1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận chất lượng tăng trưởng kinh tế_cơ sở lý luận và thực tế ở việt nam

42 828 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 666,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này không chỉ góp phần giúp đất nước khắc phục tình trạng kém phát triển, mà còn làm tiền đề để thực hiện nhiều mục tiêu kinh tế, xã hội khác như giảm thất nghiệp, cải thiện cán cân

Trang 1

TIỂU LUẬN

Chất lượng tăng trưởng kinh tế_cơ sở lý luận

và thực tế ở Việt Nam

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN A: MỞ ĐẦU

Trang

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục đích 4

3 Nhiêm vụ nghiên cứu đề tài 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Tổng quan nghiên cứu đề tài 5

PHẦN B: NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Khái niệm 5

1.1.1 Tăng trưởng kinh tế 6

1.1.2 Chất lượng tăng trưởng kinh tế 6

1.2 Đo lường tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng 7

1.3 Các thước đo chất lượng kinh tế 9

1.4 Các yếu tố tác động 14

Chương 2: CHấT LƯợNG TĂNG TRƯởNG KINH Tế Ở VIỆT NAM 2.1 Giai đoạn 1986-1990 16

2.1.1 Đường lối kinh tế của Đảng 16

2.1.2 Tình hình kinh tế 17

2.1.3 Hiệu quả và đánh giá 19

2.2 Giai đoạn 1991-2000 18

2.2.1 Đường lối kinh tế của Đảng

2.2.2 Tình hình kinh tế 21

2.2.3 Hiệu quả và đánh giá 25

2.3 Giai đoạn 2001-2010 28

2.3.1 Đường lối kinh tế của Đảng 28

Trang 3

2.3.2 Tình hình kinh tế 28

2.3.3 Hiệu quả và đánh giá 34

Chương 3: GIảI PHÁP 40

PHẦN C: KẾT LUẬN 42

Trang 4

PHẦN A: Mở ĐầU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Qua gần 25 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tích đầy ấn tượng trong tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo Điều này không chỉ góp phần giúp đất nước khắc phục tình trạng kém phát triển, mà còn làm tiền đề để thực hiện nhiều mục tiêu kinh tế, xã hội khác như giảm thất nghiệp, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách, phát triển giáo dục, y tế, văn hoá, xóa đói giảm nghèo Về cơ bản, những thành tựu tăng trưởng đã đến được với đại bộ phận người dân, thể hiện ở mức tăng rõ rệt về thu nhập và tiêu dùng của tất cả các nhóm dân cư trong thời gian qua Tuy nhiên, nền kinh tế cũng đang bộc lộ ngày càng rõ những lo ngại về chất lượng và

sự bền vững của quá trình tăng trưởng, xét cả về trung hạn và dài hạn Nên đề tài

nhóm chúng tôi nghiên cứu “chất lượng tăng trưởng kinh tế_cơ sở lý luận và thực tế ở

Việt Nam” đưa ra một số đánh giá về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam dưới

các góc độ: chuyển dịch cơ cấu, hiệu quả của tăng trưởng, và một số khía cạnh về phát triển xã hội… để có cái nhìn tổng quát về chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam qua từng giai đoạn Và qua đó, đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục tình trạng tăng trưởng không bền vững như hiện nay

2 MỤC ĐÍCH_NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

9 Cung cấp các kiến thức cơ bản về tăng trưởng,tăng trưởng bền vững

9 Nghiên cứu các giai đoạn tăng trưởng kinh tế của Việt Nam : những hạn chế và tích cực

Trang 5

9 Phân tích thực trạng tăng trưởng qua các giai đoạn kinh tế của Việt Nam từ năm 1986 đến nay

9 Đưa ra các giải pháp nhằm đem đến sự tăng trưởng bền vững cho Việt Nam

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Sử dụng hai phương pháp là định lượng và định tính cho đề tài Kết hợp các phương pháp phân tích,tổng hợp,tìm kiếm thông tin cho các bộ số liệu Tiến hành xử

lí số liệu bằng phần mềm EVIEWS cho bộ số liệu cập nhật,để đưa ra mô hình và phân tích

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nước đang phát triển (nhìn chung) Đặc biệt nghiên cứu về các giai đoạn tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam

Trang 6

Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cơ bản của lí luận về phát triển kinh tế Việc nghiên cứu tăng trưởng kinh tế ngày càng có hệ thống và hoàn thiện hơn

Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Tăng trưởng kinh tế có thể được biểu thị bằng số lượng tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số lượng tương đối (tỷ lệ tăng trưởng) Trong phân tích kinh tế, để phản ánh mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được dùng Đây là tỉ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kì nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kì trước đó hoặc thời kì gốc

1.1.2 Khái niệm về chất lượng tăng trưởng

Như khái niệm ở trên về tăng trưởng kinh tế, ta đã biết rằng bản chất của tăng trưởng phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Nhưng ngày nay, yêu cầu của tăng trưởng kinh tế cũng cần phải được gắn liền với tính bền vững hay việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng ngày càng cao

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về “chất lượng tăng trưởng” và hiện chưa

có một khái niệm chính thức nào Theo cách hiểu rộng nhất thì chất lượng tăng trưởng kinh tế có thể tiến tới nội hàm của quan điểm vể phát triển bền vững, chú trọng tới ba thành tố kinh tế, xã hội và môi trường Theo cách hiểu hẹp thì khái niệm

có thể chỉ giới hạn ở một khía cạnh nào đó như chất lượng đầu tư, chất lượng giáo dục, dịch vụ công, quản lý đô thị tuy nhiên, dù hiểu theo cách nào đi nữa thì nó vẫn

có tính chất chung là không chỉ có mức và tốc độ tăng trưởng là quan trọng mà biết được cách để đạt được tăng trưởng cao và duy trí trong dài hạn mới quan trọng hơn

Chất lượng tăng trưởng được thể hiện trên hai khía cạnh đó là: tốc độ tăng trưởng cao cần được duy trì trong dài hạn và tăng trưởng cần phải đóng góp trực tiếp vào cải thiện một cách bền vững phúc lợi xà hội, cụ thể là phân phối thành quả của phát triển và xóa đói giảm nghèo Nói đến tăng trưởng giờ đây không chỉ đơn thuần

là tăng thu nhập bình quân đầu người, mà hai mục tiêu khác không kém phần quan

Trang 7

trọng là duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và tăng thu nhập phải gắn với tăng chất lượng cuộc sống hay tăng phúc lợi và xóa đói giảm nghèo

Tóm lại, tăng trưởng không nhất thiết phải đạt tốc độ quá cao, mà chỉ cần cao

ở mức hợp lý nhưng bền vững Nâng cao chất lượng tăng trưởng vì vậy có ý nghĩa lớn cho các nhà hoạch định chính sách, nhất là các nước đang phát triển Để đạt được điều đó, việc xem xét các khía cạnh của quá trình tạo tăng trưởng mà bất chấp các hậu quả về phân phối thành quả Trái lại, tăng thu nhập một cách bền vững, cải thiện đời sống vật chất cho các nhóm người nghèo cũng phải được quan tâm trực tiếp ngay

từ trong quá trình tạo tăng trưởng

1.2 Đo lường tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế

1.2.1 Các thước đo tăng trưởng kinh tế

1.2.1.1 Tổng giá trị sản xuất (GO)

Là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất (giá trị của những sản phẩm vật chất

và dịch vụ) của toàn bộ nền kinh tế trong một thời kì nhất định (thường là một năm)

GO chính là tổng doanh thu bán hàng thu được từ các đơn vị các ngành trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân hoặc có thể tính trực tiếp từ sản xuất và dịch vụ gồm chi phí trung gian (IC) và giá trị gia tăng (VA) từ sản phẩm và dịch vụ đó Trong đó chi phí trung gian của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ mua ngoài được sử dụng làm đầu vào để sản xuất ra sản phẩm khác và sử dụng hết một lần trong quá trình sản xuất Đó là chi phí về nguyên liệu,nhiên liệu,điện năng nước.Những chi phí về khấu hao tài sản cố định không phải là chi phí trung gian bởi vì tài sản cố định được sử dụng nhiều lần trong quá trình sản xuất

1.2.1.2 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Là chỉ tiêu phản ánh giá trị tính bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối cùng

mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó (dù nó thuộc về người trong nước hay người nước ngoài) trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Trong 3

Trang 8

• Phương pháp sản xuất:GDP bao gồm giá trị gia tăng của các ngành trong nền kinh tế:

GDP=AVA+IVA+SVA

Trong đó:

AVA là giá trị gia tăng của ngành nông,lâm,ngư nghiệp

IVA là giá trị gia tăng của ngành công nghiệp

SVA là giá trị gia tăng của ngành dịch vụ

• Phương pháp tiêu dùng:GDP tương đương với tổng chi tiêu về hàng hóa dịch vụ cuối cùng

