1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm

191 634 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương NGUYỄN MINH QUANG THỰC TRẠNG MẮC CÁC BỆNH NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG SINH DỤC DƯỚI Ở PHỤ NỮ BÁN DÂM TẠI TRUNG TÂMCHỮA BỆNH - GIÁO D

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương

NGUYỄN MINH QUANG

THỰC TRẠNG MẮC CÁC BỆNH NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG SINH DỤC DƯỚI Ở PHỤ NỮ BÁN DÂM TẠI TRUNG TÂMCHỮA BỆNH - GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG XÃ HỘI SỐ II HÀ NỘI VÀ ĐÁNH GIÁ

HIỆU QUẢ CAN THIỆP

Chuyên ngành: Vệ sinh học xó hội và Tổ chức y tế

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi và nhóm nghiên cứu thực hiện tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội số II Hà Nội Các số liệu và kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Minh Quang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám đốc, Phòng Đào tạo Sau đại học, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương luôn tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Ngô Văn Toàn và TS Đỗ Hòa Bình, những người thầy có nhiều kiến thức, kinh nghiệm

đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện

đề tài cũng như hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn bà Nguyễn Thị Phương, giám đốc Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội số II Hà Nội, bác sỹ Nguyễn Kim Quý và các cán bộ y tế cũng như các cán bộ của Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội số II Hà Nội đã cho phép tôi được nghiên cứu tại Trung tâm, đã nhiệt tình giúp đỡ và đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn những PNBD đang học tập tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội số II Hà Nội đã tự nguyện tham gia và cung cấp các thông tin đầy đủ và trung thực cho nghiên cứu này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Sở Y tế Hà Nội, Ban giám đốc và các cán bộ của Bệnh viện Da liễu Hà Nội đã tạo điều kiện, quan tâm

và động viên tôi hoàn thành luận án này

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc GS TS Đào Văn Dũng, PGS TS Phạm Văn Hiển, GS TS Nguyễn Ngọc Đính và các thầy cô khác

đã định hướng và và giúp đỡ tôi về mặt khoa học trong suốt quá trình học tập

Trang 4

Đặc biệt, tôi xin cảm ơn cha mẹ, vợ, hai con, anh chị em và những người thân trong gia đình đã hết lòng ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và là động lực giúp tôi vượt qua những khó khăn để đạt được kết quả khoá học và hoàn thành luận án

Tác giả luận án

Nguyễn Minh Quang

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Tiếng Việt

Bà mẹ trẻ em Cỏn bộ y tế Chỉ số hiệu quả CTC

ĐBSCL

DS/KHHGĐ

Cổ tử cung Đồng bằng sông Cửu Long Dân số/Kế hoạch hóa gia đình GSTĐ

PTTH

QHTD

Phổ thông trung học Quan hệ tình dục

Tổ chức Phòng chống HIV/AIDS Liên hợp quốc UNFPA Quỹ Dân số Liên Hiệp quốc

TCYTTG Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 6

MỤC LỤC

Trang Lời cam đoan

1.1 Một số khái niệm chung về nhiễm trùng đường sinh dục dưới

1.1 Tỷ lệ hiện mắc nhiễm trùng đường sinh dục dưới và một số hành

vi nguy cơ

1.1.1 Tỷ lệ hiện mắc nhiễm trùng đường sinh dục dưới

1.1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng và hành vi nguy cơ đến bệnh

nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm

1.3 Các mô hình can thiệp dự phòng lây nhiễm bệnh nhiễm trùng

đường sinh dục dưới cho phụ nữ bán dâm

1.3.1 Chương trình truyền thông thay đổi hành vi

1.3.2 Chương trình khuyến khích sử dụng 100% bao cao su

1.3.3 Chương trình quản lý bệnh nhiễm trùng đường sinh dục

dưới

1.3.4 Chương trình giáo dục đồng đẳng

1.3.5 Các chương trình phòng và chống các nhiễm trùng đường

sinh sản tại Việt Nam

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

38

38

38

Trang 7

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

2.1.3 Thời gian nghiên cứu và thu thập số liệu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

2.2.2 Mẫu nghiên cứu và chọn mẫu

2.2.3 Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu

2.2.4 Kỹ thuật xét nghiệm

2.2.5 Biến số nghiên cứu

2.2.6 Nội dung và qui trình can thiệp

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Một số đặc trưng cá nhân của phụ nữ bán dâm và cán bộ y tế

3.1.1 Một số đặc trưng cá nhân của phụ nữ bán dâm

3.1.2 Một số đặc trưng cá nhân của cỏn bộ y tế

3.2 Tỷ lệ hiện mắc bệnh, yếu tố ảnh hưởng và hành vi nguy cơ của

3.2.3 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng và tác nhân gây bệnh với

nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm

3.3 Hiệu quả can thiệp hiệu quả của các biện pháp can thiệp phòng

chống nhiễm trùng đường sinh dục dưới

Trang 8

3.3.3 Giảm triệu chứng và nhiễm trùng đường sinh dục dưới

3.4 Thay đổi kiến thức về nhiễm trùng đường sinh dục dưới của cỏn

bộ y tế trước và sau lớp tập huấn

3.4.1 Thay đổi về kiến thức chung về các nhiễm trùng đường sinh

dục dưới trước và sau can thiệp

3.4.2 Thay đổi về kiến thức về một số bệnh nhiễm trùng đường

sinh dục dưới trước và sau can thiệp

4.1 Một số đặc trưng cá nhân của phụ nữ bán dâm

4.2 Tỷ lệ mắc và một số hành vi nguy cơ của nhiễm trùng đường sinh

dục dưới của phụ nữ bán dâm

4.2.1 Tỷ lệ hiện mắc nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ

bán dâm

4.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng và tác nhân gây bệnh với nhiễm

trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm

4.3 Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức và thái độ phòng chống lây

nhiễm bệnh đường sinh dục dưới

4.3.1 Về kiến thức và thái độ

4.3.2 Giảm triệu chứng và bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới

4.4 Hiệu quả can thiệp nâng cao kiến thức về khám chữa bệnh

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

3.1 Phân bố theo nhóm tuổi của phụ nữ bán dâm 56 3.2 Phân bố theo nghề nghiệp của phụ nữ trước khi bán dâm 57 3.3 Phân bố theo tình trạng hôn nhân của PNBD 58

3.7 Phân bố thời gian đào tạo ban đầu của các CBYT 61 3.8 Tỷ lệ các triệu chứng lâm sàng ở phụ nữ bán dâm 63

3.11 Mối liên quan giữa nghề nghiệp trước bán dâm và bệnh NTĐSDD 66 3.12 Mối liên quan giữa nơi ở trước bán dâm và bệnh NTĐSDD 67 3.13 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và bệnh NTĐSDD 67 3.14 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và bệnh NTĐSDD 68 3.15 Mối liên quan giữa nơi bán dâm và bệnh NTĐSDD 69 3.16 Liên quan giữa tuổi quan hệ tình dục lần đầu tiên và NTĐSDD 70 3.17 Mối liên quan giữa thời gian bán dâm và NTĐSDD 71 3.18 Mối liên quan giữa số lượng khách hàng trung bình và NTĐSDD 71 3.19 Mối liên quan giữa hành vi sử dụng bao cao su và NTĐSDD 73 3.20 Hành vi khám chữa bệnh tự nguyện và NTĐSDD 74 3.21 Hiểu biết QHTD chung thủy, sử dụng BCS và NTĐSDD 75 3.22 Mối liên quan giữa tự đánh giá nguy cơ và NTĐSDD 76

Trang 10

3.23 Mối liên quan một số yếu tố đặc trưng cá nhân và NTĐSDD trên

3.24 Mối liên quan một số hành vi nguy cơ và NTĐSDD trên mô hinh

3.25 Mối liên quan một số đặc trưng cá nhân, hành vi nguy cơ và

3.26 Hiệu quả nâng cao kiến thức về triệu chứng của NTĐSDD 79 3.27 Hiệu quả nâng cao thái độ dự phòng NTĐSDD 80 3.28 Hiệu quả nâng cao thái độ tự đánh giá nguy cơ mắc NTĐSDD 81 3.29 Hiệu quả giảm các triệu chứng lâm sàng NTĐSDD 82

3.31 Hiệu quả giảm bệnh NTĐSDD trên xét nghiệm 84 3.32 Thay đổi kiến thức về các triệu chứng lâm sàng của nhiễm trùng

đường sinh dục dưới trước và sau can thiệp 85 3.33 Thay đổi về kiến thức xét nghiệm trong chẩn đoán nhiễm trùng

đường sinh dục dưới trước và sau can thiệp 87 3.34 Thay đổi kiến thức về hướng xử trí nhiễm trùng đường sinh dục

