lào giai đoạn 2011-2020” cũng được xác định

là một trong nhiệm vụ giáo dục cấp bách trong năm 2012

5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục trong năm 2012 nhằm xây dựng một nền giáo dục trong sạch và tiến bộ , hiệu quả hơn

Trong điều kiện đất nước đang trong công cuộc phát triển ,cần ổn định và phát triển ở nhiều khía cạnh ,lĩnh vực thì việc phân bổ nguồn lực hạn hẹp của xã hội cho

những lĩnh vực đó cần đảm bảo sự hiệu quả , hợp lý về mặt kinh tế cũng như sự công bằng về mặt xã hội giữa các tầng lớp, dân tộc Giáo dục cũng không nằm ngoài vấn đề hiệu quả và công bằng đó Có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của bất kỳ quốc

Trang 15

Các Chính Sách Giáo D•c

13  

gia nào, giáo dục không chỉ mang ý nghĩa nhân văn mà nó còn có ý nghĩa kinh tế , xã hội rất lớn , điều đó dễ dàng giải thích cho sự quan trọng của sự chính xã, phù hợp , đúng lúc và hiệu quả của từng chính sách giáo dục của chính phủ nhằm bảo đảm sự hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực và công bằng khi thực thi chính sách để đạt được những mục tiêu chung của giáo dục như đã đề câp ở trên

3 Các chính sách phát triển giáo dục.:

Từ sau khi Việt Nam nhập WTO , chính sách khuyến khích giáo dục càng được chính phủ quan tâm phát triển nhằm rút ngắn sự bất bình đẳng trong giáo dục giữa các vùng miền , các dân tộc cũng như đầu tư có hiệu quả vào chất lượng nguồn nhân lực đất nước Sau tám năm thực hiện Chiến Lược Giáo Dục 2001-2010 ,chính phủ tiếp tục đưa ra Chiến Lược Giáo Dục 2009-2020 để thực hiện tiếp những năm cuối của chiến lược trước và định hướng chiến lược giáo dục trong tương lai sắp tới Sơ lược Chiến Lược Giáo Dục 2009 -2020, có ba giai đoạn chính:

Giai đoạn 1(2009 – 2010):

- Điều chỉnh một số chỉ tiêu và tiếp tục thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục

2001-2010

- Tập trung vào một số trọng điểm: Đẩy mạnh cuộc vận động đổi mới phương

pháp dạy học; chấn chỉnh nền nếp và kỉ cương trong các hoạt động giáo dục để xây

dựng môi trường giáo dục lành mạnh, cải cách hành chính triệt để trong hệ thống

quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương

- Thực hiện một số giải pháp bổ sung; khởi động các chương trình, dự án, đề án

của giai đoạn 2009 – 2020

Trang 16

- Đẩy mạnh việc xây dựng các đại học đạt tiêu chuẩn quốc tế

- Thực hiện những điều chỉnh cần thiết về các mục tiêu, chỉ tiêu chiến lược và

đánh giá kết quả thực hiện chiến lược giáo dục

Trong chiến lược này , chính phủ vẫn nhắm đến mục tiêu sử dụng nguồn vốn đầu

tư giáo dục hiệu quả thể hiện qua việc năng cao chất lượng môi trường giáo dục và xây dựng sự công bằng trong việc tiếp cận giáo dục , học tập của học sinh , sinh viên

ở các vùng miền, dân tộc trên toàn quốc Điều đó thể hiện qua các chính sách , dự án sau :

Ngày đăng: 14/02/2015, 18:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 :Số học sinh phổ thông thuộc dân tộc ít người - tiểu luận vấn đề hiệu quả và công bằng trong giáo dục
Bảng 1 Số học sinh phổ thông thuộc dân tộc ít người (Trang 23)
Bảng 2 : Tỷ lệ nghèo ở thành thị và nông thôn (%) - tiểu luận vấn đề hiệu quả và công bằng trong giáo dục
Bảng 2 Tỷ lệ nghèo ở thành thị và nông thôn (%) (Trang 25)
Bảng 5 :Giáo dục đại học - tiểu luận vấn đề hiệu quả và công bằng trong giáo dục
Bảng 5 Giáo dục đại học (Trang 27)
Bảng 4 :Giáo dục phổ thông - tiểu luận vấn đề hiệu quả và công bằng trong giáo dục
Bảng 4 Giáo dục phổ thông (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w