1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo khoa học cuối khóa lớp quản lý giáo dục

29 1,7K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 277 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

II.- NỘI DUNG BÁO CÁO: Cũng theo nghĩa rộng, trong khi xã hội coi giáo dục là quá trình truyềnthụ kinh nghiệm lịch sử, xã hội cho các thế hệ mới nhằm chuẩn bị cho họ bướcvào cuộc sống xã

Trang 1

0I.- ĐẶT VẤN ĐỀ 1.- Lý do chọn đề tài :

1.1 Lý luận đã khẳng định và thực tế đã chứng minh : Giáo dục – Đào tạo

(GD-ĐT) có vai trò vô cùng to lớn đối với sự phát triển xã hội nói chung, củamột đất nước nói riêng:GD-ĐT là đòn bẩy, là động lực, là mục tiêu của mọi sựphát triển

Đối với một nước đang trên con đường phát triển, đang tiến hành côngcuộc công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) nhằm thực hiện mục tiêudân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh như Việt Namchúng ta thì vai trò của GD-ĐT càng to lớn, nó là “… một trong những độnglực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện phát huy nguônlực con người - Yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh

và bền vững” [TL.11, Tr.108-109]

1.2 Chất lượng và hiệu quả của một nền giáo dục nói chung, của một trường

học nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có ba yếu tố cơ bản:

- Người học (lực lượng học sinh, sinh viên)

- Người dạy (đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục)

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học

Trong ba yếu tố cơ bản trên đây, yếu tố thứ hai (đội ngũ giáo viên và cán

bộ quản lý giáo dục, dưới đây xin gọi chung là đội ngũ giáo viên) là yếu tốquan trọng nhất, có tính quyết định Vì thế ông cha ta từ ngàn xưa đã nêu:

“Không thầy đố mày làm nên” hay :

Muốn sang phải bắc cầu Kiều,Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy

(Ca dao)

1.3 Hơn 50 năm qua ngành GD-ĐT nước ta có những bước phát triển đáng kể,

đạt nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều mặt: mở rộng qui mô, nâng cao chấtlượng, phát huy hiệu quả đào tạo, góp phần đắc lực vào việc nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH)

Tuy nhiên, bên cạnh đó ngành GD-ĐT nói chung, giáo dục cao đẳng(GDCĐ) nói riêng vẫn còn nhiều yếu kém, khiếm khuyết, “Chưa đáp ứng kịp

Trang 2

những đòi hỏi to lớn và ngày càng cao nhân lực của công cuộc đổi mới

KT-XH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện CNH, HĐH theo định hướng xãhội chủ nghĩa” [TL.10, Tr.5]

Có nhiều nguyên nhân đưa đến những yếu kém đó: định hướng pháttriển GD-ĐT chưa phù hợp, mạng lưới các trường cao đẳng (CĐ) và đại học(ĐH) phân bố bất hợp lý, công tác quản lý giáo dục còn nhiều bất cập, cơ chế

và phương thức quản lý không thống nhất, không nhất quán,… Đặc biệt, cómột nguyên nhân quan trọng, cần được chú ý đúng mức, đó là đội ngũ giáoviên vừa thừa, vừa thiếu, vừa yếu

Có thể khẳng định rằng, một trong những vấn đề bức xúc của nền giáodục của nước ta hiện nay là vấn đề đội ngũ giáo viên Tình trạng đội ngũ giáoviên vừa thừa, vừa thiếu, vừa yếu không chỉ ở bậc giáo dục phổ thông, mà còn

ở bậc GDĐH-CĐ

Ở bậc GDĐH, tình trạng đội ngũ giáo viên như vừa nêu thể hiện rõ nhất

ở các trường CĐ, ĐH dân lập, bán công Với một trường cao đẳng đang chuẩn

bị thành lập trường Đại học Bình Dương, vấn đề đội ngũ giáo viên càng trởnên nan giải