3.35 Thay đổi kiến thức CBYT về giang mai trước và sau can thiệp 88 3.36 Thay đổi kiến thức của cán bộ y tế về bệnh Herpes sinh dục trước

và sau can thiệp

89

3.37 Thay đổi kiến thức của cán bộ y tế về bệnh hạ cam mềm trước và

san can thiệp

91

4.1 Tổng hợp các kết quả nghiên cứu về nhiễm trùng đường sinh dục

dưới từ năm 2003-2009

99

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

2.1 Thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng

3.1 Phân bố theo dân tộc của phụ nữ bán dâm

3.2 Phân bố theo nơi ở của phụ nữ trước khi bán dâm

3.3 Phân bố theo trình độ học vấn của PNBD

3.4 Phân bố giới của CBYT

3.5 Phân bố bậc đào tạo của các CBYT tại Phòng Y tế

3.6 Đào tạo ban đầu về điều trị các bệnh NTĐSDD của CBYT

3.7 Tỷ lệ PNBD có triệu chứng lâm sàng

3.8 Tỷ lệ hiện mắc NTĐSDD trên lâm sàng ở PNBD

3.9 Các hình thức tổn thương của nhiễm trùng đường sinh dục dưới

3.10 Phân bố tác nhân gây nhiễm trùng đường sinh dục dưới

65

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm trựng đường sinh dục dưới (NTĐSDD) là một bệnh rất phổ biến, rất khú ước lượng chớnh xỏc về tỷ lệ mắc bệnh giữa cỏc vựng trong một quốc gia cũng như giữa cỏc quốc gia với nhau, đặc biệt là trờn phụ nữ bỏn dõm (PNBD) Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) nhiễm trựng đường sinh dục dưới là cỏc viờm nhiễm tại cơ quan sinh dục bao gồm cả viờm nhiễm do bệnh lõy truyền qua đường tỡnh dục và viờm nhiễm khỏc khụng lõy qua quan hệ tỡnh dục Các bệnh NTĐSDD khụng là một bệnh cấp cứu và gõy tử vong ngay cho người phụ nữ nhưng lại ảnh hưởng đến sức khoẻ, ảnh hưởng đến chất lượng sống và tốn kộm về kinh phớ khỏm chữa bệnh cho PNBD và gia đỡnh [15] Tỷ lệ NTĐSDD giữa cỏc quốc gia khỏ cao và khác nhau, dao động từ 41% đến 78% [17], [22], [58], [65], [77]

Kết quả nghiờn cứu tại cỏc vựng sinh thỏi ở Việt Nam năm 2005 cho thấy cú tới 81,3% cú biểu hiện bất thường tại bộ phận sinh dục, trong đú tỉ lệ NTĐSDD là 66,6% và chủ yếu là viờm õm đạo, viờm cổ tử cung (CTC), tỷ lệ đặc biệt cao trờn PNBD [55] Điều đú cho thấy tỡnh trạng NTĐSDD là một thực trạng rất đỏng quan tõm Cỏc bệnh NTĐSDD núi chung cũng như bệnh lõy truyền qua đường tỡnh dục núi riờng cú liờn quan mật thiết với lõy nhiễm HIV, đặc biệt là trờn PNBD

Cỏc yếu tố nguy cơ của NTĐSDD trờn PNBD cũng đó được một số ớt nghiờn cứu đề cập đến như thiếu kiến thức và thực hành phũng chống lõy nhiễm, quan hệ tỡnh dục khụng an toàn, sử dụng bao cao su khụng cho tất cả cỏc lần quan hệ tỡnh dục (QHTD), quan hệ với nhiều loại khỏch hàng, tiờm chớch ma tuý, uống rượu, sử dụng cỏc biện phỏp trỏnh thai khụng hợp lý, sau cỏc sự kiện sinh sản như sau đẻ, nạo hỳt thai khụng an toàn [1], [24], [27]

Trang 13

Việc nghiên cứu hiệu quả của các biện pháp dự phòng lây nhiễm NTĐSDD

và HIV tại các nước trên thế giới đã được nghiên cứu và một trong những biện pháp có hiệu quả nhất là sử dụng bao cao su cho tất cả các lần QHTD [13], [18], [23], [29], [58], [73], [131] Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về hiệu quả của các biện pháp phòng, chống HIV [13], [18] Tuy vậy, vẫn còn ít các công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về tình trạng NTĐSDD, các yếu tố nguy cơ và hiệu quả của các biện pháp can thiệp nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng cho phụ nữ bán dâm đang được tập trung học tập và nâng cao năng lực quản lý, khám chữa bệnh cho cán bộ y tế của Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội II Hà Nội (TTCBGDLĐXH II)

Do vậy, nghiên cứu “Thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh

dục dưới ở phụ nữ bán dâm tại Trung tâm Chữa bệnh-Giáo dục-Lao động Xã hội II Hà Nội và đánh giá hiệu quả can thiệp” được tiến hành

nhằm các mục tiêu sau:

1 Mô tả tỷ lệ mắc và một số hành vi nguy cơ của một số bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới trên phụ nữ bán dâm học tập tại Trung tâm Chữa bệnh-Giáo dục-Lao động xã hội số II Hà Nội năm 2011

2 Đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp phòng chống nhiễm trùng đường sinh dục dưới đối với phụ nữ bán dâm và nâng cao kiến thức của cán bộ y tế về một số bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới tại Trung tâm Chữa bệnh-Giáo dục-Lao động xã hội số II Hà Nội giai đoạn 2011-2012

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.2 Một số khái niệm chung về nhiễm trùng đường sinh dục dưới

Định nghĩa

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) nhiễm trùng

đường sinh dục dưới (NTĐSDD) là các viêm nhiễm tại cơ quan sinh dục do bệnh lây truyền qua đường tình dục và viêm nhiễm khác không lây qua quan hệ tình dục tại õm hộ, âm đạo và cổ tử cung [140], [141]

Chlamydia trachomatis

Viêm niệu đạo, viêm mào tinh hoàn - viêm cổ tử cung, viêm vòi trứng, viêm âm đạo, viêm kết mạc, mắt hột, viêm phổi

Trang 15

Haemophilus ducreyi Hạ cam

Calymmatobacterium granulomatis,

Gardenerella vaginalis

Donovanose Viêm âm đạo

Virus

Molluscum contagiosum virus

Căn nguyên khác

viêm qui đầu và bao qui đầu

hộ

Nguồn và đường lây truyền

NTĐSDD chủ yếu được lây truyền từ người này sang người khác theo phương thức quan hệ tình dục không an toàn Tuy nhiên, không phải tất cả các cuộc giao hợp không an toàn đều dẫn đến hậu quả lây nhiễm NTĐSDD từ người bệnh sang bạn tình của họ Sự nhiễm bệnh còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố sinh học và các hành vi nguy cơ khác

1.3 Tỷ lệ hiện mắc NTĐSDD và một số hành vi nguy cơ

1.3.1 Tỷ lệ hiện mắc NTĐSDD

Nhiễm trựng đường sinh sản và nhiễm trựng đường sinh dục (RTIs/STIs), trong đú cú nhiễm trựng đường sinh dục dưới đó và đang gõy ra gỏnh nặng toàn cầu về sức khỏe Tổ chức Y tế Thế giới dự đoỏn hàng năm cú khoảng hơn 340 triệu trường hợp mắc mới thuộc cỏc bệnh cú lõy qua đường tỡnh dục

cú thể chữa khỏi (lậu, viêm niệu đạo, viêm mào tinh hoàn - viêm cổ tử cung,

Trang 16

viêm vòi trứng, viêm âm đạo, viêm kết mạc, mắt hột, viêm phổi, giang mai…) Nếu một số virus khỏc của STIs như nhiễm trựng HPV cũng được tớnh thỡ cú số này cú thể cao lờn gấp 3 lần [138], [140] Gỏnh nặng bệnh tật do RTIs/STIs rất khỏc nhau theo cỏc nước khỏc nhau và cỏc cộng đồng khỏc nhau

Nhiễm trựng ngoại sinh phổ biến tại nơi cú tỷ lệ nhiễm STIs cao và do cỏn

bộ y tế khụng được đào tạo để thực hiện thủ thuật an toàn Nhiễm trựng sau đẻ

và sau phỏ thai phổ biến hơn tại nơi khụng cú cỏc dịch vụ an toàn và chăm súc sau thủ thuật tốt

Nhiễm trựng nội sinh, vớ dụ như nhiễm nấm hoặc vi trựng phổ biến trờn thế giới và do ảnh hưởng mụi trường, vệ sinh, thay đổi nội tiết và cỏc yếu tố khỏc Hầu hết cỏc loại tỏc nhõn gõy RTIs/STIs cú thể ảnh hưởng tới cả phụ nữ và nam giới, tuy nhiờn hậu quả đối với nữ nhiều và nặng nề hơn so với nam Trờn thực tế, RTIs/STIs và hậu quả của nú là yếu tố quan trọng gõy bệnh tật

và tử vong cho phụ nữ tại cỏc khu vực nghốo trờn thế giới

Cỏc nhiễm trựng qua đường tỡnh dục (STIs) bao gồm HIV/AIDS là vấn đề

y tế cụng cộng nổi cộm tại Việt Nam Theo số liệu của Bệnh viện Da liễu Trung ương, dựa trờn hệ thống bỏo cỏo nhà nước, mỗi năm cú khoảng hơn 150,000 trường hợp mắc RTI/STI mỗi năm [56], [57] Năm 2009, theo số liệu của Bộ Y tế, số mắc RTI/STI được bỏo cỏo là 143,880 trường hợp [4] Tuy nhiờn, con số này được cho là thấp hơn thực tế và được coi như là hiện tưởng

“tảng băng nổi”, nghĩa là phần lớn những trường hợp mắc bệnh được bỏo cỏo

từ cỏc cơ sở y tế cụng lập, cũn khỏ nhiều trường hợp mắc đến khỏm chữa bệnh tại cơ sở y tế tư nhõn và khụng đi khỏm chữa bệnh khụng được bỏo cỏo Con số thực tế được ước lượng là 1 triệu trường hợp/năm vỡ con số trờn khụng bao gồm số liệu bỏo cỏo của hệ thống y tế tư nhõn và nhiều trường hợp người dõn khụng đi khỏm chữa bệnh [4]

