Phát triển kinh tế hộ không những có vai trò to lớn về mặt kinh tế mà còn có vai trò lớn về mặt xã hội vì việc gia tăng sản phẩm hàng hóa và hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp đã góp phầ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THU TRANG
NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỘ TRONG MÔ HÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THU TRANG
NGHIÊN CỨU KINH TẾ HỘ TRONG MÔ HÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG VĂN SƠN
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Giang, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Hoàng Thu Trang
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tôi xin chân thành cảm ơn Tập thể các thầy cô giáo trong Phòng QLĐT Sau Đại học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để tôi thực hiện tốt đề tài này Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, cán bộ Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hà Giang, UBND huyện Bắc Quang, UBND các xã, đặc biệt là 3 xã: Đồng Yên, Vĩnh Phúc, Vĩnh Hảo, các ban ngành đoàn thể đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này Tôi xin chân thành cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình người thân, anh em, và bạn bè, những người luôn ủng hộ, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn
Trong quá trình thực hiện đề tài khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Kính mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo, đồng nghiệp và bạn đọc để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Giang, ngày tháng năm2014
Tác giả
Hoàng Thu Trang
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu chung 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái niệm và thuật ngữ liên quan 4
1.1.1 Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân 4
1.1.2 Vai trò của kinh tế nông hộ gắn với xây dựng nông thôn mới 7
1.1.3 Đặc điểm và nội dung hoạt động của kinh tế hộ 7
1.1.4 Khái niệm nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới 8
1.1.5 Khái niệm sinh kế 10
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ 10
1.2 Thực tiễn phát triển kinh tế hộ 13
1.2.1 Kinh nghiệm và tình hình phát triển kinh tế hộ ở các nước trên thế giới 14
1.2.2 Xu hướng phát triển khinh tế nông hộ 14
1.2.3 Kinh nghiệm và tình hình phát triển kinh tế hộ ở Việt Nam 15
1.2.4 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 19
1.3 Mô tả địa bàn nghiên cứu 24
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 31
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.3 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Tiếp cận nghiên cứu 31
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Thực trạng phát triển kinh tế hộ tại địa bàn nghiên cứu 35
3.1.1 Thực trạng chung về kinh tế hộ của huyện năm 2013 35
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế hộ tại 3 xã điều tra 37
3.2 Một số nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông - lâm nghiệp của hộ 72
3.2.1 Ảnh hưởng trình độ học vấn, nguồn gốc và thành phần dân tộc của chủ hộ nghiên cứu 72
3.2.2 Ảnh hưởng của yếu tố thị trường đến sản xuất của hộ 73
3.2.3 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến sản xuất của hộ 75
3.3 Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức đối với phát triển kinh tế hộ trong xây dựng NTM 77
3.3.1 Thuận lợi 77
3.3.2 Khó khăn 78
3.3.3 Cơ hội 79
3.3.4 Thách thức 80
3.4 Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế hộ 81
3.4.1 Định hướng phát triển trong những năm tới 81
3.4.2 Giải pháp phát triển kinh tế hộ trong xây dựng NTM 81
86
1 Kết luận 86
2 Kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 Phụ lục
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế nông nghiệp của hộ năm
2012 - 2013 35
Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu chung 37
38
Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu về kết quả sản xuất trong kinh tế hộ nghiên cứu xã 39
Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu về kết quả 40
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu về kết quả sản xuất trong kinh tế hộ nghiên cứu xã Vĩnh Hảo qua 3 năm 42
Bảng 3.7 Tình hình chủ hộ 43
Bảng 3.8 Thông tin cơ bản về nhóm hộ 45
Bảng 3.9 Một số chỉ tiêu về lao động và nhân khẩu của hộ 48
Bảng 3.10 Tỷ lệ lao động trong độ tuổi của nhóm hộ 48
Bảng 3.11 Trình độ học vấn của chủ hộ 49
Bảng 3.12.Thực trạng cơ cấu đất đai của hộ 51
Bảng 3.13 Vốn sản xuất bình quân của hộ 52
Bảng 3.14 Vốn bình quân của hộ 53
Bảng 3.16 Kết quả sản xuất một số cây trồng chính của hộ 58
Bảng 3.17 Kết quả sản xuất và thu nhập từ cây lâm nghiệp của hộ 61
Bảng 3.18 Những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp của hộ 62
Bảng 3.19 Kết quả sản xuất một số loại vật nuôi chính của hộ 66
Bảng 3.20 Phương thức sử dụng sản phẩm ngành chăn nuôi của hộ 67
Bảng 3.21 Tổng thu nhập phi nông nghiệp của hộ 70
Bảng 3.22 Cơ cấu thời gian dành cho hoạt động sản xuất của hộ 71
Bảng 3.23 Phương thức tiêu thụ một số sản phẩm của hộ 73
Bảng 3.24 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến sản xuất của hộ 75
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 3.25 Đánh giá sự cần thiết của xây dựng NTM trong phát triển
kinh tế hộ 76
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Cơ cấu sử dụng đất của hộ điều tra năm 2013 52Hình 3.2 Hình thể hiện phần trăm các khó khăn trong sản xuất nông
nghiệp của hộ 66Hình 3.3 Cơ cấu % đánh giá sự cần thiết của xây dựng NTM trong phát
triển kinh tế hộ 77
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nông nghiệp nông thôn là một chủ chương lớn của Đảng và Nhà nước ta Nông nghiệp, nông thôn có vai trò và vị trí vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của của đất nước, đặc biệt là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay
Kinh tế hộ có vị trí và vai trò lớn, là đơn vị kinh tế tự chủ, là chủ thể quan trọng trong phát triển nông nghiệp nông thôn
Hộ là một đơn vị kinh tế tự chủ, được coi trọng khuyến khích phát triển trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo định hướng xã hội chủ nghĩa và có sự quản lý của nhà nước
Kinh tế hộ đã góp phần làm tăng nhanh sản lượng sản phẩm cho xã hội như: lương thực, thực phẩm, nông sản xuất khẩu, góp phần sử dụng đầy đủ và