Công cuộc CNH, HĐH đất nước đang đòi hỏi nền giáo dục quốc dân(GDQD) nói chung, GDĐH nói riêng phải nhanh chóng khắc phục những mặtcòn yếu kém, khiếm khuyết, phải “thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hoá và xã hộihóa giáo dục” [TL.11, Tr.109], nhanh chóng củng cố, “phát triển đội ngũ giáoviên, coi trọng chất lượng và đạo đức sư phạm” [TL.11, Tr.109]

Trên tinh thần ấy, để góp phần nhỏ bé của mình vào quá trình đưatrường CĐSP Bình Dương thành trường ĐH Tổng hợp Bình Dương trongtương lai, xứng đáng với niềm tin cậy của nhân dân Bình Dương - Ở đề tàinày, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu “Một số giải pháp xây dựng và nâng caochất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng sư phạm Bình Dương”

Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ của một trường CĐ, ĐH luôn

là một vấn đề phức tạp, đặc biệt đối với các trường CĐ địa phương, bởi vấn đềnày liên quan đến một số vấn đề khác:

- Nội dung chương trình, hệ, bậc, cấp đào tạo mà trường đảm nhiệm

2

Trang 3

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn lực tài chính nói chung luôn làtiềm lực vật chấtt của trường.

- “Đầu vào” của đội ngũ giảng viên

Do khuôn khổ của một báo cáo khoa học và với thời gian hạn chế,chúng tôi không có điều kiện và cũng không có tham vọng giải quyết mọi khíacạnh liên quan đến đề tài Chúng tôi chỉ tập trung vào một số vấn đề sau:

- Xây dựng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng sư phạm Bình dươngtheo hướng nào? cơ cấu nhân lực đội ngũ giảng viên theo các loại hình, cácbậc, các khoa như thế nào cho hợp lý? Làm gì để tạo nguồn đội ngũ Giảng viêncho trường Đại học Tổng hợp Bình Dương trong tương lai?

- Để có một đội ngũ giảng viên có chất lượng cao cần tiến hành đào tạo,bồi dưỡng như thế nào? Theo phương thức nào? Cần trang bị những loại kiếnthức gì? Đánh giá chất lượng đội ngũ giảng viên theo hệ tiêu chí gì?

- Quản lý đội ngũ giảng viên theo phương thức nào? cơ chế phối hợpđiều hành hoạt động và quản lý giữa các cấp, giữa các tổ chức đoàn thể xã hội,giữa nhà trường với các tổ chức, đơn vị xã hội ra sao?

2.-Vị trí, tầm quan trọng của đề tài:

2.1.- Vị trí của đề tài :

Bài báo cáo khoa học này chủ yếu nằm ở hướng tiếp cận nội dung do đềtài đặt ra Để giải quyết những nội dung do đề tài đặt ra, chúng tôi tiếp cận theomột số hướng sau đây :

- Bám sát vào chức năng, nhiệm vụ và phương hướng hoạt động củatrường mà phân tích, đánh giá thực trạng một cách chi tiết và đưa ra những giảipháp có tính khả thi, sát với thực tiễn

- Những nội dung do đề tài đặt ra đều được xem xét trong tính hệ thống

và dựa trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nuớc , UBND TỉnhBình Dương về phát triển sự nghiệp giáo dục và chiến lược phát triển củatrường CĐSP Bình Dương

2.2.- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn giáo dục :

Qua báo cáo khoa học này, chúng tôi có hai đóng góp cho nhà trường vềmặt ý nghĩa khoa học và thực tiễn giáo dục như sau:

Trang 4

Một là : Nêu lên một cách khách quan thực trạng đội ngũ giảng viên củatrường CĐSP Bình Dương , qua đó cho chúng ta nhận thức một cách chính xácnhững đóng góp cũng như những tồn tại của đội ngũ giảng viên nói riêng, củatrường CĐSP Bình Dương nói chung, từ đó cung cấp cho nhà trường những cơ

sở khách quan khi xây dựng chiến lược phát triển của nhà trường trong giaiđoạn sắp tới

Hai là : Đưa ra một số biện pháp có tính khả thi góp phần xây dựng vànâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của trường CĐSP Bình Dương trongthời gian sắp tới

