1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010

162 886 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ tồn tại đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm HIV và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG

=======

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LÂY NHIỄM HIV VÀ MỘT SỐ NHIỄM TRÙNG LÂY QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NHÓM NAM BÁN DÂM ĐỒNG GIỚI TẠI HÀ NỘI, 2009-2010

LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LÂY NHIỄM HIV VÀ MỘT SỐ NHIỄM TRÙNG LÂY QUA ĐƯỜNG TÌNH DỤC Ở NHÓM NAM BÁN DÂM ĐỒNG GIỚI TẠI HÀ NỘI, 2009-2010

LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Phương Hoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận án tiến sỹ này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn

sâu sắc tới Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Trần Hiển - Viện trưởng Viện Vệ sinh

Dịch tễ Trung ương, là người thầy trực tiếp hướng dẫn, truyền thụ kiến thức cho tôi, dẫn dắt tôi trên con đường nghiên cứu khoa học

Tôi xin trân trọng cảm ơn Phó giáo sư - Tiến sỹ Đào Thị Minh An - Giảng viên trường Đại học Y Hà Nội đã quan tâm giúp đỡ chỉ bảo tận tình trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương, Phòng Đào tạo sau đại học của Viện đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho quá trình học tập của tôi

Tôi xin trân trọng cảm ơn Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo HIV/AIDS - trường Đại Học Y Hà Nội đã trực tiếp giúp đỡ tổ chức thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban Giám đốc Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Hà Nội là cơ quan công tác và cũng là nơi đã hỗ trợ nhiệt tình về vật chất cũng như tinh thần cho tôi

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, các anh chị các bạn đồng nghiệp, những người luôn chia sẻ cùng tôi những khó khăn trong quá trình học tập

Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn những người thân trong gia đình, những người luôn chia sẻ tình cảm và hết lòng thương yêu động viên giúp đỡ trong thời gian qua

Một lần nữa cho phép tôi được ghi nhận tất cả những công ơn ấy

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Nguyễn Thị Phương Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục các chữ viết tắt vii

Danh mục các bảng ix

Danh mục các biểu đồ x

Danh mục các hình, sơ đồ xi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan các khái niệm 3

1.1.1 Giới tính và Giới 3

1.1.2 Tình dục và các khái niệm liên quan 4

1.1.3 Các khái niệm về chuyển giới, chuyển giới tính, lưỡng giới tính, đồng tính nam, nam quan hệ tình dục đồng giới, nam bán dâm đồng giới 7

1.1.4 Khái niệm về các nhiễm trùng lây qua đường tình dục 10

1.2 Một số đặc điểm của nhóm NTDĐG/NBDĐG trên thế giới và ở Việt Nam 10

1.2.1 Kích cỡ quần thể nhóm NTDĐG/NBDĐG 10

1.2.2 Đặc điểm nhân khẩu - xã hội, nhận dạng tình dục, nhận dạng giới 11

1.3 Tình hình nhiễm HIV và STIs ở nhóm NBDĐG 13

1.4 Các hành vi tình dục và sử dụng chất gây nghiện 15

1.4.1 Hành vi tình dục 15

1.4.2 Hành vi sử dụng chất gây nghiện 19

1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tình dục nguy cơ 21

1.5.1 Yếu tố cá nhân 21

1.5.2 Yếu tố môi trường - xã hội 22

1.5.3 Hoàn cảnh bán dâm 23

Trang 6

1.6 Sử dụng dịch vụ y tế 25

1.7 Chiến lược can thiệp dự phòng HIV và STIs cho nhóm NTDĐG/NBDĐG 28

1.7.1 Trên Thế giới 28

1.7.2 Tại Việt Nam 31

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 33

2.2.1 Thời gian nghiên cứu 33

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 33

2.3 Thiết kế nghiên cứu 34

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 34

2.4.1 Cỡ mẫu 34

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 34

2.5 Các biến số/chỉ số 36

2.6 Công cụ nghiên cứu 37

2.7 Phương pháp thu thập số liệu 37

2.7.1 Lựa chọn và tập huấn nhóm nghiên cứu 37

2.7.2 Điều tra xã hội học định tính 38

2.7.3 Điều tra cắt ngang định lượng 40

2.8 Kỹ thuật xét nghiệm 44

2.9 Xử lý và phân tích số liệu 45

2.9.1 Số liệu định tính 45

2.9.2 Số liệu định lượng 46

2.10 Đạo đức nghiên cứu 46

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

3.1 Các đặc trưng nhân khẩu cơ bản của nhóm đối tượng nghiên cứu 48

3.2 Nhận dạng tình dục, kiến thức về HIV/STIs, hành vi tình dục, sử dụng chất gây nghiện và sử dụng dịch vụ y tế của nhóm đối tượng nghiên cứu 49

3.2.1 Nhận dạng tình dục 49

Trang 7

3.2.2 Kiến thức về HIV/STIs 51

3.2.3 Hành vi tình dục và sử dụng chất gây nghiện 52

3.2.4 Sử dụng dịch vụ y tế 67

3.3 Tỷ lệ hiện nhiễm HIV và một số STI ở nhóm NBDĐG tại Hà Nội 68

3.4 Một số yếu nguy cơ nhiễm HIV và một số STI ở nhóm NBDĐG tại Hà Nội 73

3.4.1 Một số yếu tố liên quan đến QHTD qua đường hậu môn không sử dụng BCS trong lần bán dâm gần đây nhất 73

3.4.2 Một số yếu tố liên quan đến nhiễm HIV và một số STI 74

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 80

4.1 Các đặc trưng nhân khẩu cơ bản của nhóm đối tượng nghiên cứu 80

4.2 Nhận dạng tình dục, kiến thức về HIV/STIs, hành vi tình dục, sử dụng chất gây nghiện, sử dụng dịch vụ y tế của nhóm đối tượng nghiên cứu 81

4.2.1 Nhận dạng tình dục 81

4.2.2 Kiến thức về HIV/STIs 83

4.2.3 Hành vi tình dục và sử dụng chất gây nghiện 84

4.2.4 Sử dụng dịch vụ y tế 90

4.3 Tỷ lệ hiện nhiễm HIV và một số STI ở nhóm NBDĐG tại Hà Nội 92

4.4 Một số yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục 97

4.4.1 Một số yếu tố liên quan đến hành vi QHTD qua đường hậu môn lần gần đây nhất không sử dụng BCS 97

4.4.2 Một số yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục 97

4.5 Hạn chế nghiên cứu 98

KẾT LUẬN 100

KHUYẾN NGHỊ 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AIDS : Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

(Acquired Immune Deficiency Syndrome) ATS : Các chất kích thích dạng amphetamine

Amphetamine-type-stimulans) BCS : Bao cao su

ELISA : Xét nghiệm hấp thụ kháng thể gắn men

(Enzyme-Linked Immunosorbent Assay) HBV : VirusViêm gan B

(Hepatitis B Virus) HCV : Virus Viêm gan C

(Hepatitis C Virus) HIV : Virus gây tình trạng suy giảm miễn dịch mắc phải

(Human Immuno-deficiency Virus)

IBBS : Điều tra Giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học

HIV/STI

(HIV/STI Integrated Biologic and Behavioral Surveillance) NCMT : Nghiện chích ma túy

NBDĐG : Nam bán dâm đồng giới

NTDĐG : Nam quan hệ tình dục đồng giới

OR : Tỷ suất chênh

(Odds Ratio) PCR : Phản ứng chuỗi polymerase (p/ứng khuếch đại chuỗi polyme)

(Polymerase Chain Reaction) PNBD : Phụ nữ bán dâm

QHTD : Quan hệ tình dục

RPR : Reagin huyết thanh nhanh

(Rapid Plasma Reagin) STI : Nhiễm trùng lây qua đường tình dục

(Sexually transmitted infection) TCMT : Tiêm chích ma túy

Trang 9

TPHA : Phản ứng ngưng kết hồng cầu chẩn đoán giang mai

(Treponema pallidum Hemagglutination) THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông

TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

UNAIDS : Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về AIDS

(United Nations programma on AIDS)

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 So sánh hành vi tình dục giữa nhóm NBDĐG vànhóm NTDĐG không

bán dâm tại Thẩm Quyến, Trung Quốc [38] 16

2.1 Khung chọn mẫu nhóm NBDĐG trong nghiên cứu 35

3.1 Các đặc trưng nhân khẩu cơ bản của nhóm NBDĐG (n=250) 48

3.2 Nhận dạng giới và nhận dạng tình dục (n=250) 49

3.3 Giới tính thích QHTD theo tự nhận về giới 50

3.4 Kiến thức về HIV/STIs (n=250) 51

3.5 Các hình thức QHTD và sử dụng BCS với các loại bạn tìnhtrong lần đầu tiên 53

3.6 Số lượng khách hàng nam và số lần QHTD trung bìnhtrong 30 ngày qua 55

3.7 Số lượng khách hàng nam qua các hình thức QHTDtrong 30 ngày qua 56

3.8 Đặc điểm hoạt động bán dâm 57

3.9 Đặc điểm của khách hàng nam trong lần bán dâm đầu tiênvà gần đây nhất 63

3.10 Đã từng sử dụng các loại chất ma túy của đối tượng nghiên cứu 65

3.11 Kết quả xét nghiệm HIV và một số STI (n=250) 68

3.12 Một số yếu tố liên quan đến QHTD qua đường hậu mônkhông sử dụng BCS trong lần bán dâm gần đây nhất 73

3.13 Mối liên quan giữa một số đặc điểm cá nhânvà nhiễm ít nhất 1 STI 75

3.14 Mối liên quan giữa hành vi tình dục không sử dụng BCSvà nhiễm ít nhất 1 STI 76

3.15 Mối liên quan giữa hành vi sử dụng chất gây nghiệnvà nhiễm ít nhất 1 STI 78

3.16 Mối liên quan giữa số khách hàng nam trung bình và số lần bán dâm trung bình trong 30 ngày qua và nhiễm ít nhất 1 STI 79

