1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và lạm phát nhìn từ lý giảng viên hướng dẫn pgs.ts nguyễn văn luân thuyết và thực tiễn việt nam giai đoạn 2004-2008

22 781 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 496,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘI CHI NGÂN SÁCH VÀ LẠM PHÁT NHÌN TỪ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2004-2008 ---F×G--- LỜI MỞ ĐẦU Việt Nam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

-XoOoW

ĐỀ TÀI

   

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Luân

 

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Luân

Sinh viên thực hiện đề tài:

Nguyễn Hữu Trường K084010091

TP.HCM, Tháng 06/2011

MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘI CHI NGÂN SÁCH VÀ LẠM PHÁT NHÌN TỪ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2004-2008 

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

1 Cơ sở lý luận 3

1.1 Ngân sách nhà nước và vấn đề bội chi ngân sách nhà nước 3

1.1.1 Ngân sách Nhà nước 3

1.1.2 Bội chi ngân sách nhà nước 3

1.1.2.1 Thế nào là bội chi ngân sách nhà nước 3

1.1.2.2 Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước 4

1.1.2.3 Các giải pháp xử lý bội chi ngân sách nhà nước 4

1.2 Lạm phát 6

1.2.1 Khái niệm lạm phát 6

1.2.2 Cách tính lạm phát 6

1.2.3 Nguyên nhân lạm phát 7

1.3 Mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và lạm phát 8

2 Thực tiễn tại Việt Nam giai đoạn 2004-2008 9

2.1 Thực trạng lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2004-2008 9

2.2 Tình hình bội chi ngân sách tại Việt Nam giai đoạn 2004-2008 9

2.3 Mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và lạm phát 13

3 Những vấn đề đặt ra về xử lý bội chi NSNN nhằm kiềm chế lạm phát tại Việt Nam 16

KẾT LUẬN 20

DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 3

MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘI CHI NGÂN SÁCH VÀ LẠM PHÁT NHÌN TỪ LÝ

THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2004-2008

-F×G -

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về vai trò của nó đối với sự nghiệp phát triển kinh tế Nghiên cứu lạm phát, kiềm chế và chống lạm phát được thực hiện bởi nhiều nàh kinh tế trên nhiều nước Càng ngày cùng với sự phát triển đa dạng

và phong phú của nền kinh tế, nguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp Tình hình lạm phát năm 2010 (11,75%) và bốn tháng đầu năm 2011 (9,64%) ở nước ta

đã và đang đặt ra đòi hỏi làm thế nào để kiểm soát được lạm phát, đưa tỷ lệ lạm phát xuống thấp ở mức có thể chấp nhận được Nguyên nhân gây ra lạm phát thì có nhiều, nhưng trong bài viết này chỉ tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) với lạm phát ở nước ta hiện nay, nhằm tìm ra một lời giải nhỏ trong lời giải tổng thể cho kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô của nền kinh tế

Trang 4

1.1.2 Bội chi ngân sách nhà nước

1.1.2.1 Thế nào là bội chi ngân sách nhà nước

Bội chi Ngân sách Nhà nước trong một thời kỳ (1 năm, 1 chu kỳ kinh tế) là số chênh lệch giữa chi lớn hơn thu của thời kỳ đó

Bội chi ngân sách Nhà nước có thể do ngoài tầm kiểm soát nhưng cũng có thể nằm trong chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ nhằm thực hiện chính sách kinh tế vĩ

A Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí)

B Thu về vốn (bán tài sản nhà nước)

D Chi thường xuyên

E Chi đầu tư

F Cho vay thuần (= cho vay mới - thu nợ gốc)

Trang 5

Nguyên tắc cân bằng ngân sách là: A + B +C = D + E + F

Công thức tính bội chi Ngân sách Nhà nước của một năm sẽ như sau: Bội chi Ngân sách Nhà nước = Tổng chi - Tổng thu = (D + E + F) - (A + B) = C (khoản bù đắp thâm hụt)

1.1.2.2 Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước

Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi NSNN:

- Do tác động của chu kỳ kinh doanh:

Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên nhằm giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ

- Do tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu

Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn, ), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNN

1.1.2.3 Các giải pháp xử lý bội chi ngân sách nhà nước

Để duy trì sự phát triển bền vững và duy trì được tốc độ tăng trưởng của nền kinh

tế thì chắc chắn cần có sự can thiệp của nhà nước bằng các chính sách, trong đó chính sách tài khóa Tuy nhiên do nguồn lực có hạn vì vậy đòi hỏi phải có chính sách tài khóa phù hợp với yêu cầu phát triển thực tế và sự phát triển trong tương lai Từ sự lựa chọn này sẽ đưa ra mức bội chi "hợp lý", bảo đảm nhu cầu tài trợ cho chi tiêu cũng như đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm cho nợ quốc gia ở mức hợp lý

Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu từ thuế, phí,

lệ phí; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài; phát hành tiền để

bù đắp chi tiêu; Sử dụng phương cách nào, nguồn nào tùy thuộc vào điều kiện kinh

Trang 6

tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia Tuy nhiên mỗi giải pháp bù đắp bội chi ngân sách nhà nước đều có sự tác động đến nền kinh tế vĩ mô