có hiệu quả các yếu tố sản xuất như: Đất đai, lao động, vốn và tư liệu sản xuất Phát triển kinh tế hộ không những có vai trò to lớn về mặt kinh tế mà còn có vai trò lớn về mặt xã hội vì việc gia tăng sản phẩm hàng hóa và hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp đã góp phần làm tăng thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, cải thiện và nâng cao đời sống, là cơ sở vững chắc để giải quyết các vấn đề xã hội
Những vai trò của phát triển sản xuất và hoạt động tạo thu nhập kinh tế
hộ là rất lớn, tuy nhiên ở Việt nam hiện nay sản xuất của hộ vẫn là sản xuất nhỏ, thuần nông, tiểu nông, phát triển còn ở trình độ thấp, chưa chuyển hẳn sang sản xuất hàng hóa, điều này hạn chế nhiều đến sự phát triển chung của kinh tế cả nước
Hà Giang là một tỉnh nằm ở vùng núi phía bắc của đất nước, kinh tế còn nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp còn ở trình độ thấp, sản xuất hàng hóa nhỏ, phổ biến ở hầu hết tất cả các huyện trong đó có huyện Bắc Quang Phát triển sản xuất và thu nhập hộ đã từng bước có nhiều chuyển biến, nhưng ở các
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hộ vẫn chủ yếu là sản xuất tự cung, tự cấp, tâm lý tiểu nông vẫn còn tồn tại, sản xuất theo hình thức trang trại còn ít, đã có sự chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa nhưng còn chưa phổ biến và chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của huyện Trong xây dựng nông thôn mới thì việc phát triển sản xuất và thu nhập trong kinh tế hộ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần cải thiện dời
số ổi bộ mặt nông thôn ở huyện nói riêng, cả tỉnh và cả nước nói chung Phát triển kinh tế hộ cũng là vấn đề được các cấp, các ngành ở địa phương quan tâm đặc biệt để góp phần phát triển kinh tế của huyện nhanh, bền vững, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của huyện Bắc Quang, đặc biệt là trong xây dựng nông thôn mới, thực hiện ở các xã của huyện
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên
cứu kinh tế hộ trong mô hình xây dựng nông thôn mới của huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang"
2 Mục tiêu chung
Đánh giá được thực trạng phát triển kinh tế hộ tại huyện, từ đó đề xuất giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ của huyện trong mô hình xây dựng nông thôn mới
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp trong kinh tế hộ gắn với xây dựng nông thôn mới của địa bàn nghiên cứu;
- Đánh giá được các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển sản xuất trong kinh tế hộ của đại bàn nghiên cứu;
- Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn trong phát triển kinh tế hộ nông thôn trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn nghiên cứu;
- Đề xuất giải pháp phát triển kinh tế hộ nông thôn trong xây dựng nông thôn mới tại địa phương
4 Ý nghĩa của đề tài
4.1 Ý nghĩa lý luận và khoa học
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Củng cố lý thuyết, hệ thống hóa những khái niệm, thuật ngữ liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế của hộ;
- Xác định được những yếu tố ảnh hưởng, tác động tích cực và tiêu cực đến phát triển kinh tế hộ như: Các nguồn lực, các chương trình, dự án;
- Xác định những khó khăn, thuận lợi trong việc đầu tư phát triển sản xuất, phát triển kinh tế của hộ;
- Kết quả nghiên cứu đề tài được coi là một tài liệu tham khảo cho sinh viên, cán bộ nghiên cứu, các cấp chính quyền địa phương
4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp chính quyền địa phương, các nhà hoạch định chính sách đưa ra những quyết định và hướng đi mới về phát triển kinh tế hộ, đáp ứng và hoàn thành tốt theo các tiêu trí trong xây dựng nông thôn mới;
- Giúp phát huy những mặt tích cực, hạn chế những thiếu sót và tồn tại trong các chương trinh, dự án phát triển nông nghiệp nông thôn nói chung và phát triển kinh tế hộ;
- Có thể đưa ra những giải pháp tốt nhất để phát triển kinh tế hộ bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa, từ đó góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo cho người dân
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm và thuật ngữ liên quan
1.1.1 Khái niệm về hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân
* Khái niệm hộ: Có nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về hộ, có thể
hiểu hộ theo định nghĩa sau:
"Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong môt mái nhà Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm công" - Theo từ điển ngôn ngữ của Mỹ (Oxford Press - 1987)
"Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội, có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác" (Thảo luận quốc tế lần thứ
4 về Quản lý nông trại tại Hà Lan, 1980"
Hộ có 4 chức năng cơ bản đó là:
- Chức năng kinh tế
- Chức năng tiêu dùng
- Chức năng tái sinh sản nguồn nhân lực
- Chức năng giáo dục đào tạo
* Khái niệm hộ nông dân:
Hộ nông dân là những hộ chu yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
Theo Ellis - 1988 thì "Hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao"
Hộ nông dân có những đặc điểm chính đó là:
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng
Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ
từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân với thị trường
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau
Chúng ta cần quan tâm đến nông dân vì nông dân là lực lượng đông đảo, chủ yếu, năng động và nhạy cảm, là nguồn cung cấp nhân lực, lương thực, thực phẩm và tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp và các ngành khác
* Phân loại hộ nông dân:
Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động:
- Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không phản ứng với thị trường
Loại này có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong chính gia đình họ Để có đủ sản phẩm lao động trong nông hộ phải làm cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp, tự túc
sự hoạt động của hộ phụ thuộc vào:
+ Khả năng mở rộng diện tích đất đai
+ Có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập
+ Có thị trường vật tư để họ mua nhằm lấy lãi
+ Có thị trường sản phẩm để họ trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình
- Hộ bắt đầu có phản ứng với thị trường
Loại hộ này còn gọi là "nửa tự cấp", nó không giống như loại doanh nghiệp khác là phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường, vì các yếu tố tự cấp còn lại nhiều và vấn quyết định cách thức sản xuất của các hộ, ở đây cũng có phản ứng với giá cả, với thị trường nhưng ở mức độ thấp
- Hộ nông dân sản xuất hàng hóa là chủ yếu