3.17 Mô hình hồi quy logistic 79

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

3.1 Quan hệ tình dục với các loại bạn tình (n=250) 52

3.2 Sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất vớiKhách hàng người Việt Nam và nước ngoài 54

3.3 Tỷ lệ đã từng sử dụng chất gây nghiện 65

3.4 Các vấn đề do sử dụng rượu bia trong 30 ngày qua 66

3.5 Sử dụng dịch vụ y tế 67

3.6 Tiếp cận các chương trình can thiệp phòng chống HIV 68

3.7 Tỷ lệ hiện nhiễm HIV và một số STIqua kết quả xét nghiệm và qua đối tượng tự khai báo 69

3.8 Tỷ lệ nhiễm một số STI theo các bộ phận đượcxét nghiệm 70

3.9 Tỷ lệ nhiễm ít nhất 1 STI phân theo nhóm tuổi 70

3.10 Tỷ lệ nhiễm ít nhất 1 STI phân theo trình độ học vấn 71

3.11 Tỷ lệ nhiễm ít nhất 1 STI phân theotình trạng hôn nhân 71

3.12 Tỷ lệ nhiễm ít nhất 1 STI phân theo quê quán 72

3.13 Tỷ lệ nhiễm ít nhất 1 STI phân theođã từng sử dụng ít nhất 1 loại ma túy 72

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH/SƠ ĐỒ

Hình 1.1 Khung can thiệp dự phòng HIV và STIs cho nhóm NTDĐG/NBDĐG 29

Sơ đồ 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhiễm HIV và STIs 32

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dịch HIV/AIDS là một đại dịch nguy hiểm, là mối hiểm họa đối với tính mạng, sức khỏe con người và tương lai nòi giống của các quốc gia, các dân tộc trên toàn cầu, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, trật tự

và an toàn xã hội, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước [16]

Ở Việt Nam, kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 12 năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM), cho đến nay 100%

số tỉnh, thành phố báo cáo có người nhiễm HIV/AIDS Tính đến ngày 30/11/2013, cả nước đã có 216.254 người nhiễm HIV hiện đang còn sống, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 66.533 người, 68.977 trường hợp tử vong

do AIDS [6] Riêng tại thành phố Hà Nội, có 20.972 người nhiễm HIV hiện đang còn sống, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 5.271 và 3.808 trường hợp tử vong do AIDS [13]

Các báo cáo về mô hình dịch HIV/AIDS ở khu vực châu Á đều đề cập đến nhóm nam có quan hệ tình dục đồng giới (NTDĐG) là một trong ba nhóm

có nguy cơ cao, bên cạnh nhóm tiêm chích ma tuý (TCMT) và phụ nữ bán dâm (PNBD) Theo UNAIDS, nhóm NTDĐG đã trở thành một hợp phần

quan trọng và ngày càng gia tăng của đại dịch AIDS trong khu vực châu Á -

Thái Bình Dương [66]

Nhóm nam bán dâm đồng giới (NBDĐG) là một thành phần của nhóm NTDĐG Những nghiên cứu Dịch tễ học và xã hội học về lây nhiễm HIV và các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STIs) trên nhóm NTDĐG/NBDĐG đã chỉ ra rằng, trong nhóm NTDĐG thì NBDĐG là nhóm

có tỷ lệ nhiễm HIV và STIs cao Các nghiên cứu cũng chỉ ra nguy cơ lây nhiễm HIV và STIs của nhóm NBDĐG là do có quan hệ tình dục không an

Trang 14

toàn với nhiều loại bạn tình, số lượng bạn tình nhiều và sử dụng chất gây nghiện [9], [14], [19], [22], [30], [38], [55], [57], [62], [71]

Các kết quả nghiên nghiên cứu trên cho thấy tầm quan trọng của nhóm NBDĐG trong việc lây truyền HIV và STIs Tuy nhiên tại Việt Nam nói chung và Thành phố Hà Nội nói riêng chưa có nhiều nghiên cứu chuyên biệt

về nhóm NBDĐG, đặc biệt là các nghiên cứu mô tả các đặc điểm nhân khẩu học và xã hội, các yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm HIV và STIs Xuất phát từ

tồn tại đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu Thực trạng và một số yếu tố ảnh

hưởng đến lây nhiễm HIV và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009 - 2010 với mục tiêu:

sử dụng chất gây nghiện và sử dụng dịch vụ y tế của nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009 - 2010

tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009 - 2010

lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2009 - 2010

Từ đó đề xuất các biện pháp can thiệp phù hợp phòng nhiễm HIV và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm NBDĐG tại Hà Nội

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Tổng quan các khái niệm

1.1.1 Giới tính và Giới

1.1.1.1 Giới tính (sex): Chỉ các đặc điểm sinh học của cơ thể nam và nữ

Ví dụ: Phụ nữ có âm hộ, âm đạo, buồng trứng; nam giới có dương vật, tinh hoàn, tinh trùng hay phụ nữ có thể mang thai, nam giới không thể mang thai…

Các đặc điểm này là bẩm sinh, nếu không vì một hoàn cảnh đặc biệt nào đó như bệnh tật hay đột biến gen thì mọi phụ nữ hay nam giới trên khắp thế giới đều có các đặc điểm này Khi một người nam giới được phẫu thuật chuyển thành phụ nữ thì người đó có thể có hình thể của phụ nữ nhưng không

có buồng trứng, không thể mang thai và tiết sữa…

1.1.1.2 Giới (gender): Là quan niệm xã hội về vai trò, hành vi, hoạt động,

đặc điểm được coi là phù hợp với nam và nữ;

Ví dụ: Nam giới thì phải mạnh mẽ, giữ vai trò trụ cột kinh tế, kết hôn/quan hệ tình dục với phụ nữ Ngược lại, phụ nữ thì phải dịu dàng, chăm chỉ, kết hôn/quan hệ tình dục với nam giới, v.v

Xã hội phân loại con người thành hai giới: Nam và nữ dựa vào các đặc điểm giới tính của họ (mà chủ yếu là bộ phận sinh dục ngoài), từ đó gán cho

họ những đặc điểm và vai trò giới nhất định, trông đợi tất cả mọi người phải thể hiện các đặc điểm đó và thực hiện đúng các vai trò mà họ được gán cho Tuy nhiên, vai trò giới không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian và có sự khác biệt lớn trong và giữa các nền văn hóa Nhiều phụ nữ và nam giới ngày nay đã không thực hiện một số vai trò giới truyền thống và sự thay đổi đó dần dần đã được xã hội chấp nhận

Trang 16

Trong một số nền văn hóa những người không thể hiện các đặc điểm giới và không thực hiện các vai trò giới mà họ được gán cho trên cơ sở các đặc điểm giới tính của mình thường không được xã hội chấp thuận Ví dụ: ở một số nước, quan hệ tình dục giữa nam giới với nam giới bị coi là bất hợp pháp và những người NTDĐG có thể bị trừng phạt nặng nề

Một số khái niệm giới cơ bản

• Khuôn mẫu giới: Một số đặc điểm mà xã hội gán cho người nam

hoặc nữ Ví dụ nam cương nghị, cứng rắn, nữ thùy mị, dịu dàng…

• Giá trị giới: Một cá nhân hoặc một nhóm người đưa ra chuẩn mực

thế nào là một người phụ nữ/nam giới thực sự Nam bị hấp dẫn bởi nữ và ngược lại

- Vai trò giới (gender roles): Các chức năng của nam và nữ theo quan

- Nhận dạng giới (gender identity): Là cảm nhận của mỗi cá nhân tự coi

mình là nam hay nữ

Nhận dạng giới của đa số mọi người trùng với giới tính sinh học Một

số ít người có cơ thể nam nhưng lại cảm nhận mình là nữ và ngược lại [64]

1.1.2 Tình dục và các khái niệm liên quan

1.1.2.1 Khuynh hướng tình dục (Sexual orientation): Là chỉ sự bị hấp dẫn

một cách lâu dài về tình cảm và/hoặc tình dục bởi người khác giới tính hoặc

người cùng giới tính với mình hoặc cả hai

Trang 17

Từ đó, phân ra 3 loại khuynh hướng tình dục thường gặp là:

- Khuynh hướng tình dục khác giới (Heterosexual/Straight) hay còn gọi

là dị tính luyến ái: Bị hấp dẫn bởi người khác giới tính với mình, chiếm đa số trong xã hội hiện nay, bắt nguồn từ tiếng Hi lạp heteros có nghĩa là “khác”

- Khuynh hướng tình dục đồng giới (Homosexual) hay còn gọi là đồng

tính luyến ái: Bị hấp dẫn bởi người cùng giới tính với mình, bắt nguồn từ tiếng Hi lạp homos có nghĩa là “cùng”

- Khuynh hướng tình dục lưỡng giới (Bisexual) hay còn gọi là lưỡng

tính luyến ái: Bị hấp dẫn bởi cả người khác giới và người cùng giới

- Cũng có thể có một xu hướng nữa tuy hiếm gặp là vô dục (asexual)

hay còn gọi là vô tính: Không bị hấp dẫn tình dục bởi bất kỳ người nào khác

Theo khoa học, không thể chọn lựa khuynh hướng tình dục mà nó chịu tác động phức tạp bởi các yếu tố bẩm sinh và môi trường Rất khó để có thể thay đổi được khuynh hướng tình dục, kể cả khi người đó muốn dùng ý chí, chưa có bằng chứng khoa học nào khẳng định được điều này Một số người

do những áp lực xã hội cố tỏ ra là đã thay đổi khuynh hướng tình dục của mình nhưng trong thực tế thì họ không thể làm được điều đó [64]

1.1.2.2 Nhận dạng tình dục (Sexual identity): Là ý thức của mỗi người tự

nhìn nhận về khuynh hướng tình dục của mình bị hấp dẫn bởi người cùng giới, người khác giới hay cả hai giới trên cơ sở trải nghiệm, cảm giác, suy nghĩ của chính họ chứ không dựa trên cơ sở giới hay giới tính của bạn tình Một người có thể tự coi mình là dị tính, hoặc đồng tính, hoặc lưỡng tính [64]

1.1.2.3 Quan hệ tình dục (sexual/intercouse): Còn gọi là giao hợp hay giao cấu,

thường chỉ hành vi đưa bộ phận sinh dục nam vào trong bộ phận sinh dục nữ Quan hệ tình dục (QHTD) cũng có thể là giữa những người khác hoặc cùng giới tính hoặc lưỡng tính Những năm gần đây, việc thực hiện QHTD với những bộ phận không phải là bộ phận sinh dục (quan hệ đường miệng, đường hậu môn, hoặc dùng ngón tay) cũng được bao gồm trong định nghĩa này

Trang 18

Có hành vi tình dục thâm nhập và hành vi tình dục không thâm nhập Tình dục đường âm đạo, đường miệng, đường hậu môn được coi là tình dục thâm nhập Những hành vì tình dục khác và thủ dâm lẫn nhau được coi là tình dục không thâm nhập