Về cơ bản, các quốc gia trên thế giới thường sử dụng các giải pháp chủ yếu nhằm

xử lý bội chi NSNN như sau:

Thứ nhất: Nhà nước phát hành thêm tiền Việc xử lý bội chi NSNN có thể thông

qua việc nhà nước phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông Tuy nhiên, giải pháp này

sẽ gây ra lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội chi NSNN Đặc biệt, khi nguyên nhân bội chi NSNN là do thiếu hụt các nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển gây "tăng trưởng nóng" và không cân đối với khả năng tài chính của quốc gia

Thứ hai: Vay nợ cả trong và ngoài nước Để bù đắp thâm hụt NSNN, nhà nước có

thể vay nợ nước ngoài và trong nước Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn đề phụ thuộc nước ngoài cả về chính trị lẫn kinh tế và làm giảm dự trữ ngoại hối quá nhiều khi trả nợ, làm cạn dự trữ quốc gia sẽ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá Vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất, và cái vòng nợ - trả lãi - bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của NSNN cho các thời kỳ sau

Thứ ba: Tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế Việc tăng các khoản thu, đặc biệt là

thuế có thể sẽ bù đắp sự thâm hụt NSNN và giảm bội chi NSNN Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp cơ bản để xử lý bội chi NSNN, bởi vì nếu tăng thuế không hợp

lý sẽ dẫn đến làm giá cả hàng hóa tăng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân, nghiêm trọng hơn sẽ triệt tiêu động lực của các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất kinh doanh và làm mất đi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đối với các nước trong khu vực và trên thế giới

Thứ tư: Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ NSNN

Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra bội chi NSNN và xuất hiện lạm phát Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư Mặt khác, bên cạnh việc triệt

để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan

Trang 7

nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết

Thứ năm: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định

chính sách vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế Để thực hiện vai trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế - xã hội, nhằm giải quyết các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn môi trường v.v Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát là một vấn nạn của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với quản lý NSNN nói chung và xử lý bội chi NSNN nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết

1.2 Lạm phát

1.2.1 Khái niệm lạm phát

Trong kinh tế học, thuật ngữ “lạm phát” được dùng để chỉ sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung hầu hết các hàng hoá và dịch vụ so với thời điểm một năm trước đó Như vậy tình trạng lạm phát được đánh giá bằng cách so sánh giá cả của một loại hàng hoá vào hai thời điểm khác nhau, với giả thiết chất lượng không thay đổi Khi giá trị của hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền giảm đi, và với cùng một số tiền nhất định, người ta chỉ có thể mua được số lượng hàng hoá ít hơn so với năm trước

Có nhiều dạng lạm phát khác nhau, như lạm phát một con số (single-digit inflation), lạm phát hai con số (double-digit inflation), lạm phát phi mã (galloping inflation), siêu lạm phát (hyper inflation)

1.2.2 Cách tính lạm phát

Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế (thông thường dựa trên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước)

Trang 8

Các giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một chỉ số giá cả để đo mức giá cả trung bình, là mức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ phần trăm mức tăng của chỉ số này

Không tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện Tuy nhiên, thước đo lạm phát phổ biến nhất chính là CPI - Chỉ số giá tiêu dùng (consumer price index) đo giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau, bao gồm thực phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế , được mua bởi "người tiêu dùng thông thường"

1.2.3 Nguyên nhân lạm phát

Theo lý thuyết kinh tế học hiện đại, lạm phát do ba nguyên nhân: cầu kéo, chi phí đẩy và quá thừa mức tiền cung ứng trong lưu thông Tuy nhiên trong thực tế, lạm phát gia tăng còn do một số nguyên nhân nữa, thí dụ: Tâm lý của dân chúng, sự mất cân đối trong cơ cấu đầu tư

Căn cứ vào nguyên nhân gây ra lạm phát, người ta chia ra 2 loại lạm phát là lạm phát tiền tệ và lạm phát giả cả

Lạm phát tiền tệ được hiểu là do mức tiền cung ứng cho lưu thông vượt quá mức cần thiết dẫn đến tình trạng mất giá của đồng bản tệ

Lạm phát giả cả được hiểu là giá cả của hàng hóa và dịch vụ nói chung tăng lên do cầu lớn hơn cung (cầu kéo), hoặc do chi phí sản xuất hàng hóa và dịch vụ tăng lên (chi phí đẩy)

Trong thực tế hai loại lạm phát nói trên ít khi xảy ra cùng một lúc, mà thường hoặc là lạm phát giá cả, hoặc là lạm phát tiền tệ

Nếu điều tiết lạm phát ở mức độ ổn định và hợp lý sẽ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, hay nói cách khác là điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh tế, điều kiện cần là vấn đề của Chính phủ trong việc phát triển nguồn lực, vốn và công nghệ kỹ thuật Nghiên cứu bước đầu của IFM (2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với các nước Đông Nam á cũng đã chỉ ra răng, mức lạm lạm phát tối ưu cho tăng trưởng