II.- NỘI DUNG BÁO CÁO:

Cũng theo nghĩa rộng, trong khi xã hội coi giáo dục là quá trình truyềnthụ kinh nghiệm lịch sử, xã hội cho các thế hệ mới nhằm chuẩn bị cho họ bướcvào cuộc sống xã hội, lao động sản xuất, thì giáo dục học lại coi giáo dục làquá trình hình thành con người dưới ảnh hưởng của những tác động bởi nhàgiáo dục trong hệ thống các cơ quan giáo dục chuyên biệt nhằm hình thành conngười phát triển toàn diện (có mục đích, có kế hoạch, có phương pháp…)

Theo nghĩa hẹp, giáo dục học quan niệm, giáo dục là hoạt động chuyênbiệt của nhà giáo dục nhằm bồi dưỡng cho người được giáo dục (học sinh ,sinh viên, học viên) những quan niệm, phẩm chất, tri thức, hiểu biết về thế giới

tự nhiên và xã hội loài người

4

Trang 5

Dù hiểu theo cách nào đi chăng nữa, thì giáo dục là một quá trình trang

bị và nâng cao hiểu biết, tri thức cho người học về thế giới khách quan, khoahọc kỹ thuật, về xã hội loài người và về kỹ năng trong hoạt động lao động, sảnxuất Giáo dục là một quá trình diễn ra liên tục trong đời sống con người, trongmọi môi trường hoạt động, trong đó môi trường học đường đóng vai trò quyếtđịnh

Trong mối quan hệ với đào tạo, theo nghĩa rộng, giáo dục bao gồm giáodục phổ thông và đào tạo chuyên môn sau phổ thông (tức đào tạo nghề, trunghọc chuyên nghiệp, đào tạo cao đẳng, đại học, trên đại học); theo nghĩa hẹp,giáo dục chỉ bó hẹp ở giáo dục phổ thông

Đào tạo :

Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng kỹ xảo để hình thànhchuyên môn, nghề nghiệp cho người lao động Đào tạo có nhiều mức độ, nhiềucấp khác nhau tuỳ theo trình độ tri thức được trang bị cho ngừơi học: đào tạocông nhân kỹ thuật (CNKT), đào tạo trung học chuyên nghiệp (THCN), đàotạo cao đẳng, đại học (CĐ, ĐH), đào tạo trên đại học

Bồi dưỡng :

Gắn liền với giáo dục, đào tạo là bồi dưỡng Bồi dưỡng là quá trình cungcấp kiến thức bổ sung trên cơ sở của nền tảng kiến thức đã có Khi hoàn tất quátrình đào tạo, người học đưỡc cấp bằng tốt nghiệp, còn hoàn tất quá trình bồidưỡng, người học được cấp giấy chứng nhận (chứng chỉ) về phần kiến thức bổsung

Việc bồi dưỡng không mang tính đồng loạt mà chỉ giới hạn ở một số đốitượng nào đó

Hệ thống giáo dục quốc dân :

Khái niệm :

Hệ thống giáo dục quốc dân (GDQD) là một dạng cấu trúc vĩ mô baogồm một loạt các thành tố của quá trình giáo dục tổng thể, là nền tảng và điềukiện về mặt tổ chức của quá trình giáo dục tổng thể

Trang 6

Hệ thống GDQD của mỗi nước có khác nhau Thông qua hệ thốngGDQD có thể thấy được quan điểm giáo dục của mỗi quốc gia và sự phát triểncủa nền giáo dục quốc gia ấy.