QHTD an toàn: Là QHTD không dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và/hoặc lây nhiễm các NTLQĐTD như: HIV, lậu, giang mai… Các biện pháp đảm bảo QHTD an toàn như sử dụng bao cao su (BCS) bất kỳ khi nào có QHTD, sống chung thủy và kiểm tra sức khỏe định kỳ

QHTD không bảo vệ: Là không dùng hoặc dùng không thường xuyên BCS khi QHTD [64]

1.1.2.4 Các hình thức QHTD

- QHTD đường âm đạo: Là người nam dùng dương vật đưa vào âm đạo

của người nữ để QHTD

- QHTD đường hậu môn: Là người nam dùng dương vật đưa vào hậu

môn của bạn tình (bao gồm cả bạn tình nam và bạn tình nữ) để QHTD

- QHTD đường miệng: Là người nam dùng dương vật đưa vào miệng

bạn tình (bao gồm cả bạn tình nam và bạn tình nữ) để QHTD

- Người cho: Là người đưa dương vật của họ vào miệng hoặc âm đạo

hoặc hậu môn của bạn tình trong QHTD qua đường miệng, âm đạo và hậu môn

- Người nhận: Là người bị bạn tình đưa dương vật của họ vào miệng

hoặc âm đạo hoặc hậu môn của mình trong QHTD qua đường miệng, âm đạo

và hậu môn [64]

1.1.2.5 Hành vi tình dục (sexual behavior): Là những hành động như âu yếm,

vuốt ve, hôn, giao hợp nhằm thể hiện và thỏa mãn tình dục

Khuynh hướng tình dục của một người không phải lúc nào cũng được thể hiện qua hành vi tình dục của người đó Ví dụ: Một người có khuynh hướng tình dục đồng giới (người đồng tính) nhưng do áp lực của gia đình, anh

Trang 19

phải lấy vợ và sinh con Tương tự, hành vi tình dục của một người không nhất thiết phản ánh khuynh hướng tình dục hoặc nhận dạng tình dục của người đó

Ví dụ: những người đàn ông có khuynh hướng tình dục khác giới (dị tính) sống trong một môi trường biệt lập, thiếu vắng phụ nữ trong một thời gian dài, có thể có quan hệ tình dục với nhau Tuy nhiên, khi ra khỏi môi trường đó

họ lại tìm đến phụ nữ [64]

1.1.2.6 Tình dục (sexuality): Tình dục là một hoạt động trọng tâm của toàn bộ

cuộc sống con người và bao gồm: sự giao hợp, nhân dạng giới, vai trò giới, khuynh hướng tình dục, ái tình, sự thỏa mãn, sự riêng tư và sinh sản Tình dục

là sự trải nghiệm và sự thể hiện trong suy nghĩ, tưởng tượng, ham muốn, niềm tin, thái độ, giá trị, hành vi, hoạt động, vai trò và các mối quan hệ Trong khi tình dục có thể bao gồm tất cả các yếu tố nhưng không phải tất cả luôn luôn

có kinh nghiệm hoặc sự thể hiện Tình dục chịu ảnh hưởng bởi sự tương tác giữa các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức, pháp luật, lịch sử, tín ngưỡng và tinh thần [64]

1.1.3 Các khái niệm về chuyển giới, chuyển giới tính, lưỡng giới tính, đồng tính nam, nam quan hệ tình dục đồng giới, nam bán dâm đồng giới

1.1.3.1 Chuyển giới (Transgender): Là một thuật ngữ được sử dụng trong

những năm gần đây để chỉ "giới tính thứ ba" loại được tìm thấy trong nhiều xã hội, như các kathoey ở Thái Lan, bakla ở Philippines, và waria ở Indonesia

Là tình trạng mà một người có các đặc điểm cơ thể hoàn toàn bình thường về mặt giới tính (nam hoàn toàn hay nữ hoàn toàn) nhưng lại tin rằng họ thuộc về giới tính khác (nam nhưng nghĩ mình là nữ, hay nữ nghĩ mình là nam) và

sống như giới tính mà họ tin [64]

1.1.3.2 Chuyển giới tính (transsexual): Là thực hiện phẫu thuật, điều trị hóc

môn để đổi giới tính sinh học từ nam sang nữ hoặc từ nữ sang nam [64]

Trang 20

1.1.3.3 Lưỡng giới tính (intersex): Còn gọi là mơ hồ giới tính (ambiguous

genitalia, intersex, hermaphroditism) là những người có bất thường thật sự về biệt hóa giới tính, bất thường về hình thể và cơ quan sinh dục Nguyên nhân

có thể do bất thường về gen, nội tiết… có thể có những đặc điểm sinh học của

cả nam và nữ hoặc không rõ nam hay nữ [64]

1.1.3.4 Đồng tính nam (gay): Một người nam giới bị hấp dẫn, hoặc có ham

muốn tình dục với người nam giới khác Đồng tính nam chỉ khuynh hướng

tình dục đồng giới của một người nam giới [64]

1.1.3.5 Nam quan hệ tình dục đồng giới - MSM (Men who have sex with men)

Nam quan hệ tình dục đồng giới là một thuật ngữ chỉ hành vi quan hệ tình dục của những người nam giới với những người nam giới khác với bất kì hoàn cảnh nào, không phụ thuộc vào khuynh hướng tình dục, nhân dạng tình dục và nhân dạng giới [34] Thuật ngữ này du nhập vào Việt Nam năm 1990 cùng với việc xuất hiện dịch HIV Thuật ngữ này không được biết đến rộng rãi như thuật ngữ “đồng cô” ở miền Bắc và “bóng” (cách gọi ngắn gọn của

bóng cái) ở miền Nam, thuật ngữ “gay” cũng được dùng tương đối phổ biến

NTDĐG bao gồm những người nam có khuynh hướng tình dục đồng giới, lưỡng giới hoặc khác giới và có rất nhiều nguyên nhân mà nam giới QHTD với một nam giới khác như do sự ham muốn của bản thân, một số khác làm vì tiền, vì những lợi ích khác hoặc là do sống trong môi trường thiếu phụ nữ (nhà tù/trại giam, doanh trại quân đội, lao động di cư, các cơ sở giáo dục đào tạo dành cho nam giới ), một số người bị ép buộc (trẻ em đường phố, thanh thiếu niên hoặc nam giới trong các cơ sở tập trung…)

1.1.3.6 Nam bán dâm đồng giới

Bán dâm là hành vi QHTD của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác [12]

Trang 21

Nam bán dâm đồng giới được định nghĩa là nam giới (về mặt giới tính)

có QHTD với một người nam giới khác để nhận tiền hoặc vật chất (chỗ ở, thức ăn, ma túy…)

Nhận dạng giới và nhận dạng tình dục trong nhóm NBDĐG khá đa dạng dựa trên khuynh hướng tình dục của bản thân Họ có thể tự nhận mình là đàn ông (trai thẳng) vì chỉ thích QHTD với phụ nữ Họ có thể nhận mình là bóng lộ hay bóng kín do có khuynh hướng tình dục đồng giới, hoặc họ có thể nhận mình là haifai vì có khuynh hướng tình dục lưỡng giới [10]

1.1.3.7 Một số từ ngữ/khái niệm được sử dụng trong nhóm NTDĐG/NBDĐG [2], [70]

- Gay: Nam có khuynh hướng tình dục đồng giới

- Đồng cô: Người chuyển giới

- Bóng kín: Để chỉ những người nam QHTD đồng giới có vẻ ngoài nam

tính, mặc quần áo của nam và không bao giờ bộc lộ khuynh hướng tình dục

cũng như các hành vi của mình

- Bóng lộ: Để chỉ những người nam QHTD đồng giới có cử chỉ nữ tính,

cởi mở bộc lộ cách sống của người chuyển giới

- Trai thẳng/đàn ông/cọng (straight men): Để chỉ người nam có khuynh hướng tình dục khác giới

Có một số từ ngữ mang tính xúc phạm ít hoặc nhiều như:

- Pê - đê, xăng pha nhớt, hai thì: Để chỉ những người đàn ông trông

giống như phụ nữ;

- Hai phai, đa hệ: Để chỉ những người đàn ông có QHTD với cả nam và nữ

- Nam bán dâm đồng giới có thể hoặc là bóng kín, hoặc là bóng lộ hoặc

là nam giới có khuynh hướng tình dục khác giới thường được gọi bằng thuật ngữ phân biệt đối xử: đĩ đực

Trang 22

1.1.4 Khái niệm về các nhiễm trùng lây qua đường tình dục

Là các nhiễm trùng do các tác nhân là vi khuẩn, virút, đơn bào, nấm, kí sinh gây nên và lây truyền từ người này sang người khác qua QHTD

Hầu hết các vi khuẩn, đơn bào, nấm và kí sinh vật có thể bị diệt bởi các thuốc điều trị đặc biệt Trái lại, các vi rút hiện nay chưa có thuốc nào diệt được,

do vậy chúng tồn tại trong cơ thể trong một thời gian dài hoặc suốt cuộc đời

Một số tác nhân gây STIs:

- Vi khuẩn: xoắn khuẩn giang mai, lậu cầu, chlamydia trachomatis, trực khuẩn hạ cam, ureaplasma urealyticum, calymmatobacterium granulomatis, gardnerella vaginalis, liên cầu nhóm B, vi khuẩn kỵ khí âm đạo

- Vi rút: herpes simplex, u mềm lây, HIV, vi rút viêm gan B (HBV), vi rút viêm gan C (HCV)

- Nấm và các tác nhân khác: nấm men Candida, trùng roi âm đạo, cái ghẻ, rận mu [8]

1.2 Một số đặc điểm của nhóm NTDĐG/NBDĐG trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Kích cỡ quần thể nhóm NTDĐG/NBDĐG

Tình dục đồng giới tồn tại trong mọi quốc gia và mọi nền văn hóa [66] Tuy nhiên do bị kỳ thị và phân biệt đối xử, thậm chí bị cấm và xử phạt nên rất nhiều người nam không bộc lộ thông tin về hành vi QHTD đồng giới của mình Điều này khiến cho việc xác định số lượng những người nam giới đã từng có quan hệ tình dục với một người nam giới khác là khó khăn trên toàn thế giới