GDP=C+I+G+X-M

Trong đó:

C:Chi tiêu mua hàng tiêu dùng và dịch vụ của khu vực hộ gia đình không bao gồm xây dựng nhà mới

I:Đầu tư gộp bao gồm đầu tư cố định và kinh doanh của khu vực tư nhân ,đầu

tư cố định và đầu tư vào hàng tồn kho

G:Chi tiêu mua hàng hóa và dịch vụ của chính phủ không bao gồm chi chuyển nhượng

NX:Gía trị hàng hóa và dịch vụ được xuất khẩu sang các nước khác trừ giá trị hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài

• Phương pháp thu nhập:GDP được tính dựa vào tổng thu nhập của các yếu tố sản xuất trong nền kinh tế được huy động trong quá trình sản xuất

GDP= W+i+Pr+R+Ti+De

Trong đó:

Thu nhập của người cung cấp sức lao động:Tiền lương W

Thu nhập của người thuê tài sản: Tiền thuê (R)

Thu nhập của người cho vay:Tiền Lãi (i)

Thu nhập của người sản xuất kinh doanh:Lợi nhuận (Pr)

Thu nhập của chính phủ:Thuế gián thu(Ti)

Ngoài ra còn Khấu hao (De)

Trang 9

1.2.1.3 Tổng thu nhập quốc dân (GNI)

Là chỉ tiêu phản ánh tổng giá trị tính bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối cùng thuộc quyền sở hữu của công dân một nước(dù là sản xuất ở trong nước hay ở nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)

GNI= GDP + Thu nhập từ các yếu tố xuất khẩu-Thu nhập từ các yếu tố nhập khẩu

• Thu nhập quốc dân (NI) phản ánh mức thu nhập mà công dân một nước tạo ra,không kể phần tham gia của chính phủ dưới dạng thuế gián thu,phần giá trị mới sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định.NI chính là tổng thu nhập quốc dân (GNI) sau khi đã trừ đi khấu hao vốn cố định của nền kinh tế (Dp)

NI= GNI - Dp

• Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI) là phần thu nhập của quốc gia dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích lũy thuần trong một thời kỳ nhất định:

NDI= NI + Chênh lệch về chuyển nhương hiện hành với nước ngoài

Chênh lệch về chuyển nhượng hiện hành với nước ngoài = thu chuyển nhượng hiện hành từ nước ngoài-chi chuyển nhượng hiện hành ra nước ngoài

• Thu nhập bình quân đầu người (GDP/người,GNI/người) Chỉ tiêu này phản ánh tăng trưởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số.Quy mô và tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người là những chỉ chỉ báo quan trọng phản ánh và là tiền đề để nâng cao mức sống dân cư

1.3 Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế

1.3.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế

1.3.1.1 Chỉ tiêu phản ánh sử dụng hiệu quả sử dụng lao động – năng suất lao động

Để tính năng suất lao động cho toàn bộ nền kinh tế, có thể đơn giản lấy GDP (theo giá cố định) chia cho số lao động (hoặc giờ lao động) Nếu GDP bình quân

Trang 10

Dưới góc độ ngành hay doanh nghiệp, GDP có thể được thay thế bằng các chỉ số khác có sẵn như giá trị sản phẩm, từ đó có chỉ số giá trị sản phẩm trên một giờ lao động hoặc chỉ số giá thành lao động trên một đồng giá trị sản phẩm Đây là những chỉ số theo dõi chi phí và năng suất lao động

1.3.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn – Hệ số ICOR

ICOR là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp xác định mối quan hệ giữa vốn - tư bản

và đầu ra - GDP, nếu ICOR quá lớn thì chúng ta phải mất một lượng tư bản lớn để tạo

ra một giá trị GDP gia tăng Ngoài ra, ICOR còn xác định mức độ sử dụng vốn trong nền kinh tế Những nước sử dụng nhiều vốn (thực chất là máy móc thiết bị, công nghệ) thì ICOR cao, những nước sử dụng nhiều lao động thì ICOR thấp

Có hai phương pháp tính hệ số ICOR

- Thứ nhất:

0 1

1

Y Y

Y

I /

Trong đó, I/Y là tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP, gY là tốc độ tăng trưởng GDP Hệ số ICOR tính theo phương pháp này thể hiện: để tăng thêm 1% GDP đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu phần trăm tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP

1.3.1.3 Tốc độ tăng TFP và tỷ trọng đóng góp của tăng trưởng TFP

Tăng trưởng kinh tế xét ở đầu vào, có ba yếu tố đóng góp Đó là sự đóng góp của yếu tố số lượng vốn đầu tư, sự đóng góp của số lượng lao động và sự đóng

Trang 11

góp của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) TFP (năng suất lao động tổng hợp) là tổng hợp của các nhân tố hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và năng suất lao động

và phụ thuộc vào hai yếu tố: tiến bộ công nghệ kỹ thuật và hiệu quả sử dụng các yếu

tố đầu vào

TFP tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong đóng góp vào tăng trưởng kinh

tế sẽ đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh

tế từ bên ngoài Có thể thấy, tốc độ tăng TFP và đóng góp TFP vào tăng truỏng kinh

tế chỉ là chỉ tiêu phản ánh đích thực và khái quát nhất hiệu quả sử dụng nguồn lực sản xuất, làm căn cứ quan trọng để đánh giá tính chất phát triển bền vững của kinh tế, là

cơ sở để phân tích hiệu quả sản xuất xã hội, đánh giá tiên bộ khoa học công nghệ, đánh giá trình độ quản lý sản xuất… của mỗi ngành, mỗi địa phương hay mỗi quốc gia

Tốc độ tăng trưởng TFP được tính theo công thức

GTFP = gY – (agK + bgL)

Trong đó, gY là tốc độ tăng GDP, gK là tốc độ tăng vốn hoặc tài sản cố định,

gL là tốc độ tăng lao động làm việc, a vvà b lần lượt là hệ số đóng góp của vố và lao động (a+b=1), thường được xác định băng phương pháp hạch toán hoặc dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas

1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế thể hiện cấu trúc bên trong của nền kinh tế Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với vị trí, tỉ trọng tương ứng của chúng

và mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành Phân tích cơ cấu phải theo 2 phương diện:

Phương diện thứ nhất, mặt vật chất kĩ thuật của cơ cấu, bao gồm:

• Cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực kinh tế phản ánh số lượng, vị trí, tỉ trọng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh tế

Trang 12

• Cơ cấu theo quy mô, trình độ kĩ thuật, công nghệ của các loại hình tổ chức sản xuất phản ánh chất lượng các ngành, lĩnh vực, bộ phận cấu thành nền kinh

tế

• Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế-xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất

Phương diện thứ hai, xét theo cơ cấu kinh tế về mặt kinh tế-xã hội, bao gồm:

• Cơ cấu theo các thành phần kinh tế phản ánh khả năng khai thác năng lực

tổ chức sản xuất kinh doanh của mọi thành viên xã hội

• Cơ cấu kinh tế theo trình độ phát triển của quan hệ hàng hoá tiền tệ Nó phản ánh khả năng giải quyết mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các ngành, lĩnh vực và các bộ phận hợp thành nền kinh tế quốc dân thống nhất

1.3.3 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh tăng trưởng

Khả năng cạnh tranh của một quốc gia được xem xét dưới ba góc độ: sản phẩm hàng hóa, doanh nghiệp và quốc gia

Để đo khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất trong nước, chúng ta thường sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh hoặc trên doanh thu

● Tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất = (lợi nhuận thực hiện/vốn sản xuất) x 100

● Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = (lợi nhuận thực hiện/giá trị sản xuất) x 100

Tỷ suất lợi nhuận càng cao, nghĩa là sản xuất càng có hiệu quả Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tỷ suất lợi nhuận có cùng xu thế thì chất lượng tăng trưởng tốt

và ngược lại

Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân… của một nền kinh tế Năng lực cạnh tranh tăng trưởng (GCI) được xây dựng dựa trên 3 yếu tố cơ bản: môi trường kinh tế vĩ mô, chất lượng của các định chế quốc gia và khoa học công nghệ

Trang 13

1.3.4 Các thước đo chất lượng tăng trưởng liên quan đến phúc lợi xã hội

1.3.4.1 Tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm

Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với việc tạo nhiều công ăn việc làm cho nngười lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và thời gian nhàn rỗi ở khu vực nông thôn Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm bao gồm: so sánh tốc độ tăng số lao động trong nền kinh tế quốc dân với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thời gian lao động không được sử dụng ở nông thôn…