Hệ thống giáo dục quốc dân Viêt Nam :

Theo Luật Giáo dục năm 1998 [TL 18], hệ thống GDQD Việt Namđược tổ chức theo bốn bậc, mỗi bậc bao gồm một số cấp như sau:

1 Bậc giáo dục mầm non: có hai cấp: nhà trẻ và mẫu giáo

2 Bậc giáo dục phổ thộng: có ba cấp và qua 12 năm học: cấp tiểuhọc (5năm) cấp trung học cơ sở (4 năm) và cấp trung học phổthông (3 năm)

3 Bậc giáo dục chuyên nghiệp: có hai cấp: công nhân kỹ thuật vàtrung học chuyên nghiệp

4 Bậc giáo dục đại học và sau đại học với hai trình độ: cao đẳng (3năm), đại học (4 – 6 năm) và bậc sau đại học với hai trình độ: caohọc, cấp bằng thạc sỹ (2 năm) và nghiên cứu sinh, cấp bằng tiến

sỹ ( 4 năm)

Có thể hình dung hệ thống GDQD Việt Nam qua bảng tổng hợp sau (xinxem bảng ở phụ lục ) :

Giáo dục cao đẳng , đại học:

Xét về cấu trúc, giáo dục cao đẳng, đại học là một bậc, một bộ phận của

hệ thống GDQD

Xét về thời gian, giáo dục cao đẳng, đại học (GDCĐ,ĐH) là loại giáodục sau phổ thông, là mức tiếp theo cao hơn của giáo dục phổ thông

Xét về tính chất, GDCĐ,ĐH là loại hình giáo dục chuyên sâu, bậc cao

Do đó, không phải mọi học sinh phổ thông đều vào được cao đẳng, đại học.GDCĐ,ĐH chỉ tuyển chọn với một tỉ lệ nhất định (do Nhà nước quy định)trong số học sinh tốt nghiệp phổ thông và qua một kỳ thi cử Theo đó, đội ngũgiảng viên của hệ thống GDCĐ,ĐH là những người có trình độ và chuyên sâu

GDCĐ,ĐH có vai trò đặc biệt quan trọng: đào tạo nguồn nhân lực cótrình độ chuyên môn cao phục vụ cho nhu cầu của các lĩnh vực KT-XH và bồidưỡng nhân tài Nhìn vào hệ thống GDQD, người ta có thể nhận thấy được

6

Trang 7

một phần chất lượng của nguồn nhân lực và trình độ phát triển KT-XH củamột quốc gia.

Nhiệm vụ của trường Cao đẳng : Đào tạo nhân lực có phẩm chất chínhtrị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứngvới trình độ đào tạo, có sức khoẻ, có năng lực thích ứng với việc làm trong xãhội, tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tácbình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổquốc

Giáo viên, giảng viên:

Giáo viên, giảng viên là những người đã qua một quá trình đào tạo vàbồi dưỡng nhất định, đủ điều kiện (tiêu chuẩn) và được giao nhiệm vụ giảngdạy một lĩnh vực khoa học nào tương ứng với trình độ được đào tạo Nhữngngười giảng dạy ở bậc giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông thường đượcgọi là giáo viên Những người giảng dạy ở các bậc giáo dục còn lại thườngđược gọi là giảng viên

Do chức năng và nhiệm vụ của GDĐH (xem điều 9 - Điều lệ trường caođẳng) tiêu chuẩn của đội ngũ GV của các trường CĐ phải rất cao: phải tốtnghiệp đại học loại khá giỏi trở lên và phải qua quá trình đào tạo ở bậc cao hơn(cao học, nghiên cứu sinh), có năng lực giảng dạy và phải có phẩm chất đạođức tốt

Đội ngũ giảng viên có vai trò cực kỳ to lớn đối với sự sống còn của mộttrường CĐ hay ĐH Một trường CĐ, ĐH chỉ thực hiện được nhiệm vụ chính trịcủa mình là đào tạo một đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao, phục vụ kịpthời cho nhu cầu của các lĩnh vục KT-XH khi nào có một đội ngũ giảng viên

đủ về số lượng, cao về chất lượng Theo đó, GDĐH chỉ làm tròn sứ mệnh củamình khi nào có được một đội ngũ giảng viên đạt được những phẩm chất như

đã nêu trên

2.1.2 CÁC QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO GIÁO DỤC :

2.1.2.1.VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI VÀ ĐẤT NƯỚC :

Trang 8

Nhận thức vai trò quan trọng của giáo dục trong sự nghiệp phát triểnkinh tế – xã hội, Nghị quyết 4, BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam ( khoá VII)