Tổ chức Y tế Thế giới ước tính rằng ít nhất là 3,0% và cao nhất là 16,0% nam giới đã có QHTD ít nhất một lần với một người nam giới khác Ước tính bao gồm những người nam giới thường xuyên hoặc tự nguyện có QHTD với nam giới, các nạn nhân của lạm dụng tình dục [39] Liên Hiệp

Quốc ước tính 6,0 - 20,0% nam giới trên toàn thế giới có QHTD với những

Trang 23

người nam giới khác tại một số điểm trong suốt cuộc đời của họ [67] Ở Đông

Á, các nghiên cứu đã ước lượng khoảng 3,0% - 5,0% nam giới đã từng có

QHTD đồng giới trong cuộc đời và tỷ lệ này ở vùng Nam và Đông Nam Châu

Á là 6,0% - 18,0% [66]

Cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu về kích cỡ quần thể nhóm NTDĐG tại Việt Nam, thông tin về kích cỡ quần thể NTDĐG được sử dụng rộng rãi nhất là những số liệu được đưa ra trong báo cáo Ước tính và Dự báo

HIV/AIDS của Việt Nam 2007 - 2012 với ước tính thấp có khoảng 160.544 NTDĐG, ước tính cao có khoảng 481.631 NTDĐG và ước tính trung bình có

khoảng 321.088 NTDĐG [7]

Trên thế giới tỷ lệ NBDĐG trong nhóm NTDĐG dao động từ 20,0% -

74,0%, tùy theo từng quốc gia [22] Tại Việt Nam, tỷ lệ này dao động từ

22,0% - 52,4% tùy theo tỉnh/thành phố [3], [9], [14], [31], [32]

1.2.2 Đặc điểm nhân khẩu - xã hội, nhận dạng tình dục, nhận dạng giới

Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đã chỉ ra rằng nhóm NTDĐG trên thế giới không thuần nhất và đa dạng về độ tuổi, trình độ văn hóa, chủng tộc/dân tộc, nơi cư trú, nghề nghiệp [27], [42], [47], [54]

Nhóm NBDĐG cũng có các đặc điểm tương tự Các nghiên cứu trên thế giới về nhóm NBDĐG tiến hành ở những độ tuổi khác nhau, nhưng phổ biến ở nam giới trẻ Họ có trình độ học vấn từ tiểu học đến trung học và đại

học nhưng tập trung chủ yếu ở nhóm trung học (55,0% - 67,4%), đặc biệt tại

Ấn Độ và Pakistan, nhóm NBDĐG có trình độ văn hóa thấp, có tới 37,0% những người mù chữ tại Ấn Độ và 52,0% không được học chính thức tại

Pakistan Phần lớn nhóm NTDĐG độc thân (75,0% - 85,0%), một tỷ lệ đã kết

hôn hoặc sống với một bạn tình lâu dài Thời gian bán dâm chủ yếu dưới 2 năm, một tỷ lệ thấp hơn từ 3 năm trở lên Nhóm NBDĐG làm việc trong các ngành nghề khác nhau và có một tỷ lệ tương đối cao thất nghiệp, tôn giáo đa

Trang 24

dạng như thiên chúa giáo, đạo hồi, công giáo, vô thần… [17], [19], [20], [38], [41], [43], [45], [48], [57], [61], [62]

Phần lớn NBDĐG đến từ các quốc gia khác [19], [21] Tại Tây Ban Nha, chỉ có 5,0% là người Tây Ban Nha, 12,0% đến từ các nước Châu Âu

khác, đa số đến từ Mỹ La Tinh (83,0%), tại Moscow - Nga, 86,0% NBDĐG

đến từ các nơi khác Nhóm NBDĐG bao gồm những người đồng tính nam (gay), lưỡng tính và dị tính Điều này có nghĩa là một quần thể đa dạng nam giới đang tham gia vào hành vi tình dục bán dâm đồng giới chứ không chỉ riêng

có một quần thể nam giới đồng nhất (nhóm đồng tính nam) Các nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng trong quần thể NBDĐG có một số người không tự coi mình là đồng tính, một số người tự nhận mình là đàn ông, một số khác tự nhận

là phụ nữ [19], [20], [43], [48] Nghiên cứu tại Mumbai, Ấn Độ năm 2003, trong số 75 NBDĐG, 24 người là đàn ông và 51 là người chuyển giới [62] Tại Mexico (2006 - 2007), NBDĐG là nhóm có điều kiện kinh tế thấp, gồm nhóm nam giới trẻ, nhóm chuyển giới, lưỡng tính và gay, được phân loại theo các hình thức khác nhau như: thỉnh thoảng bán dâm và thường xuyên bán dâm hay bán dâm thường xuyên trên đường phố và bán dâm qua quảng cáo, dịch

vụ (internet, tạp chí, …) [26]

Tại Việt Nam, nhóm NBDĐG cũng có các đặc điểm tương tự, nghiên cứu năm 2009 tại TP HCM, Hà Nội, Cần Thơ và Hải Phòng cho thấy nhóm NBDĐG gồm một số lượng đáng kể đến từ tỉnh khác (40,0% - 87,0%) với nghề nghiệp tương đối đa dạng và mức thu nhập dao động tùy theo tỉnh/thành phố [9]

Tỷ lệ nhóm NBDĐG tự nhận là người đồng tính nam/gay, lưỡng tính,

dị tính, là đàn ông, là phụ nữ khác nhau giữa các thành phố Tại Hà Nội, tỷ lệ

tự nhận mình là dị tính cao hơn so với các nhóm còn lại, tương ứng với nhận dạng tình dục dị tính, đa số nhóm NBDĐG tự nhận mình là đàn ông (76,4%)

Trang 25

và bị hấp dẫn bởi nữ giới (73,6%), một tỷ lệ rất thấp tự nhận mình là phụ nữ (1,8%) [10] Tại TP HCM, 1/2 nhóm NBDĐG tự nhận là đồng tính, tiếp đến

là lưỡng tính (32,0%) và dị tính là 16,0% [30] Theo đánh giá khác tại TP HCM năm 2011, nhóm tự nhận mình là lưỡng tính chiếm tỷ lệ cao nhất (42,9%), tiếp đến là đồng tính (37,9%) và dị tính là 19,2% [29]

Nghiên cứu trên 300 NBDĐG tại TP HCM năm 2010 của trường đại học Harvard (HAIVN) cho thấy những người tham gia nghiên cứu hiện đang bán dâm theo các loại hình hoạt động khác nhau bao gồm đấm bóp dạo (9,0%), nhà thổ (động) (15,3%), masage/sauna (16,7%), công viên/đường phố (24,3%) và

trai gọi (34,7%) Thời gian bán dâm trung bình là 2 năm (1 - 4 năm), số tiền nhận được cho một lần QHTD là 300.000đ (50.000đ - 1.000.000đ), thu nhập hàng tháng từ nghề bán dâm là 4.000.000đ (100.000đ - 20.000.000đ) [30]

Ở Việt Nam, NBDĐG chịu sự kỳ thị của gia đình và xã hội, nên nhóm NBDĐG công khai tình trạng của mình theo các mức độ khác nhau, từ dễ dàng nhận biết đến không thể nhận biết được Nghiên cứu tại TP HCM (2010) cho thấy, đa số NBDĐG tự nhận mình là bóng kín, 1/3 tự nhận mình là trai thẳng (đàn ông), tỷ lệ thấp tự nhận mình là bóng lộ [30]

1.3 Tình hình nhiễm HIV và STIs ở nhóm NBDĐG

Cho đến nay, vẫn chưa có một tổ chức quốc tế nào đưa ra những số liệu thống kê về mức độ nhiễm HIV trong nhóm NBDĐG trên toàn thế giới Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia đã có những nghiên cứu chuyên sâu về nhóm này Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong nhóm NTDĐG thì NBDĐG là nhóm

có tỷ lệ nhiễm HIV và STIs cao [22] Ở Braxin, một nghiên cứu năm 2008 đã

so sánh tỷ lệ nhiễm HIV giữa hai nhóm NTDĐG bán dâm và không bán dâm cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm bán dâm là 13,5%, cao hơn nhiều so với nhóm không bán dâm (5,8%) [71] Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NBDĐG tại

một số quốc gia trên thế giới dao động từ 3,6% - 33,0% [21], [36], [57], [71]

Trang 26

Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm STIs trên nhóm NBDĐG đã đưa ra những con số không nhỏ Nghiên cứu tại Jakarta, Indonesia năm 2002, 28,9% nhóm NBDĐG khai báo có các biểu hiện/triệu chứng của STIs trong 12 tháng qua [57] Nghiên cứu khác tại Tây Ban Nha (2009 - 2010) cho thấy 6,0% nhóm NBDĐG nhiễm ít nhất một STI tại thời điểm hiện tại và một tỷ lệ cao hơn (33,0%) đã từng mắc STIs [19] Tại Pakistan, năm 1998, trong tổng số 300 trường hợp nghiên cứu, 37,0% bị mắc 1 hoặc nhiều STI [20] và đặc biệt một nghiên cứu trên 75 NBDĐG tại Mumbai, Ấn Độ năm 2009 đưa ra tỷ lệ mắc STIs lên tới 60,0% [62]

STIs thường gặp nhất là nhiễm giang mai, tỷ lệ nhiễm giang mai ở Jakarta, Indonesia (2002) là 2,0%; tại Dhaka, Bangladesh là 14,2%; tại Karachi, Pakistan (1998) là 37,0% [15], [20], [57] Tiếp đến là herpes, tại Lima, Peru năm 2008, tỷ lệ nhiễm herpes cũng lên tới 66,0% [40] và một số STI khác như viêm gan B, lậu, chlamydia

Tại Việt Nam bước đầu đã có một số nghiên cứu được triển khai trên nhóm NBDĐG và các số liệu cho thấy dịch HIV trong nhóm NBDĐG đang gia tăng Theo kết quả nghiên cứu IBBS cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NBDĐG tại Hà Nội năm 2006 là 8,8% và năm 2009 tăng lên 14,3%, tại TP HCM là 9,5% (năm 2006) và tăng lên 15,3% (2009) và tỷ lệ nhiễm ít nhất một STI tại Hà Nội và TP HCM năm 2009 lần lượt là 18,7%

và 21,5% [3], [9]