1.3.4.2 Tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo

Trong một nền kinh tế tăng trưởng có chất lượng, tăng trưởng kinh tế phải

đi kèm xóa đói giảm nghèo Các chỉ tiêu như tỷ lệ nghèo đói của một quốc gia và của các vùng, tốc độ giảm tỷ lệ nghèo đói, % giảm nghèo so với % tăng trưởng kinh tế… thường được sử dụng để phản ánh mối quan hệ giữa tăng trưởng và giảm nghèo

1.3.4.3 Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội

Tiến bộ xã hội được thể hiện rõ nhất ở hai lĩnh vực giáo dục, đào tạo và y

tế Những tiêu chí về cơ sở vật chất, số lượng học sinh, giáo viên, số cán bộ ngành y… gia tăng thể hiện sự tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến nâng cao phúc lợi xã hội cho người dân Sự nâng cao về trình độ học vấn và chuyên môn kĩ thuật, cũng như cải thiện về mặt sức khỏe và chăm sóc y tế đối với người dân (tuổi thọ, tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh, tỷ lệ suy dinh dưỡng… ) có thể coi là kết quả của sự gia tăng phúc lợi xã hội và thể hiện rõ nét chất lượng tăng trưởng kinh tế Về khía cạnh này, chỉ số phát triển con người (HDI) là một chỉ tiêu tổng hợp, thể hiện khá toàn diện tiến bộ của một quốc gia trên hai mặt kinh tế (GDP/người) và xã hội (tuổi thọ và trình độ giáo dục)

1.3.4.4 Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Trang 14

Tính chất rộng và phức tạp của khái niệm công bằng xã hội cũng dẫn đến những khác biệt trong việc thể hiện và các thước đo công bằng xã hội Một số công

cụ và thước đo chủ yếu như: đường cong Lorenz; hệ số Gini; mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người; chỉ số phát triển xã hội tổng hợp; chỉ số chất lượng vật chất của cuộc sống…

1.3.5 Các thước đo chất lượng tăng trưởng kinh tế liên quan đến bảo vệ và cải thiện môi trường

Tăng trưởng kinh tế cùng việc tổ chức sản xuất của con người luôn gắn liền với việc khai thác các nguồn tài nguyên và môi trường thiên nhiên để sản xuất Tăng trưởng kinh tế và sử dụng tài nguyên môi trường có mối quan hệ với nhau và được xem xét qua rất nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu chính sau: nhịp độ tăng trưởng của GDP cả nước và giá trị gia tăng của các ngành trong tương quan so sánh với mức

độ cạn kiệt tài nguyên và tình hình ô nhiễm môi trường…

1.4 Các yếu tố tác động đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế chịu tác động của 2 nhân tố bao gồm nhân tố kinh tế và phi kinh tế

bị nhà xưởng Vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế được các nhà kinh tế trường phái Keynes đánh giá rất cao nó được lượng hóa qua mô hình Harrod-Domar: ICOR= (Hệ số gia tăng vốn đầu ra)

Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu đối với sản xuất những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhấn mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao

Trang 15

động là vốn con người đó là lao động có kỹ năng sản xuất có thể vận hạnh máy móc thiết bị, lao động có sáng kiến là phương pháp mới trong hoạt động kinh tế hiện nay tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đóng góp bởi quy mô lao động còn yếu tố vốn con người có vị trí chưa cao do trình độ và chất lượng nguồn nhân lực của các nước này còn thấp

Tiến bộ công nghệ là nhân tố ngày càng tác động mạnh đến tăng trưởng ở các nền kinh tế ngày nay yếu tố công nghệ được hiểu dưới 2 dạng thành tựu kiến thức(nắm bắt kiến thức khoa học), sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất vai trò công nghệ được các nhà kinh tế nổi tiếng đánh giá cao đối với tăng trưởng