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Loại này mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận được biểu hiện rõ và họ có phản ứng gay gắt với các thị trường vốn,ruộng đất, lao động,
Theo tính chất của ngành sản xuất:
- Hộ thuần nông: Là loại hộ chỉ thuần túy sản xuất nông nghiệp
- Nông hộ kiêm: Là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công nghiệp
- Nông hộ chuyên: Là loại hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí, mộc, nề, rèn, sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, may, dệt, làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp
- Nông hộ buôn bán: Có quầy hàng riêng, bán hàng ở chợ, nơi đông dân cư Các loại nông hộ trên không ổn định màg có thể thay đổi khi điều kiện cho phép Vì vậy xây dựng công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên môn hóa Từ đó làm cho lao động nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hay làm lao động phi nông nghiệp tăng lên
Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ bao gồm:
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhóm 1: Hộ có thu nhập lớn hơn 800.000 đồ /tháng (h ) Nhóm2: Hộ có thu nhập từ dưới 800.000 đồ / tháng và lớn hơn
Nhóm 3: Hộ có thu nhập từ dưới 600.000 đồ i /tháng (hộ )
1.1.2 Vai trò của kinh tế nông hộ gắn với xây dựng nông thôn mới
Trong sự phát triển kinh tế nói chung cuỷa đất nước kinh tế hộ có vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn xây dựng NTM hiện nay kinh tế hộ ngoài những vai trò nói chung , nó còn có những vai trò khác gắn với xây dựng kinh tế hộ
Kinh tế hộ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần đổi mới công nghệ sản xuất Hộ là nơi tích lũy kinh nghiệm sản xuất truyền thống cũng là nơi áp dụng công nghệ mới vào sản xuất Khi chuyển sang sản xuất hàng hóa, xuất hiện cạnh tranh thị trường, hộ buộc phải đổi mới công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt hơn với giá rẻ hơn Việc đổi mới công nghệ trước hết phải nhằm khai thác tốt kinh nghiệm truyền thống từ lâu đời (Nguyễn Văn Huân, 1993)[3]
Là tế bào của sự phát triển, sự phát triển của hộ cũng là yếu tố cơ bản
để đánh giá sự phát triển của nề kinh tế, do đó cần tập trung các nguồn lực để phát triển
1.1.3 Đặc điểm và nội dung hoạt động của kinh tế hộ
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Tồn tại chủ yếu ở nông thôn và hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản, một số khác hoạt động ở lĩnh vực phi nông nghiệp với
- Quá trình sản xuất hiện nay tuy đã được cơ giới hóa xong còn chậm, hộ nông dân vẫn chủ yếu sản xuất bằng công cụ thủ công nên năng suất lao động nhìn chung còn thấp
- Trình độ chuyên môn và nghiệp vụ quản lý kinh tế gai đình đã được nâng lên tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm
từ đời trước để lại
1.1.4 Khái niệm nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới
- Nông nghiệp: là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những người nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát minh thì tìm cách cải tiến phương pháp, công nghệ và kỹ thuật để làm tăng
năng suất cây trồng và vật nuôi
- Nông thôn: Là vùng lãnh thổ mà người dân chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều khía cạnh về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao Xây dựng NTM là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả
hệ thống chính trị NTM không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh
Trong giai đoạn hiện nay thì xây dựng nông thôn mới với các tiêu chí là rất quan trọng Việc xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế nông thôn nói riêng, cả nước nói chung trong giai đoạn mới Từ khi đất nước ta thực hiện đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông thôn, nông dân nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của vung, đất nước, nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng còn yếu kém, môi trường ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.5 Khái niệm sinh kế
Phát triển kinh tế hộ và hoạt động sinh kế có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
, sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội như: cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, nước mặt, đường xá,…) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện để kiếm sống của con người (Scoones, 1998)
Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể
: (I)Trồng trọt: Lúa, ngô, khoai, sắ ,
nghiệp: Trồng cây keo, bạch đàn, mỡ ,…
ề khác
1.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ
* Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và đất đai:
Đây là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế hộ và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Những hộ có vị trí gần đường giao thông, gần trung tâm các khu công nghiệp, gần các cơ sở chế biến nông sản, gần nơi tiêu thụ sản phẩm thì sẽ có điều kiện thuận lợi và phát triển kinh tế hộ được tốt hơn
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất chủ yếu của hộ, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thay thế trong quá trình sản xuất Vì thế, quy mô đất đai, đại hình và tính chất nông hóa thổ nhưỡng có liên quan chặt chẽ tới từng loại nông sản phẩm, số lượng, chất lượng, giá trị sản phẩm và lợi nhuận thu được
- Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái:
Có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất nông nghiệp Điều kiện thời tiết, khí hậu, lượng mưa, độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ có mối liên quan
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chặt chẽ tới sự hình thành và sử dụng đất Ở những nơi thời tiết, khí hậu thuận lợi sẽ hạn chế những bất lợi và rủi ro trong sản xuất, có cơ hội để phát triển kinh tế của hộ tốt hơn
Môi trường sinh thái cũng là nhân tố có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của hộ, nhất là nguồn nước Vì những loại cây trồng và vật nuôi tồn tại theo quy luật sinh học, nếu môi trường thuận lợi thì cây trồng, gia súc sẽ sinh trưởng phát triển tốt, hạn chế bệnh, còn ngược lại sẽ ảnh hưởng tới năng suất, sản lượng cây trồng, gia súc
* Nhóm yếu tố về kinh tế, tổ chức và quản lý:
Đây là nhóm yếu tố có liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ yếu có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và kinh tế hộ nói riêng
- Trình độ học vấn và kỹ năng lao động
Người lao động phải trình độ học vấn và kỹ năng lao động để tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Trong sản xuất phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ
- Vốn
Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, vốn là điều kiện đảm bảo cho các hộ về tư liệu sản xuất, vật tư nguyên liệu cũng như thuê nhân công để tiến hành sản xuất Vốn là điều kiện không thể thiếu, là yếu tố
cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm
- Công cụ sản xuất
Trong quá trình sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, công cụ lao động có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các biện pháp
kỹ thuật sản xuất Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất cao cần phải sử dụng
hệ thống công cụ phù hợp Ngày nay, với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
sản xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả cao cho các hộ trong sản xuất Năng suất cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên, chất lượng sản phẩm tốt hơn, do đó công cụ lao động có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả và hiệu quả sản xuất của hộ
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: Đường giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện, nhà xưởng, trang thiết bị nông nghiệp, Đây là những yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế của hộ Thực tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển thì sản xuất phát triển, thu nhập tăng, đời sống của hộ cũng được cải thiện và nâng cao
- Thị trường
Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất sản phẩm gì với số lượng bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm như thế nào? Trong cơ chế thị trường các Hộ hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà thị trường cần trong điều kiện sản xuất của họ, từ đó kinh tế hộ mới có điều kiện phát triển
- Hình thức và mức độ liên kết hợp tác trong mối quan hệ sản xuất kinh doanh
Để đáp ứng yêu cầu của thị trường về sản phẩm hàng hóa, các Hộ phải liên kết hợp tác với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm Nhờ có các hình thức liên kết hợp tác mà các hộ có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến và công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, năng suất lao động
* Nhóm yếu tố về khoa học kỹ thuật và công nghệ:
- Kỹ thuật canh tác
Do điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội của mỗi vùng khác nhau, yêu cầu
về giống cây con khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau Trong nông nghiệp tập quán kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế của hộ
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ
Sản xuất của hộ không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật, vì
nó đã tạo ra những giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, sinh vật, máy móc, thời tiết, khí hậu kết hợp với nhau tạo ra sản phẩm nông nghiệp Như vậy, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển
* Nhóm yếu tố thuộc về quản lý vĩ mô của nhà nước:
Nhóm yếu tố này gồm các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước như: Chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ, trợ giá nông sản, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm, Các chính sách này có tác đọng lớn tới phát triển kinh tế hộ và là công cụ đắc lực để nhà nước can thiệp
có hiệu quả vào sản xuất nông nghiệp
* Ảnh hưởng của xây dựng nông thôn mới:
Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới đã được Bộ Chính trị, Ban Kinh tế Trung ương cùng với Bộ Nông nghiệp và PTNT, các
Bộ, ngành và địa phương triển khai thực hiện nhằm phát triển toàn diện kinh
tế, xã hội và môi trường khu vực nông thôn Nó có những ảnh hướng đáng kể tới phát triển kinh tế hộ Xây dựng NTM kèm theo việc đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, điện, đường, trường, trạm, cùng với việc thực hiện các tiêu chí liên quan đến phát triển kinh tế nông thôn, do đó người dân được hưởng lợi nhiều từ việc phát triển, thúc đẩy giao lưu buôn bán, phát triển công nghện thông tin, cung cấp, đưa thông tin đến với người dân nhanh hơn, cơ sở
hạ tầng đảm bảo, thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa nông sản
Tóm lại các yếu tố trên có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế hộ, trong sản xuất các hộ cần chú ý đến những yếu tố này để sản xuất có hiệu quả, bền vững, thoát khỏi kinh tế tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa lớn
1.2 Thực tiễn phát triển kinh tế hộ
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.1 Kinh nghiệm và tình hình phát triển kinh tế hộ ở các nước trên thế giới
Trên thế giới, kinh tế hộ cũng được chú trọng phát triển theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa, tạo thu nhập cao
Ở các nước Châu Á, chế độ phong kiến kéo dài nên kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa diễn ra chậm hơn Mỗi nước có sự cải cách về ruộng đất, tăng cường vốn, kỹ thuật cho phát triển nông nghiệp, nên sự phát triển ở các nước cũng có những bước tiến khác nhau nhưng hầu hết là theo xu hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp
Ở Hàn Quốc: Năm 1950, Chính phủ mua lại ruộng đất của chủ ruộng trên 3ha để bán cho nông dân Chính phủ khuyến khích việc phát triển kinh tế trang trại và sản xuất hàng hóa, tăng cường các loại vật nuôi, cây trồng có giá trị kinh tế cao
Ở Malaixia: Kinh tế hộ đã có những đóng góp quan trọng vào kinh tế nông nghiệp, kinh tế hộ tập trung vào sản xuất hàng hóa, vì vậy kinh tế hộ sản xuất hàng hóa chiếm ưu thế Năm 1990, kinh tế trang trại gia đình đã đóng góp 9% vào kim ngạch xuất khẩu, thu hút 88% lực lượng lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân
Ở Nhật Bản: Năm 1946 đến năm 1949, Chính phủ đã thu mua ruộng đất của các chủ ruộng đê bán cho nông dân thiếu ruộng đất hoặc không có ruộng Việc cải cách ruộng đất đã có những tác động tích cực đến phát triển sản xuất, phát triển sản xuất và thu nhập của Hộ, phát triển kinh tế trang trại theo hướng hàng hóa ở đất nước này, số Hộ hoạt động ngoài nông nghiệp ngày càng tăng, góp phần cải thiện thu nhập, đa dạng hóa hoạt động tạo thu nhập cảu người dân
1.2.2 Xu hướng phát triển khinh tế nông hộ
Trong những năm gần đây, kinh tế hộ có những bước phát triển đáng kể
và phát triển theo những xu hướng tích cực tác động đến sự phát triển kinh tế chung, có những xu hướng chủ yếu đó là:
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Xu hướng thứ nhất: Những hộ gia đình sản xuất kinh doanh nhưng không đủ tiêu dùng, họ không có khả năng tái sản xuất giản đơn Sự phát triển của nhóm hộ này theo hai xu hướng có thể họ sẽ trở thành lao động làm thuê hoặc họ sẽ quay lại cuộc sống sinh tồn