Trang 17

Tại cỏc nước đang phỏt triển, số liệu về bệnh NTĐSDD và cỏc biến chứng, đặc biệt là trờn những đối tượng cú nguy cơ cao như PNBD là rất hạn chế và chất lượng số liệu khụng cao Bệnh NTĐSDD thụng thường là ớt cú triệu chứng và rất khú khăn trong việc chẩn đoỏn do gặp nhiều khú khăn về

kỹ thuật và tài chớnh Mặt khỏc do phong tục tập quỏn, do cú sự phõn biệt đối

xử nờn PNBD tương đối khú khăn trong việc tiếp cận đến cơ sở y tế Cỏc bệnh NTĐSDD hiện nay vẫn là vấn đề y tế cụng cộng ở cỏc nước đang phỏt triển, đặc biệt là trờn cỏc nhúm đối tượng cú nguy cơ cao như PNBD [2], [48]

có nhiễm khuẩn huyết do lậu cầu Khám lâm sàng thấy nhiều khí hư

đặc như mủ và màu xanh Cổ tử cung đỏ, đi động đau, niêm mạc ống cổ

tử cung viêm đỏ, có khí hư như mủ chảy ra Bệnh phẩm là dịch tiết được lấy từ lỗ niệu đạo, tuyến Skène và tuyến Bartholin, từ ống cổ tử cung và hậu môn Chẩn đoán xác định dựa vào soi tươi, nhuộm Gram hoặc nuôi cấy trên môi trường chọn lọc Thayer Martin thấy có song cầu cà phê Gram

âm ở trong và ngoài tế bào [11]

Kết quả nghiờn cứu tại 5 tỉnh cho thấy PNBD có tỷ lệ bệnh lậu là 3,2% [36] Số liệu nghiên cứu của Nguyễn Văn Thục giám sát trọng điểm

Trang 18

(GSTĐ) 4 tỉnh phía Nam (2006), tỷ lệ PNBD mắc bệnh lậu là 4,64% [40] Theo nhận xét của một số chuyên gia, trong những năm qua các tỉnh phía Nam tuy tỷ lệ mắc lậu cầu đã giảm nhiều nhưng vẫn còn cao hơn các tỉnh phía Bắc, dao động từ 5% - 10% [43], [44] Ngược lại, nghiên cứu tại 5 tỉnh biên giới Việt Nam trên đối tượng PNBD cho kết quả mắc lậu là 11,9%, miền Bắc và miền Trung cao hơn so với miền Nam [42] Nghiên cứu tỷ lệ mắc lậu ở một số nước lân cận như Campuchia là 5,7% [68] và Trung Quốc

là 9,5% [77]

Giang mai:

Tác nhân gây bệnh giang mai là xoắn khuẩn Treponema pallidum

Bệnh giang mai được phân chia thành 3 giai đoạn Giai đoạn 1 gây tổn thương ở âm hộ là các săng giang mai, xuất hiện khoảng 3 tuần sau khi có quan hệ tình dục với người mắc bệnh giang mai Đặc điểm lâm sàng của săng giang mai là vết loét tròn, bờ cứng, hơi gờ cao trên nền đỏ, không đau, kèm theo có hạch bẹn Tổn thương săng giang mai có thể lành trong khoảng

từ 2 đến 6 tuần kể từ khi mắc bệnh Giai đoạn 2 là các tổn thương chồi sùi, tròn, dính lại từng đám, bờ cứng, bề mặt ẩm, tiết dịch màu xám hoại tử, kèm hạch viêm và rất dễ lây truyền Giai đoạn 3 là tổn thương gôm giang mai, đó là vết chồi loét, có thể có đau và phù nề do bội nhiễm, có hạch viêm kèm theo Chẩn đoán bệnh dựa vào đặc điểm lâm sàng của tổn thương và kết quả dương tính của các phản ứng huyết thanh như VDRL hay TPHA từ 5 - 15 ngày sau khi săng giang mai xuất hiện Có thể tìm xoắn khuẩn giang mai trong bệnh phẩm lấy từ săng giang mai hoặc từ hạch bẹn, soi dưới kính hiển vi nền đen [11]

Nghiên cứu tại 5 tỉnh biên giới Việt Nam trên đối tượng PNBD đã cho thấy tỷ lệ nhiễm giang mai chung là 10,7%, trong đó cao nhất là Quảng

Trang 19

Trị (24,8%) và Lai Châu (20,2%) Ba tỉnh còn lại là Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang có tỷ lệ dao động từ 5,7 - 9,4% [42] Như vậy, một số tỉnh biên giới khu vực phía Bắc và miền Trung có tỷ lệ nhiễm giang mai rất cao Một nghiên cứu tại Hải Phòng có tỷ lệ nhiễm giang mai trờn PNBD thấp hơn (0,99%) [31]

Theo báo cáo của Bệnh viện Da liễu thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ mắc giang ở PNBD ở các tỉnh phía Nam (An Giang, Cần Thơ, thành phố

Hồ Chí Minh) trong những năm 1990 - 2000 là rất cao (20% - 35%) [34] Tỷ

lệ này đã giảm dần qua các năm, hiện nay tỷ lệ từ 0,3% - 5,8% [27], vẫn còn cao hơn nhiều so với các tỉnh phía Bắc (0,1% - 2,2%) (Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội) trong năm 2005- 2006 [27]

Nguyễn Đình Thắng, Vũ Văn Tâm và CS đã thụng bỏo tỷ lệ phản ứng huyết thanh giang mai ở nhóm nghiện chớch ma tỳy (NCMT) là 2,6% [33], [38]

Tỷ lệ mắc giang mai ở PNBD trong nghiên cứu của một số nước là 0,97% - 10% [62], [65], [66]

Chlamydia:

Chlamydia là bệnh lây truyền qua đường tình dục do một loại vi

khuẩn bắt màu Gram âm Các chủng gây bệnh bao gồm C psittasi, C trachomatis và C pneumoniae Chlamydia gây viêm cổ tử cung, viêm phần

phụ và viêm niệu đạo ở phụ nữ, viêm mào tinh hoàn, viêm khớp ở nam giới và gây viêm phổi, viêm kết mạc ở trẻ sơ sinh Triệu chứng lâm sàng thường gặp như ra khí hư như mủ, đái khó và ra máu Khám lâm sàng cho thấy khoảng 20% có lộ tuyến cổ tử cung, cổ tử cung phì đại, chảy máu khi chạm vào hoặc có dịch tiết như mủ nhầy ở cổ tử cung và 25% phụ nữ bị nhiễm Chlamydia có biểu hiện viêm cổ tử cung Chẩn đoán xác định dựa vào nuôi cấy bệnh phẩm vào tế bào Mc Coy hoặc Hela 229, tế bào sau khi

Trang 20

cấy được ủ và nhuộm để tìm thể vùi Nuôi cấy tế bào vẫn là tiêu chuẩn vàng để phát hiện Chlamydia Phản ứng miễn dịch huỳnh quang phát hiện Chlamydia có độ đặc hiệu và độ nhạy cao, có giá trị chẩn đoán [11]

Một nghiờn cứu tại cỏc tỉnh Đồng bằng sụng Cửu Long cho thấy trờn PNBD cho kết quả dương tính là 3,5%, thấp hơn của Nguyễn Duy Hưng trong GSTĐ trên PNBD Hà Nội (5%) [13], [27], tương đương với Quảng Ninh (3,0%) và Đà Nẵng (3,5%) [31], [51]

Nguyễn Vũ Thượng và CS nghiên cứu trên PNBD 5 tỉnh biên giới

(2004) cho tỷ lệ mắc Chlamydia là 11,9% [42] Tại khu vực phía Nam đã nghiên cứu trên PNBD phát hiện Chlamydia trachomatis bằng kỹ thuật miễn

dịch huỳnh quang trực tiếp IFD (Immuno Fluorescent Direct) cho tỷ lệ mắc

là 5,8% [43]

Các nghiên cứu nước ngoài cho thấy tỷ lệ nhiễm Chlamydia trên PNBD

ở một số nước châu Âu và chõu á dao động trong khoảng từ 12% - 27,0% [65],

[68], [77], [81] Nghiên cứu tại Bangkok cho thấy tỷ lệ mắc Chlamydia trachomatis ở nữ nhân viên mát xa là 43%, ở Indonesia 26,5% [88], [89],

[91]

Trùng roi:

Trùng roi (Trichomonas vaginalis) là một loại trùng roi chuyển động, hình tròn, kích thước 10 - 20 m thuộc loại đơn bào kỵ khí Trichomonas vaginalis ký sinh chủ yếu trong âm đạo và trong niệu đạo phụ nữ Triệu

chứng lâm sàng khụng điển hỡnh và nhiều khi khụng cú triệu chứng (20% - 50% các trường hợp đến khám) [109] Một số triệu chứng có thể gặp bao gồm các triệu chứng ra khí hư nhiều, mùi hôi, màu vàng hay hơi xanh, loãng,

có bọt nhỏ, ngứa rát ở âm hộ, giao hợp đau Niêm mạc âm đạo và cổ tử cung

có thể viêm đỏ Chẩn đoán dựa vào soi tươi với độ nhạy và độ đặc hiệu

Trang 21

khá cao (tương ứng là 60 - 70% và 95 - 99%) Trùng roi là một tác nhân gây

bệnh NTĐSDD, có thể gây viêm âm đạo và cổ tử cung, ngoài ra còn viêm nội mạc tử cung sau mổ lấy thai, đẻ non, vỡ ối sớm ở phụ nữ có thai [11]

Tỷ lệ nhiễm trùng roi tại một số quốc gia trên thế giới dao động từ 2% - 25% [110], [111], [117], [118] và 50% - 70% ở PNBD [120]

Một nghiờn cứu tại 5 tỉnh của Việt Nam cho thấy có 19 trường hợp nhiễm trùng roi, chiếm tỷ lệ 1,18%, trong đó nhóm PNBD 14 trường hợp (1,8%) và có 5 trường hợp ở nhóm PNBD (1,2%) [42] Tại Hải Phòng (2004),

Đào Thị Liên nghiên cứu trên thai phụ mắc bệnh viêm đường sinh dục dưới có

tỷ lệ mắc trùng roi là 1,0% [29] Nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ mắc trùng roi ở phụ nữ đến khám phụ khoa tại các Bệnh viện là 0,94% [30], [34], [35]