Tài nguyên được đưa vào sử dụng để tạo sản phẩm cho xã hội càng nhiều càng tốt nhưng phải đảm bảo sử dụng có hiệu quả và không lãng phí việc sử tài nguyên là vấn đề có tính chiến lược, lựa chọn công nghệ để có thể sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên quốc gia là vấn đề sống còn của phát triển sử dụng lãng phí tài nguyên có thể xem như là sự hủy hoại môi trường làm cạn kiệt tài nguyên Hiện nay các mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại thường không nói đến nhân tố tài nguyên với tư cách là biến số của hàm tăng trưởng kinh tế họ cho rằng tài nguyên là yếu tố cố định vai trò cuả chúng có xu hướng giảm dần hoặc tài nguyên có thể được quy về vốn sản xuất như vậy có thể thấy nguồn gốc của tăng trưởng do nhiều yếu tố hợp thành vai trò của

nó phụ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi quốc gia Với các nước nghèo vốn vật chất lao động rẻ và tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng ngược lại đối với các nước công nghiệp vai trò của vốn con người và tiến bộ công nghệ quan trọng hơn các công trình nghiên cứu mà nguồn gốc tăng trưởng đều cho rằng trong bối cảnh chuyển đổi nền kinh tế hậu công nghiệp sang kinh tế tri thức, thì nhân lực và khoa học công nghệ vượt trội hơn nhân tố khác

1.4.2 Nhân tố phi kinh tế

Các nhân tố phi kinh tế bao gồm nhân tố chính trị, xã hội, thể chế có tác động gián tiếp và rất khó lượng hóa mức độ tác động của chúng tới tăng trưởng kinh tế các

Trang 16

nhân tố phi kinh tế tác động tới tăng trưởng kinh tế như: yếu tố văn hóa xã hội, thể chế, cơ cấu dân tộc tôn giáo và sự tham gia của cộng đồng

Văn hóa xã hội là nhân tố quan trọng tác động nhiều tới quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nó bao trùm nhiều mặt từ tri thức phổ thông đến những tích lũy tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học công nghệ, văn học, lối sống, phong tục tập quán Trình độ văn hóa cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia Trình độ văn hóa của mỗi dân tộc là nhân tố cơ bản để tạo

ra các yếu tố về chất lượng lao động, kỹ thuật, trình độ quản lý Xét trên khía cạnh kinh tế hiện đại thì nó là nhân tố cơ bản của mọi nhân tố dẫn đến quá trình phát triển

Thể chế là những rằng buộc do con người tạo ra nhằm quy định cấu trúc tương tác giữa người với người các thể chế chính trị-xã hội được thừa nhận có tác động đến quá trình phát triển đất nước đặc biệt thông qua việc tạo dựng hành lang pháp lý và môi trường đầu tư Để đánh giá chất lượng của thể chế có thể sử dụng 4 tiêu chí để đo lường bao gồm: tham nhũng, chất lượng bộ máy hành chính, tuân thủ pháp luật và bảo

vệ quyền tài sản Một cấu trúc thể chế tốt sẽ tạo ra sự khuyến khích nhất định ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực con người theo hướng tốt hay xấu cho tăng trưởng kinh tế

Về nhân tố dân tộc và tôn giáo một đất nước càng đa dạng thành phần tôn giáo

và sắc tộc thì nước đó càng tiềm ẩn bất ổn về chính trị và xung đột trong nước ngược lại một đất nước càng đồng nhất thì càng có điều kiện đạt được mục tiêu phát triển như Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan

Sự tham gia của cộng đồng cũng là một nhân tố phi kinh tế tác động tới chất lượng tăng trưởng kinh tế Dân chủ và phát triển là 2 vấn đề có tác động tương hỗ Sự phát triển là điều kiện làm tăng thêm năng lực làm thực hiện quyền dân chủ của cộng đồng dân cư trong xã hội Sự tham gia của cộng đồng là nhân tố đảm bảo tính chất bền vững và động lực nội tại cho phát triển kinh tế xã hội

Chương 2: CHấT LƯợNG TĂNG TRƯởNG KINH Tế Ở VIỆT NAM

Trang 17

2.1 Giai đoạn 1986-1990- Thời kì bắt đầu công cuộc đổi mới

2.1.1 Đường lối kinh tế của Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (họp từ 15 đến 18-12-1986) đã khẳng định tiếp tục đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa do các Đại hội lần thứ IV và lần thứ V của Đảng đề ra

Tuy nhiên, đến Đại hội VI, đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kì quá độ tiếp tục được cụ thể hóa trên cơ sở nâng cao nhận thức về đặc điểm thời kì quá

độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là cả một thời kì lịch sử lâu dài, khó khăn, trải qua nhiều chặng và hiện đang ở chặng đường đầu tiên Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền

đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo

Muốn thực hiện những "nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát “thì trong 5 năm trước mắt (1986-1990) cần tập trung sức người, sức của thực hiện bằng được nhiệm vụ, mục tiêu của ba chương trình về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Những mục tiêu cụ thể là:

• Bảo đảm nhu cầu lương thực của xã hội và có dự trữ; đáp ứng một cách ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm Mức tiêu dùng lương thực, thực phẩm

đủ tái sản xuất sức lao động

• Đáp ứng nhu cầu của nhân dân về những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu

• Tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực; tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu để đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc, phụ tùng và những hàng hóa cần thiết

Trang 18

Muốn thực hiện những mục tiêu của Ba chương trình kinh tế, thì nông nghiệp,

kể cả lâm nghiệp, ngư nghiệp phải được đặt đúng vị trí là mặt trận hàng đầu và được

ưu tiên đáp ứng nhu cẩu về vốn đấu tư, về năng lực, vật tư, lao động, kĩ thuật v.v

2.1.2 Tình hình kinh tế

Kết thúc kế hoạch 5 năm (1986 – 1990), công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng Việc thực hiện tốt 3 chương trình mục tiêu phát triển về lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu được đánh giá là sự thành công bước đầu trong việc cụ thể hóa nội dung của quá trình công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên đã được Đại hội VI thông qua Có thể tóm tắt những kết quả đó như sau:

• Chương trình lương thực thực phẩm đã được triển khai thực hiện khá tốt, mặc dù số dân thường xuyên tăng lên với tốc độ cao nhưng lương thực bình quân đầu người mỗi năm trong kế hoạch 5 năm 1986 – 1990 vẫn đạt 310 kg/người Từ chỗ lương thực sản xuất không đủ tiêu dùng, nước ta đã trở thành quốc gia xuất khẩu lương thực với mức tương đối khá (năm 1989 xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, trị giá 290 triệu USD; năm 1990 xuất khẩu 1,5 triệu tấn gạo, trị giá 304,6 triệu USD) Chăn nuôi gia súc gia cầm và nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy, hải sản được phát triển khá; mô hình VAC ( vườn – ao – chuồng) lần đầu được nhắc đến với ý nghĩa khuyến khích kinh tế gia đình trong các hộ nông dân và các nơi có điều kiện trồng trọt, chăn nuôi Sản lượng thịt hơi các loại đạt 1 triệu tấn, trong đó thịt lợn hơi là 73 vạn tấn vào năm 1990; sản lượng cá nuôi trồng và đánh bắt được khoảng 89 vạn tấn Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 3,8 – 4%/năm

• Chương trình sản xuất hàng tiêu dung đã được tổ chức triển khai thực hiện trên diện rộng; được sự chỉ đạo sát sao của các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương Các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu phát triển tương đối khá Năm 1990, sản lượng vải đạt 380 triệu mét so với mục tiêu 430 – 450 triệu mét; giấy các loại đạt

Trang 19

78.000 tấn tấn so với mục tiêu là 12.000 tấn; đường mật đạt 351.000 tấn so với mục tiêu là 70.000 tấn Các mặt hàng tiêu dùng như xà phòng, thuốc chữa bệnh, đồ dùng sành sứ, thủy tinh, xe đạp, và xăn lốp xe đạp, quạt điện, máy thu thanh, thu hình đều vượt kế hoạch; thị trường tiêu thụ đã bớt dược phần nào căng thẳng Tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 7,4%/năm, trong đó sản xuất hàng tiêu dùng tăng 13 – 14%

• Chương trình sản xuất hàng xuất khẩu đã được triển khai thực hiện với những thay đổi cơ bản về thể chế,chính sách khuyến khích xuất khẩu, khai thác nguồn hàng, mở rộng, tìm kiếm thị trường….nhờ vậy đã khơi dậy khả năng xuất khẩu của đất nước,giải quyết phần nào khó khăn về ngoại tệ do nền kinh tế của Mỹ bao vây,cấm vận.Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu trong năm năm (1896-1990) tăng 28%/năm.Thị trường dần dần được mở rộng,nhất là thị trường khu vực 2 (khu vực trao đổi ngoại thương bằng đồng đô la Mỹ)

2.1.3 Kết quả và đánh giá

Thành công trong kế hoạch năm năm 1986-1990 không đơn thuần là phục hồi được sản xuất, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát,….mà quan trọng hơn là đã chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế xã hội và giải phóng sức lao động

Tuy nhiên các biện pháp đổi mới cơ chế quản lý phần lớn chỉ mới tác động trong những năm cuối kỳ kế hoạch năm năm 1986-1990, nên mức độ thực hiện các mục tiêu đề ra trong kế hoạch năm năm (1986-1990) đã bị hạn chế Đất nước vẫn chưa ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, xã hội Kinh tế phát triển chậm và không