Xu hướng thứ hai: Những hộ gia đình sản xuất kinh doanh chỉ đủ tiêu dùng lượng sản phẩm để bán của họ là không nhiều hoặc không đáng kể, sự phát triển của họ có thể trở thành nhóm hộ sản xuất hàng hóa Tuy nhiên để làm được như vậy cần có sự hỗ trợ hợp tác từ bên ngoài
Xu hướng thứ ba: Những hộ sản xuất hàng hóa sản phẩm của họ để bán họ có thể có những lợi thế về đất đai, lao động, vốn, lợi thế về lưu thông hàng hóa hay khả năng tiếp cận khoa học (Vũ Tuấn Anh, Trần Thị Vân
Anh,1997)[1]
1.2.3 Kinh nghiệm và tình hình phát triển kinh tế hộ ở Việt Nam
Nền văn minh nông nghiệp đã trải qua hàng vạn năm, qua mỗi giai đoạn
có bước phát triển mới Từ nền nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp, cho đến nay, nông nghiệp đã có bước phát triển mới, vì vậy hướng kinh tế hộ cũng có hướng phát triển mới Đã xuất hiện các mô hình kinh tế trang trại từ quy mô
Hộ đến các trang trại có quy mô lớn, các nông hộ hợp tác với nhau sản xuất hàng hóa, dịch vụ với quy mô đa dạng và nhiều loại sản phẩm hàng hóa thuộc nhiều lĩnh vực: Sản xuất, dịch vụ, cung cầu Việc cải tiến kỹ thuật, chuyên môn hóa trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất theo hướng hàng hóa, đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp là xu thế phát triển chung của kinh tế hộ, theo tiến trình CNH-HĐH đất nước
Trong những năm qua, kinh tế hộ đã và đang được các cấp các ngành quan tâm đặc biệt, nhất là trong quá trình xây dựng nông thôn mới hiện nay,
nó góp phần làm nền tảng và sự thành công trong xây dựng nông thôn mới, trong tiêu chí về hạ tầng kinh tế xã hội và trong kinh tế, tổ chức sản xuất
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Ở các tỉnh chú trọng phát triển kinh tế hộ dựa theo những lợi thế nhất định về vùng, vị trí địa lý và tiềm năng thị trường, nhu cầu thực tế, Mỗi tỉnh
có chiến lược phát triển riêng dựa trên những thuận lợi và khó khăn của từng tỉnh và theo định hướng cả nhà nước Kinh tế hộ luôn giữ những vai trò quan trọng nhất định không chỉ đối với mỗi hộ mà còn góp phần ổn định nền kinh
tế của cả nước
Trước đây sản xuất của hộ chủ yếu là mang tính tự cung, tự cấp Rất ít đáp ứng nhu cầu thị trường, hiện nay cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế thế giới (WTO), thì kinh tế
hộ cũng có những bước phát triển mới, là nền sản xuất hàng hóa theo nhu cầu thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa
Ở Hà Giang: Là một tỉnh còn nghèo, hệ thống cơ sở hạ tàng còn kém phát triển, thời gian qua, nhiều Hộ đã khắc phục khó khăn, tìm hiểu nhu cầu
về thị trường,áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, sản xuất kinh tế theo hướng hàng hóa, bước đầu đã đem lại những thành công nhất định, cải thiện đời sông kinh tế của hộ, bộ mặt nông thôn cũng có nhiều khởi sắc Tuy nhiên, phát triển kinh tế hộ vẫn còn những hạn chế nhất định về: Trình độ sản xuất và tổ chức sản xuất kinh tế của hộ, số lượng trang trại chăn nuôi, trổng trọt có quy mô còn ít,chưa nắm bắt nhạy bén nhu cầu thị trường, chưa chuyển hẳn sang sản xuất hàng hóa, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất theo hướng CNH, HĐH còn chậm và nhiều hạn chế, nguồn vốn phát triển kinh tế của hộ còn ít, chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh
Bắc Quang là một trong những huyện đông lực của tỉnh Hà Giang về phát triển kinh tế hộ, trong những năm qua đã có nhiều mô hình phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, phát triển nhất là về trồng cây
ăn quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm Các xã trong huyện có tiềm năng, lợi thế riêng về loại cây trồng và vật nuôi
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Là huyện miền núi vùng thấp và là cửa ngõ phía Tây Nam của tỉnh Hà Giang Huyện có tuyến đường quốc lộ 2 chạy qua với chiều dài 50km Có địa hình phần lớn là đồi núi thấp xen kẽ những dải đồng bằng rộng cùng với hệ thống sông suối, ao hồ dày đặc, độ cao trung bình từ 400 - 500m so với mặt nước biển Mỗi vùng cho sản xuất một loại hàng hóa có ưu thế riêng
Xã Vĩnh Phúc, là một xã điểm của tỉnh trong xây dựng nông thôn mới, nhìn chung bộ mặt nông thôn ở đây và cuộc sống của người dân được cải thiện đáng kể, hệ thống cơ sở hạ tầng được hoàn thiện đáng kể, 100% các hộ trong xã đều có điện sử dụng, hệ thống đường làng, ngõ xóm được bê tông hóa, thuận tiện cho việc giao lưu buôn bán của người dân địa phương và các
xã lân cận Các mô hình phát triển kinh tế hộ được chú trọng, Cây trồng động lực của xã là cây cam sành, các hộ đã tập trung phát triển cam hàng hóa đem lại lợi nhuận kinh tế cao, cải thiện đời sống gia đình, ngoài ra những cây trồng khác cũng được phát triển trong kinh tế hộ như: Lạc, Ngô tuy nhiên hộ vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong định hướng cơ cấu và chuyển đổi kinh tế hộ và việc lựa chọn cây trồng vật nuôi trọng điểm, đáp ứng nhu cầu thực tế và nhu cầu môi trường, khả năng cạnh tranh tròng ngành hàng, và nguồn vốn phát triển kinh tế
Trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, cho đế 2013 xã đã thực hiện được 10/19 tiêu chí
Trong các tiêu chí thì hệ thống tiêu chí về hạ tầng kinh tế xã hội đều đã hoàn thành, nhất là hệ thống đường giao thông
Xã Đồng Yên, trong xây dựng nông thôn mới, kinh tế hộ cũng được chú trọng hơn, xã có điều kiện thuận lợi về giao thông, giáp với huyện Lục Yên của tỉnh Yên Bái nên có những điều kiện thuận lợi trong buôn bán dịch vụ và tiêu thụ nông sản hàng hóa Số hộ làm dịch vụ ngày càng tăng, cây trồng chủ lực của hộ là cây Lạc và trồng cây ăn quả, hiện nay có nhiều hộ ở xã phát
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
triển kinh tế hộ theo hướng hàng hóa Tuy nhiên những khó khăn về vốn, kỹ thuật, đầu ra thị trường, những bất lợi về thời tiết, giá cả không ổn định và việc hình thành vùng sản xuất hàng hóa theo hương cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu thị trường còn nhiều tồn tại
Trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, cho đế 2013
xã đã thực hiện được 7/19 tiêu chí
Về quy hoạch: Sử dụng đất, quy hoạch về cơ sở hạ tầng chủ yếu, về khu dân cư đều đã đạt theo tiêu chí chung
Về trường học: Có hệ thống trường mầm non, tiểu học cơ sở, trung học
cơ sở, trung học phổ thông đạt chuẩn