Trang 9

kinh tế ở các nước vùng Đông Nam á, trong đó có Việt Nam khoảng 3.6% trong khi các nước phát triển chọn mức lạm phát gần 2% là mức tối ưu cho tăng trưởng

1.3 Mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và lạm phát

Chi ngân sách là một trong những công cụ chính sách quan trọng của Nhà nước nhằm tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội Khi sản lượng của nền kinh tế thấp dưới mức sản lượng tiềm năng, thì Chính phủ có thể tăng mức chi ngân sách, chấp nhận bội chi để thúc đẩy hoạt động kinh tế Vì vậy, bội chi ngân sách không chỉ diễn

ra phổ biến đối với các nước nghèo, kém phát triển mà xảy ra ngay cả đối với những nước thuộc nhóm các nền kinh tế phát triển nhất (nhóm OECD) Đối với các nước đang phát triển, bội chi ngân sách thường để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư cơ sở

hạ tầng ban đầu như: Giao thông, điện, nước Nhiều nước phát triển và đang phát triển trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng vẫn bội chi ngân sách Tuy nhiên chính mức tăng chi tiêu của Chính phủ sẽ kéo theo hiệu ứng tăng giá ở một số các lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ do gia tăng cầu dẫn đến tình trạng lạm phát do cầu kéo, song song với việc giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng cũng sẽ kéo theo các chi phí sản xuất tăng dẫn đến lạm phát do chi phí đẩy

Mặt khác khi các nhu cầu về đầu tư cơ sở hạ tầng tăng cao mà ngân sách nhà nước lại thiếu hụt dẫn đến không đủ nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển Để bù đắp phần thiếu hụt, Nhà nước có thể sử dụng chính sách phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông Tuy nhiên việc tăng chi tiêu của Chính phủ trong trường hợp này sẽ gây "tăng trưởng nóng" và không cân đối với khả năng tài chính của quốc gia Nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội chi NSNN thì sẽ gây ra tình trạng lạm phát tiền tệ

 

Trang 10

2 Thực tiễn tại Việt Nam giai đoạn 2004-2008

2.1 Thực trạng lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2004-2008

Thay đổi CPI qua các năm

Nguồn: IMF, International Financial Statistics

Nhìn vào số liệu cho thấy tình hình lạm phát tại Việt Nam có chiều hướng gia tăng cao từ giữa cuối năm 2007 và đạt đỉnh cao vào tháng 8/2008 với mức tăng CPI là hơn 30% Tính trung bình tỷ lệ lạm phát năm 2007 là 8.86% (nhưng nếu tính riêng 4 tháng cuối năm 2007 là gần 12%) và năm 2008 là 22,97% Đây có thể nói là mức tăng cao nhất kể từ năm 2004 trở về đây

2.2 Tình hình bội chi ngân sách tại Việt Nam giai đoạn 2004-2008

ngân sách được nghiên cứu ở đây là lấy số liệu được tính theo cách tính riêng của Việt Nam và công bố trong nước, không sử dụng số liệu công bố quốc tế ( số liệu của Bộ

Trang 11

Mức bội chi ngân sách qua các năm Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ tài chính và Bộ kế hoạch đầu tư

Từ năm 2004-2007, tình hình bội chi NSNN tăng lên qua các năm và về cơ bản đuợc cân đối ở mức 5% GDP và thực hiện ở mức 4,9%-5,5% GDP và nằm trong mức

mà quốc hội đã thông qua từ đầu năm Tuy nhiên nếu chỉ xem xét bội chi NSNN so với GDP thì chưa thấy hết sự tăng lên của nó trong những năm này; đặc biệt những năm gần đây, ngoài NSNN được cân đối, đã có một lượng vốn lớn được đưa ra đầu tư các công trình giao thông và thuỷ lợi thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ không cân đối vào NSNN Ngoài ra, phải kể đến lượng công trái giáo dục được phát hành để thu hút tiền cho đầu tư kiên cố hoá trường lớp học cũng là một lượng tiền lớn cân đối ngoài NSNN Nếu cộng cả hai loại trên vào cân đối NSNN, bội chi NSNN trong những năm qua không phải chỉ 5% GDP mà cao hơn (khoảng 5,8-6,2% GDP) Tốc độ tăng bội chi NSNN là khá cao, trung bình ở mức 18%/ năm trong các năm 2005- 2006 và đột biến ở năm 2007 với mức là 33% so với năm 2006 Tốc độ này nếu trừ đi yếu tố tăng trưởng thì còn cao hơn tỷ lệ lạm phát từ 2004 – 2007 (năm 2004: 7,8%; năm 2005: 8,3%; năm 2006: 7,4%; năm 2007: 8,86% ) Riêng năm 2008 tốc độ tăng bội chi giảm hẳn xuống so với 2007, đây là do chính sách cắt giảm chi tiêu của Chính phủ nhằm kiềm chế lạm phát

Ngày đăng: 14/02/2015, 18:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w