đã chỉ rõ : “ Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục là quốc sách hàng đầu Đó

là một động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản bảo đảm thực hiện những mụctiêu kinh tế – xã hội” Chủ trương của Đảng “Phát triển giáo dục và đào tạo làquốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồnlực con người Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng.”1

2.1.2.2.QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN:

Khi đưa ra những quan điểm chỉ đạo phát triển sự nghiệp GD-ĐT, Đảng

ta đã dành một phần đề cập đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên

và cán bộ quản lý giáo dục Quan điểm của Đảng ta đối với đội ngũ giáo viêngồm:

Một là : Đội ngũ giáo viên có vai trò quyết định đối với việc phát triển

sự nghiệp GD-ĐT:

Đi đôi với sự nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của GD-ĐT đối với côngcuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong thời kỳ CNH, HĐHđất nước, Đảng ta luôn luôn đề cao vai trò của đội ngũ giáo viên, coi giáo viên

là những kỹ sư tâm hồn, là những người trực tiếp góp phần vào sự nghiệp

“trồng người”, vào việc đào tạo một thế hệ người Việt Nam mới tha thiết gắn

bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH Trong bài phát biểu tại Bộ Giáodục và Đào tạo (ngày 26/4/2002) Tổng Bí thư Nông Đức mạnh đã khẳng định:

“Nói đến chất lượng giáo dục trước hết phải nói đến vai trò rất quan trọng, rấtquyết định của các thầy giáo, cô giáo” 2

Hai là : Để đội ngũ giáo viên làm tròn sứ mệnh thiêng liêng và cao cảcủa mình, Đảng và nhà nước phải “xây dựng và triển khai chương trình xâydựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện” [TL.13]

1 Chỉ thị số 40 -CT/TW Ngày 15 tháng 6 năm 2004, Ban Chấp hành Trung ương ban hành về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo – Ngành Giáo dục – Đào tạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr.8.

8

Trang 9

Trước mắt thực hiện chỉ thị số 18/2001/CT-TTg ngày 27/8/2001 củaThủ tướng chính phủ về đảm bảo biên chế đội ngũ cho giáo viên các địaphương Các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương, phải quan tâm chỉđạo thường xuyên công tác đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ QLGD vềmọi mặt, coi đây là một phần của công tác cán bộ, đặc biệt chú trọng nâng caobản lĩnh chính trị, phẩm chất và lối sống của nhà giáo.

Xây dựng kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên

và cán bộ QLGD, đảm bảo đủ số lượng, cơ cấu cân đối, đẩy mạnh công tácchuẩn hóa đội ngũ giáo viên các trường cao đẳng và đại học chủ động xâydựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ GV, sớm giải quyết tình trạng hụt hẫng

GV đầu ngành Trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 đã đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 28/12/2001, có hẵn một phần đề cập đếncác giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ nhà giáo chomỗi bậc đào tạo nói riêng

Ba là : Bổ sung, hoàn thiện các chính sách đối với đội ngũ giáo viên vàcán bộ QLGD Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi đối với đội ngũ này, trongmột bài phát biểu gần đây, Thủ tướng Phan Văn Khải đã chỉ thị: “Có thể nóirằng nhà giáo là ngừơi quyết định sự thành bại của giáo dục, vì vậy chúng taphải chăm lo đào tạo thầy giáo, cô giáo […] Bộ Giáo dục và Đào tạo cùngBan Tổ chức – Cán bộ Chính phủ và chính quyền các địa phương cần triểnkhai thực hiện tốt chỉ thị số 18 ngày 27/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ” 1

Bốn là : Có chính sách thu hút cán bộ khoa học có trình độ cao của cácviên nghiên cứu trong nước và các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, cácnhà khoa học quốc tế tham gia giảng dạy ở các trường cao đẳng, đại học[TL.13]