Các tiêu chí về bưu điện, thu nhập, hộ nghèo, hình thức tổ chức sản xuất, giáo dục, y tế, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh đều đã thực hiện dạt yêu cầu
Xã Vĩnh Hảo, là xã đồi núi,còn gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh
tế, do giao thông, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, trình độ người dân còn hạn chế, ảnh hưởng đến nhận thức về nhu cầu thị trường và khả năng phát triển sản xuất và thu nhập của Hộ Trong thời gian qua, xã đã chủ động, tích cực triển khai các hoạt động tập huấn, xây dựng mô hình phát triển kinh tế hộ theo tinh thần nghị quyết của Đảng bộ xã và quá trình xây dựng nông thôn mới Hệ thông cơ sở hạ tầng đang được cải thiện, chú ý đến việc phát triển kinh tế hàng hóa Xã có cây trồng trọng tâm là cây cam, cây lâm nghiệp và chăn nuôi trâu hàng hóa Kinh tể của các hộ ngày càng được đa dạng hóa, huyện Bắc Quang chú trọng đến quá trình xây dựng nông thôn mới ở xã, thường xuyên đôn đốc, chỉ đạo việc thức hiện các tiêu chí cơ bản về hạ tầng kinh tế xã hội nhằm khắc phục những khó khăn, trở ngại của xã
Trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, cho đến tháng 6 năm 2013 xã
đã thực hiện được 12/19 tiêu chí
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.4 Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Việt Nam là nước nông nghiệp với hơn 70% dân cư sống ở nông thôn Phát triển nông nghiệp nông thôn đã và đang là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất nước Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: "Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hại tầng kinh tế- xã hội phát triển ngày càng hiện đại"
Quán triệt nghị quyết đại hội X, Hội nghị TW lần thứ 7 (khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đẫ nêu một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới Nghị quyết khẳng định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị trí quan trọng trong
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn không chỉ là nhiệm vụ của nông dân ở khu vực nông thôn mà còn
là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Xây dựng nông thôn mới
là xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân, nông dân, trí thức vững mạnh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo, có trình độ phát triển cao, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới
Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một chương trình hành động của Chính phủ về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức,
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Nội dung chính củaChương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mớilà: xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ
Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới là chương trình mang tính tổng hợp, sâu, rộng, có nội dung toàn diện; bao gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta khẳng định xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ phương hướng, nhiệm vụ của xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là: Tiếp tục triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn hóa bản sắc của nông thôn Việt Nam
Ngày 6/7/2012, tại Thành phố Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên), Văn phòng điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) phối hợp với tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội thảo lấy ý kiến sửa đổi Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT - BNNPTNT - BKHĐT - BTC
và lập sổ tay hướng dẫn hỗ trợ phát triển sản xuất và ngành nghề nông thôn
Dự Hội thảo có đại diện Văn phòng điều phối Trung ương chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM, tỉnh Thái Nguyên cùng đại biểu của 25 tỉnh khu vực đồng bằng Sông Hồng và trung du, miền núi phía Bắc
Qua đánh giá chung tại Hội thảo, sau một thời gian thực hiện Chương trình xây dựng NTM, ở một số tỉnh, sản xuất nông nghiệp đã có bước chuyển
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
biến tích cực với năng suất cây trồng tăng cao, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn từng bước được nâng lên Tuy vậy, tiến độ thực hiện chương trình còn chậm, nhiều địa phương lúng túng trong hành động, phối hợp giữa các ngành, các cấp còn nhiều hạn chế, người dân chưa thực sự xác định mình chính là chủ thể của xây dựng NTM, Đối với Nhà nước, các văn bản về chương trình xây dựng NTM đã ban hành đồng bộ nhưng luôn thay đổi, có những nội dung hiện nay không phù hợp song chậm được bổ sung, thay thế dẫn đến việc các địa phương rất khó thực hiện Hội thảo có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tìm giải pháp tháo gỡ vướng mắc, giúp các tỉnh
có cơ sở pháp lý chỉ đạo thống nhất để thực hiện thành công các mục tiêu của chương trình
Tóm lại, thực hiệnđường lối của Đảng, trong thời gian qua, phong trào xây dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thu hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả
xã hội Quá trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được thành tựu khá toàn diện Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản đảm bảo, tạo sự thuận lợi trong giao lưu buôn bán và phát triển sản xuât; Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, đã xuất hiện nhiềumô hình kinh tế có hiệu quả gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập và đời sống vật chất tinh thần cho người dân; Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường; Dân chủ cơ sở được phát huy; An ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội được giữ vững; Vị thế của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao Những thành tựu đó đã thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn,tạo cơ sở vững chắc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Ví dụ như: Theo nghiên cứu của Ths Đỗ Văn Quân viện Xã hội học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh: “Khảo sát 8 xã thuộc 4 tỉnh Đồng bằng sông Hồng (2) năm 2012 cho thấy phát triển kinh tế
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hộ gia đình đang có những biến đổi nhanh chóng và đa chiều giữa các nhóm
hộ Sự khác biệt này do nhiều nhân tố tác động, trước hết phụ thuộc vào độ tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ; vào các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn, nhất là tiến trình xây dựng nông thôn mới Vấn đề này được nhận diện, phân tích trên một số khía cạnh sau:
Một là, cơ cấu nghề nghiệp của chủ hộ Khảo sát năm 2012 cho thấy, tỷ