Theo Phạm Văn Hiển nghiên cứu trên đối tượng GSTĐ (2005) tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng roi ở PNBD là 2,0% [21] Nghiên cứu tại một số tỉnh khỏc cho thấy, tỷ lệ nhiễm trùng roi ở nhóm PNBD là 8,13% còn ở thai phụ là 0,84% [19], [28], [37], [39], [41]

do lượng glycogen cao Khám lâm sàng thấy các triệu chứng âm hộ đỏ, phù

nề, môi lớn có khí hư trắng, tổn thương có xu hướng lan rộng ra xung quanh,

đau khi sinh hoạt tình dục, tiểu tiện khó và cảm giác đau rát khi tiểu tiện Niêm mạc âm đạo viêm đỏ, dễ cháy máu, có lớp khi hư trắng, đặc như váng

Trang 22

sữa bám vào thành âm đạo Cổ tử cung có thể bình thường hoặc viêm đỏ, phù nề, đôi khi có vết loét Khi bôi dung dịch Lugol, âm đạo bắt mầu nâu sẫm, có những mảng nhỏ ít bắt mầu Lugol Soi tươi khí hư sau khi nhỏ nước muối sinh lý vào bệnh phẩm, thấy bào tử Candida hình bầu dục,

có chồi hoặc không Cách tốt nhất là nuôi cấy trên môi trường Sabouraud hoặc môi trường Nickerson [11]

Phạm Văn Hiển (2005), nghiên cứu trên 5 tỉnh thành phố lớn cho thấy

tỷ lệ nhiễm nấm men âm đạo ở PNBD ở Hải Phòng là 10,7%, có tỷ lệ mắc cao nhất trong 5 tỉnh giám sát trọng điểm Kết quả tại 4 tỉnh phía

Nam (2005) cho thấy tỷ lệ nhiễm nấm Candida ở PNBD là 11,9% [21]

Sùi mào gà:

Tác nhân gây bệnh sùi mào gà là Human Papiloma Virus (HPV) Có khoảng trên 100 type HPV khác nhau nhưng chỉ có một số ít type gây bệnh NTĐSDD và ung thư cổ tử cung Đây là một bệnh lây truyền qua đường tình dục do có quan hệ tình dục với người bị nhiễm HPV Triệu chứng lâm sàng khá điển hình với những chồi sùi mềm như mụn cóc mầu nâu đỏ, dính thành từng chùm ở âm hộ, âm đạo, cổ tử cung Tổn thương gây ngứa ngáy khó chịu do tăng tiết dịch, khi đụng chạm phải chồi sùi dễ gây chảy máu Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, soi cổ tử cung và định type HPV bằng

kỹ thuật PCR [11]

Tỷ lệ sùi mào gà cao ở nhóm PNBD là 9,2% Trên 1.513 bệnh nhân

đến khám về bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD)

có 342 trường hợp sùi mào gà chiếm tỷ lệ 44,5% [29] Một nghiên cứu gần

đây (năm 2005) trên 141 bệnh nhân đến khám tại Viện Da liễu Quốc gia thấy

tỷ lệ sùi mào gà (25,7%), cao thứ hai sau bệnh lậu [35] Tỷ lệ bệnh sùi mào

gà ngày một gia tăng trong bệnh NTĐSDD nói chung Tỷ lệ bệnh sùi mào

Trang 23

gà ở bệnh nhân đến Bệnh viện Da liễu Trung ương khám gần đây cao một cách có ý nghĩa và chiếm hàng đầu trong các bệnh NTĐSDD Điều này có thể lý giải đây là tuyến cuối cùng nên các bệnh nhân từ tuyến dưới chuyển lên để điều trị bằng các phương pháp hiện đại như đốt điện, áp tuyết Carbon, Laser CO2 Tuy nhiên số liệu cũng cho thấy tỷ lệ bệnh gặp rất thường xuyên Trong khi hầu hết các bệnh NTĐSDD đều có kết quả

điều trị khả quan thì sùi mào gà đến nay vẫn còn là vấn đề nan giải với

tỷ lệ tái phát cao [16], [20], [25]

Herpes sinh dục:

Tác nhân gây bệnh Herpes sinh dục là Virus Herpes Simplex các nhóm I, II (HSV) Bệnh có thể gây sảy thai, đẻ non, thai chết lưu, rau bong non Triệu chứng lâm sàng bao gồm đau và ngứa nhiều ở âm hộ và tầng sinh môn, có những mụn nước nhỏ và những ổ loét ở niêm mạc và da Trong các mụn nước này chứa nhiều virus, có phù nề xung quanh, đái khó, có thể viêm trực tràng, viêm hầu họng, sốt, đau cơ Bệnh khỏi tự nhiên trong thời gian 16 - 21 ngày Chẩn đoán bằng phân lập virus và miễn dịch huỳnh quang [11]

Cũng giống như sùi mào gà, Herpes sinh dục là bệnh tái phát, nhiễm virus suốt đời Phần lớn các trường hợp nhiễm Herpes không được chẩn đoán,

thường không có biểu hiện lâm sàng nhưng họ chính là nguồn lây nhiễm chủ yếu do virus vẫn tồn tại ở đường sinh dục [43] Trong điều kiện nguồn

lực có hạn tại cỏc nước đang phỏt triển, chẩn đoán Herpes sinh dục chủ yếu

dựa vào lâm sàng với biểu hiện những chùm mụn nước trên nền da hoặc vết chợt loét, nhiều vòng cung ở vùng sinh dục kèm theo ngứa, rát, đau hay tái

phát [142] Kết quả nghiên cứu ở Hải Phũng cho thấy tỷ lệ nhiễm Herpes sinh dục ở đối tượng PNBD là 3,9% [28] Tỷ lệ mắc Herpes sinh dục ở

PNBD cao gấp 32,8 lần so với nhóm có hành vi nguy cơ thấp Riêng ở nhóm

Trang 24

có hành vi nguy cơ cao, tỷ lệ nhiễm Herpes sinh dục ở đối tượng nam khám

STIs (7,3%) cao gấp hơn 2 lần so với đối tượng PNBD (3,4%), ở nhóm NCMT chiếm tỷ lệ thấp hơn 1,2% [25], [26]

Nhìn chung, sùi mào gà và Herpes là bệnh do virus gây nên, có tỷ lệ

tái phát cao và khó điều trị Tuy hai bệnh này là bệnh NTĐSDD không nằm trong GSTĐ nhưng có tỷ lệ rất cao ở nhóm có hành vi nguy cơ cao Bệnh dễ phát hiện qua thăm khám lâm sàng, vì vậy chúng ta có nên đưa bệnh này vào chương trình GSTĐ hay không bởi vì nó có liên quan chặt chẽ

đến nhóm có hành vi tình dục không an toàn như ở nhóm PNBD và nam khám STIs và có liên quan với tình trạng nhiễm HIV/AIDS [26]

Viêm âm hộ - âm đạo do tạp khuẩn (Bacterial vaginosis):

Các tác nhân gây bệnh viêm âm hộ - âm đạo do tạp khuẩn không

đặc hiệu rất đa dạng như Staphylococci, Escherichia coli, Mobiluncus, Mycoplasma hominis, Bacteroides species, Gardnerella vagivalis trong môi trường âm đạo, trong đó trên 80% là G.vagivalis Triệu chứng lâm sàng

thường gặp bao gồm ra khí hư nhiều hôi rất khó chịu, đặc biệt sau khi giao hợp hoặc dùng xà phòng kiềm tính, ngứa và khó chịu ở âm hộ, âm

đạo Khám thấy âm đạo có nhiều khí hư lỏng thuần nhất, màu trắng hoặc xám, mùi hôi tanh Niêm mạc âm đạo thường không viêm đỏ Chẩn

đoán viêm âm đạo do Bacterial vaginosis cần có ít nhất 3 trong 4 tiêu chuẩn sau: (i) khí hư loãng, trắng, đồng nhất dính vào thành âm đạo, (ii)

pH dịch âm đạo > 4,5, (iii) test sniff (test amin) dương tính và tế bào Clue chiếm  20% tế bào biểu mô âm đạo Nhuộm Gram khí hư tìm Clue cells

có độ nhạy và độ đặc hiệu cao [11]

Một số nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy tỷ lệ mắc bệnh viêm

âm - hộ âm đạo không có triệu chứng do tạp khuẩn là khá cao (50%) [109]

Trang 25

1.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng và hành vi nguy cơ đến bệnh NTĐSDD ở

phụ nữ bán dâm

Việc phõn tớch các yếu tố liên quan có ý nghĩa quan trọng trong thiết kế các chương trình can thiệp phòng chống bệnh tật nói chung cũng như phũng chống cỏc bệnh NTĐSDD Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cỏc bệnh NTĐSDD như cỏc đặc trưng cỏ nhõn, đặc biệt là các yếu tố

về kiến thức, thỏi độ và hành vi vệ sinh, quan hệ tình dục, kinh tế xó hội, tập quỏn Đối với PNBD thỡ kỹ năng thương thuyết sử dụng bao cao

su với khỏch hàng là rất quan trọng

Tuổi:

Tại Tõy Ban Nha, trong vòng 9 năm (1993-2002) tỷ lệ mắc bệnh NTĐSDD ở vị PNBD từ 3,6% - 13,3% và ở PNBD cũng gia tăng nhanh chóng, từ 25% - 50% [101]