Một nghiên cứu trên nhóm NBDĐG được tiến hành tại Hà Nội năm 2007

- 2008 cho kết quả 2,1% NBDĐG tham gia nghiên cứu nhiễm HIV, tỷ lệ nhiễm ít nhất một STI là 26,0% [10] Nghiên cứu tại TP HCM năm 2010 cho thấy, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NBDĐG là 6,3%, nhiễm giang mai là 4,0%, nhiễm chlamydia là 2,0%, lậu là 2,0%, viêm gan B là 24,3% và viêm gan C là 4,0% [30]

Trang 27

STIs là một trong những vấn đề của Y tế công cộng STIs không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể dẫn đến những biến chứng liên quan đến khả năng sinh sản, tử vong hay tàn phế Việc phát hiện muộn cũng làm cho quá trình điều trị gặp nhiều khó khăn hơn Hệ trọng hơn nếu như người bị nhiễm không được phát hiện thì có khả năng làm lây lan bệnh trong cộng đồng với mức độ rất lớn Trên phạm vi toàn cầu, tất cả những STI cấu thành những gánh nặng về kinh tế và sức khỏe đặc biệt ở những nước đang phát triển nơi mà phải dành khoản chi phí 17,0% hàng năm cho các vấn đề bệnh tật [50]

1.4 Các hành vi tình dục và sử dụng chất gây nghiện

1.4.1 Hành vi tình dục

1.4.1.1 Quan hệ tình dục với nhiều bạn tình thuộc cả hai giới

Nguy cơ lây nhiễm HIV và STIs thể hiện qua số bạn tình cũng như sự

đa dạng của các loại bạn tình trên nhóm NBDĐG cũng đã được nhiều nghiên cứu đề cập Nhóm NBDĐG không chỉ QHTD với nam mà còn QHTD với nữ Nói cách khác, tình dục lưỡng giới ở nhóm NBDĐG là khá phổ biến, đồng thời càng nhiều khách nam giới trong năm qua thì nguy cơ nhiễm HIV và các STIs càng cao

Một nghiên cứu tại Hoa Kỳ (2008), nhóm NBDĐG khai báo trong 12 tháng qua số bạn tình trung bình là 46, trong đó 19,0% báo cáo có QHTD không

an toàn qua đường âm đạo hoặc hậu môn với trung bình 4 bạn tình nữ [60] Trung bình một tuần, nam bán dâm ở Bangladesh tiếp từ 5,6 đến 9,5 khách, tỷ

lệ sử dụng BCS ở mức thấp từ 1,8% đến 9,9% [15] Theo một nghiên cứu chuyên sâu 75 NBDĐG tại Ấn Độ (2009), tỷ lệ nam bán dâm có từ 2 khách hàng trong 1 đêm trở lên chiếm tới 84,0% [62] Số liệu một nghiên cứu tại Nga (2004) trên 434 nam giới có QHTD đồng giới cho thấy, trong 96 đối tượng có bán dâm thì trung bình mỗi đối tượng có 74 bạn tình nam trong đời

và có 4,1 bạn tình nam trong 3 tháng qua [17] Ngoài ra, trong nhóm

Trang 28

NBDĐG, do có QHTD vì mục đích kinh tế nên số lượng bạn tình nam trong tháng qua tăng hơn đáng kể so với nhóm NTDĐG (31 bạn tình so với 4 bạn tình) NTDĐG [18]

Nghiên cứu tại Jakarta, Indonexia (2004) cho thấy 38,0% NBDĐG có bạn tình nam và nữ trong tháng qua và 21,2% QHTD qua đường âm đạo hoặc hậu môn không an toàn [57] Một nghiên cứu trên nhóm nam bán dâm tại Nga cho thấy, NBDĐG có nhiều bạn tình hơn so với nam QHTDĐG không vì mục đích trao đổi vật chất và trong nhóm nam bán dâm tỷ lệ nhiễm ít nhất 1 STIs chiếm 1 phần 3 [34] Nghiên cứu tại Thẩm Quyến, Trung Quốc (2009) cho thấy, nhóm NBDĐG có hành vi nguy cơ tình dục cao hơn nhóm NTDĐG không bán dâm [38]

Có 6 hoặc nhiều hơn bạn tình có

QHTD qua đường hậu môn trong

Trang 29

như Thái Lan hay Philipines [28], [52] Chính những yếu tố này càng làm tăng nguy cơ lây nhiễm và lan truyền HIV và STIs giữa các nhóm khác nhau trong cộng đồng nếu như không được kiểm soát

Tại Việt Nam, nghiên cứu năm 2007 - 2008 tại Hà Nội, 1/3 nhóm NBDĐG đã mua dâm với 80,6% mua dâm với bạn tình là nữ và 19,4% với bạn tình là nam [10] Đánh giá của trung tâm LIFE năm 2009 cho thấy 41,0% NBDĐG có QHTD thường xuyên với bạn tình nữ, 13,0% có khách hàng là nữ giới [11]

Các loại bạn tình của nhóm NBDĐG trong nghiên cứu IBBS năm 2009 rất đa dạng gồm nam bán dâm, bạn tình tự nguyện nam, bạn tình tự nguyện

nữ, khách hàng nữ và PNBD Sử dụng BCS thường xuyên với các loại bạn tình khác nhau trong nhóm NBDĐG thấp (dưới 50,0%) tại tất cả các thành phố ngoại trừ Hà Nội, nơi này có 63,9% NBDĐG khai báo sử dụng BCS thường xuyên khi QHTD với PNBD Sử dụng BCS thường xuyên khi QHTD với bạn tình tự nguyện là nữ (trong 12 tháng qua) thấp hơn so với bạn tình tự

nguyện là nam (trong tháng vừa qua) [9] Trung bình mỗi đối tượng có

khoảng 4 - 10 khách mua dâm, cá biệt có những đối tượng có tới 80 khách

hàng trong 30 ngày qua [9], [10], [29], [30]

1.4.1.2 Hành vi sử dụng BCS trong QHTD

- Sử dụng BCS trong QHTD qua đường miệng

QHTD qua đường miệng thường được thực hành phổ biến trong QHTD đồng giới nam, tuy nhiên mức độ sử dụng BCS thấp Trong nghiên cứu của Wong và cộng sự năm 2012 cho biết hành vi QHTD qua đường miệng của NBDĐG có sử dụng bao cao su là 27,4% thấp hơn nhiều so với QHTD qua đường hậu môn và đường âm đạo lần lượt là 54,7% và 42,6% [75] Hình thức QHTD qua đường miệng có nguy cơ lây truyền HIV và STIs nếu một trong các bạn tình/khách hàng nhiễm HIV hoặc STIs, vì HIV từ dịch sinh dục hoặc

Trang 30

từ máu (do các vết loét trong miệng…) có thể xâm nhập qua các vết loét tượng tự ở bạn tình

- Sử dụng BCS trong QHTD qua đường hậu môn

QHTD qua đường hậu môn là nguy cơ chủ yếu lây truyền HIV và STIs trong nhóm NTDĐG/NBDĐG [68] Số lần QHTD không bảo vệ (đó là không dùng hoặc dùng không thường xuyên BCS) qua đường hậu môn tăng làm cho nguy cơ lây truyền HIV và STIs Tỷ lệ những người đàn ông có QHTD qua đường hậu môn thay đổi tùy theo từng nơi và phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có yếu tố văn hóa Ở châu Mỹ La tinh, ước tính một nửa số ca nhiễm HIV trong khu vực do QHTD qua đường hậu môn không bảo vệ giữa những người đàn ông với nhau [68]

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu chuyên sâu về NBDĐG cho thấy tỷ lệ QHTD qua đường hậu môn không bảo vệ tương đối cao từ 13,0% đến 78,5%

và cao hơn đáng kể so với nhóm không bán dâm (22,4% so với 4,6%) [41], [45], [57], [61], [62], [71]

Trong nhóm NBDĐG, những người QHTD không bảo vệ có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn so với những người QHTD bảo vệ (32,2% và 17,6%, p<0,05) [72]

Tại Việt Nam, hầu hết nhóm NBDĐG có QHTD qua đường hậu môn với khách hàng với tỷ lệ dao động từ 20,9% đến 96,0% [9], [10], [11], [14], [30] Một mẫu nghiên cứu gồm 79 NBDĐG được phân tích từ nghiên cứu 1270 nam TCMT được điều tra ở Hà Nội năm 2002 cho thấy, 31,1% đã QHTD qua đường hậu môn nhận với bạn tình nam và hơn 2/3 không sử dụng BCS (71,4%), 42,2 % đã QHTD qua đường hậu môn cho với bạn tình nam và gần một nửa không sử dụng BCS (47,4%) [46] Nghiên cứu năm 2007 - 2008 tại

Hà Nội cho thấy, trên 40,0% nhóm NBDĐG QHTD qua đường hậu môn cho

và nhận trong lần đầu tiên không sử dụng BCS [10] Tại TP HCM (2010), 21,0% NBDĐG QHTD qua đường hậu môn không bảo vệ với khách hàng nam trong tháng qua [30]

Trang 31

1.4.2 Hành vi sử dụng chất gây nghiện

Việc sử dụng chất gây nghiện trong nhóm NBDĐG xảy ra khá phổ biến, theo Robert McNamara, một nhà nghiên cứu tại thành phố New York và là tác giả của cuốn sách “The time Square Hustler” thì “hầu như tất cả những người bán dâm thường sử dụng một vài loại thuốc kích thích nào đó và họ trở nên nghiện thuốc” [55] Các nghiên cứu đã chỉ ra các dạng chất gây nghiện khác nhau được sử dụng bao gồm: rượu, thuốc lá, marijuana (bồ đà/tài mà), cocain, cần sa, heroin, benzodiazepines, thuốc giảm đau, ecstasy (thuốc lắc)…

Trên thế giới, nhóm NBDĐG sử dụng rượu rất phổ biến Tại Pakistan (2005-2006), 45,1% NBDĐG khai báo sử dụng rượu [61] Nghiên cứu tại Kenya năm 2008, hơn 1/2 NBDĐG khai báo thường uống rượu từ 2 ngày trở lên mỗi tuần, phân tích đa biến cho thấy uống rượu liên quan đến QHTD qua

đường hậu môn không bảo vệ (OR = 1,63; 95%CI = 1,05 - 2,54) [22]

Nghiên cứu khác tại Pakistan (1998), khoảng 63,0% NBDĐG sử dụng chất cồn trong đó thỉnh thoảng uống 48,0%, thường xuyên 33,0% và nghiện nặng 19,0% [20] Tại Córdoba, Argentina (2001), các chất thường xuyên nhất được nhóm NBDĐG tiêu thụ là thuốc lá, rượu và cần sa, khoảng hai phần ba nhóm NBDĐG (64,5%) khai báo sử dụng thuốc lá hàng ngày và khoảng một nửa (53,3%) cho biết uống rượu ít nhất một lần một tuần [49]