lệ các chủ hộ làm nông nghiệp ở các tỉnh Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Nam Định và Thái Bình lần lượt là 20,7; 41,1; 41 và 46,6% Như vậy, nếu như sản xuất nông nghiệp là nghề nghiệp chính của chủ hộ gia đình ở các địa bàn khảo sát của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Nam Định và Thái Bình thì ở Bắc Ninh, sản xuất tiểu thủ công nghiệp đang trở thành một nghề chính của nhiều chủ hộ gia đình(3)
Số chủ hộ gia đình ở các vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng còn giữ nghề sản xuất nông nghiệp là dưới 50% Qua khảo sát cho thấy, độ tuổi của chủ hộ càng cao thì cơ cấu kinh tế hộ theo hướng nông nghiệp càng cao Chẳng hạn,
ở nhóm chủ hộ có độ tuổi 20-29, số chủ hộ làm nông nghiệp chỉ chiếm 8,3%;
ở nhóm tuổi 30-39 thì chiếm 15,5%; nhóm tuổi 40-49 thì chiếm tới 22,9%; ở nhóm tuổi 50-59 chiếm 51,2% và ở nhóm tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm 46,4% Hai là, cơ cấu ngành nghề của các hộ gia đình: Qua thống kê các hộ gia đình
có từ 2 lao động trở lên cùng làm một trong số những nghề chính là sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hay buôn bán, dịch vụ Cho thấy, tỷ trọng các hộ làm nghề sản xuất nông nghiệp là 34,3%; làm tiểu thủ công nghiệp 8,9%; làm buôn bán, dịch vụ 8,5% và làm các nghề khác là 48,3% Cơ cấu nghề của các hộ có những khác biệt nhất định theo tỷ trọng giữa các nhóm nghề ở 4 tỉnh
Ba là, đất đai - tư liệu sản xuất của hộ gia đình: Tư liệu sản xuất chủ yếu của các gia đình ở nông thôn là đất nông nghiệp (trồng lúa, trang trại, ao cá ) Điểm đáng chú ý là bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp các hộ buôn bán, dịch vụ có tăng thêm đáng kể diện tích đất sản xuất phi nông
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nghiệp so với các loại hộ khác (7) Trong đó, hoạt động buôn bán,dịch vụ, mặt bằng sản xuất là đất đai cũng là một yếu tố rất quan trọng để mở rộng quy mô hoạt động
Bốn là, thu nhập của hộ gia đình: Khó khăn và thách thức lớn đối với kinh tế hộ trong tiến trình hội nhập là chênh lệch lớn về năng suất lao động giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp (8) Thu nhập thấp là một yếu tố buộc nhiều hộ gia đình phải dịch chuyển sang các nghề phi nông nghiệp(9) Trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người càng cao và ngược lại Trong nhóm chủ hộ có học vấn lớp 1-
5, số hộ có thu nhập bình quân từ 1 triệu đồng trở xuống là 54,5%, trong khi
đó, với nhóm chủ hộ có học vấn lớp 10-12, số hộ có thu nhập bình quân từ 1 triệu đồng trở xuống là 32,6% (10) Từ thực tế này cho thấy, trong xây dựng nông thôn mới, vấn đề khó khăn nhất chính là nâng cao mức thu nhập cho người nông dân, nhất là các hộ làm nông nghiệp”
Tuy nhiên, quá trình xây dựng nông thôn mới còn bộc lộ nhiều khó khăn hạn chế, nhất là về công tác quy hoạch.Quy hoạch nông thôn mới là một vấn đề mới, liên quan đến nhiều lĩnh vực và phải mang tính chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế về năng lực, nên trong quá trình triển khai còn nhiều lúng túng Bên cạnh đó chúng ta còn gặp khó khăn về huy động nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới Đời sống của người dân nông thôn còn nhiều khó khăn Mặt khác, trong nhận thức nhiều người còn cho rằng xây dựng nông thôn mới là dự án do nhà nước đầu tư xây dựng nên còn có tâm lí trông chờ, ỷ lại.Chính vì vậy trong thời gian tới bên cạnh việc đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, chúng ta cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, để mọi người dân đều nhận thức rằng: "Xây dựng nông thôn mới là công việc thường xuyên của mỗi người, mỗi nhà, mỗi
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thôn xóm và từng địa phương; tất cả cùng chung sức dưới sự lãnh đạo của Đảng, " nhằm thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới
1.3 Mô tả địa bàn nghiên cứu
Bắc Quang là huyện miền núi vùng thấp và là cửa ngõ phía Tây Nam của tỉnh Hà Giang, có tọa độ địa lý:
+ Vĩ bắc: 22010’- 22036’25’’
+ Phía Đông giáp huyện Hàm Yên, huyện Chiêm Hoá tỉnh Tuyên Quang + Phía Tây giáp với huyện Quang Bình - Hà Giang
+ Phía Nam giáp huyện Lục Yên - Yên Bái
+ Phía Bắc giáp huyện Vị Xuyên, Hoàng Su Phì, Xín Mần, tỉnh Hà Giang Huyện có tuyến đường quốc lộ 2 chạy qua với chiều dài 50km Đây là tuyến đường huyết mạch từ thị xã Hà Giang qua hai huyện Vị Xuyên, Bắc Quang về thủ đô Hà Nội và từ thị xã Hà Giang đi cửa khẩu Thanh Thủy sang nước bạn Trung Quốc Trung tâm huyện lỵ cách thị xã 60km về phía bắc và cách thủ đô Hà nội 260km về phía nam Vị trí địa lý tạo cho huyện Bắc Quang
có lợi thế giao lưu hội nhập phát triển kinh tế với các tỉnh, huyện bạn Đây là một thuận lợi rất cơ bản của huyện
Huyện Bắc Quang địa hình phần lớn là đồi núi thấp xen kẽ những dải đồng bằng rộng cùng với hệ thống sông suối, ao hồ dày đặc, độ cao trung bình
từ 400 - 500m so với mặt nước biển Địa hình chia cắt phức tạp thành nhiều tiểu vùng đất đai khác nhau, nhiều loại hình đồi núi, núi đất, núi đá, núi đá cao, xen kẽ đồi bát úp thấp và một số vùng lúa bằng phẳng nhiều ao hồ, khe lạch Mỗi vùng cho sản xuất một loại hàng hóa có ưu thế riêng do điều kiện địa hình đất đai và khí hậu tạo nên Đây cũng là những yếu tố có tác động đến sản xuất hàng hóa do đặc điểm địa hình nêu trên, Bắc Quang có thể chia thành
5 tiểu vùng như sau:
* Tiểu vùng 1: Gồm 5 xã, 2 thị trấn dọc tuyến quốc lộ II: Tân Thành, Tân Quang, Việt Vinh, Hùng An, Quang Minh, Việt Quang, Vĩnh Tuy, tiểu
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vùng này phù hợp cho phát triển kinh tế chủ yếu là lúa, ngô, cam quýt,chè, đậu tương dâu tằm, cây nguyên liệu giấy, quế, trám Chăn nuôi lợn, gà, trâu,
bò, cá
* Tiểu vùng 2: Gồm 5 xã phía Đông huyện bao gồm Kim Ngọc, Vô Điếm, Đồng Tâm, Bằng Hành, Liên Hiệp, Hữu Sản, thế mạnh của vùng này là sản xuất lúa nước, cây công nghiệp như chè,cây nguyên liệu giấy, có khả năng phát triển cây ăn quả như: hồng, mận, nhãn, vải Chăn trâu, bò, lợn, gia cầm, cá
* Tiểu vùng 3: Gồm 2 xã phía Tây của huyện là Đồng Yên, Vĩnh Phúc Thế mạnh của vùng là các loại cây lúa, ngô, cam, quýt, nhãn vải, cây nguyên liệu giấy Chăn nuôi gia súc, gia cầm, cá
* Tiểu vùng 4: Gồm 3 xã phía Tây Nam ở vùng gần trung tâm huyện: Việt Hồng, Tiên Kiều, Vĩnh Hảo
* Tiểu vùng 5: Gồm 5 xã Thượng Bình, Đức Xuân, Đồng Tâm, Đồng Tiến, Tân Lập Ưu thế của vùng này là phát triển cây nguyên liệu giấy, cây ăn quả như mận, cây công nghiệp như chè, quế; chăn nuôi trâu, dê
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 109.873,69 ha và diện tích này
ổn định trong thời kỳ dài Cơ cấu đất đai được phân bố cụ thể như sau: Đất nông nghiệp 17.942,69 ha chiếm 16,33%; Đất nuôi trồng thủy sản là 601,22
ha chiếm 0,55% Đất lâm nghiệp 79.058,25 ha chiếm 72,12%; Đất chuyên dùng 1.490,71 ha chiếm 1,34%, đất nhà ở 1.081,22 ha chiếm 0,98%, đất chưa
sử dụng 7.562,67chiếm 6,88% Qua đây ta thấy, diện tích đất lâm nghiệp là lớn nhất, hàng năm rừng vẫn được người dân trồng mới, so với những năm trước đây thì hiện nay rừng cũng góp phần đem lại thu nhập cho người dân cao hơn so những năm trước
Huyện Bắc Quang nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió Tây nên trong năm thường có hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 10
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Mùa khô từ tháng 11 đến hết tháng 3 năm sau
Bắc Quang là một trong những vùng có số ngày mưa nhiều nhất ở , khoảng từ 180 - 200 ngày/năm
23 đơn vị
2012 tăng 0,02% mật độ dân số đạt 96ngườ
99%, là nơi sinh sống của 18 dân tộc Trong đó: Dân tộc Kinh chiếm 26,12%; Tày 47,39%; Dao 13,44%; Nùng 4,52%; Mông 5%; Pà Thẻn 1%; các dân tộc khác (La Chí, Hoa, Mường, Pú Y, Pu Péo, Cờ Lao, Sán Dìu, Lô Lô, Thái, Giấy, Cao Lan) chiếm 2,53%
Số người trong lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là:472.943 người Lao đông nam là: 228.752 người, lao động nữ là: 244.191 người Tỷ lệ thất nghiệp là: 0,51%, ở thành thị cao hơn nông thôn Ở thành thị là: 2,01%; Nông thôn là: 0,22% Lao động chủ yếu là làm nông nghiệp, trong đó chủ yếu là trồng cây lương thực, và cây ăn quả, sản xuất lúa, trồng cam chiếm ưu thế Trong những năm qua mức sống của người dân trong toàn tỉnh đã được cải thiện và nâng lên rõ rệt, tỷ lệ mù chữ giảm, mức tăng tự nhiên dân số giảm đáng kể Tuy nhiên tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh vẫn còn ở mức cao Tỷ lệ hộ nghèo trung bình là: 30,13% giảm 5,25% so với năm 2011 Trong đó tỷ lệ hộ nghèo tập trung lớn nhất là ở các huyện vùng cao như: Đồng Văn 56,79%, Mèo Vạc 50,55%, Xín Mần 46,81% Tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn cao hơn thành thị Nông thôn chiếm 32,91%; Thành thị là: 11,35%
Có thể thấy, công tác xóa đói giảm nghèo bước đầu đã mang lại hiệu quả thể hiện qua số liệu thống kê cho thấy số hộ nghèo giảm đi qua các năm
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
-
* Tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện Bắc Quang
Năm 2013 là năm tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Chỉ thị 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ, nguồn lực giảm so với những năm trước, diễn biến thời tiết phức tạp, xong với sự điều chỉnh linh hoạt của UBND huyện, các xã, thị trấn, sự nỗ lực vượt khó của nhân dân các
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dân tộc trên địa bàn huyện, kinh tế - xã hội của huyện đã đạt được những thành tựu nhất định: Kinh tế tiếp tục được duy trì và phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 12,7%, tổng giá trị sản xuất đạt trên 2.800 tỷ đồng, tăng trên 300 tỷ đồng so với năm 2012; giá trị sản phẩm bình quân đầu người đạt 25,5 triệu đồng/người/năm; giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đất canh tác đạt trên 47 triệu đồng; lương thực bình quân đầu người đạt 531kg/người/năm; thu ngân sách vượt 13% kế hoạch Trong 50 chỉ tiêu cơ bản của năm 2013 đã
có 26 chỉ tiêu đạt và vượt, 11 chỉ tiêu đạt từ 90 - 99%; 08 chỉ tiêu đạt từ 70 - 90%; 01 chỉ tiêu đạt từ 50 - 70%; 01 chỉ tiêu không giảm (giảm hộ nghèo) và
có 03 chỉ tiêu đang tiếp tục quá trình thực hiện
Sản xuất nông lâm nghiệp có chuyển biến tích cực, cơ bản các chỉ tiêu đều đạt và vượt, trong đó có những kết quả mang tính đột phá, tạo hướng đi mới cho phát triển kinh tế nông thôn đó là: Có trên 1.600 đát canh tác đạt giá trị sản phẩm trên 100 triệu đồng/năm, trong đó 1.112 ha diện tích thâm canh 1
vụ lúa + 1 vụ lạc, 44 ha 2 vụ lúa + ngô, 450 ha cây ăn quả Năm 2013 là năm thứ 3 thực hiện thành công về thâm canh tăng năng suất cây trồng nhờ thực hiện chuyển đổi giống mới có năng suất, chất lượng cao; nhân dân đã mạnh dạn đầu tư cơ giới hóa các khâu trong sản xuất nông nghiệp, vì vậy năng suất một số loại cây trồng tăng
Về chương trình xây dựng nông thôn mới, bước đầu đã tạo sự chuyển biến nhận thức của người dân trong cách thức tổ chức thực hiện, trong việc đầu tư theo phương châm"nhà nước và nhân dana cùng làm", phát huy nội lực trong dân là chính, tiêu chí dễ làm trước, tiếu chí không cần kinh phí làm trước Chính vì vậy có 3/21 xã điểm đạt từ 10 tiêu chí trở lên, 3/5 xã điểm đạt
từ 7-9 tiêu chí, các xã còn lại đạt từ 5-7 tiêu chí
Đánh giá chung:
Thuận lợ
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Người dân có kinh nghiệm trong sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp
Có tài nguyên đất phục vụ cho phát triển sản xuất, trồng cây công nghiệp, lương thực, cây ăn quả
Có tiềm năng phát triển công nghiệp khai khoáng
Nhiều nét văn hóa đặc sắc sẽ là điểm đến của nhiều du khách, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch
Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, thách thứ
Nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, sự tiếp cận của người dân qua các phương tiện thông tin đại chúng còn hạn chế Đây là điều kiện cho các thế lực thù địch tuyên truyền, chống phá, gây bạo loạn lật đổ hệ thống chính trị và an ninh trật
tự ở tỉnh ta nói riêng, Đảng và nhà nước ta nói chung Thiếu vốn đầu tư trong phát triển sản xuất, ngành nghề, dịch vụ còn chậm phát triển
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Hộ nông thôn trên địa bàn nghiên cứu (3 xã: Đồng Yên, Vĩnh Phúc, Vĩnh Hảo) thuộc huyện Bắc Quang
* Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Về nội dung: Nghiên cứu kinh tế hộ trong giai đoạn hiện nay, những nhân tố chủ yếu tác động đến sự phát triển kinh tế hộ trong quá trình xây dựng nông thôn mới Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ trong quá trình xây dựng nông thôn mới hiện nay, chủ yếu là các giải pháp về kinh tế
- Về không gian: Nghiên cứu kinh tế hộ tại huyện Bắc Quang, tập trung
phát triển hơn so với 2 xã còn lại
Xã Vĩnh Hảo: Là xã có kinh tế kém phát triển hơn so vớ
4.447 ha, giao thông chưa phát triể
, cây trồng chủ yếu là cây lâm nghiệp, trình độ dân trí, cơ sở hạ tầng còn kém phát
- Về thời gian: nghiên cứu thực trạng kinh tế Hộ từ năm 2013 đến năm 2014