2.1.3 Lý thuyết khoa học liên quan đến đề tài :

Sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp trồng người : Con người là chủ nhâncủa xã hội Thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên là chủ nhân tương lai của đấtnước Để gánh vác được trách nhiệm là những chủ nhân của đất nước trongtương lai thi ngay từ hôm nay họ phải được trang bị đấy đủ mọi mặt cho hành

Trang 10

trang vào đời trong tương lai: phải được đào tạo toàn diện cả đức, trí, thể, mỹ,dục; phải nhận thức sâu sắc trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội củamình Tất cả những nội dung ấy chỉ có được nhờ có giáo dục đào tạo Nói khác

đi, một cách chung nhất, GD-ĐT là sự nghiệp “trồng người” Con người ngàymai, con người tương lai có nên người hay không, có phẩm chất cao haykhông, có đủ điều kiện để gánh vác sứ mệnh cao cả hay không đều tuỳ thuộcvào GD-ĐT hôm nay “trồng” như thế nào?

Giáo dục – đào tạo là động lực, là mục tiêu của sự phát triển: Xã hộingày càng phát triển, đất nước ngày càng thịnh vượng Sự phát triển của xãhội, sự thịnh vượng của đất nước chịu sự chi phối của nhiều yếu tố mà người tathường gọi là nguồn lực Có ba nguồn lực cơ bản tác động đến sự phát triểncủa xã hội, của đất nước, đó là : tài lực, vật lực và nhân lực Trong ba nguồnlực cơ bản này, nhân lực là nguồn lực có vai trò quyết định

Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển là to lớn, song như thếkhông có nghĩa là chỉ cần có nhiều người, có nguồn nhân lực đông đảo là cóthể phát triển xã hội Nhân lực đông đảo là cần thiết, là quan trọng, nhưng chưa

đủ Quan trọng hơn, có tính chất quyết định hơn đấy chính là chất lượng củanguôn nhân lực Thực tiễn của nhiều nược như Thụy Sỹ, Singapore, Nhật Bản,Hàn Quốc … cho thấy chỉ khi nào nguồn nhân lực có chất lượng cao thì mới

có điều kiện phát triển xã hội, đất nước bền vững

Chất lượng cao của nguồn nhân lực được đánh giá qua bốn phẩm chấtnhư Nghị quyết 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã nêu : pháttriển về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tâm hồn và trong sáng

về đạo đức [TL.18]

Có nhiều lĩnh vực như văn hóa, y tế … góp phần tạo nên bốn phẩm chất

ấy, nhưng lĩnh vực đóng vai trò chủ đạo là GD-ĐT

Trên tinh thần ấy, có thể khẳng định rằng, GD-ĐT trực tiếp đào tạo nênnguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho việc phát triển KT-XH của đấtnước

Giáo dục – Đào tạo là thước đo sự phát triển của một đất nước, một địaphương : Ngoài những điểm đã nêu trên, đối với công cuộc CNH, HĐH đất

10

Trang 11

nước hiện nay, vai trò của GD-ĐT, có thể nói còn lớn hơn nhiều bởi bối cảnhlịch sử và xã hội Việt Nam hiện nay có những khía cạnh riêng Trong bối cảnh

đó, Việt Nam cần có những buớc đột phá, tạo ra sự chuyển biến , phát triểnmạnh mẽ Những buớc đột phá này có được dựa trên cơ sở:

Một là : Bên cạnh việc tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ, tài trợ của cácnước, các tổ chức xã hội trên thế giới, cần phải phát huy cao độ mọi nội lựccủa Việt nam, trước hết là nội lực con người

Hai là : Phải bắt đầu từ việc đầu tư, phát triển mạnh mẽ GD-ĐT vàKHKT, công nghệ; phải tạo ra sự chuyển biến một cách căn bản chất lượngcủa giáo dục, làm cho GD-ĐT đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của các lĩnh vựcKT-XH cũng như tạo ra một nguồn nhân lực chất lượng cao Văn kiện Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định điều này: “ muốn tiến CNH, HĐHthắng lợi phải phát triển GD-ĐT, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bảnphát triển nhanh và bền vững” [TL.9, Tr.19] Hiến pháp 1992, văn kiện Đại hộiĐảng lần thứ VII, VIII, IX, Nghị quyết 4, BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam (khoá VII) nghị quyết 2 Ban chấp hành Trung Ương Đảng Khóa VIII và nhiềuvăn kiện khác khẳng định : “ Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục là quốcsách hàng đầu Đó là một động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản bảo đảm thựchiện những mục tiêu kinh tế – xã hội”

VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN :

Giáo dục – Đào tạo và giáo viên trong nhận thức của xã hội :

Dù lịch sử có thăng trầm, thế sự có đổi thay, từ xưa đến nay trong nhậnthức của xã hội :GD-ĐT có sứ mệnh cao cả, thiếng liêng : Trồng Người Sứmệnh cao cả thiêng liêng của sự nghiệp “trồng người” là ở chỗ đào tạo nênnhững con người, chủ nhân tương lai của đất nước, của dân tộc vừa có đạo đứctrong sáng vừa có trình độ văn hóa, KHKT cao để phụng sự cho công cuộc bảo

vệ Tổ Quốc, xây dựng đất nước

Khác với sự nghiệp “trồng cây”, sự nghiệp “trồng người” không chỉ đápứng lợi ích trước mắt mà còn đáp ứng lợi ích lâu dài, do đó không thể tiến

Trang 12

hành trong ngày một ngày hai, mà phải tiến hành liên tục trong một thời giandài Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời đã khẳng định:

Vì lợi ích muời năm trồng cây

Vì lợi ích trăm năm trồng ngườiChất lượng, hiệu quả của sự nghiệp “trồng người” phụ thuộc vào nhiềuyếu tố, nhiều tác nhân Có một yếu tố luôn được đặt lên hàng đầu, đóng vai tròquyết định sự thành bại của sự nghiệp “trồng người”: đó chính là người thầy(giáo viên)

Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng, đề cao và đặt niềm tin vào độingũ các nhà giáo; bằng nhiều chủ trương, chính sách và biện pháp tìm mọicách nâng cao mọi mặt về đời sống tinh thần, vật chất cho người giáo viên; vàđưa giáo dục cũng như giáo viên về đúng vai trò và vị trí vốn có trong truyềnthống dân tộc xã hội tôn vinh và đề cao người thầy

Vai trò của người giáo viên:

Phương châm giáo dục:

Trong chế độ phong kiến, phương châm giáo dục là “tiên học lễ, hậu họcvăn” phương châm này được duy trì và phát triển cho đến ngày nay Tuynhiên, xuất phát từ tình hình mới, để GD-ĐT có thể đào tạo được một nguồnnhân lực có chất lượng cao đáp ứng kịp thời, đầy đủ những đòi hỏi của các lĩnhvực KT-XH trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, Đảng và nhà nước ta đưa

ra phương châm mới trên cơ sở mở rộng phương châm vốn có: “Dạy người,dạy chữ và dạy nghề”

Qua phương châm này có thể nhận thức rõ ràng:

- Nội dung, nhiệm vụ của GD-ĐT

- Trình tự và tầm quan trọng của mỗi nhiệm vụ

- Nhiệm vụ và vai trò của người thầy

Vai trò của người giáo viên nói chung:

- Giáo viên là người góp phần tích cực, trực tiếp vào việc hình thành vàphát triển nhân cách cho học sinh sinh viên

- Giáo viên là người trực tiếp trang bị tri thức KHKT cho HS, SV, từ đógóp phần đào tạo nguôn nhân lực chất lượng cao cho đất nước

12

Trang 13

Vai trò của người giáo viên nói chung :

- Giáo viên là người góp phần tích cực, trực tiếp vào việc hình thành vàphát triển nhân cách của học sinh, sinh viên

- Giáo viên là người trực tiếp trang bị tri thức KHKT cho HS,SV từ đógóp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước

Ngày 15 tháng 6 năm 2004, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hànhChỉ thị số 40 -CT/TW về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo

và cán bộ quản lý giáo dục Trong đó vấn đề xây dựng đội ngũ đối với trường

Sư phạm là : “Các trường sư phạm và trường cán bộ quản lý giáo dục có vaitrò quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhàgiáo, cán bộ quản lý giáo dục Bộ Giáo dục và đào tạo cùng các cơ quan cóliên quan xây dựng kế hoạch củng cố, nâng cao năng lực đào tạo, bồi dưỡngcủa hệ thống các trường sư phạm, khoa sư phạm trong các trường đại học, caođẳng và trường cán bộ quản lý giáo dục, đẩy nhanh hơn việc xây dựng haitrường Đại học Sư phạm trọng điểm ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đểvừa đào tạo giáo viên có chất lượng cao, vừa nghiên cứu khoa học cơ bản vàkhoa học giáo dục đạt trình độ tiên tiến Nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tớicần tập trung vào đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy; cáctrường sư phạm phải tích cực, chủ động thực hiện tốt nhiệm vụ này, đồng thờitham gia vào việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương phápgiảng dạy trong hệ thống giáo dục; xây dựng chương trình, quy hoạch, kếhoạch đào tạo đội ngũ nhà giáo cho các trường ngoài khối sư phạm, đặc biệt làđội ngũ giảng viên các trường đại học, giáo viên dạy nghề, chú ý giáo viên cácmôn học còn thiếu Cần ưu tiên thích đáng cho cán bộ giảng dạy của cáctrường sư phạm được đi đào tạo theo các dự án đào tạo sau đại học ở nướcngoài.”

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN:

2.2.1.- Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm học :

Theo quy định của Quy chế tổ chức và hoạt động của trường Cao đẳng

Sư phạm Bình Dương được ban hành theo quyết định số 69/2005/QĐ-UB ngày

Trang 14

năng là đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên THCS (THCS), giáoviên Tiểu học, giáo viên Mầm non cho ngành Giáo Dục của tỉnh; Đào tạonghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức phục vụ ngoài ngành Giáo dục-Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý các trường THCS, Tiểu học, Mầm non.Trường có quan hệ đào tạo liên kết với các trươờg Đại học Sư phạm và cáctrường Đại học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm chuẩn hoá độingũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các cấp, đáp ứng một phần nhu cầunâng cao trình độ cho đội ngũ CBCC trong tỉnh.

Thuận lợi:

- Đã có Quy chế tổ chức và hoạt động của Trường theo Quyết định số

69/2005/QĐ-UB ngày 13/5/2005 của UBND tỉnh Bình Dương và Quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm các đơn vị trực thuộc trường

do Hiệu trưởng ban hành theo Quyết định số 172/QĐ-CĐSP ngày 25/7/2005;

- Tỉnh ủy, UBND tỉnh tiếp tục có chủ trương phát triển các ngành ngoài

Sư phạm; Mở rộng liên kết đào tạo Đại học; Giao cho Trường nhiệm vụ bồidưỡng ngoại ngữ cho CBCC trong tỉnh; Đầu tư xây dựng đội ngũ CBGD vàCSVC, tạo điều kiện nâng cao chất lượng đào tạo và phấn đấu phát triển thànhtrường Đại học Bình Dương;

- Khu Thực hành – Thư viện đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, tạo điềukiện thuận lợi cho việc giảng dạy, học tập của giảng viên và HSSV nhà trường;

- Đội ngũ giảng viên có trình độ Thạc sĩ được nâng dần; chất lượngtuyển sinh ngày càng được nâng cao; Việc đổi mới phương pháp dạy học trongtrường đã được đội ngũ Nhà giáo và HSSV quan tâm

Khó khăn:

- Những điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo vẫn còn hạn chế, nhất là

về đội ngũ CBGD và CSVC: Tỷ lệ Thạc sỹ còn thấp, còn 22 giảng viên chưa

đủ chuẩn, giảng đường và các trang thiết bị khác chưa đạt chuẩn

2.2.2 Thực trạng đội ngũ :

Cơ cấu tổ chức và biên chế :

14

Ngày đăng: 14/02/2015, 16:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w