Tại Peru (2008), có tới 36,0% NBDĐG sử dụng ma túy, chủ yếu là marijuana và cocain [40] Nghiên cứu khác tại Pakistan (2011) trên 300 NBDĐG được phỏng vấn thì một nửa sử dụng ma túy, đa số sử dụng cần sa (42,0%), 8,0% sử dụng heroin, tiêm chích ma túy rất ít [61]

Tại Córdoba, Argentina năm 2001, 17,2% NBDĐG báo cáo sử dụng cần sa ít nhất mỗi tuần một lần Ngoài ra còn sử dụng một số loại khác như cocaine, benzodiazepines, thuốc giảm đau, ecstasy Không ai trong số những người tham gia khai báo cáo sử dụng heroin hoặc methadone [49]

Trang 32

NBDĐG đồng thời dùng ma túy có nguy cơ lây nhiễm HIV và STIs rất cao Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trên những nhóm NBDĐG đồng thời có TCMT tại Rome (1992) lên tới 74,0% [35] Trên thế giới, nhóm NBDĐG có TCMT dao động từ 4,1% - 8,0% [21], [61], [71]

Tại Việt Nam, tỷ lệ rất cao nhóm NBDĐG sử dụng rượu (66,0% -

100%) [10], [29], [30], tỷ lệ sử dụng ma túy từ 9,7% - 54,5% [9], [10], [29],

[30], tỷ lệ TCMT từ 1,5% - 11,1% [9], [10], [14], [29], [30] Kết quả một số

nghiên cứu cho thấy ma túy được sử dụng ngày càng đa dạng, không chỉ đơn thuần là heroin như trước đây Năm 2002, Lê Minh Giang và cộng sự tiến hành nghiên cứu trên 1.270 nam thanh niên sử dụng ma túy ở Hà Nội phát hiện ra 79 trường hợp có bán dâm nam Trong số này 100% sử dụng heroin (62,0 % có tiêm chích trong một tháng qua), 55,7% sử dụng tài mà, 30,3% sử dụng MDMA, 43,0% sử dụng amphetamine/methamphetamine, 10,1% sử dụng cocain, 21,5% sử dụng morphine và 44,3% sử dụng opium [46] Một nghiên cứu khác điều tra trên nhóm NBDĐG ở Hà Nội năm 2007 cho thấy 54,5% đối tượng

đã từng sử dụng ít nhất một loại ma túy và 34,5% đã từng sử dụng heroin, đồng thời cũng chỉ ra sử dụng ma túy là một trong những yếu tố lây nhiễm HIV và STIs

cũng chỉ ra mối liên kết giữa bán dâm và sử dụng chất gây nghiện - đặc

biệt là tiêm chích heroin [1]

Trang 33

1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tình dục nguy cơ

Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tình dục nguy cơ trong nhóm NBDĐG có thể chia thành 3 nhóm: yếu tố cá nhân, yếu tố môi trường - xã hội

và hoàn cảnh cụ thể của việc bán dâm

1.5.1 Yếu tố cá nhân

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy những đặc điểm xã hội của cá nhân liên quan đến việc sử dụng BCS khi QHTD qua đường hậu môn bao gồm: tuổi, trình độ học vấn, kinh tế [17], [21] Những yếu tố này góp phần ảnh hưởng đến khả năng đàm phán, thỏa thuận với khách hàng về tình dục an toàn [48]

Theo McNamara, những người bán dâm thường có nhận thức sai lầm

về những căn bệnh lây truyền qua đường tình dục, như việc họ tin rằng họ có thể phân biệt được khách hàng nào bị nhiễm bệnh hay không thông qua việc quan sát bên ngoài thấy anh ta trông sạch sẽ hoặc trông bệnh tật, đó thực sự là một niềm tin rất ngây thơ và nguy hiểm [55] Hơn nữa, McNamara cũng đã tiến hành điều tra cơ chế thích nghi và tìm ra một thực tế rằng một số người bán dâm sau khi biết mình nhiễm bệnh đã tỏ ra lãnh đạm, che giấu nó và vẫn tiếp tục hành nghề bán dâm

Các yếu tố như kiến thức HIV/AIDS, sự khó khăn về kinh tế, khuynh hướng tình dục và sự tin tưởng vào mối quan hệ với bạn tình đã được một nghiên cứu trên nhóm NBDĐG tại Trung Quốc đề cập là các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng BCS trong nhóm này [44]

Một số NBDĐG khi chuyển từ nông thôn lên thành phố đã phải đối mặt với rất nhiều vấn đề để có thể hòa nhập, như khó khăn về tài chính, áp lực tâm lí Điều này cũng góp phần ảnh hưởng đến việc sử dụng BCS khi QHTD Một nghiên cứu ở Cordoba-Argentina (2003) được thực hiện trên 31 NBDĐG kéo dài trong vòng 1 năm Nghiên cứu cho thấy hầu hết những đối tượng này tham gia vào hoạt động bán dâm do thiếu cơ hội việc làm và tiền [49]

Trang 34

Tại Việt Nam, nghiên cứu ở nhóm NBDĐG ở Hà Nội năm 2007 cho thấy hơn 80,0% nam giới trong mẫu nghiên cứu (n=110) là nam thanh niên từ các tỉnh khác về Hà Nội; khoảng 75,0% nói rằng mình bán dâm là vì lý do kinh tế, hơn 70,0% nói rằng mình là “đàn ông” và chỉ hấp dẫn tình dục bởi phụ nữ và có đến hơn 50,0% nói rằng đã tham gia bán dâm trong khoảng thời gian từ 1 năm trở lại, điều này chứng tỏ sự quay vòng nhanh chóng trong nhóm NBDĐG [10] Qua nghiên cứu 300 NBDĐG tại TP HCM năm 2010 cho thấy các yếu tố liên quan với QHTD qua đường hậu môn không an toàn là

các rối loạn sau sang chấn tâm lý (OR = 2,2; 95%CI = 1,2 - 3,8), tuổi ≥ 26 (OR = 2,0; 95%CI = 1,0 - 4,0) [30] Một nghiên cứu định tính (2002) đã cho

thấy NBDĐG chưa nhận thức được nguy cơ lây nhiễm HIV của mình cũng như thiếu kiến thức về việc lây truyền HIV Ví dụ như có một niềm tin phổ biến rằng “nếu một khách hàng không muốn sử dụng BCS có nghĩa là người

đó không bị nhiễm HIV” [33]

1.5.2 Yếu tố môi trường - xã hội

Yếu tố môi trường, xã hội tác động không nhỏ đến tâm lý của NBDĐG

Sự phân biệt đối xử đối với NBDĐG là rất phổ biến, liên quan đến các chuẩn mực về giới, giá trị của gia đình và đặc điểm của văn hóa, tôn giáo

Một nghiên cứu được thực hiện qua những cuộc phỏng vấn với 18 nam bán dâm tuổi từ 17 đến 40 (2009) cho thấy nghề bán dâm nam vẫn bị định kiến rất nhiều ở Hồng Kông, xã hội cho rằng đó là một nghề thiếu văn hóa, những NBDĐG bị cho là những nạn nhân hay những công cụ tình dục thiếu tri thức và kỹ năng [43] Tại quận Mombasa-trung tâm kinh tế và du lịch của Kenya (2009) những nam bán dâm phải đối mặt với định kiến từ xã hội và xa lánh từ gia đình, họ bị cấm chia sẻ đời sống tình dục [53] Một nghiên cứu phân tích các quyết định về việc tiết lộ công việc bán dâm, hành vi tình dục đồng giới và mối nguy hiểm từ HIV trong cộng đồng bán dâm nam ở 2 thành

Trang 35

phố của Dominica (2008), 72 NBDĐG tham gia phỏng vấn cho thấy họ đã trải qua những định kiến xã hội khắc nghiệt vì hành vi đi ngược lại với quy tắc xã hội của họ [56]

Theo một nghiên cứu ở Mexico (2009), các yếu tố liên quan đến tính dễ

bị tổn thương của NBDĐG bao gồm: hoàn cảnh xã hội, sự kỳ thị liên quan đến quan hệ đồng giới và công việc bán dâm và việc thiếu các dịch vụ xã hội cũng như dịch vụ y tế, sức khỏe [26] Việc không được đề cập đến trong các chương trình phòng chống HIV cũng như thiếu hụt các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ

và chăm sóc sức khỏe dành cho nhóm đối tượng này cũng góp phần làm tăng

tỷ lệ QHTD không an toàn cũng như tỷ lệ nhiễm HIV [53], [60] Một số nghiên cứu ở Trung Quốc đã chỉ ra rằng tỷ lệ QHTD không an toàn liên quan đến khả năng tiếp cận các chương trình phòng chống HIV và việc đã từng xét nghiệm HIV [45], [73]

Tại Việt Nam, những nghiên cứu về giới và tình dục đã chỉ ra rằng những hiểu biết sai lệch và thông tin không chính xác về nhóm NTDĐG đã làm tăng sự kỳ thị đối với nhóm này và do đó khiến họ có nguy cơ cao với lây nhiễm HIV và STIs [2], trong đó nhóm NBDĐG là một thành phần của nhóm NTDĐG và bị kỳ thị ở mức độ cao đối với cả hai loại hành vi là quan hệ đồng giới và bán dâm Một số NBDĐG cho biết gia đình sẽ phản ứng mạnh mẽ và đuổi đi nếu biết tình trạng của họ [14] Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của nhóm NBDĐG vẫn chưa được quan tâm nhiều, một số nghiên cứu trong nhóm NTDĐG đã cho thấy hạn chế của nhóm này trong việc tiếp cận dịch vụ

y tế [3], [14]

1.5.3 Hoàn cảnh bán dâm

Hình thức quan hệ cũng như việc sử dụng BCS khi QHTD phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi lần mua bán dâm Theo kết quả của nhiều nghiên cứu, ba yếu tố thường được đề cập đến là địa điểm bán dâm,

Trang 36

việc sử dụng chất gây nghiện trước khi quan hệ và các yếu tố liên quan đến khách hàng [45], [73]

Các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa sử dụng chất gây nghiện và hành vi nguy cơ về tình dục như: không sử dụng BCS, chấp nhận QHTD với khách

lạ, chấp nhận QHTD với nhiều người, QHTD kéo dài…[15], [22], [25], [69]