ổn định:bình quân thời kỳ 1986-1990, tốc độ tăng trưởng kinh tế (tính theo thu nhập quốc dân) đạt 3.9% Hầu hết các cân đối lớn đều rất căng thẳng: thâm hụt ngân sách chiếm trên 8% GDP.Lạm phát phi mã tuy đã được đẩy lùi nhưng còn rất cao từ 774,7% năm 1986 còn 67,5% năm 1990 Thu nhập bình quân đầu người rất thấp, tỷ lệ tiết kiệm nội địa hầu như không đáng kể(2,9% GDP) Hàng hóa thiếu, nhất là hàng

Trang 20

tiêu dùng thiết yếu,thị trường khan hiếm; đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.Cơ sở vật chất, kỹ thuật phần lớn các ngành kinh tế-xã hội xuống cấp nghiêm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng

Một thành tựu quan trọng nữa là đã bước đầu kiềm chế được đà lạm phát Nếu chỉ số tăng giá bình quân hàng tháng trên thị trường năm 1986 là 20%, năm 1987 là 10%, năm 1988 là 14%, thì năm 1989 là 2,5% và năm 1990 là 4,4% Nhờ kiếm chế được lạm phát, các cơ sở kinh tế có điều kiện thuận lợi để hạch toán kinh doanh, đời sống nhân dân giảm bớt khó khăn

Phát triển quan điểm kinh tế của Đại hội VI, Hội nghị lần thứ 6 (tháng 8 - 1989) của Ban chấp hành Trung ương đã khẳng định việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Chính sách này được nhân dân hưởng ứng rộng rãi và đã đi nhanh vào cuộc sống, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân về kinh tế; khơi dậy được nhiều tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân để phát triển sản xuất, dịch vụ, tạo thêm việc làm cho người lao động và tăng sản phẩm cho xã hội, tạo ra sự cạnh tranh sống động trên thị trường

Những thành tựu, ưu điểm và tiến bộ nói trên chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng, bước đi của công cuộc đổi mới về cơ bản là phù hợp

Công cuộc đổi mới về thực chất là một cuộc cách mạng, có thành tựu, ưu điểm, tiến bộ, nhưng đồng thời cũng có nhiều khó khăn, hạn chế, yếu kém Những ưu

Trang 21

điểm thành tựu đạt được bước đầu thực hiện đường lối đổi mới là rất quan trọng, song khó khăn, yếu kém cũng rất lớn, đó là: đất nước ta vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh

tế, xã hội, công cuộc đổi mới còn nhiều hạn chế, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng vẫn chưa được giải quyết:

ƒ Nền kinh tế còn mất cân đối lớn, lạm phát ở mức cao, lao động còn thiếu việc làm, hiệu quả kinh tế thấp, nhiều cơ sở sản xuất bị đình đốn kéo dài, chưa

có tích lũy từ nội bộ nến kinh tế

ƒ Chế độ tiền lương bất hợp lí, đời sống của những người sống chủ yếu bằng tiền lương (hoặc trợ cấp xã hội) và của một bộ phận nông dân bị giảm sút Tốc

độ tăng dân số còn cao

ƒ Sự nghiệp văn hóa còn những mặt tiếp tục xuống thấp Tình trạng tham nhũng, ăn hối lộ, mất dân chủ, bất công xã hội, vi phạm pháp luật, kỉ luật, kỉ cương và nhiều hiện tượng tiêu cực khác còn nặng nề và phổ biến

2.2 Giai đoạn 1993-2000- Thời kì phát triển mạnh

2.2.1 Đường lối kinh tế của Đảng

Đại hội Đảng lần VII (6/1991) thông qua chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000” đồng thời đề ra kế hoạch phương hướng cho kế hoạch 5 năm 1991-1995

Ngày đăng: 14/02/2015, 18:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Tăng trưởng GDP, vốn, lao động và TFP, 1991-2009, chúng ta chỉ sử  dụng dữ liệu đến năm 1991-2000 - tiểu luận  chất lượng tăng trưởng kinh tế_cơ sở lý luận và thực tế ở việt nam
Hình 2. Tăng trưởng GDP, vốn, lao động và TFP, 1991-2009, chúng ta chỉ sử dụng dữ liệu đến năm 1991-2000 (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w