Một nghiên cứu tại California (Mỹ) cho thấy tuổi là một yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh NTĐSDD vị thành niên Trong số 3.579 vị thành niên đã có hoạt động tình dục và có sử dụng rượu hoặc ma tuý thì vị thành niên càng trẻ tuổi càng có nguy cơ mắc bệnh NTĐSDD hơn các vị thành niên lớn tuổi [107] Nguy cơ nhiễm NTĐSDD cũng tương tự cho PNBD cú lứa tuổi trẻ hơn [106] Những nghiên cứu này đưa ra khuyến cáo nên giám sát thường xuyên các bệnh NTĐSDD ở vị thành niên và PNBD nhằm chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời và có các biện pháp dự phòng hữu hiệu các bệnh nhiễm trùng NTĐSDD cho vị thành niên và PNBD và từ đó có thể làm giảm tỷ lệ mắc NTĐSDD cho cộng đồng

Nghiên cứu của Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2003-2005 và một

số nghiên cứu khác cho thấy những phụ nữ từ 20 tuổi trở lên có xu hướng mắc bệnh cao hơn những người dưới 19 tuổi Đối với bệnh do Trichomnas vaginalis

Trang 26

gây ra, phụ nữ độ tuổi từ 40 - 49 có tỷ lệ cao gấp 5 - 8 lần những phụ nữ ở

độ tuổi dưới 19 Phụ nữ 20 - 39 tuổi có tỷ lệ nhiễm Candida, viêm âm đạo, viêm CTC cao hơn các nhóm khác [54], [55]

Nhiều nghiên cứu khác trong nước cũng cho thấy các nhóm tuổi khác nhau có tỉ lệ mắc bệnh khác nhau Viêm âm đạo do vi khuẩn, Trichomnas vaginalis tăng lên theo tuổi Viêm cổ tử cung cao nhất trong nhóm tuổi 25 -

34 Viêm nhiễm tiểu khung cao nhất trong nhóm tuổi 35 - 44 tuổi Viêm âm

đạo do vi khuẩn không đặc hiệu cao nhất ở nhóm 45 - 55 tuổi [46], [48]

Một nghiên cứu tại một số tỉnh/thành phớa Bắc cho thấy mối liên quan giữa tuổi giới với NTĐSDD/HIV [22] NTĐSDD/HIV có mối liên quan với độ tuổi và giới của đối tượng PNBD NTĐSDD/HIV gặp nhiều nhất ở nhóm tuổi 30 - 39 (13,9%), sau đến nhóm tuổi 20 - 29 (9,1%) So với nhóm tuổi dưới 20 (nhóm có tỷ lệ NTĐSDD/HIV thấp nhất) Tỷ lệ NTĐSDD/HIV ở nhóm tuổi 30 - 39 là cao nhất gấp 16,2 lần, nhóm 20 - 29 tuổi gấp 10,7 lần, nhóm tuổi trên 40 là 9,1 lần, có ý nghĩa thống kê (p< 0,05)

NTĐSDD/HIV tập trung ở đối tượng lao động rất trẻ, tập trung chủ yếu ở nhóm 20 - 29 tuổi trong đó nhóm 20 - 24 tuổi có tỷ lệ nhiễm NTĐSDD/HIV cao nhất [18], [24] Nhiễm HIV ở dưới 20 tuổi chiếm tỷ lệ 1%

Nghiên cứu trên đối tượng GSTĐ tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HIV/AIDS cao nhất ở độ tuổi 20 - 29, đến độ tuổi 30 - 39, thấp nhất ở độ tuổi trên 40 [7] Như vậy, nhiễm HIV/AIDS tập trung ở nhóm tuổi trẻ, đây

là tuổi đóng góp cho xã hội sức lao động và năng lực cao nhất trong cuộc

đời của mỗi người Hiện nay ở nước ta nhiễm HIV/AIDS vẫn phổ biến ở đối tượng nam NCMT

Trang 27

Nhiều nghiên cứu đều thấy tỷ lệ nhiễm HIV gặp ở nam nhiều hơn

ở nữ một cách có ý nghĩa thống kê [13], [18] Nhiễm HIV/AIDS gặp ở nam giới gấp 6,6 lần, dao động từ 4,3 đến 10 lần so với nữ giới có ý nghĩa thống

kê (p<0,05) [13], [18] Nghiên cứu trên đối tượng tham vấn tự nguyện cho thấy nhiễm HIV ở nam gấp 2,74 lần so với nhiễm HIV ở nữ Nam giới có nhiều yếu tố nguy cơ nhiễm HIV và bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) nhiều hơn so với nữ giới

Nghiên cứu ở Hải Phòng cũng cho thấy những người ở độ tuổi càng cao, càng có nguy cơ mắc giang mai cao, nhóm tuổi 30 - 39 có tỷ lệ mắc giang mai là thấp nhất (0,2%), tỷ lệ mắc cao nhất ở nhóm tuổi trên 40 (5,0%) [12] Tỷ lệ mắc lậu có xu hướng tăng dần theo độ tuổi từ 2% ở nhóm dưới 20 tuổi, lên 3% ở nhóm tuổi 20 - 29, lên 4,1% ở nhóm tuổi trên 40 Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh lậu cao nhất tập trung vào nhóm tuổi 21 - 30 Kết quả này tương tự kết quả nghiên cứu trên

đối tượng GSTĐ tại Hà Nội năm 2003 của Bệnh viện Da liễu Trung ương năm

2005 [54]

Trỡnh độ học vấn:

Trình độ học vấn (TĐHV) có liên quan đến bệnh NTĐSDD/HIV trong

số những PNBD cũng như phụ nữ bình thường khác đã được một số nghiên cứu

đề cập đến [12], [16], [23], [81], [85] Tỷ lệ mắc các bệnh NTĐSDD thường cao ở nhóm có trình độ học vấn thấp và nghề nghiệp không ổn

định Đây là vấn đề khó khăn trong giáo dục thay đổi hành vi Thực tế cho thấy ở nhóm có TĐHV thấp thì hiểu biết về NTĐSDD nghèo nàn và thường có quan hệ tình dục không an toàn hoặc tiêm chích không an toàn nên có nguy cơ nhiễm HIV và bệnh NTĐSDD rất cao

Trang 28

Nghề nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng liên quan đến các bệnh NTĐSDD và HIV, tỷ lệ người mắc bệnh là công nhân, nghề tự

do, buôn bán lần lượt là 14,7%; 13,1% và 13,1%; học sinh sinh viên (HSSV) chiếm 8,4% [13], [18] Trong 1 nghiên cứu tại 3 tỉnh đồng bằng sụng Cửu Long (ĐBSCL) cho thấy đối tượng có học vấn thấp (từ trung học cơ

sở trở xuống có tỷ lệ nhiễm HIV cao gấp 3,9 lần so với đối tượng có học vấn

từ trung học phổ thông trở lên (p<0,05) [13] Một nghiờn cứu khác cho thấy nguy cơ nhiễm HIV ở nhóm có TĐHV thấp gấp 3,06 lần so với nhóm có

TĐHV cao [18] Nhiều nghiên cứu khác cho thấy, trình độ học vấn ở nhóm PNBD rất thấp trong đó tỷ lệ mù chữ rất cao [12], [26], [28] ở những đối tượng, này

các thông tin truyền thông thay đối hành vi rất khó tiếp cận nhất là ở đối tượng mù chữ

Hành vi nguy cơ NTĐSDD ở phụ bán dâm:

Quan hệ tỡnh dục khụng an toàn là nguy cơ lõy nhiễm HIV/NTĐSDD, tại cỏc quốc gia cú tỷ lệ nhiễm HIV và cỏc bệnh NTĐSDD cao, nguyờn nhõn chớnh là do tỷ lệ dựng bao cao su (BCS) trong quan hệ tỡnh dục rất thấp Ở Campuchia, NTĐSDD trong nhúm PNBD ở một số vựng rất cao, trờn 50% [137] Khi tỷ lệ NTĐSDD trong phụ nữ bỏn dõm cao thỡ sự lõy nhiễm sang khỏch mua dõm trở nờn dễ dàng hơn, khỏch hàng thường xuyờn của PNBD này lại lõy nhiễm cho cỏc PNBD khỏc

Trong một nghiờn cứu tại cỏc tỉnh phớa Nam cho thấy cú 65% phụ nữ bỏn dõm khụng sử dụng bao cao su khi quan hệ tỡnh dục, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhúm này là 5,2% và tỷ lệ NTĐSDD chiếm rất cao (trờn 80%) [40] Đặc biệt ở An Giang, một tỉnh biờn giới với Campuchia, tỷ lệ nhiễm HIV lờn tới 9,5% [44] Hiện nay vẫn tồn tại một khoảng cách giữa hiểu biết và thực hành

sử dụng bao cao su Theo kết quả nghiờn cứu chương trỡnh giỏm sỏt hành vi năm 2000 và một số nghiên cứu gần đây đó chỉ ra rằng kiến thức về sử dụng

Trang 29

bao cao su phòng lây NT§SDD khá cao trong nhóm phụ nữ bán dâm: 89% - 100%, nhưng tỷ lệ sử dụng và mức độ thường xuyên sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục thấp hơn nhiều và khác biệt đáng kể theo từng loại bạn tình [13], [18] Tỷ lệ thường xuyên sử dụng bao cao su với khách lạ thấp hơn đáng

kể, dao động từ 32% tại Hà Nội tới 79% tại Hải Phòng [28], [52], [53] Ngoài hành vi không sử dụng bao cao su cho tất cả các lần quan hệ tình dục, nhóm PNBD còn có tỷ lệ khá cao sử dụng và tiêm chích ma túy: 16% - 22% phụ nữ bán dâm đường phố tiêm chích ma túy [13], [18]

Bệnh NT§SDD trong nhóm PNBD là một yếu tố quan trọng trong lây nhiễm HIV Những người PNBD có tiền sử bị giang mai hoặc các bệnh NT§SDD và những phụ nữ tiêm chích ma túy có 3 bạn tình trở lên trong 6 tháng gần đây sẽ có khả năng nhiễm HIV cao Trong nhóm PNBD nghiện chích ma túy thì có nguy cơ nhiễm HIV rất cao vì họ không chỉ nhiễm HIV qua đường tình dục mà còn nhiễm theo đường tiêm chích Nhiễm HIV cần hai yếu tố hành vi nguy cơ là bạn tình hoặc bạn chích bị nhiễm Nguy cơ bị nhiễm HIV phụ thuộc vào xác suất của lần quan hệ tình dục với người nhiễm HIV Không chỉ có hành vi tiêm chích không an toàn và tình dục mới có khả năng

dự báo nguy cơ nhiễm HIV, mà trạng thái nguy cơ của bạn tình hoặc bạn chích cũng có vai trò dự báo nguy cơ này Người ta ước tính rằng một người NCMT có liên hệ với một mạng lưới các cá thể có nguy cơ cao: ví dụ dùng chung ma túy với một người có tần số tiêm chích trên 1 lần một ngày hoặc một người có tuổi đời dài hơn người đó 10 năm (nghĩa là những người có nguy cơ nhiễm trong quá khứ lớn hơn) thì có tỷ lệ nhiễm HIV gấp 2 lần (43%

so với 18%) so với những cá thể có nguy cơ thấp khi đã khống chế một số các yếu tố như dùng chung bơm kim tiêm (BKT), chủng tộc, khu vực sinh sống, tiêm chích tại tụ điểm và hành vi tình dục không an toàn [46], [60]

Trang 30

Nhiễm HIV tập trung trong nhóm nguy cơ gọi là “tái nhiễm trùng” (pockets of infection), đặc biệt đối với những khu vực có tỷ lệ nhiễm HIV tương đối thấp Khả năng nhiễm HIV sẽ được dự báo bằng việc phơi nhiễm với những cá thể trong nhóm có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn chứ không phải dự báo qua các hành vi nguy cơ cụ thể của cá nhân [45] Các mẫu huyết thanh được thu thập liên tục từ 6.882 người nghiện chích ma túy (NCMT) ở khu vực

có tỷ lệ nhiễm HIV cao và thấp được so sánh về tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh dương tính với HIV, ở các thành phố có tỷ lệ nhiễm HIV cao thì xác suất một người NCMT phơi nhiễm với một bạn tình hoặc một bạn chích nhiễm HIV là cao hơn do vậy chỉ cần các biến số về hành vi như tiêm chích dùng bơm kim tiêm bẩn hoặc tình dục không an toàn sẽ dự báo được tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh [45] Kết quả này vẫn đúng cho các yếu tố tiếp xúc mà bản thân nó không phải là yếu tố nguy cơ cao trong lây nhiễm HIV, ví dụ như tiêm chích ngoài các tụ điểm, ở trong các trung tâm cai nghiện và quan hệ đồng tính ở nữ giới [147], [151] Vì vậy các can thiệp dự phòng lan truyền HIV ở các khu vực có tỷ lệ nhiễm không cao cần phải quan tâm tới các nhóm quần thể có tỷ

lệ nhiễm HIV tương đối cao trong khu vực đó, thường là những nhóm có đặc thù riêng trong khu vực Để có thể giám sát được chiều hướng dịch HIV nói chung trên quần thể toàn bộ và trong nhóm nghiện chích ma túy nói riêng, các quốc gia đã thiết lập các hệ thống giám sát HIV/AIDS chặt chẽ [8], [9], [59], [61], [67], [70], [71], [72], [73]

Tuổi quan hệ tình dục lần đầu và thời gian hoạt động mại dâm:

Tuổi quan hệ tình dục cũng là một hành vi nguy cơ của lây nhiễm NT§SDD Một số nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy những PNBD nhỏ tuổi quan hệ tình dục sớm, chưa có khả năng hiểu biết đầy đủ về nguy cơ lây nhiễm NT§SDD thì rất dễ bị nhiễm NT§SDD [13], [18], [74], [75] Điều này

Trang 31

là hợp lý vì những phụ nữ rất trẻ hoàn toàn ít có hiểu biết và kinh nghiệm để

có thể thỏa thuận và thuyết phục khách hàng sử dụng BCS khi quan hệ tình dục Đặc biệt một số trẻ em bị bắt buộc quan hệ tình dục thì không thể có cơ hội để lựa chọn khách hàng có sử dụng hay không sử dụng bao cao su [69], [76]

Quan hệ tình dục quá sớm là một trong những yếu tố rất quan trọng góp phần lây lan NT§SDD không chỉ ở nước ta mà còn ở các nước khác trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển [41], [78], [79]

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Cường năm 2008 trên phụ nữ bán dâm tại 3 tỉnh An Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Tác giả cho biết tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình của phụ nữ bán dâm là 19,2 tuổi và không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa phụ nữ bán dâm đường phố và nhà hàng (19,3 tuổi và 19,2 tuổi) [13]

Thời gian hoạt động mại dâm bán dâm càng dài thì nguy cơ lây nhiễm NT§SDD & HIV càng cao PNBD có thời gian hoạt động mại dâm dài có nghĩa là họ phải tiếp xúc với nhiều loại khách hàng, bao gồm cả những khách hàng đã nhiễm NT§SDD & HIV [13], [18] Một nghiên cứu tại 3 tỉnh ĐBSCL chia thời gian hoạt động mại dâm theo 2 mức: ≤6 tháng và >6 tháng, phần lớn phụ nữ bán dâm đều đã hoạt động mại dâm bán dâm ≤6 tháng (87,2%) và chỉ

có 12,8% PNBD là đã hoạt động mại dâm >6 tháng [13]

Hoạt động mua và bán dâm tại nước ngoài như tại Campuchia và tại những tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV cao trong quần thể có nguy cơ như ở An Giang hoặc thành phố Hồ Chí Minh cũng là một hành vi nguy cơ dễ mắc NT§SDD

& HIV Một nghiên cứu ở Vĩnh Long cho thấy có 1,5% phụ nữ bán dâm đã có thời gian hoạt động mại dâm ở ngoài nước như Campuchia hoặc Malaysia và 31,2% đã có hoạt động mại dâm ngoài tỉnh Vĩnh Long [18] Một trong những

Trang 32

đặc điểm của PNBD là tính chất di biến động của họ, do mặc cảm với nghề nghiệp của mình nên họ không muốn sống ở một nơi cố định trong thời gian dài Mặt khác họ cũng phải di chuyển từ tỉnh này sang tỉnh khác, huyện này sang huyện khác phụ thuộc vào lượng khách hàng và tăng thu nhập cho bản thân [18] Đặc biệt trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, du lịch phát triển, điều kiện đi lại dễ dàng nên việc hoạt động mại dâm ở nước ngoài cũng không phải là chuyện khó khăn đối với phụ nữ bán dâm

Số lượng khách hàng trung bình/tháng:

Số lượng khách hàng trung bình/tháng là một trong những hành vi nguy

cơ cao lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục cho phụ nữ bán dâm và ngược lại Đối với những phụ nữ bán dâm sử dụng bao cao su cho tất cả các lần quan hệ tình dục thì số lượng khách hàng trung bình dù nhiều hay ít không quan trọng lắm, nhưng đối với phụ nữ bán dâm không sử dụng bao cao su cho tất cả các lần quan hệ tình dục với khách hàng thì đây là một hành vi nguy cơ cao lây truyền NT§SDD & HIV [13], [18] Một nghiên cứu tại 3 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy số bạn tình trung bình của PNBD là 18,9 người/tháng Nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt về số bạn tình trung bình giữa phụ nữ bán dâm đường phố và nhà hàng (14,3 người

và 23,1 người), một nửa (50%) phụ nữ bán dâm có trên 11 bạn tình/tháng và 50% phụ nữ bán dâm có dưới 11 bạn tình/tháng [13]

Số lượng khách hàng lạ và quen cũng là một yếu tố nguy cơ lây nhiễm NT§SDD & HIV Một số nghiên cứu đã chứng minh được rằng tiếp nhiều khách hàng lạ cũng là một yếu tố nguy cơ cao lây nhiễm NT§SDD & HIV [13], [18] Một nghiên cứu ở Đồng bằng Sông Cửu Long cho thấy trong vòng

1 tháng qua, tỷ lệ phụ nữ bán dâm tiếp từ 1 - 9 khách hàng lạ chiếm 68%, từ

10 - 19 khách hàng lạ chiếm 21,3% và từ 20 khách hàng lạ trở lên chiếm

Trang 33

10,7% Số khỏch hàng lạ trung bỡnh/thỏng là 8,50 ± 10,27, ớt nhất là 1 và nhiều nhất là 80 Tỷ lệ phụ nữ bỏn dõm tiếp từ 1 - 9 khỏch hàng quen chiếm 62,3%, từ 10 - 19 khỏch hàng quen chiếm 25,5% và từ 20 khỏch hàng quen trở lờn chiếm 12,2% Số khỏch hàng quen trung bỡnh/thỏng là 9,7 ± 7,52, ớt nhất là 1 và nhiều nhất là 59 Đõy chớnh là yếu tố lõy nhiễm NTĐSDD cao [18] Một nghiờn cứu năm 2005 tại nước ngoài ghi nhận cú trường hợp một PNBD đó từng tiếp 32 khỏch làng chơi trong một ngày [149]

Tuy số lượng khỏch hàng trung bỡnh mà phụ nữ bỏn dõm phải tiếp hàng ngày khụng khỏc nhau, nhưng rừ ràng là PNBD cũng đó cú ý thức sử dụng bao cao su đối với những khỏch hàng này khỏc nhau Đối với khỏch hàng lạ, tần suất phụ nữ bỏn dõm đó sử dụng bao cao su nhiều hơn đối với khỏch quen

và họ ớt sử dụng bao cao su đối với chồng/người yờu Tuy nhiờn, đõy cũng là một bất cập lớn vỡ chỉ cần một lần khụng sử dụng bao cao su với khỏch hàng nhiễm NTĐSDD & HIV thỡ họ cú thể nhiễm NTĐSDD và từ đú cú thể lõy truyền cho chồng/người yờu và những khỏch hàng khỏc

Sử dụng bao cao su:

Một trong những biện phỏp dự phũng tốt nhất để trỏnh lõy lan NTĐSDD từ người nhiễm sang người khụng nhiễm là sử dụng bao cao su cho tất cả cỏc lần quan hệ tỡnh dục Đõy là điều quan trọng nhất bởi vỡ gần như 100% phụ nữ bỏn dõm cú sử dụng bao cao su nhưng khụng phải cho tất cả số lần quan hệ tỡnh dục [13], [18], [22], [28], [80], [150] Điều này khụng chỉ phụ thuộc vào phụ nữ bỏn dõm mà cũn phụ thuộc vào khỏch hàng Muốn thuyết phục được những khỏch hàng khụng muốn sử dụng bao cao su khi quan hệ tỡnh dục thỡ đũi hỏi phụ nữ bỏn dõm phải cú kỹ năng giải thớch và thậm chớ phải “núi khụng” với quan hệ tỡnh dục khụng cú bao cao su [134], [135], [136], [148]

Trang 34

Kết quả một nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy tỷ lệ phụ nữ bán dâm không thường xuyên sử dụng bao cao su trong tất cả các lần quan hệ với khách hàng lạ trong vòng 1 tháng qua chiếm 43,2%, với khách hàng quen 47,5%, với chồng và người yêu 82,7% [13] Đây chính là một yếu

tố rất quan trọng làm lây nhiễm NT§SDD và là một thách thức lớn trong việc phòng chống lây nhiễm NT§SDD theo đường quan hệ tình dục

Sử dụng không thường xuyên bao cao su được xác định là yếu tố có nguy

cơ nhất làm lây nhiễm NT§SDD trong nhóm phụ nữ bán dâm kể từ những năm 1980 Trong các nghiên cứu của Trung tâm Phòng chống bệnh tật Hoa

Kỳ cho biết có tới 80% trường hợp nhiễm NT§SDD trong nhóm PNBD không

sử dụng thường xuyên bao cao su so sánh với 2% nhiễm NT§SDD trong nhóm phụ nữ bán dâm thường xuyên sử dụng bao cao su trong các lần quan

hệ tình dục với khách hàng và bạn tình [70], [71], [73] Các nghiên cứu tại Indonesia cũng đã xác định được tỷ lệ nhiễm NT§SDD trong nhóm phụ nữ bán dâm sử dụng không thường xuyên bao cao su (<50% số lần quan hệ tình dục) là 34% (gồm 77 người) và ngược lại không phát hiện thấy trường hợp nhiễm NT§SDD nào trong nhóm 8 phụ nữ bán dâm sử dụng bao cao su thường xuyên hơn (>50% lần quan hệ tình dục) [90], [91]

Một nghiên cứu ở 3 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long năm 2006 cho thấy người quyết định sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục chủ yếu là phụ nữ bán dâm, có đến trên 70% phụ nữ bán dâm quyết định sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục và trên 50% phụ nữ bán dâm quyết định sử dụng bao cao su đối với chồng/bạn tình [13] Như vậy có thể nói rằng nếu chỉ tập trung vào phụ nữ bán dâm để có thể nâng cao tỷ lệ sử dụng bao cao su khi hoạt động tình dục là chưa đủ mà còn cần phải tập trung vào các loại khách hàng

Hành vi tự nguyện đi khám và xét nghiệm NT§SDD:

Trang 35

Thông thường phụ nữ bán dâm rất ít tự nguyện đi khám và làm xét nghiệm để chẩn đoán NT§SDD cho bản thân do mặc cảm nghề nghiệp và một phần do không biết được lợi ích cũng như không biết chỗ khám và xét nghiệm [13], [18] Việc tự nguyện xét nghiệm NT§SDD rất có ý nghĩa trong việc phòng lây nhiễm NT§SDD cho khách hàng, cho chồng/bạn tình và cũng giúp cho phụ nữ bán dâm có thể tiếp cận được với các liệu pháp điều trị trong trường hợp nhiễm NT§SDD [18]

Một nghiên cứu ở Vĩnh Long cho thấy chỉ có 20% phụ nữ bán dâm tại tỉnh Vĩnh Long trả lời là đã được khám và xét nghiệm để chẩn đoán NT§SDD trong khi còn có đến 80% phụ nữ bán dâm chưa được khám và xét nghiệm NT§SDD [18] Trong số người được khám và xét nghiệm NT§SDD thì tỷ lệ phụ nữ bán dâm tự nguyện đi khám và xét nghiệm NT§SDD chiếm 77,5% và chỉ có 22,5% phụ nữ bán dâm là bị bắt buộc khám và xét nghiệm NT§SDD [18]

Hiểu biết của phụ nữ bán dâm về hành vi nguy cơ của NT§SDD:

Hiểu biết về các biện pháp dự phòng lây truyền NT§SDD có thể giúp cho bản thân người phụ nữ bán dâm tránh bị nhiễm NT§SDD và hạn chế lây truyền cho khách hàng trong trường hợp họ đã nhiễm NT§SDD Một nghiên cứu tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy tỷ lệ phụ nữ bán dâm hiểu biết được rằng sử dụng bao cao su có thể phòng lây nhiễm NT§SDD là rất cao, chiếm 99,5% [13] Tuy nhiên, từ việc hiểu biết phải được gắn thực hành một cách nghiêm túc, nghĩa là phải sử dụng bao cao su cho tất cả các lần quan hệ tình dục mới là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho phụ nữ bán dâm không bị nhiễm NT§SDD từ khách hàng và ngược lại Trên thực tế từ hiểu biết về sử dụng bao cao su đến thực hành thường có một khoảng cách rất lớn, mặc dù 99,5% phụ nữ bán dâm hiểu, nhưng chỉ có 56,8% phụ nữ bán dâm sử dụng bao cao su cho tất cả các lần quan hệ tình dục với khách hàng lạ; và chỉ

Trang 36

có 52,5% phụ nữ bán dâm sử dụng bao cao su cho tất cả các lần quan hệ tình dục với khách hàng quen [13]

Một số nghiên cứu gần đây trên thế giới và Việt Nam cũng chứng minh được rằng có một khoảng cách lớn giữa hiểu biết và thực hành sử dụng bao cao su để phòng tránh thai, phòng tránh lây truyền HIV và bệnh lây truyền qua đường tình dục [18], [86], [87], [92], [94], [100]

Tại Việt Nam, nghiên cứu tại Vĩnh Long cho thấy tỷ lệ phụ nữ bán dâm hiểu biết được rằng có ít bạn tình có thể hạn chế lây nhiễm NT§SDD là rất thấp, chiếm 14% và có đến 86% phụ nữ bán dâm không cho rằng có ít bạn tình là có thể hạn chế được lây nhiễm NT§SDD [18] Tỷ lệ phụ nữ bán dâm hiểu biết được rằng chung thuỷ 1 bạn tình có thể hạn chế lây nhiễm NT§SDD

là rất thấp, chiếm 22,5% và có đến 77,5% phụ nữ bán dâm không cho rằng chung thuỷ 1 bạn tình là có thể hạn chế được lây nhiễm NT§SDD [18] Tỷ lệ phụ nữ bán dâm hiểu biết được rằng hạn chế sinh hoạt tình dục bừa bãi có thể hạn chế lây nhiễm NT§SDD chiếm 38,5% và có đến 61,5% phụ nữ bán dâm không cho rằng hạn chế sinh hoạt tình dục bừa bãi là có thể hạn chế được lây nhiễm NT§SDD [18] Điều này là hoàn toàn phù hợp với thực tế vì đã là phụ

nữ bán dâm thì số lượng khách hàng chính là nguồn thu nhập của họ Do vậy, mặc dù hiểu biết nhưng họ vẫn thực hành kém hơn với mục đích là thu được nhiều tiền

Do vậy, dù có hiểu hay không hiểu về việc hạn chế quan hệ tình dục hoặc chung thuỷ với một bạn tình để đề phòng nhiễm NT§SDD, thì họ vẫn phải quan hệ tình dục để kiếm tiền Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh được rằng sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục là biện pháp quan trọng hơn nhiều để đề phòng lây truyền NT§SDD so với việc hạn chế sinh hoạt tình dục [103], [105], [112], [113] Tuy vậy, đối với các đối tượng

Trang 37

khác không phải là PNBD thì chung thuỷ với bạn tình và hạn chế quan hệ tình dục bừa bãi chính là những biện pháp có hiệu quả nhằm hạn chế lây truyền NT§SDD [93], [104]

Một nghiên cứu gần đây đã chứng minh được rằng những phụ nữ bán dâm không có đủ kiến thức phòng chống NT§SDD có nguy cơ nhiễm NT§SDD cao gấp 2,2 lần những phụ nữ bán dâm có đủ kiến thức phòng chống NT§SDD (8,9 % so với 4,2%) [18]

1.4 Các mô hình can thiệp dự phòng lây nhiễm bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới cho phụ nữ bán dâm

1.4.1 Chương trình truyền thông thay đổi hành vi

Mục đích chủ yếu của chương trình truyền thông thay đổi hành vi nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức, hiểu biết về lây truyền NTĐSDD và các biện pháp phòng chống cho mọi người dân, và những nhóm người có hành vi nguy

cơ cao, đặc biệt là PNBD Truyền thông thay đổi hành vi tiếp cận chủ yếu tới đối tượng có hành vi nguy cơ cao, khác với truyền thông đại chúng là cho mọi người dân trong cộng đồng [82], [84], [98], [99] Truyền thông thay đổi hành

vi còn cung cấp thông tin về các dịch vụ liên quan đến dự phòng lây truyền NTĐSDD cũng như cách tiếp cận các dịch vụ cung cấp phương tiện hỗ trợ thay đổi và duy trì các hành vi an toàn: quan hệ tình dục sử dụng bao cao su,

phòng chống sử dụng ma túy và vệ sinh cá nhân [100], [102]

1.4.2 Chương trình khuyến khích sử dụng 100% bao cao su

Chương trình khuyến khích sử dụng 100% bao cao su trong quan hệ tình dục (gọi tắt là chương trình 100% bao cao su) không chỉ đơn thuần là việc cung cấp sử dụng bao cao su mà nó bao gồm nhiều thành tố từ việc nâng cao nhận thức của người dân về chương trình này, phân phối bao cao su, giáo dục đồng đẳng và khám chữa bệnh lây truyền qua đường tình dục và nhiễm

Trang 38

trùng đường sinh sản [80], [94], [97], [131] Mục tiêu của chương trình là nhằm phòng và giảm lây nhiễm HIV và các bệnh NTĐSDD là có hiệu quả với chi phí thấp Do có lịch sử dài lâu hơn của bao cao su với chương trình kế hoạch hóa gia đình nên hoạt động phổ biến, cung ứng bao cao su nói chung và chương trình tiếp thị xã hội bao cao su nói riêng có một môi trường pháp lý khá thuận lợi Chương trình 100% bao cao su được nhiều nước áp dụng và người ta đã chứng minh là có kết quả tốt Thái Lan đã xây dựng và đẩy mạnh chương trình sử dụng 100% bao cao su trong các cơ sở có hoạt động mại dâm Năm 1989, chương trình được thử nghiệm lần đầu tiên và triển khai trên toàn quốc vào năm 1991 Kết quả tỷ lệ sử dụng bao cao su tăng lên một cách nhanh chóng: từ 14% năm 1989 lên đến hơn 90% năm 1994, số ca mắc các bệnh NTĐSDD trên phạm vi toàn quốc giảm mạnh từ 410.406 ca năm 1987 xuống còn 27.362 ca năm 1994 Tỷ lệ nhiễm HIV giảm trong hầu hết các nhóm như phụ nữ mang thai (từ 2,35% xuống còn 1,18% trong vßng 5 năm) [131]

Trang 39

trong khi điều kiện xét nghiệm HIV cũng như việc theo dõi, điều trị bệnh triệt

để là rất khó khăn [3] Việc giới thiệu bệnh nhân đến các cơ sở có điều kiện xét nghiệm không phải lúc nào cũng thực hiện được do rất nhiều lý do Sự phối hợp hoạt động giữa các cơ sở y tế công và y tế tư nhân còn rất yếu Tại phần lớn các cơ sở y tế tư nhân, kết quả điều trị không thể kiểm soát được, tài liệu truyền thông không có, hoạt động tư vấn rất hạn chế [32]

Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới ở Việt Nam khoảng có 1 triệu người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục [142] Năm 2000 tổng số xét nghiệm chỉ thực hiện được trên 81.000 trường hợp, dưới 10% tổng số có thể mắc bệnh [144], [145], [146] Khi mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục sẽ làm tăng nguy cơ lây truyền HIV từ 2 - 9 lần [97], [147], [149] Hơn nữa, một người nhiễm HIV dễ bị nhiễm STI hơn do sức đề kháng giảm làm cho việc điều trị STI cũng phức tạp hơn rất nhiều Nghiên cứu trên thực địa cho thấy rằng kiểm soát tốt STI sẽ làm giảm số người mới mắc HIV [113], [114], [115]

1.4.4 Chương trình giáo dục đồng đẳng

Chương trình giáo dục đồng đẳng được hiểu là “sự chia sẻ kiến thức,

kỹ năng và kinh nghiệm sống giữa những người đồng đẳng, những người cùng chung một vài đặc điểm kinh tế xã hội nào đó như lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo, sở thích nhằm thay đổi hành vi của người đồng đẳng” chương trình giáo dục đồng đẳng hiện còn được gọi là chương trình tiếp cận cộng đồng Tại nhiều quốc gia, khi nguồn lực có hạn và hành lang pháp l ý không ủng hộ cho chương trình trao đổi bơm kim tiêm hay chương trình 100% bao cao su, người ta đã triển khai các chương trình giảm thiểu tác hại như giáo dục đồng đẳng Giáo dục đồng đẳng là việc tổ chức một nhóm người

có thể là phụ nữ bán dâm, nghiện chích ma tu ý, những người có cùng cảnh

Trang 40

ngộ thành một nhóm để giáo dục cho các đối tượng cùng cảnh ngộ về các biện pháp dự phòng NTĐSDD Nhóm này chịu trách nhiệm tổ chức các buổi nói chuyện, tuyên truyền về phòng chống NTĐSDD, phân phát tài liệu truyền thông, bao cao su hay bơm kim tiêm [13], [18], [60], [63], [64]

1.4.5 Các chương trình phòng và chống các nhiễm trùng đường sinh sản

t¹i ViÖt Nam

Mục tiêu

Trong từng giai đoạn xây dựng và phát triển của ngành y tế Việt Nam,

Bộ Y tế đều đề xuất những mục tiêu nhằm phòng và chống các nhiễm trùng qua đường tình dục Rõ rệt nhất là từ năm 2001 đến nay, các mục tiêu phòng chống bệnh nhiễm trùng đường sinh dục được đề ra thông qua các chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản và phòng chống HIV/AIDS [5]

Có khá nhiều các chính sách khác nhau về kiểm soát và dự phòng RTIs/STIs được soạn thảo Các chính sách này đề cập trong 2 lĩnh vực chính

là SKSS và dự phòng HIV/AIDS

Trong chiến lược quốc gia về Dân số và Sức khỏe sinh sản (DS/SKSS) giai đoạn 2011 - 2020, mục tiêu phòng và kiểm soát STIs/RTIs đã được đề cập trong mục tiêu số 4: Dự phòng hiệu quả nhằm giảm tỷ lệ, và điều trị hiệu quả RTIs/STIs bao gồm cả HIV và các vấn đề liên quan đến vô sinh

Mục tiêu cụ thể của mục tiêu chung số 4 chỉ rõ giảm 50% tỷ lệ mắc RTIs và giảm 30% tỷ lệ mắc STIs Lồng ghép điều trị RTIs/STIs với hệ thống chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em/ kế hoạch hóa gia đình (BMTE /KHHGĐ) được coi là chiến lược quan trọng nhằm đạt mục tiêu, hy vọng rằng với cơ sở y tế đầy đủ và nhân lực thích hợp cho chẩn đoán và điều trị các

Ngày đăng: 14/02/2015, 17:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3. Phân bố theo tình trạng hôn nhân của PNBD - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.3. Phân bố theo tình trạng hôn nhân của PNBD (Trang 69)
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa tuổi và  NTĐSDD (n=407) - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa tuổi và NTĐSDD (n=407) (Trang 76)
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa nghề nghiệp trước bán dâm và bệnh NTĐSDD - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.11. Mối liên quan giữa nghề nghiệp trước bán dâm và bệnh NTĐSDD (Trang 77)
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa số lượng khách hàng trung bình và NTĐSDD - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa số lượng khách hàng trung bình và NTĐSDD (Trang 82)
Bảng 3.19.  Mối liên quan giữa hành vi sử dụng bao cao su và NTĐSDD - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa hành vi sử dụng bao cao su và NTĐSDD (Trang 83)
Bảng 3.20. Hành vi khám chữa bệnh tự nguyện và NTĐSDD - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.20. Hành vi khám chữa bệnh tự nguyện và NTĐSDD (Trang 84)
Bảng 3.21. Hiểu biết QHTD chung thủy, sử dụng BCS và NTĐSDD - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.21. Hiểu biết QHTD chung thủy, sử dụng BCS và NTĐSDD (Trang 85)
Bảng 3.22. Mối liên quan giữa tự đánh giá nguy cơ  và NTĐSDD - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.22. Mối liên quan giữa tự đánh giá nguy cơ và NTĐSDD (Trang 86)
Bảng 3.23. Mối liên quan một số yếu tố đặc trưng cá nhân  và NTĐSDD trên - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.23. Mối liên quan một số yếu tố đặc trưng cá nhân và NTĐSDD trên (Trang 87)
Bảng 3.27. Hiệu quả nâng cao thái độ dự phòng  NTĐSDD - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.27. Hiệu quả nâng cao thái độ dự phòng NTĐSDD (Trang 91)
Bảng 3.28. Hiệu quả nâng cao thái độ tự đánh giá nguy cơ mắc  NTĐSDD - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.28. Hiệu quả nâng cao thái độ tự đánh giá nguy cơ mắc NTĐSDD (Trang 92)
Bảng 3.30. Hiệu quả giảm bệnh NTĐSDD trên lâm sàng - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.30. Hiệu quả giảm bệnh NTĐSDD trên lâm sàng (Trang 94)
Bảng 3.34. Thay đổi kiến thức về hướng xử trí nhiễm trùng đường sinh dục - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.34. Thay đổi kiến thức về hướng xử trí nhiễm trùng đường sinh dục (Trang 98)
Bảng 3.36. Thay đổi kiến thức của cán bộ y tế về bệnh Herpes sinh dục trước - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.36. Thay đổi kiến thức của cán bộ y tế về bệnh Herpes sinh dục trước (Trang 100)
Bảng 3.37. Thay đổi kiến thức của cán bộ y tế về bệnh hạ cam mềm trước và - luận án tiến sĩ y học thực trạng mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ bán dâm
Bảng 3.37. Thay đổi kiến thức của cán bộ y tế về bệnh hạ cam mềm trước và (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w