Tại Việt Nam, nghiên cứu IBBS năm 2009 cho thấy có tới 62,5% NBDĐG tại Cần Thơ đã từng có QHTD khi đang say rượu, tỷ lệ này ở Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng lần lượt là: 31,8%, 25,3% và 21,4% [9] Nghiên cứu của Trung tâm LIFE (2011) cho thấy tỷ lệ QHTD qua đường hậu môn với nam giới không an toàn ở những người dùng ecstasy hoặc đá (29,7%) cao hơn ở những người không dùng (15,1%), sự khác biệt này có ý nghĩa

Nghiên cứu “Sử dụng chất gây nghiện và nguy cơ trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới, mại dâm nam và người chuyển giới tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh” năm 2009 chỉ ra rằng có mối liên quan giữa trạng thái phê thuốc và hành vi tình dục không an toàn (đó là QHTD qua hậu môn không bảo vệ với cả người nhận và người cho) trong những người tham gia nghiên cứu BCS thường không được sử dụng trong QHTD với cả bạn tình nam và nữ bởi vì những người tham gia nghiên cứu không nghĩ đến việc dùng

nó khi đang trong trạng thái phê QHTD nhóm cũng khá phổ biến khi NTDĐG, NBDĐG và nhóm chuyển giới cùng sử dụng chất gây nghiện với nhóm bạn Chất gây nghiện được sử dụng như là chất làm tăng sự tự tin khi tiếp cận và thương thuyết với khách hàng, tăng cường khả năng tình dục bằng cách kích thích ham muốn tình dục và kéo dài thời gian giao hợp Những người sử dụng chất gây nghiện chấp nhận bán dâm như là sự lựa chọn cuối cùng của họ để có tiền mua thuốc dùng [1]

Trang 37

Yếu tố liên quan đến khách hàng thường là yếu tố quan trọng, quyết định hình thức quan hệ, cũng như việc sử dụng BCS khi quan hệ Khoảng 2/3

số khách hàng thường yêu cầu hình thức quan hệ mà họ muốn trong quá trình mua dâm [58] Việc sử dụng ma túy trong nhóm NBDĐG chịu tác động bởi bối cảnh và những ảnh hưởng từ phía khách hàng Trong nghiên cứu của Minichiello và cộng sự trên nhóm NBDĐG tại Autralia cho thấy việc sử dụng rượu, tài mà và một số chất kích thích khác của NBDĐG cũng bị chi phối từ phía khách hàng [51]

Tại Chennai, Ấn Độ, NBDĐG cho biết một số khách hàng có sử dụng rượu trước khi QHTD, mặc dù NBDĐG nhận thức được tình trạng tổn thương đến sức khỏe nhưng vì sợ mất khách hàng, mất thu nhập nên họ vẫn chấp nhận quan hệ sau khi khách hàng uống rượu, một số khách hàng cung cấp rượu cho họ uống để có thể “hợp tác” trong QHTD, một khi đã sử dụng rượu thì họ có thể chịu đựng bất cứ điều gì mà khách hàng làm, trong đó có bạo lực tình dục [69]

1.6 Sử dụng dịch vụ y tế

Ở nhiều quốc gia, nơi tình dục đồng giới nam và bán dâm là bất hợp pháp, nhóm NBDĐG vẫn còn phải chịu sự kỳ thị mạnh mẽ Nghiên cứu ở Mexico về mối đe dọa về sức khỏe đối với NBDĐG cho một kết luận rõ ràng

là dịch vụ chăm sóc sức khỏe hoàn toàn không có để dành cho những người NBDĐG Những người chuyển đổi giới tính và thực hiện hành vi bán dâm là nhóm bị định kiến và phân biệt nhiều nhất [26]

Tại quận Mombasa - trung tâm kinh tế và du lịch của Kenya những nam bán dâm bị cấm chia sẻ đời sống tình dục và cấm tìm đến các dịch vụ sức khỏe, nhu cầu phòng tránh HIV cho những người này phần lớn bị bỏ qua nên nạn dịch HIV càng trở nên tồi tệ hơn Hầu hết những người tham gia phỏng vấn đều thừa nhận không biết phải làm sao khi họ bị ốm hoặc mắc bệnh vì họ

Trang 38

sợ phải tới những cơ sở khám chữa bệnh tư nhân và nhà nước, như trường hợp dưới đây cho thấy dịch vụ khám chữa bệnh không chuyên nghiệp, một NBDĐG cho biết “Dịch vụ khám chữa bệnh tại các bệnh viện không tốt, bạn

sẽ bị coi thường thậm chí họ có thể gửi bạn đi chỗ khác hoặc hỏi những câu hỏi nhạy cảm, mà bạn biết đấy chúng tôi rất cần tính bảo mật [53]

Phân biệt và kỳ thị đối với nhóm NBDĐG, phòng chống HIV/AIDS không được quan tâm tại Ấn Độ NBDĐG không được tư vấn trước và sau khi xét nghiệm HIV, tư vấn viên và bác sỹ không sẵn sàng thảo luận về hành

vi nguy cơ tình dục của khách hàng, thiếu kiến thức về lây truyền HIV và STIs, thiếu thông tin và các hỗ trợ về tình dục an toàn Như vậy sẽ làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV và STIs trong nhóm NBDĐG cũng như lây nhiễm sang bạn tình nam và nữ của họ [69]

Tại Jakarta, Indonesia, một niềm tin rất phổ biến là STIs là bệnh của phụ nữ đã dẫn tới kết quả là ít nam giới có QHTD đồng giới đi kiểm tra xét nghiệm STIs và HIV [15] Có ít hơn 3,0% nhóm NBDĐG đã từng xét nghiệm HIV tự nguyện mặc dù có tới 28,0% NBDĐG tiếp xúc với các chương trình

dự phòng trong năm qua [57] Liên quan đến xét nghiệm HIV trong nhóm NBDĐG tại Córdoba, Argentina 45,1% cho biết đã xét nghiệm HIV trong 12 tháng qua [48] Tại Chen nai, Ấn độ, theo số liệu thì có tới 2/3 số NBDĐG đã xét nghiệm HIV nhưng với tần suất xét nghiệm chỉ có 1 lần [69]

Tại Jakarta, Indonesia, trong số những người trả lời có triệu chứng nhiễm STIs trong 12 tháng qua (28,9%) chỉ có 44,9% điều trị tại các dịch vụ y

tế, có tới 48,2% đối tượng tự điều trị và số còn lại không điều trị gì [57] Tại Córdoba, Argentina, nhìn chung tỷ lệ tiêm chủng vacxin viêm gan A hoặc B của nhóm NBDĐG thấp, 58,1% nói rằng họ đã không được tiêm phòng hoặc

là họ không chắc chắn [48]

Trang 39

Ở Việt Nam, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của nhóm NBDĐG vẫn chưa được quan tâm nhiều, một số nghiên cứu trong nhóm NTDĐG đã cho thấy hạn chế của nhóm này trong việc tiếp cận dịch vụ y tế Trong nhóm NTDĐG, tỷ lệ đã từng làm xét nghiệm HIV của nhóm tự nhận chỉ bán dâm là 12,5%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình (19,5%) Ngoài ra chỉ có 39,0% nhóm NTDĐG đã từng nhận được BCS Trong đó, tỷ lệ của nhóm chỉ bán dâm là thấp nhất (22,2%) [14]

Nghiên cứu IBBS năm 2009 cho thấy việc tiếp cận với dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện còn thấp, nhận được BCS miễn phí và chất bôi trơn trong 6 tháng qua ở mức độ trung bình, ngoài ra, nhóm NBDĐG còn nhận được các thông tin về tình dục an toàn và tiêm chích an toàn [9]

Đánh giá của Trung tâm LIFE về việc tiếp cận với các dịch vụ can thiệp phòng chống HIV và STIs của nhóm NBDĐG năm 2009 và năm 2011 cho thấy số lượng NBDĐG nhận được các tài liệu phòng chống HIV và xét nghiệm HIV là cao hơn nhiều so với ban đầu Phần lớn các NBDĐG (trên 74,0%) đã nhận được BCS và chất bôi trơn miễn phí, gần ½ NBDĐG (46,0%) nhận được tất cả 3 dịch vụ (tờ rơi thông tin về nhóm NTDĐG, BCS và chất bôi trơn) và 38,0% đã nhận được cả 4 dịch vụ gồm 3 dịch vụ trên và dịch vụ xét nghiệm HIV Tuy nhiên việc tiếp cận với các dịch vụ can thiệp dự phòng vẫn hạn chế mặc dù các dịch vụ này có hiệu quả [29]

Tiếp cận với các dịch vụ chẩn đoán và điều trị HIV và STIs cũng không khá hơn, cho dù điều trị có tầm quan trọng trong ứng phó với dịch Do mặc cảm bị xã hội kỳ thị người đồng tính nên những NBDĐG rất ngại đi khám và điều trị bệnh Nghiên cứu tại Hà Nội năm 2007 cho thấy, chỉ có 12,7% nhóm NBDĐG đã từng đến cơ sở y tế để khám STIs, tỷ lệ đã từng làm các xét nghiệm HBV (18,2%), HCV (3,6%), HIV (37,3%) không cao [10]

Trang 40

1.7 Chiến lược can thiệp dự phòng HIV và STIs cho nhóm NTDĐG/NBDĐG

- Đảm bảo chất lượng chăm sóc đạt tiêu chuẩn

- Sử dụng hiệu quả các nguồn lực, hiệu quả nhất với việc sử dụng tối

- Các bước trong một giai đoạn tiếp cận can thiệp

+ Phát triển nghiên cứu ban đầu về tỷ lệ hiện nhiễm HIV

+ Thực hiện can thiệp và các dịch vụ như phòng lây truyền qua đường tình dục, các can thiệp hành vi, tư vấn xét nghiệm, chăm sóc điều trị

+ Tăng cường giám sát - theo dõi - đánh giá các chương trình nhóm

NTDĐG/NBDĐG

+ Giới thiệu chiến lược bổ sung để giải quyết các rào cản trong tiếp cận can thiệp

- Hiểu biết về quan điểm của những người NTDĐG/NBDĐG: Đại diện

cộng đồng và nhóm NTDĐG/NBDĐG tham gia thực hiện các dịch vụ để đảm bảo sự phù hợp với văn hóa và đáp ứng nhu cầu

- Hướng tới tương lai

Ngày đăng: 14/02/2015, 17:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Ngọc Bảo, Philippe Giarault và cộng sự (2009), "Sử dụng chất gây nghiện và nguy cơ trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới, mại dâm nam và người chuyển giới tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh", Y học thực hành. 742+743(1859-1663), tr. 168-170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng chất gây nghiện và nguy cơ trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới, mại dâm nam và người chuyển giới tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Vũ Ngọc Bảo, Philippe Giarault, cộng sự
Nhà XB: Y học thực hành
Năm: 2009
2. Vũ Ngọc Bảo và Philippe Girault (2005), "Đối mặt với sự thật: Tình dục đồng giới nam (MSM) và HIV/AIDS ở Việt Nam", chuyên san giới, tình dục &amp; sức khỏe số 5 (công ty tư vấn đầu tư Y tế xuất bản.) 3. Bộ Y tế (2006), Kết quả chương trình giám sát kết hợp hành vi và cácchỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) tại Việt Nam 2005-2006, Nhà xuất bản Y học, trang 4, 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối mặt với sự thật: Tình dục đồng giới nam (MSM) và HIV/AIDS ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Bảo, Philippe Girault
Nhà XB: chuyên san giới, tình dục & sức khỏe
Năm: 2005
5. Bộ Y tế (2011), Hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone, Nhà xuất bản Y học, trang 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
6. Bộ Y tế (2014), Báo cáo tổng kết công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 và định hướng kế hoạch năm 2014, công văn số 06/BC-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 và định hướng kế hoạch năm 2014
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2014
7. Bộ Y tế (2009), Ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam giai đoạn 2007-2012, Tổ chức Sức khỏe gia đình quốc tế (FHI) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam giai đoạn 2007-2012
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Tổ chức Sức khỏe gia đình quốc tế (FHI)
Năm: 2009
8. Bộ Y tế và Cục phòng chống HIV/AIDS (2008), Chẩn đoán và điều trị các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và điều trị các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục
Tác giả: Bộ Y tế và Cục phòng chống HIV/AIDS
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
10. Lê Minh Giang, Nguyễn Hữu Anh và Phạm Thị Mỹ Dung (2010), "Đặc điểm dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs trên nhóm nam bán dâm đồng tính ở Hà Nội", Tạp chí nghiên cứu Y học, Tập 66, số 1 (ISSN 0868-202X), tr. 111-118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs trên nhóm nam bán dâm đồng tính ở Hà Nội
Tác giả: Lê Minh Giang, Nguyễn Hữu Anh, Phạm Thị Mỹ Dung
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu Y học
Năm: 2010
11. Hoàng Thị Xuân Lan và các cộng sự (2010), "Nguy cơ lây nhiễm HIV và tình hình tiếp cận các chương trình phòng ngừa lây nhiễm HIV của mại dâm nam tại TP. HCM. Việt Nam", Các công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS giai đoạn 2006 - 2010, Tạp chí Y học Thực hành, số 742+743, ISN 1859-1663, tr. 242-243 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy cơ lây nhiễm HIV và tình hình tiếp cận các chương trình phòng ngừa lây nhiễm HIV của mại dâm nam tại TP. HCM. Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thị Xuân Lan, các cộng sự
Nhà XB: Tạp chí Y học Thực hành
Năm: 2010
12. Quốc hội (2013), Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 10/2003/PL-UBTVQH11 về phòng chống mại dâm, ngày 17 tháng 3 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 10/2003/PL-UBTVQH11 về phòng chống mại dâm
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
13. Nguyễn Anh Tuấn (2006), Tỷ lệ hiện nhiễm và các hành vi nguy cơ lây truyền HIV trên nhóm quan hệ tình dục đồng giới nam tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004, Luận án Tiến sĩ Y học, Mã số: 3.01.11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ hiện nhiễm và các hành vi nguy cơ lây truyền HIV trên nhóm quan hệ tình dục đồng giới nam tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn
Năm: 2006
14. Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hà Nội (2013), Báo cáo kết quả xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV/AIDS, công văn số 285A/TTPCAIDS-GS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV/AIDS
Tác giả: Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hà Nội
Năm: 2013
15. UNAIDS (2006), HIV và nam giới có quan hệ tình dục đồng giới ở Châu Á - Thái Bình Dương, trang 9, 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HIV và nam giới có quan hệ tình dục đồng giới ở Châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: UNAIDS
Năm: 2006
16. Ủy ban quốc gia phòng, chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm (2012), Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, trang 1.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030
Tác giả: Ủy ban quốc gia phòng, chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm
Năm: 2012
17. Y.A. Amirkhania and et al (2004), "HIV behavior risk levels and STD Prevalence in a sample of young MSM social networks in St Petersburg, Russia", XV AIDS Conference in Bangkok, [WePeC6081] Sách, tạp chí
Tiêu đề: HIV behavior risk levels and STD Prevalence in a sample of young MSM social networks in St Petersburg, Russia
Tác giả: Y.A. Amirkhania and et al
Năm: 2004
18. Asthana. S and R. Oostvogels (2001), "The Social Construction of Male 'Homosexuality’ in India: Implications for HIV Transmission and Prevention", Social Science and Medicine. 52 (5): 707–21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Social Construction of Male 'Homosexuality’ in India: Implications for HIV Transmission and Prevention
Tác giả: Asthana. S and R. Oostvogels
Năm: 2001
19. Ballester. R and et al (2011), "Sexual Risk Behaviors for HIV Infection in Spanish Male Sex Workers: Differences According to Educational Level, Country of Origin and Sexual Orientation", AIDS Behav, DOI 10.1007/s10461-011-9964-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sexual Risk Behaviors for HIV Infection in Spanish Male Sex Workers: Differences According to Educational Level, Country of Origin and Sexual Orientation
Tác giả: Ballester. R and et al
Năm: 2011
20. Baqi, Shehla and et al (1999), "Seroprevalence of HIV, HBV and syphilis and associated risk behaviours in male transvestites (Hijras) in Karachi, Pakistan", International Journal of STD &amp; AIDS , 10: 300± 304 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seroprevalence of HIV, HBV and syphilis and associated risk behaviours in male transvestites (Hijras) in Karachi, Pakistan
Tác giả: Baqi, Shehla and et al
Năm: 1999
21. Baral. S and et al (2010), "Male Sex Workers in Moscow, Russia: A Pilot Study of Demographics, Substance Use Patterns, and Prevalence of HIV-1 and Sexually Transmitted Infections", AIDS Care 22 (1):112–18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Male Sex Workers in Moscow, Russia: A Pilot Study of Demographics, Substance Use Patterns, and Prevalence of HIV-1 and Sexually Transmitted Infections
Tác giả: Baral, S, et al
Nhà XB: AIDS Care
Năm: 2010
22. Beyrer Chris and et al (2011), The Global HIV Epidemics among MenWho Have Sex with Men, Washington DC 20433, The World Bank, page 33, 320978-0-8213-8726-910.1596/978-0-8213-8726-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Global HIV Epidemics among MenWho Have Sex with Men
Tác giả: Beyrer Chris and et al
Năm: 2011
68. UNAIDS (2005), Men who have sex with men, HIV prevention and care, UNAIDS. http://data.unaids.org/pub/Report/2006/jc1233-msm-meetingreport_en.pdf Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Khung can thiệp dự phòng HIV và STIs cho nhóm NTDĐG/NBDĐG - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Hình 1.1. Khung can thiệp dự phòng HIV và STIs cho nhóm NTDĐG/NBDĐG (Trang 41)
Sơ đồ 1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhiễm HIV và STIs - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Sơ đồ 1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến nhiễm HIV và STIs (Trang 44)
Bảng 2.1. Khung chọn mẫu nhóm NBDĐG trong nghiên cứu - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Bảng 2.1. Khung chọn mẫu nhóm NBDĐG trong nghiên cứu (Trang 47)
Bảng 3.1. Các đặc trưng nhân khẩu cơ bản của nhóm NBDĐG (n=250) - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Bảng 3.1. Các đặc trưng nhân khẩu cơ bản của nhóm NBDĐG (n=250) (Trang 60)
Bảng 3.2. Nhận dạng giới và nhận dạng tình dục (n=250) - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Bảng 3.2. Nhận dạng giới và nhận dạng tình dục (n=250) (Trang 61)
Bảng 3.3. Giới tính thích QHTD theo tự nhận về giới - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Bảng 3.3. Giới tính thích QHTD theo tự nhận về giới (Trang 62)
Bảng 3.4. Kiến thức về HIV/STIs (n=250) - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Bảng 3.4. Kiến thức về HIV/STIs (n=250) (Trang 63)
Bảng 3.5. Các hình thức QHTD và sử dụng BCS với các loại bạn tình - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Bảng 3.5. Các hình thức QHTD và sử dụng BCS với các loại bạn tình (Trang 65)
Bảng 3.6. Số lượng khách hàng nam và số lần QHTD trung bình - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Bảng 3.6. Số lượng khách hàng nam và số lần QHTD trung bình (Trang 67)
Bảng 3.7. Số lượng khách hàng nam qua các hình thức QHTD - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Bảng 3.7. Số lượng khách hàng nam qua các hình thức QHTD (Trang 68)
Bảng 3.8. Đặc điểm hoạt động bán dâm - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Bảng 3.8. Đặc điểm hoạt động bán dâm (Trang 69)
Bảng 3.11. Kết quả xét nghiệm HIV và một số STI (n=250) - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Bảng 3.11. Kết quả xét nghiệm HIV và một số STI (n=250) (Trang 80)
Bảng 3.12. Một số yếu tố liên quan đến QHTD qua đường hậu môn - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Bảng 3.12. Một số yếu tố liên quan đến QHTD qua đường hậu môn (Trang 85)
Bảng 3.15.  Mối liên quan giữa hành vi sử dụng chất gây nghiện - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa hành vi sử dụng chất gây nghiện (Trang 90)
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa số khách hàng nam trung bình và số lần  bán dâm trung bình trong 30 ngày qua và nhiễm ít nhất 1 STI - luận án tiến sĩ y tế công cộng thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm hiv và một số nhiễm trùng lây qua đường tình dục ở nhóm nam bán dâm đồng giới tại hà nội, 2009 - 2010
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa số khách hàng nam trung bình và số lần bán dâm trung bình trong 30 ngày qua và nhiễm ít nhất 1 STI (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm