1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2015

104 1,8K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Đa Dạng Hóa Sản Phẩm Du Lịch Tỉnh Lâm Đồng Đến Năm 2015
Tác giả Nguyễn Văn Võ
Người hướng dẫn TS. Đặng Ngọc Đại
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2007
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH, TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2015

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐA DẠNG HÓA SPDL CHO MỘT ĐỊA PHƯƠNG 1.1 Khái niệm về sản phẩm du lịch 01

1.1.1 Sản phẩm du lịch chính 01

1.1.2 Sản phẩm du lịch hình thức 01

1.1.3 Sản phẩm du lịch mở rộng 02

1.2 Những đặc tính của sản phẩm du lịch 02

1.2.1 Tính nhìn thấy được và không nhìn thấy được 02

1.2.2 Tính đa dạng của các thành viên tham dự 03

1.2.3 Những đặc tính đặc thù của sản phẩm du lịch 03

1.3 Những yếu tố cơ bản của sản phẩm du lịch 04

1.3.1 Những yếu tố cấu thành cơ bản 04

1.3.2 Môi trường kế cận 04

1.3.3 Dân cư địa phương 04

1.3.4 Các dịch vụ công cộng phục vụ du lịch 05

1.3.5 Cơ sở lưu trú, nhà hàng và các dịch vụ thương mại 05

1.3.6 Kết cấu hạ tầng giao thông 05

1.4 Các sản phẩm du lịch chính 05

1.4.1 Sản phẩm du lịch của một quần thể địa lý 06

1.4.2 Sản phẩm du lịch trọn gói 06

1.4.3 Sản phẩm du lịch dạng trung tâm 06

1.4.4 Sản phẩm du lịch dạng biến cố 06

1.4.5 Những sản phẩm du lịch đặc biệt 07

1.5 Vòng đời sản phẩm du lịch 07

1.6 Chất lượng sản phẩm du lịch 07

Trang 3

1.7 Quan niệm về lợi thế cạnh tranh 08

1.8 Quan niệm về thương hiệu du lịch 08

1.9 Vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 09

1.10 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản phẩm du lịch 10

1.11 Kinh nghiệm đa dạng hóa sản phẩm du lịch của một số nước 11

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH TỈNH LÂM ĐỒNG 2.1 Vị trí của ngành du lịch trong quá trình phát triển kinh tế Lâm Đồng 14

2.2 Thực trạng kết cấu cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 14

2.2.1 Kết cấu cơ sở hạ tầng giao thông 14

2.2.2 Hệ thống cấp điện 15

2.2.3 Hệ thống cấp nước 16

2.2.4 Hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường 16

2.2.5 Hệ thống bưu chính viễn thông 16

2.2.6 Dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe 16

2.3 Qui mô và chất lượng các sản phẩm du lịch địa phương 17

2.3.1 Dịch vụ lưu trú 17

2.3.2 Khu, điểm tham quan, vui chơi giải trí 18

2.3.3 Dịch vụ lữ hành – vận chuyển 18

2.3.4 Loại hình du lịch sinh thái 19

2.3.5 Loại hình du lịch nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe 19

2.3.6 Loại hình du lịch hội thảo - hội nghị 19

2.4 Hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Lâm Đồng 20

2.4.1 Khách du lịch 20

2.4.2 Khách du lịch quốc tế 20

2.4.3 Khách du lịch nội địa 21

2.5 Về đầu tư phát triển du lịch 21

2.6 Xúc tiến, quảng bá du lịch 22

2.7 Tiềm năng đa dạng hóa sản phẩm du lịch tỉnh Lâm Đồng 22

Trang 4

2.7.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 22

2.7.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 25

2.7.3 Tiềm năng về nguồn nhân lực 27

2.8 Nhận định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của du lịch Lâm Đồng 28

2.8.1 Tóm tắt điểm mạnh, điểm yếu của du lịch tỉnh Lâm Đồng 28

2.8.2 Tóm tắt cơ hội, nguy cơ của du lịch tỉnh Lâm Đồng 29

2.9 Khảo sát đánh giá của du khách về đa dạng hóa SPDL tỉnh Lâm Đồng 30

2.9.1 Thiết kế bảng câu hỏi 30

2.9.2 Phương pháp thu thập thông tin 31

2.9.3 Phân tích dữ liệu 31

2.9.4 Kết quả thu được từ những thông tin cá nhân 32

2.9.5 Đánh giá của du khách về mức độ quan trọng của các yếu tố SPDL 34

2.9.6 Đánh giá của du khách về mức độ quan trọng của các SPDL 35

2.9.7 Đánh giá của du khách về thực trạng các yếu tố SPDL Lâm Đồng 36

2.9.8 Đánh giá của du khách về thực trạng SPDL Lâm Đồng 37

2.9.9 So sánh sự chênh lệch giữa giá trị trung bình mức độ quan trọng và thực trạng các yếu tố sản phẩm du lịch 38

2.9.10 So sánh sự chênh lệch giữa giá trị trung bình mức độ quan trọng và thực trạng sản phẩm du lịch 39

2.9.11 Đánh giá độ tin cậy của thang đo 40

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2015 3.1 Quan điểm, mục tiêu đa dạng hóa sản phẩm du lịch Lâm Đồng 42

3.1.1 Quan điểm 42

3.1.2 Mục tiêu tổng quát 42

3.1.3 Mục tiêu cụ thể 43

3.2 Thiết lập ma trận SWOT 44

3.3 Khái quát chiến lược phát triển các SPDL đến năm 2015 46

3.4 Giải pháp củng cố và đa dạng hóa SPDL đến năm 2015 48

3.4.1 Nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch 48

3.4.2 Giải pháp đối với các tour du lịch 50

Trang 5

3.4.3 Giải pháp đối với dịch vụ nhà hàng khách sạn 51

3.4.4 Giải pháp phát triển du lịch nghỉ dưỡng 51

3.4.5 Giải pháp phát triển du lịch sinh thái 52

3.4.6 Giải pháp phát triển du lịch hội nghị 53

3.4.7 Khí hậu, cảnh quan và môi trường là yếu tố SPDL chủ yếu 54

3.4.8 Giải pháp đối với du lịch văn hóa 55

3.4.9 Khôi phục và phát triển hình thức du lịch miệt vườn 56

3.4.10 Khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống 56

3.4.11 Sản phẩm văn hóa ẩm thực đặc trưng 57

3.5 Giải pháp thu hút và phát triển nguồn nhân lực 57

3.6 Giải pháp đối với kết cấu hạ tầng kỹ thuật 58

3.7 Đẩy mạnh liên doanh liên kết trong và ngoài nước 59

3.8 Đẩy mạnh các hình thức quảng bá, xúc tiến du lịch 60

3.9 Giải pháp về thu hút nguồn vốn đầu tư 60

3.10 Một số kiến nghị 61

3.10.1 Kiến nghị với chính phủ, ban ngành trung ương 61

3.10.2 Kiến nghị với chính quyền địa phương, nhân dân tỉnh Lâm Đồng 62

KẾT LUẬN

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

ITDR Viện Nghiên cứu phát triển du lịch

FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

ODA Vốn viện trợ không hoàn lại

SPDL Sản phẩm du lịch

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

UBND Ủy ban Nhân dân

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc

WTO Tổ chức Du lịch thế giới

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Doanh thu xã hội từ du lịch Lâm Đồng thời kỳ 2001 - 2006 14

Bảng 2.2: Cơ sở lưu trú của Lâm Đồng giai đoạn 2001 - 2006 17

Bảng 2.3: Lượng khách du lịch đến Lâm Đồng thời kỳ 2001 – 2006 20

Bảng 2.4: So sánh lượng khách du lịch đến Lâm Đồng với các tỉnh phụ cận 21

Bảng 2.5: Lao động trong ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng 28

Bảng 2.6: Các thông tin về cá nhân của du khách 33

Bảng 2.7: Đánh giá của du khách về mức độ quan trọng các yếu tố SPDL 34

Bảng 2.8: Đánh giá của du khách về mức độ quan trọng các SPDL 35

Bảng 2.9: Đánh giá của du khách về thực trạng các yếu tố SPDL Lâm Đồng 36

Bảng 2.10: Đánh giá của du khách về thực trạng SPDL Lâm Đồng 37

Bảng 2.11: So sánh sự chênh lệch giữa mức độ quan trọng và thực trạng các yếu tố sản phẩm du lịch 38

Bảng 2.12: So sánh sự chênh lệch giữa mức độ quan trọng và thực trạng các sản phẩm du lịch 39

Bảng 3.1: Ma trận SWOT 45

Trang 8

DANH MỤC PHỤ LỤC Phụ lục 1 : Mẫu phiếu khảo sát dành cho du khách trong nước

Phụ lục 2 : Mẫu phiếu khảo sát dành cho du khách nước ngoài

Phụ lục 3 : Đánh giá của du khách về mức độ quan trọng của sản phẩm du lịch Phụ lục 4 : Đánh giá của du khách về thực trạng của sản phẩm du lịch Lâm Đồng Phụ lục 5: Một số tài nguyên thiên nhiên

Phụ lục 6: Một số tài nguyên nhân văn

Phụ lục 7: Danh sách các khách sạn được xếp hạng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Phụ lục 8: Danh mục các dự án đầu tư du lịch từ năm 2003 đến nay trên địa bàn

tỉnh Lâm Đồng

Phụ lục 9: Bản đồ du lịch tỉnh Lâm Đồng

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Ngày nay, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống

xã hội của con người Xu hướng chung trên thế giới là số người đi du lịch ngày càng tăng, dự kiến năm 2010, toàn cầu sẽ đạt tới 937 triệu khách, nhiều nước, nhiều lãnh thổ xác định du lịch như một ngành kinh tế mũi nhọn, đem lại hiệu quả kinh tế

- xã hội cao

Tại Việt Nam, kinh tế du lịch ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân thông qua việc tạo giá trị đóng góp cho nền kinh tế quốc gia Mức sống của người dân Việt Nam ngày càng được cải thiện, nhu cầu về du lịch cũng được tăng theo về số lượng cũng như chất lượng Với chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế thế giới của nhà nước, với nền an ninh chính trị ổn định, Việt Nam đã thu hút một số lượng đông đảo du khách quốc tế đến tham quan du lịch

Theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 đến 2010 của Chính phủ đã xác định thành phố Ðà Lạt - Lâm Ðồng là một trong bốn trung tâm du lịch của cả nước và quốc tế Đà Lạt nói riêng, tỉnh Lâm Đồng nói chung hiện có những lợi thế tiềm năng rất lớn về khí hậu, tài nguyên thiên nhiên và nhân văn du lịch

Tuy vậy, thời gian qua du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng mới chỉ tập trung khai thác dịch vụ khách sạn nhà hàng, dịch vụ tham quan các khu danh lam thắng cảnh mà chưa có sự đầu tư chiều sâu nhằm khai thác, phát triển các loại hình du lịch khác như: du lịch dã ngoại, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa, du lịch hội nghị… Nói chung, kinh tế du lịch của tỉnh Lâm Đồng phát triển còn chậm, hiệu quả kinh tế thấp, chưa ngang tầm với tiềm năng du lịch của địa phương; Quy mô và chất lượng của sản phẩm du lịch còn nhỏ bé và yếu kém Trong khi đó du lịch ở một

số nước trong khu vực châu Á như: Thái Lan, Malaysia, Singapore, Trung Quốc đang ngày càng phát triển với tốc độ khá nhanh Mặt khác, thế mạnh về phát triển

du lịch của các tỉnh lân cận như: Khánh Hòa, Phan Thiết, Bà Rịa Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, đồng bằng Nam Bộ… đã, đang và sẽ là những đối thủ cạnh tranh gay gắt đối với du lịch Đà Lạt nói riêng và tỉnh Lâm Đồng nói chung

Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi chọn đề tài “ Giải pháp đa dạng hóa sản phẩm du lịch tỉnh Lâm Đồng đến năm 2015”, với mong muốn đề ra một số giải

Trang 10

lịch ngày càng cao của du khách, quảng bá thương hiệu du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng rộng khắp trong nước cũng như trên thế giới, góp phần phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng một cách chủ động, toàn diện và bền vững

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở khái quát hệ thống lý luận về sản phẩm du lịch, đánh giá thực

trạng và tiềm năng đa dạng hóa sản phẩm du lịch Lâm Đồng; nhận định được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với du lịch Lâm Đồng; từ đó thiết lập nên bảng ma trận SWOT Đồng thời, đề tài tiến hành khảo sát đánh giá của du khách về sản phẩm du lịch Lâm Đồng bằng phương pháp nghiên cứu định lượng Trên cơ sở đó đưa ra những chiến lược, giải pháp và các kiến nghị cho quá trình đa dạng hóa sản phẩm du lịch nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh, góp phần phát triển kinh tế du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng một cách bền vững

3 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chủ yếu tập trung phân tích khía cạnh sản phẩm du lịch của tỉnh Lâm Đồng trong mối quan hệ với du lịch của một số tỉnh phụ cận và trong cả nước Luận văn sử dụng số liệu thống kê của ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng từ năm

2001 đến năm 2006

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, cụ thể là điều tra khảo sát (Survey) du khách và sử dụng phần mềm SPSS 13.0 để phân tích dữ liệu

5 Kết cấu của luận văn:

Kết cấu luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về đa dạng hóa sản phẩm du lịch cho một địa phương

Chương 2: Thực trạng và tiềm năng đa dạng hóa sản phẩm du lịch của tỉnh Lâm Đồng

Chương 3: Định hướng và giải pháp đa dạng hóa sản phẩm du lịch tỉnh Lâm Đồng đến năm 2015

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐA DẠNG HÓA

SẢN PHẨM DU LỊCH CHO MỘT ĐỊA PHƯƠNG

1.1.2 Sản phẩm du lịch hình thức

Sản phẩm du lịch hình thức tương ứng với sản phẩm mà nó có mặt lúc mua hoặc chọn lựa Nó là sản phẩm cốt yếu được cụ thể hóa bằng những yếu tố hoặc những dịch vụ rõ ràng như khách sạn, nhà hàng, trang thiết bị Nó không còn là một sản phẩm ở trong khái niệm mà là một thành phẩm được thương mại hóa và được

Trang 12

du khách tiêu thụ Chẳng hạn, nếu sản phẩm cốt yếu là một sân golf, thì sản phẩm hình thức là toàn bộ khách sạn và dịch vụ thương mại phục vụ cho chơi golf cũng như những đặc tính kỹ thuật liên quan đến chơi golf

1.1.3 Sản phẩm du lịch mở rộng

Sản phẩm du lịch mở rộng là toàn bộ những yếu tố liên quan đến du khách,

là tổng thể các yếu tố nhìn thấy cũng như không nhìn thấy được cung cấp cho du khách Sản phẩm du lịch mở rộng đó là hình ảnh hay đặc tính của sản phẩm mà du khách cảm nhận được Hình ảnh đó bao gồm những yếu tố vật lý như kiến trúc, cảnh quan, màu sắc và những yếu tố tâm lý như bầu không khí, lối sống, sự sang trọng, đẳng cấp xã hội

1.2 Những đặc tính của sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là một sản phẩm đặc biệt với nhiều đặc tính khác nhau

1.2.1 Tính nhìn thấy được và không nhìn thấy được

• Sản phẩm du lịch bao gồm một tập hợp các yếu tố nhìn thấy được chủ yếu là:

- Tài nguyên thiên nhiên như: khí hậu, cảnh quan, núi rừng, sông suối, hồ, thác…Mỗi một địa phương đều có những đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên, điều này góp phần tạo nên nét đặc thù độc đáo cho các sản phẩm du lịch

- Cơ sở vật chất cơ bản như: khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí Đây

là những cơ sở vật chất du khách sử dụng trong thời gian đi du lịch của mình

- Những sản phẩm liên quan: phương tiện vận chuyển, các đặc sản, hàng lưu niệm

• Các yếu tố không nhìn thấy được chia làm hai loại:

- Các dịch vụ du lịch: dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ hướng dẫn, dịch vụ mua sắm Các dịch vụ này rất quan trọng trong quá trình đa dạng hóa các sản phẩm du lịch Để có được dịch vụ du lịch tốt trước hết, đòi hỏi phải có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp

- Những yếu tố tâm lý như: sự sang trọng, đẳng cấp xã hội, bầu không khí, tiện nghi, nếp sống thanh lịch Khi đời sống xã hội ngày càng cao, du khách rất chú trọng đến những nhu cầu này

Trang 13

1.2.2 Tính đa dạng của các thành viên tham dự

Thông thường các sản phẩm du lịch có nhiều yếu tố cấu thành như: hạ tầng

cơ sở vật chất, các loại dịch vụ… Chính sự đa dạng này đôi khi là một trở ngại cho việc phối hợp và hoàn chỉnh giữa các bộ phận khác nhau, thậm chí gây tổn thất cho sản phẩm du lịch

Phần nhiều, sản phẩm du lịch không thâu tóm hết cả chiều dọc lẫn chiều ngang vào một tổ chức duy nhất mà phần lớn là kết quả của sự chấp thuận giữa những thành viên liên quan mà quyền lợi đôi khi khác nhau, thậm chí còn có tính tranh chấp

Một trong những điều kiện tiên quyết để đưa ra một sản phẩm du lịch tốt là

sự kết hợp hài hòa giữa các thành viên: cơ quan quản lý, cộng đồng địa phương, chủ khách sạn, chủ nhà hàng, các thương gia và tất cả những người cung cấp các loại dịch vụ liên quan Vì thế, phải làm sao cho các mục tiêu của các thành viên gần gũi lại và bổ sung lẫn nhau, xác định và đánh giá đúng phần tham gia của mỗi thành viên trong tổng thể của sản phẩm du lịch, phải xác định vị trí của sản phẩm du lịch

và các thị trường mục tiêu để mọi người cùng chấp thuận, phát huy mọi hoạt động tiếp thị của các thành viên

1.2.3 Những đặc tính đặc thù của sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là một dịch vụ đặc biệt, là những sản phẩm dịch vụ mà bản thân chúng không hề bị tiêu hủy sau khi du khách sử dụng

Tính đặc biệt của sản phẩm du lịch được thể hiện ở một số đặc điểm sau:

- Sự tham gia của du khách là cần thiết để thực hiện dịch vụ Du lịch đòi hỏi phải có du khách để tồn tại

- Sản phẩm du lịch không thể để tồn kho Bởi vì, một phòng của khách sạn, một chỗ ngồi trên máy bay không bán được thì không thể cất giữ vào kho

- Tính không co giãn của cung so với cầu làm cho người ta không thể tăng cung của sản phẩm du lịch trong ngắn hạn

Trang 14

- Sản phẩm du lịch không phải là một loại sản phẩm có thể di chuyển về các thị trường tiêu thụ, mà trái lại các thị trường phải di chuyển về hướng sản phẩm du lịch Chính vì vậy công tác tuyên truyền và quảng bá các sản phẩm du lịch vô cùng quan trọng

1.3 Những yếu tố cơ bản của sản phẩm du lịch

1.3.1 Những yếu tố cấu thành cơ bản

Cũng như tất cả những sản phẩm khác, sản phẩm du lịch gồm nhiều yếu tố kết hợp với nhau để đáp ứng cho thị trường mục tiêu, thỏa mãn tối đa nhu cầu của

du khách Sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố cơ bản như sau:

- Tài nguyên thiên nhiên: khí hậu, cảnh đẹp thiên nhiên, núi rừng, bãi biển, sông suối…

- Tài nguyên nhân văn: các di sản văn hóa, di tích lịch sử, phong tục tập quán, các lễ hội, công trình kiến trúc lịch sử, công trình kiến trúc tôn giáo…

- Các cơ sở vật chất phục vụ ngành du lịch: khách sạn, nhà hàng, công viên, khu vui chơi giải trí…

- Hệ thống phương tiện giao thông phục vụ du lịch: máy bay, tàu lửa, ô tô, xe bus, taxi, tàu thủy, thuyền…

- Các cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: hệ thống giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông, y tế…

- Môi trường kinh tế và xã hội: Giá cả liên quan đến hoạt động du lịch, an toàn xã hội, trình độ dân trí, văn minh đô thị…

1.3.2 Môi trường kế cận

Những yếu tố thiên nhiên là nguồn để tạo nên sản phẩm du lịch, đòi hỏi chúng phải được bao bọc bởi những vùng đệm chung quanh thật lôi cuốn, có như vậy mới tạo nên những sản phẩm du lịch đa dạng, giá trị và bền vững Đây sẽ là nơi

mở rộng thêm các loại hình du lịch khác phục vụ nhu cầu tiềm ẩn của du khách

1.3.3 Dân cư địa phương

Du lịch tạo điều kiện cho du khách tiếp xúc với dân cư địa phương Thông thường du khách và dân địa phương có những lối sống và văn hóa khác nhau Mối

Trang 15

quan hệ giữa họ có thể làm phát sinh mâu thuẫn Cho nên, thái độ của dân địa phương ảnh hưởng lớn đến sự cảm nhận của du khách đối với sản phẩm du lịch

Phần lớn, du lịch gồm những yếu tố kích thích tâm hồn và cảm xúc Những khía cạnh như bầu không khí, cách cư xử, sự thân thiện là những yếu tố quyết định trong việc đánh giá một sản phẩm du lịch Đây là vấn đề không nên coi nhẹ trong quá trình đa dạng hóa sản phẩm du lịch

1.3.4 Các dịch vụ công cộng phục vụ du lịch

Những yếu tố cơ bản của sản phẩm du lịch thường khó thay đổi, trong khi đó dịch vụ công cộng lại có thể dễ dàng thay đổi và chính các yếu tố đó đã góp phần to lớn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, gia tăng độ thỏa dụng cho du khách Việc xây dựng một trung tâm hội nghị trong thành phố, một khu vui chơi giải trí, một khu thể thao, một công viên, trồng nhiều cây xanh trong thành phố… là những nhân tố làm thay đổi sản phẩm du lịch của một thành phố hoặc một điểm du lịch

1.3.5 Cơ sở lưu trú, nhà hàng và các dịch vụ thương mại

Du khách là những người ra khỏi nhà ở của mình trong một thời gian nhất định, tạm thời rời bỏ công việc bận rộn của mình tìm đến một nơi để nghỉ ngơi, thư

giản Du khách có thể ở trong khách sạn, quán trọ hoặc ở trong các lều trại Cơ sở

lưu trú, nhà hàng sẽ là những yếu tố quan trọng làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm

du lịch Có những cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời, có khí hậu trong lành, mát mẻ bên cạnh là các khách sạn, nhà hàng sang trọng, ấm cúng, chắc chắn sẽ tạo ra các sản phẩm du lịch có giá trị cho du khách

1.3.6 Kết cấu hạ tầng giao thông

Du lịch hàm ý một sự di chuyển của du khách ra khỏi nhà để đến chỗ lưu trú Cho nên, các phương tiện giao thông, đường sá, sân bay, bến cảng là những yếu tố

vô cùng quan trọng để việc di chuyển đó có thể diễn ra trong những điều kiện tốt nhất (ít mệt, ít tốn thời gian) và chi phí thấp nhất Những phương tiện đi lại trong trung tâm thành phố như xe bus, taxi, xích lô… và các điều kiện đi lại khác, là những vấn đề không thể coi thường bên trong sản phẩm du lịch

1.4 Các sản phẩm du lịch chính

Trang 16

Sản phẩm du lịch rất đa dạng, nhưng có thể tóm lại trong năm loại chính sau đây

1.4.1 Sản phẩm du lịch của một quần thể địa lý

Sản phẩm du lịch nằm trong một tổng thể địa lý như: một vùng đặc biệt của một nước, một thành phố, một số vùng địa phương….Tuy nhiên, tất cả những điều

đó chưa phải là sản phẩm du lịch mà chúng chỉ mới là những tiềm năng để các nhà

tổ chức du lịch tạo lập những sản phẩm du lịch Thực thể địa lý không dễ dàng tổ chức phối kết hợp Vì vậy, để cho sản phẩm du lịch ra đời và phát triển cần phải kết hợp tốt giữa nhà nước với các tổ chức tư nhân

1.4.2 Sản phẩm du lịch trọn gói

Sản phẩm du lịch trọn gói bao gồm toàn bộ những sản phẩm như dịch vụ lưu trú, ăn uống, phương tiện vận chuyển và những dịch vụ khác Điều đặc biệt ở đây là

du khách mua một sản phẩm hoàn chỉnh với một giá nhất định

Sản phẩm du lịch dạng này thường được tạo lập bởi nhà tổ chức du lịch của các đại lý du lịch, các khách sạn hoặc các công ty vận chuyển Đây chính là loại sản phẩm nhằm tạo nên sự tiện ích cho du khách, họ không còn phải bận tâm tới chỗ nghỉ ngơi, ăn uống và đi lại trong suốt tour du lịch của mình Hiện nay, loại hình du lịch này đang hấp dẫn du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài

1.4.3 Sản phẩm du lịch dạng trung tâm

Đó là những sản phẩm như: chơi golf, đua thuyền buồm, leo núi,… Loại sản phẩm này thường dành riêng cho những du khách có khả năng chơi golf, đua thuyền hoặc leo núi Với sự gia tăng hội chơi golf, hội đua thuyền buồm, hội leo núi…, cùng với sự phát triển của xã hội, những sản phẩm dạng trung tâm ngày một phát triển nhiều hơn

1.4.4 Sản phẩm du lịch dạng biến cố

Những sự kiện thể thao, các lễ hội, hội thi, đã tạo thành một loại sản phẩm

du lịch Cái bất lợi của loại hình này là có tính chất thời điểm, chỉ vài ngày hoặc tới một tháng là tối đa Những sản phẩm dạng biến cố quen thuộc nhất là các lễ hội văn

Trang 17

hóa, lễ hội truyền thống, các lễ hội hoa, lễ hội trà, lễ hội Vespa… và những hội thi khác cùng với những buổi biểu diễn ca múa nhạc ngoài trời

1.4.5 Những sản phẩm du lịch đặc biệt

Các sản phẩm du lịch đặc biệt như: chơi thể thao (thuyền buồm, ván lướt sóng, cano, cưỡi ngựa, nhảy dù bay, ), game show, hội nghị tổng kết, hội nghị khách hàng hoặc nghệ thuật ẩm thực , đây là những sản phẩm đặc biệt cần phân khúc thị trường sản phẩm và chọn lọc loại hình thích hợp

Thời gian và vòng đời sản phẩm du lịch chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố, đặc biệt nhất là bởi hành động chiến lược và chiến thuật của đối thủ cạnh tranh

1.6 Chất lượng sản phẩm du lịch

Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp hướng tới chất lượng sản phẩm hay dịch vụ theo cách tiếp cận giá trị và góc độ người tiêu dùng Tuy nhiên, một doanh nghiệp thường có nhiều loại khách hàng khác nhau Do đó, để thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của khách hàng, chất lượng được xem như một chiến lược kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp Chiến lược này phải đảm bảo cung cấp những hàng hóa và dịch vụ hoàn toàn thỏa mãn những mong đợi hiện tại và tiềm ẩn của khách hàng Chiến lược này sử dụng tài năng của tất cả các thành viên nhằm đạt được lợi ích cho tổ chức nói riêng, cho xã hội nói chung và phải đem lại lợi tức cho các cổ đông

Trang 18

Vấn đề đa dạng hóa các sản phẩm du lịch không thể tách rời chất lượng các sản phẩm du lịch Chất lượng sản phẩm du lịch không chỉ làm thỏa mãn du khách

mà còn không gây ảnh hưởng đến xã hội và môi trường xung quanh Do tính đa dạng và phong phú của sản phẩm du lịch nên để tạo ra một sản phẩm du lịch có chất lượng không hề dễ dàng

Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch không có nghĩa là phát triển chúng một cách tràn lan mà cần có chọn lọc Ngoài những định hướng phát triển các loại hình kinh doanh du lịch, thì việc định hướng đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch cũng không kém phần quan trọng Chính quyền địa phương cần định hướng phát triển sao cho phù hợp với nhu cầu thị trường du lịch trong nước và quốc

tế

1.7 Quan niệm về lợi thế cạnh tranh

Quan niệm về lợi thế cạnh tranh trước hết phải xuất phát từ khách hàng, một khách hàng sẽ mua một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó của doanh nghiệp chỉ

vì sản phẩm dịch vụ đó giá rẻ hơn nhưng cùng chất lượng hoặc đắt hơn nhưng chất lượng cao hơn so với sản phẩm, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh Chất lượng là giá trị của sản phẩm dịch vụ mà người tiêu dùng có thể tìm thấy ở chính sản phẩm đó và không thấy ở các sản phẩm cạnh tranh khác, hay nói cách khác sản phẩm dịch vụ đó

có những điểm mạnh vượt trội hơn các đối thủ khác

Lợi thế cạnh tranh trên thị trường về cơ bản có hai loại, đó là chiến lược chi phí thấp hơn và chiến lược khác biệt về chất lượng sản phẩm, hình thức bề ngoài, khả năng đáp ứng nhanh Nguồn lợi thế cạnh tranh có mối tương quan mật thiết với chiến lược và năng suất chất lượng của công ty Để có được lợi thế cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên mọi phương diện

Để nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ là công việc của ngành du lịch

mà phải phối hợp đa ngành, không chỉ là công việc của sở du lịch thương mại mà còn là của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và của mỗi người dân địa phương

1.8 Quan niệm về thương hiệu du lịch

Trang 19

Thương hiệu là một cam kết tuyệt đối về chất lượng, dịch vụ và giá trị trong một thời gian dài, đã được chứng nhận qua hiệu quả sử dụng và bởi sự thỏa mãn của khách hàng Thương hiệu là hình ảnh có tính chất văn hóa, lý tính, cảm tính, trực quan và độc quyền mà chúng ta liên tưởng đến khi nhắc đến một sản phẩm hay một công ty Thương hiệu là phần hồn của một doanh nghiệp, là uy tín của công ty, là niềm tin mà khách hàng dành cho công ty

Thương hiệu du lịch là nét độc đáo nổi bật mang tính đặc trưng của sản phẩm du lịch ở địa phương lưu lại mãi trong ký ức của du khách Khi nhắc tới địa danh đó mọi người liên tưởng ngay tới những đặc trưng nổi bật mà chỉ nơi đó mới

có Thương hiệu du lịch chính là địa danh nơi mà có những sản phẩm du lịch nổi tiếng

1.9 Vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển kinh tế du lịch vừa là mục tiêu, vừa là cơ sở, động lực để thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh

tế - xã hội Càng ngày, du lịch càng trở nên quan trọng trong hoạt động kinh tế của các nước

Du lịch có tầm quan trọng trong nền kinh tế nên hiện nay phần nhiều các nước, các vùng và các thành phố đều cố gắng phát huy các thế mạnh của địa phương để khai thác có hiệu quả các sản phẩm du lịch Hàng năm ngành du lịch đã đem về cho nhiều quốc gia một số tiền khổng lồ, thu hút một số lượng lớn lực lượng lao động Sự phát triển du lịch có thể cải thiện nhiều mặt về môi trường đầu tư, tăng cường hợp tác và giao lưu kinh tế đối ngoại

Đối với Việt Nam, kinh tế du lịch phát triển đã đem về một lượng lớn ngoại

tệ cho quốc gia, góp phần tạo nên cán cân thanh toán thặng dư, tăng tỉ trọng dịch vụ trong ngành kinh tế quốc dân, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương Có thể nói du lịch đã đem lại nhiều giá trị kinh tế và xã hội cho địa phương nói riêng và cho cả nước nói chung Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước ta

Trang 20

đã chủ trương ưu tiên phát triển ngành kinh tế du lịch, coi chúng là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia

Tổng cục du lịch Việt Nam cho biết: Năm 2006 Việt Nam đón được 3,585 triệu lượt du khách quốc tế và 17,5 triệu lượt khách nội địa, đạt tổng doanh thu toàn

xã hội từ du lịch khoảng 3,18 tỉ USD Năm 2010, Việt Nam dự kiến sẽ đón 6 triệu lượt khách quốc tế và 25 triệu lượt khách nội địa Thu nhập du lịch năm 2010 đạt khoảng 4-5 tỷ USD

1.10 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản phẩm du lịch

Chính sự lên ngôi của ngành du lịch và vui chơi giải trí đã buộc chính phủ các nước phải có cái nhìn về tương lai trong lĩnh vực này Các nhà quản lý cần đưa

ra cho địa phương, quốc gia mình các sản phẩm du lịch phong phú và đa dạng đáp ứng sự thỏa dụng cao nhất cho du khách, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và con người của địa phương

Việc qui hoạch du lịch nói chung và phát triển các sản phẩm du lịch nói riêng cần phải tính đến yếu tố không gian du lịch và cả thời gian vui chơi giải trí Đó là tạo ra một không gian cho những mục đích sử dụng khác nhau đồng thời cũng phải xem xét thời gian mà du khách nhàn rỗi

Để xem xét, đánh giá tính khả thi của các sản phẩm du lịch, ta cần phải biết cách đánh giá các cơ hội của địa phương và khu vực, cũng như phải biết những nhu cầu ở dạng tiềm năng của du khách Công việc thu thập số liệu về khí hậu, địa chất, địa hình, lịch sử có thể thực hiện tương đối dễ dàng, trong khi đó việc tìm hiểu về con người khó hơn rất nhiều

Sản phẩm du lịch ra đời đòi hỏi phải có các nguồn lực đó là: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn, các nguồn lực về tài chính, kết cấu hạ tầng chung của nền kinh tế, các chủ trương chính sách đầu tư của nhà nước cũng như địa phương về du lịch…

Sự thành công của một sản phẩm du lịch thường được xây dựng trên những quan hệ tốt giữa cộng đồng địa phương, doanh nghiệp du lịch, chính quyền địa phương và Nhà nước Các bước cần thiết để tạo dựng nên một sản phẩm du lịch

Trang 21

thành công: trước tiên, cần phải liệt kê được những yếu tố hiện tại và tương lai của sản phẩm du lịch do thực thể địa lý đem lại Bước tiếp theo là nhận diện các thị trường tiềm năng, phân khúc và chọn thị trường mục tiêu; xác định tổng thể các sản phẩm và vị trí của chúng trên thị trường mục tiêu đã chọn; sản phẩm phải được tổ chức và phối kết hợp để du khách có thể tìm được lợi ích của họ Cuối cùng sản phẩm phải được đưa ra phục vụ du khách với một hệ thống dịch vụ hoàn chỉnh

1.11 Kinh nghiệm đa dạng hóa sản phẩm du lịch của một số nước

• Thái Lan:

Ngành du lịch Thái Lan đã trải qua một quá trình đa dạng hóa sản phẩm du lịch ở nhiều mặt: về phương tiện phục vụ, về loại hình, về quy mô và chất lượng phục vụ du lịch

Sự gia tăng số lượng và thành phần du khách quốc tế đến Thái Lan đã kéo theo một quá trình đa dạng hóa các điểm du lịch Các công viên vừa được xem là điểm du lịch vừa là khu bảo tồn thiên nhiên Chung quanh các thắng cảnh tự nhiên thường có các loại hình du lịch đặc biệt như: các tour dã ngoại và mạo hiểm, tour du lịch đi bộ, tour khám phá hang động và các tour du lịch sinh thái đa dạng khác

Trong những năm gần đây, số lượng các cung điện, đền đài mang tính lịch

sử và các viện bảo tàng được mở ra cho công chúng và du khách vào tham quan ngày một tăng

Những bộ tộc miền núi đã trở thành một trong những điểm thu hút khách

du lịch Các bộ tộc miền núi được tái tạo ngay tại những trung tâm du lịch lân cận các thành phố du lịch chính của Thái Lan

Các hội chợ, lễ hội và nghệ thuật dân gian đang là những hoạt động ngày càng thu hút nhiều du khách Những lễ hội truyền thống được quảng bá rộng rãi đến các du khách tiềm năng; một số làng thủ công mỹ nghệ và chợ bán loại hàng này cũng đã trở thành những điểm thu hút không ít du khách, ví dụ như làng gốm sứ Dan Kwien và làng tranh chạm Ban Thawai

Trên khắp các khu vực đồng bằng và thung lũng, nhiều khu du lịch nghỉ dưỡng đã được thành lập Mặc dù con số du khách tự mình đi du thám vùng cao

Trang 22

nguyên ngày càng đông nhưng không làm giảm đi lượng du khách đến khu vực này thông qua các công ty du lịch dã ngoại Hệ thống lộ trình dã ngoại đã mở rộng một cách nhanh chóng và đa dạng Ở Phuket hiện có rất nhiều sân golf và các tiện nghi giải trí khác như vườn bướm, sân tập bắn súng, các trung tâm hàng mỹ nghệ và lưu niệm…

Hơn nữa, chính phủ Thái Lan luôn khuyến khích người dân tìm ra các phương thức quản lý các nguồn lực vì lợi ích và phát triển cộng đồng Người dân địa phương có quyền tham gia vào sự phát triển du lịch để phát triển cộng đồng và

để bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn

Thái Lan được xem như một mô hình điển hình có thể tham khảo để xây dựng mô hình phát triển du lịch đồng bộ nhằm thu hút du khách với số lượng lớn

• Singapore:

Singapore với diện tích nhỏ bé khoảng 648 km2, tài nguyên thiên nhiên không dồi dào cho việc phát triển du lịch, tuy nhiên họ đã khắc phục được vấn đề thiếu tài nguyên thiên nhiên bằng cách tạo ra các sản phẩm du lịch nhân tạo độc đáo

Để thu hút du khách, Singapore không ngừng đa dạng hóa sản phẩm du lịch bằng cách xây dựng nhiều khu vui chơi giải trí như: Trung tâm vui chơi Sentosa với các hoạt động văn hóa thể thao, khu dạo bộ, bơi thuyền và các nhà hàng; Công viên Đại dương là công viên lớn và hiện đại nhất của Singapore với hơn

250 loài sinh vật biển…

Singapore còn được mệnh danh là đất nước của các loài hoa, đặc biệt là các loài phong lan Vườn quốc gia Singapore được xem là bảo tàng nhiệt đới, bên trong vườn có hơn 2000 loài hoa khác nhau Đây cũng là sản phẩm du lịch đặc sắc thu hút đông đảo du khách tới tham quan và nghiên cứu

Singapore được đánh giá là quốc gia có môi trường xanh sạch nhất thế giới

Có được kết quả đó là do các qui định luật lệ ở đây nghiêm ngặt, quá trình thực hiện nghiêm túc, ý thức bảo vệ môi trường, tài nguyên của người dân rất cao Điển hình như: Nhổ nước bọt hoặc ném rác bừa bãi sẽ bị phạt 1000 USD Singapore; Các nơi công cộng như tàu điện ngầm, rạp chiếu phim, siêu thị, tiền sảnh khách sạn, nhà hàng… đều cấm hút thuốc, nếu người nào vi phạm bị phạt 50 USD Singapore…

Trang 23

Chính ý thức cao về bảo vệ môi trường của người dân, khả năng tạo ra các sản phẩm du lịch nhân tạo độc đáo đã giúp cho ngành du lịch Singapore thành công

và nổi tiếng khắp thế giới

• Indonesia:

Indonesia rất chú trọng tới vấn đề đa dạng hóa các sản phẩm du lịch nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của du khách trong và ngoài nước Indonesia một đất nước có hàng nghìn hòn đảo khác nhau, chính phủ đã chủ trương khai thác tiềm năng du lịch biển với nhiều loại hình phong phú Mặt khác, chính phủ còn chủ trương kết hợp du lịch biển với nhiều loại hình văn hóa dân gian đặc sắc và đa dạng Loại hình du lịch sinh thái cũng được chính phủ ưu tiên đầu tư phát triển, Indonesia

đã thực hiện năm nguyên tắc đối với sự phát triển du lịch sinh thái:

- Trách nhiệm, quan tâm và cam kết đối với sự bảo tồn;

- Tham khảo ý kiến và được sự tán thành của cộng đồng địa phương về sự phát triển của du lịch sinh thái;

- Đảm bảo các lợi ích cho cộng đồng địa phương;

- Sự nhạy cảm và tôn trọng đối với nền văn hóa và truyền thống tín ngưỡng của địa phương;

- Tôn trọng các qui định và luật pháp của chính phủ

Để không ngừng đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, chính phủ đã kiện toàn được mối quan hệ chặt chẽ liên ngành giữa du lịch với ngành giao thông vận tải, an ninh quốc phòng và giáo dục đào tạo Nhà nước tạo mọi điều kiện tốt nhất nhằm khuyến khích cho tư nhân tham gia đầu tư vào ngành du lịch

Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên du lịch, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên luôn được các cơ sở kinh doanh, địa phương và nhà nước quan tâm

Đa dạng hóa sản phẩm du lịch luôn được gắn liền với việc giáo dục cho người dân ý thức bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên

Trang 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG

ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH TỈNH LÂM ĐỒNG

2.1 Vị trí của du lịch trong quá trình phát triển kinh tế tỉnh Lâm Đồng

Ngành kinh tế du lịch Lâm Đồng trong thời gian qua đã có nhiều đóng góp đáng kể cho sự phát triển chung của nền kinh tế toàn tỉnh Giai đoạn 2001 - 2006, đánh dấu sự vươn lên mạnh mẽ của khu vực kinh tế dịch vụ Doanh thu dịch vụ chiếm 12,9% tổng GDP của toàn tỉnh, trong đó riêng ngành du lịch là 31,43% Doanh thu xã hội từ du lịch Lâm Đồng trong những năm qua có sự tăng trưởng mạnh, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 29.75%

Bảng 2.1: Doanh thu xã hội từ du lịch Lâm Đồng thời kỳ 2001 - 2006

1,215.0

1,405.0

1,663.0 Mức tăng trưởng so với năm

trước(%) 35.72 31.49 45.22 32.07 15.64 18.36

Nguồn: Sở Du lịch và Thương mại tỉnh Lâm Đồng

2.2 Thực trạng kết cấu cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

2.2.1 Kết cấu cơ sở hạ tầng giao thông

Giai đoạn 2001 - 2006, cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, hệ thống cơ

sở hạ tầng kỹ thuật của tỉnh Lâm Đồng như: giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông đã được nâng cấp đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi trong việc vận chuyển đi lại, sinh hoạt của du khách, tác động tích cực đến sự phát triển du lịch của địa phương Tuy nhiên, chất lượng và qui mô hệ thống giao thông nói chung còn yếu

kém, chưa đáp ứng tốt cho nhu cầu phát triển du lịch của địa phương

a Hệ thống đường bộ

Trang 25

Hệ thống đường bộ của Lâm Đồng phân bố tương đối đều khắp trong tỉnh,

đường ô tô đến các trung tâm xã với tổng chiều dài 2.039,4 km

* Đường đô thị: Đường đô thị tập trung tại Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc và một số

thị trấn huyện lỵ khác như Di Linh, Đức Trọng, Lâm Hà, Bảo Lâm Tổng chiều dài mạng lưới đường đô thị là 473 km Thành phố Đà Lạt và thị xã Bảo Lộc có một số tuyến đường chính đã được mở rộng mặt đường từ 13 - 15m

* Giao thông nông thôn: Mạng lưới giao thông nông thôn có trên 400 tuyến

với tổng chiều dài 2.470 km, có 135,3 km nhựa, còn lại là đường cấp phối và đường đất

b Đường hàng không

Lâm Đồng có sân bay Liên Khương, đường băng dài 3.000m và rộng 34m Năm 2005, sân bay này đã mở tuyến bay trực tiếp Đà Lạt – Hà Nội và ngược lại với tần suất 3 chuyến/tuần phục vụ nhu cầu tham quan của du khách, tạo điều kiện mở rộng thị trường khách du lịch ra khu vực phía Bắc Tuy nhiên, về quy mô, chất lượng trang thiết bị, đường băng của sân bay chưa đáp ứng tốt nhu cầu đi lại của du khách, đặc biệt là đối với khách quốc tế, chính vì vậy đã hạn chế một lượng lớn khách quốc tế tới du lịch tại Đà Lạt bằng đường hàng không

c Đường sắt

Tuyến đường sắt Đà Lạt - Phan Rang dài 84 km với 6 ga và 3 ga phụ, được Pháp xây dựng trước đây, nhưng từ năm 1975 đến nay không sử dụng Hiện nay ngành đường sắt đã khôi phục 10 km tuyến Đà Lạt - Trại Mát để phục vụ du lịch

2.2.2 Hệ thống cấp điện

Nguồn điện cung cấp của Lâm Đồng khá ổn định bao gồm: nhà máy thủy điện Đa Nhim công suất 160MW, Hàm Thuận công suất 300MW, Đa Mi công suất 175MW, Suối Vàng công suất 4,4MW và nhà máy thủy điện Đại Ninh đang được xây dựng có công suất 300MW Hệ thống điện các trục chính trong thành phố đã được thay thế bằng cáp ngầm Điều đó không chỉ khắc phục vấn đề an toàn, tiết kiệm sự hao phí điện năng mà còn tăng thêm mỹ quan cho thành phố Nhìn chung,

hệ thống điện Đà Lạt - Lâm Đồng đáp ứng tốt cho việc phát triển kinh tế du lịch

Trang 26

2.2.4 Hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường

Hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn, các khu du lịch, các cơ sở công nghiệp của tỉnh Lâm Đồng chưa có hệ thống thoát nước thải Nước thải chỉ được xử lý bằng bể tự hoại hoặc bán tự hoại, có nơi còn xả thẳng xuống sông suối, hồ Đến nay, số hộ không có hệ thống vệ sinh chiếm tỷ lệ 16,23%, số hộ có hệ thống vệ sinh thô sơ, không đảm bảo yêu cầu chiếm tỷ lệ 58,92% trong tổng số hộ toàn tỉnh Điều này ảnh hưởng lớn đến ô nhiễm môi trường nước, không khí

Hiện nay, thành phố Đà Lạt đang được đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải công suất 7.500m3/ ngày đêm với công nghệ hiện đại thuộc dự án hỗ trợ của Đan Mạch Dự án này hoàn thành sẽ góp phần khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường của thành phố, tạo điều kiện nâng cao giá trị cho các sản phẩm du lịch

2.2.5 Hệ thống bưu chính viễn thông

Lâm Đồng là một trong những tỉnh có ngành bưu chính viễn thông phát triển với công nghệ hiện đại Đến năm 2004, hệ thống các bưu điện, bưu cục đã phủ kín toàn tỉnh, hệ thống điện thoại đã đến 100% xã phường, đây thực sự là yếu tố thuận lợi để phát triển du lịch

2.2.6 Dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe

Tại các điểm du lịch xa thành phố, xa khu dân cư các dịch vụ y tế về cơ bản

có thể đảm bảo phục vụ du khách trong trường hợp cần thiết, tạo nên sự an tâm cho

du khách Chính dịch vụ y tế tốt đã góp phần thu hút du khách, đặc biệt là những tour xa trung tâm thành phố

Trang 27

2.3 Qui mô và chất lượng các sản phẩm du lịch địa phương

2.3.1 Dịch vụ lưu trú

Tính đến quý I/2007, toàn tỉnh có trên 750 cơ sở lưu trú du lịch với tổng số 11.000 phòng Trong đó có 55 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 – 5 sao với 1.761 phòng và hàng ngàn nhà trọ, nhà khách hỗ trợ cho việc đón khách du lịch, đặc biệt vào mùa cao điểm (Phụ lục 7) Các dịch vụ phục vụ trong cơ sở lưu trú gồm: nhà hàng, vũ trường, massage, sauna, karaoke, internet, tennis, chăm sóc sức khỏe, thẩm

mỹ, phục vụ hội nghị – hội thảo…

Quy mô khách sạn, nhà nghỉ ở Đà Lạt, ngoại trừ một số khách sạn được xếp hạng, còn lại phần lớn là vừa và nhỏ, trang thiết bị nội thất chưa đồng bộ, chủ yếu xây dựng một cách tự phát, thiếu quy hoạch tổng thể, tiêu chuẩn buồng phòng rất thấp, trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên điều hành, phục vụ còn nhiều yếu kém Nhìn chung, chất lượng của các khách sạn, nhà nghỉ ở đây còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của du khách, đặc biệt là du khách quốc tế

Bảng 2.2: Cơ sở lưu trú của Lâm Đồng giai đoạn 2001 – 2006

Danh mục Năm

Tổng số cơ sở lưu trú 400 434 550 679 690 750Tổng số số phòng 4800 5300 7000 7826 8000 11000

Nguồn: Sở Thương mại và Du lịch tỉnh Lâm Đồng

Vào các dịp lễ, cung của dịch vụ lưu trú không đáp ứng đủ cầu của du khách dẫn đến hiện tượng giá leo thang đã ảnh hưởng xấu tới sự thiện chí của du khách về

du lịch Đà Lạt

Vào mùa thấp điểm, cung quá cầu khiến cho tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, hiện tượng cò chèo kéo khách diễn ra phổ biến, ảnh hưởng xấu tới môi trường văn minh du lịch…

Trang 28

2.3.2 Khu, điểm tham quan, vui chơi giải trí

Toàn tỉnh hiện có 34 khu, điểm du lịch được đưa vào đầu tư khai thác, kinh doanh phục vụ tham quan, vui chơi giải trí của du khách, trong đó có 17 điểm đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận di tích cấp quốc gia

Đầu năm 2002, ngành du lịch Đà Lạt đưa hệ thống cáp treo vào sử dụng với chiều dài 2.300m Dịch vụ này đã trở thành một trong những sản phẩm du lịch thu hút đông đảo du khách

Trung tâm vui chơi giải trí Đà Lạt với khuôn viên khoảng hơn 2000 m2, trong

đó chỉ có hơn 16 trò chơi dành cho trẻ em Rõ ràng đây là một trung tâm giải trí quá nhỏ về qui mô và yếu kém về chất lượng Chính vì vậy dịch vụ này chưa thu hút mạnh mẽ du khách cũng như người dân địa phương

2.3.3 Dịch vụ lữ hành – vận chuyển

Đến nay, toàn tỉnh Lâm Đồng có 18 đơn vị kinh doanh lữ hành, vận chuyển trong đó có 6 đơn vị được cấp phép kinh doanh lữ hành quốc tế Nhìn chung, hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế đã có tiến bộ, đã tổ chức được nhiều tour du lịch đưa khách tham quan các nước Đông Nam Á, Châu Âu, Châu Mỹ Hoạt động lữ hành nội địa phát triển mạnh, trong đó đã ký kết nối tour với các tỉnh trong vùng Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

Trên địa bàn Đà Lạt hiện nay có 4 đơn vị kinh doanh dịch vụ vận chuyển khách du lịch, với hơn 42 xe du lịch và hơn 100 xe vận chuyển khách đường dài là:

Xí nghiệp vận chuyển Du lịch Đà Lạt, Công ty TNHH Xuân Hương, công TNHH lữ hành Thành Bưởi và Công ty du lịch & vận tải Phương Trang Hoạt động taxi nội thành được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, giá cả hợp lý Tính đến hết năm 2006, ở Lâm Đồng có hơn 200 đầu xe taxi phục vụ vận chuyển khách du lịch Đầu năm 2007, Đà Lạt đã có tuyến xe buýt nội thành và mở thêm tuyến Đà Lạt - Bảo Lộc, Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương… phục vụ thêm nhu cầu đi lại của dân địa phương cũng nhu du khách

Trang 29

2.3.4 Loại hình du lịch sinh thái

Các tour du lịch sinh thái được du khách các nước phát triển quan tâm, họ đến

Ðà Lạt để tận hưởng không khí trong lành của núi rừng, của thiên nhiên hoang dã chứ không phải đi tìm tiện nghi vật chất Ðối với các nước trong khu vực mà đặc biệt

là Singapore, họ xem Ðà Lạt là một điểm đến có sức hút quan trọng để mở rộng và nối tour từ du lịch miền biển ở đất nước Singapore đến miền núi Ðà Lạt

Một số khu du lịch có khả năng thu hút lượng lớn du khách như khu du lịch sinh thái Lang Biang, khu du lịch sinh thái Đa Mê, khu du lịch rừng Madagui Tuy nhiên, do khả năng đầu tư còn hạn chế nên một số điểm du lịch được xác định có tiềm năng và đã được tiến hành lập quy hoạch như khu du lịch tổng hợp quốc gia Đan Kia - Suối Vàng, vườn quốc gia Cát Tiên, vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà nhưng đến nay vẫn chưa được khai thác phục vụ du lịch Nói chung qui mô về sản phẩm du lịch sinh thái của tỉnh còn nhỏ bé và đơn điệu

2.3.5 Loại hình du lịch nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe

Với môi trường Đà Lạt, du khách có thể ở trong các khách sạn yên tĩnh để tận hưởng khí hậu trong lành, mát mẻ, môi trường xanh sạch, ngắm nhìn cảnh quan thơ mộng để phục hồi sức khoẻ sau thời gian lao động căng thẳng tại các đô thị, các khu công nghiệp ồn ào và nóng bức của mình Thế nhưng Đà Lạt mới chỉ khắc phục được khâu cho du khách nghỉ ngơi là chủ yếu, còn phần nghỉ dưỡng cho đến nay vẫn còn bỏ ngỏ Đây cũng chính là một trong những lý do tại sao số ngày lưu trú bình quân của du khách tại Đà Lạt chưa cao Đối với loại hình sản phẩm du lịch này, du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng cần phải khai thác lợi thế về khí hậu, tài nguyên nhân văn để có thể đưa du lịch nghỉ dưỡng trở thành một trong những sản phẩm du lịch chính của Đà Lạt - Lâm Đồng

2.3.6 Loại hình du lịch hội nghị - hội thảo

Với ưu thế về khí hậu cảnh quan thiên nhiên, môi trường …, Đà Lạt thực sự là nơi lý tưởng để tổ chức các cuộc hội nghị kết hợp với du lịch mang tính quốc gia và quốc tế Tuy nhiên, du lịch hội nghị ở Đà Lạt chưa phát triển, chưa khai thác được lợi thế này Chỉ mới có một số khách sạn có phòng họp lớn như: Khách sạn Sofitel

Trang 30

Dalat Palace, Khách sạn Công đoàn, Khách sạn Vietso Petro, khu resort Hoàng Anh Gia Lai, khu resort Ana Mandra và hội trường của một số cơ quan quản lý tại địa phương… Hiện tại toàn tỉnh mới chỉ có 8 cơ sở có tổ chức hoạt động hội nghị, qui

mô vừa và nhỏ với tổng sức chứa khoảng 1.500 chỗ ngồi Những cơ sở này chủ yếu

là kết hợp giữa kinh doanh lưu trú với hội nghị Việc tổ chức hội nghị còn thiếu tính chuyên nghiệp, chưa kết hợp tốt hội nghị với các dịch vụ dã ngoại, ẩm thực ngoài trời

2.4 Hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Lâm Đồng

2.4.1 Khách du lịch

Số lượng du khách đến Lâm Đồng đã gia tăng đáng kể, tốc độ tăng trưởng trung bình năm đạt 17,4% - đây thực sự là một tín hiệu khả quan đối với du lịch Lâm Đồng

Bảng 2.3: Lượng khách du lịch đến Lâm Đồng thời kỳ 2001 - 2006

Đơn vị tính: Lượt khách

Số lượng

Tỷ lệ gia tăng (%) Số lượng

Tỷ lệ gia tăng (%) Số lượng

Tỷ lệ gia tăng (%)

Trang 31

2.4.3 Khách du lịch nội địa

Trong giai đoạn 2001 – 2006, tốc độ tăng trưởng của thị trường khách nội địa tăng bình quân 18,42%, trong đó khách du lịch từ Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chiếm thị phần lớn nhất khoảng 60,5%

Bảng 2.4: So sánh lượng khách du lịch đến Lâm Đồng với các tỉnh phụ

Lâm Đồng 605.12 603.00 710.00 1,150.00 1,350.00 10.55%Khánh Hòa 390.00 344.50 397.50 625.00 710.00 7.78%Ninh Thuận 32.20 39.00 76.90 103.90 176.30 24.17%Bình Thuận 56.60 123.20 460.00 1,465.00 1,500.00 50.66%

TP Hồ Chí Minh 2,053.00 2,575.00 3,100.00 3,219.30 4,080.00 8.96%

TP Hà Nội 1,052.00 1,430.00 2,600.40 3,781.00 5,800.00 23.79%

Nguồn: Sở Du lịch và Thương mại tỉnh Lâm Đồng & ITDR

Nếu so với hai tỉnh phụ cận là Ninh Thuận và Bình Thuận trong giai đoạn

1996 - 2004 có thể thấy tốc độ tăng trưởng về du khách đến Lâm Đồng thấp hơn; Nếu so sánh với Khánh Hòa thì mức tăng trưởng khách du lịch của Lâm Đồng cao hơn

Số ngày lưu trú trung bình của khách du lịch quốc tế đến Lâm Đồng đạt 1,82 ngày, thấp hơn so với các địa phương khác trong cả nước, đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội

2.5 Về đầu tư phát triển du lịch

Giai đoạn 2003 – 2006 đã có 92 dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch Tổng nguồn vốn đăng ký đầu tư gần 40.000 tỷ đồng trong đó nổi bật là dự án khu du lịch Đan Kia – Suối Vàng do các nhà đầu tư Nhật Bản với vốn đăng ký 1.2 tỷ USD và công viên thú hoang dã ” Datria – Bidoup National Park ” do các nhà đầu tư Pháp với vốn đăng ký 300 triệu USD

Trang 32

Giai đoạn 2001 - 2006, ngành du lịch đã nhận được 136,78 tỷ đồng đầu tư phát triển hạ tầng du lịch với 12 dự án, trong đó một số dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng

Mặt khác, tỉnh đã chú trọng thu hút đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở vật chất

kỹ thuật du lịch như các khách sạn cao cấp, nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch

vụ lưu trú Một số dự án xây dựng khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn 4 sao đang được thực hiện và sớm đưa vào sử dụng như: Khách sạn Sài Gòn - Đà Lạt, khách sạn Ngọc Lan, khách sạn Rex, khu nghỉ mát biệt thự Trần Hưng Đạo (Phụ lục 8)

2.6 Xúc tiến, quảng bá du lịch

Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch thuộc các thành phần kinh tế đã tích cực tham gia các hội chợ thương mại, liên hoan du lịch như : Festival Huế, Hội chợ Du lịch Đất Phương Nam ở TP Hồ Chí Minh, Hội chợ Du lịch Thương mại Cần Thơ , nhiều sản phẩm du lịch của Lâm Đồng đã được gửi đi tham gia hội chợ du lịch quốc

tế

Năm 2005, lễ hội hoa Đà Lạt bắt đầu được tổ chức và sẽ được tổ chức định kỳ

2 năm/lần Lễ hội không chỉ đem lại nguồn lợi lớn cho nền kinh tế Đà Lạt mà còn là

cơ hội để quảng bá thương hiệu du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng tới bạn bè trong nước

và quốc tế, từng bước mở rộng quan hệ hợp tác đầu tư phát triển kinh tế du lịch Ngành du lịch Lâm Đồng đã hoàn thành về cơ bản trang website du lịch thương mại, duy trì thường xuyên việc cung cấp thông tin, các chương trình hỗ trợ xúc tiến quảng bá du lịch Lâm Đồng ở trong nước và quốc tế cũng như hỗ trợ để đưa các thông tin về du lịch trong nước và quốc tế tới các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh

2.7 Tiềm năng đa dạng hóa sản phẩm du lịch tỉnh Lâm Đồng

2.7.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

2.7.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý:

Trang 33

Lâm Đồng là một tỉnh miền núi nằm ở phía Nam Tây Nguyên Phía Nam và Đông Nam giáp với tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Đồng Nai; phía Tây Nam giáp tỉnh Bình Phước; phía Đông Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa; phía Bắc và Tây Bắc giáp với tỉnh Đăk Lăk và Đăk Nông Lâm Đồng nằm giữa ba vùng lãnh thổ (Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung bộ và Đông Nam bộ) nên có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế (Phụ lục 9) Vị trí địa lý quan trọng của Lâm Đồng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng

b Địa hình:

Lâm Đồng có địa hình mấp mô lượn sóng, với nhiều vùng phong cảnh đặc sắc thích hợp cho việc phát triển các hoạt động du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng… Đặc điểm đa dạng của địa hình Lâm Đồng đã tạo ra nhiều cảnh quan đẹp, đặc biệt là các thác nước như: Đambri, Prenn, Đatanla, Gougah, Voi ; các hồ nước tự nhiên và nhân tạo như: Đan Kia – Suối Vàng, Tuyền Lâm, Đạ Hàm, Đạ Tẻh…

c Khí hậu:

Thời tiết và khí hậu là tài nguyên đặc thù và hết sức quí báu đối với du lịch Lâm Đồng Lâm Đồng có khí hậu quanh năm ôn hòa Trong các nhân tố hình thành

khí hậu ở đây thì vị trí địa lý và độ cao có vai trò khá rõ rệt

Riêng Đà Lạt, do ảnh hưởng của độ cao và địa hình nên khí hậu ở đây mát mẻ quanh năm Đà Lạt có nhiệt độ trung bình năm là 18oC: mùa hạ mát, nóng nhất cũng chỉ đến 19,7oC vào tháng 5; mùa đông hơi lạnh, nhưng nhiệt độ tháng 01 không dưới 12oC Vì vậy Đà Lạt được coi là điểm nghỉ mát lý tưởng

2.7.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên

a Rừng :

Tổng diện tích rừng ở Lâm Đồng tính đến năm 2005 là 632.760 ha, trong đó

rừng tự nhiên là 588.854 ha, rừng trồng là 34.906 ha Độ che phủ của rừng chiếm khoảng 64,8%, một tỷ lệ khá cao so với các vùng khác trong cả nước Rừng Lâm Đồng nằm ở thượng lưu các sông suối lớn nên đóng vai trò quan trọng trong phòng

hộ và bảo vệ nguồn sinh thủy không những cho Lâm Đồng mà còn cho khu vực

Trang 34

Tài nguyên rừng của Lâm Đồng từ lâu đã có giá trị lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như du lịch nói riêng Trong đó, rừng thông Đà Lạt, khu bảo tồn thiên nhiên Lang Biang và khu bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc có giá trị lớn đối với hoạt động du lịch Lâm Đồng

Trong các khu rừng hỗn giao còn tồn tại các loài động vật quí như: cầy bay, sóc bay, vượn, báo, hổ, bò rừng thậm chí cả voi và rất nhiều loài chim thuộc bộ gà,

bộ sẻ Ngoài ra, rừng Đà Lạt còn có rất nhiều loài cây cảnh mà trước hết phải kể đến lan rừng với khoảng hơn 300 loài Các loài lan quí của Đà Lạt từ lâu đã nổi tiếng bao gồm: thanh lan, hoàng lan, hồng lan, tử cán, vân hài, kim hài, bạch phượng, tuyết ngọc, hoàng hạc, hạc đỉnh, vi hào, mắt trúc, bạch nhạn, long tu, dã hạc, ý thảo, thủy tiên

Rừng Đà Lạt là một trong những tài nguyên du lịch tự nhiên có giá trị, thích hợp phát triển du lịch sinh thái với nhiều loại hình du lịch hấp dẫn

b Các điểm tham quan

• Hồ Xuân Hương: Hồ Xuân Hương là hồ nước nhân tạo nằm ở trung tâm thành phố

Đà Lạt (Phụ lục 5)

• Hồ Tuyền Lâm: Hồ Tuyền Lâm thuộc địa phận thành phố Đà Lạt, nằm cách trung

tâm thành phố về phía Nam khoảng 5km (Phụ lục 5)

• Hồ Đankia - Suối Vàng: Hồ Đan Kia - Suối Vàng nằm kề phía Tây Bắc Đà Lạt và

cách trung tâm thành phố khoảng 19km (Phụ lục 5)

• Hồ Than Thở : Hồ Than Thở còn có tên là hồ Sương Mai nằm ở phía Bắc thành

phố và cách trung tâm Đà Lạt khoảng 6km (Phụ lục 5)

• Hồ Đa Thiện và Thung lũng Tình yêu: Thung lũng Tình yêu nằm cách trung tâm

thành phố Đà Lạt chừng 5km về phía Bắc (Phụ lục 5)

• Thác Cam Ly: Suối Cam Ly nằm phía Đông Bắc thành phố (Phụ lục 5)

• Thác Datanla: Thác Đatanla là thác cao nhất trong số các thác nằm quanh Đà Lạt

với độ cao khoảng 32 m (Phụ lục 5)

• Thác Prenn: Thác Prenn nằm ngay bên đường quốc lộ 20, cách Đà lạt khoảng 10

km (Phụ lục 5)

Trang 35

• Núi Lang biang: Lang biang còn có tên gọi là Núi Bà, có độ cao là 2.167m, cách

trung tâm Đà Lạt khoảng 12km về phía Bắc (Phụ lục 5)

• Vườn hoa Đà Lạt: Vườn hoa Đà Lạt nằm ở số 2 Phù Đổng Thiên Vương

• Suối Tiên – Đạ Huoai: Suối Tiên là khu vực có cảnh quan đẹp nằm ven suối, nằm

tại km 152 trên quốc lộ 20 thành phố Hồ Chí Minh - Đà Lạt (Phụ lục 5)

• Suối nước nóng Đạ Long: Nằm ở huyện Đam Rông (Phụ lục 5)

2.7.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

2.7.2.1 Nhóm các di sản văn hóa

Năm 2005, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và văn hóa phi vật thể của nhân loại Đây có thể được coi là sự kiện văn hóa lớn của người dân Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng Hiện nay tại các bản dân tộc Mạ, Chu Ru ở Lâm Đồng còn khoảng 2.700 bộ cồng chiêng với những nét riêng so với cồng chiêng Tây Nguyên Đây được coi là tài nguyên du lịch quý giá của Lâm Đồng, là tiền đề xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù hấp dẫn du khách tham quan và nghiên cứu

2.7.2.2 Nhóm các di tích lịch sử văn hoá và khảo cổ

Toàn tỉnh Lâm Đồng có khoảng 100 di tích Mật độ bình quân 1 di tích trên 100km2, trong khi mật độ bình quân của cả nước là hơn 2,2 di tích/100 km2 Những

di tích khảo cổ có giá trị về mặt du lịch như:

• Khu Thánh địa Bà La Môn Cát Tiên: Đây là khu di tích rộng lớn trải dài

15km dọc theo bờ Bắc sông Đồng Nai (Phụ lục 6)

Trang 36

• Khu mộ cổ của dân tộc Mạ: Nằm trên địa phận các xã Đại Lào, Đại Làng,

thị xã Bảo Lộc (Phụ lục 6)

2.7.2.3 Nhóm các công trình kiến trúc nghệ thuật

Một trong những tài nguyên du lịch độc đáo của Lâm Đồng nói chung và Đà Lạt nói riêng là kiến trúc cảnh quan của thành phố

Hiện nay trên thành phố có khoảng 2.000 biệt thự lớn nhỏ mà mỗi biệt thự đều

có những nét độc đáo riêng, một phong cách kiến trúc lấy thiên nhiên thơ mộng của

Đà Lạt làm bối cảnh nên thực sự có sức hấp dẫn lớn đối với du khách Ngoài ra, còn phải kể đến một số công trình kiến trúc tôn giáo như chùa Linh Sơn, chùa Linh Quang, nhà thờ Chánh tòa, nhà thờ Domaine de Marie, tu viện Dòng Chúa Cứu Thế, Thiền viện Trúc lâm, lăng Nguyễn Hữu Hào

Một số công trình kiến trúc tiêu biểu hấp dẫn khách du lịch như sau:

• Chùa Linh Sơn: Chùa Linh Sơn nằm trên đường Nguyễn Văn Trỗi, Đà Lạt

(Phụ lục 6)

• Thiền viện Trúc Lâm: Thiền viện Trúc Lâm tọa lạc bên hồ Tuyền Lâm trên

núi Phượng Hoàng, thuộc Phường 3 thành phố Đà Lạt (Phụ lục 6)

• Nhà thờ Đà Lạt (Nhà thờ Con Gà): Nhà thờ Đà Lạt nằm trên đường Trần

Phú, thành phố Đà Lạt (Phụ lục 6)

• Chùa ThiênVương Cổ Sát: Chùa Thiên Vương Cổ Sát tọa lạc trên đồi Rồng,

tại số 385 đường Khe Sanh (Phụ lục 6)

• Dinh III (Dinh Bảo Đại): Dinh III tọa lạc trên một đồi thông ở đường Triệu

Việt Vương, cách trung tâm thành phố Đà Lạt chừng 2km về hướng Tây Nam (Phụ

lục 6)

• Ga xe lửa Đà Lạt: Ga xe lửa Đà Lạt là một trong những ga xe lửa lâu đời

nhất ở Việt Nam (Phụ lục 6)

2.7.2.5 Lễ hội, văn hoá dân gian

Các dân tộc ít người ở Lâm Đồng còn lưu giữ được nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống Ở đây các lễ nghi với tập quán canh tác nông nghiệp

Trang 37

còn mang đậm nét sơ khai Các lễ hội tiêu biểu như: lễ hội cồng chiêng, lễ hội đâm trâu…

• Lễ hội đâm trâu: Đây cũng là một lễ hội phổ biến chung ở Tây Nguyên

thường diễn ra sau mùa thu hoạch trùng vào dịp tết đầu xuân gọi là lễ sa rơ pu để tạ

ơn thần linh (Phụ lục 6)

• Lễ hội cồng chiêng: Cồng chiêng là thứ nhạc cụ không thể thiếu được trong

các dịp lễ hội của đồng bào các dân tộc ít người ở Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng (Phụ lục 6)

• XQ – Đà Lạt Sử Quán: XQ- Đà Lạt sử quán được khai trương vào cuối năm

2001, nằm trên đường Mai Anh Đào (Phụ lục 6)

• Lể hội hoa Đà Lạt: Với chủ đề "Đà Lạt thành phố ngàn hoa", Festival hoa

Đà Lạt được tổ chức lần đầu 2005 và 2 năm tổ chức một lần (Phụ lục 6)

2.7.2.5 Các nghề thủ công truyền thống

Lâm Đồng là nơi có nhiều nghề thủ công truyền thống có giá trị phục vụ du lịch Tiêu biểu là các nghề dệt vải thổ cẩm từ sợi bông của người Mạ ở Đạ Đờng, người Lạch ở Lạc Dương, đan len ở Đà Lạt… Nghề làm gốm bằng tay cũng là một nghề thủ công độc đáo của các cư dân các dân tộc ít người ở Lâm Đồng Thành phố

Đà Lạt là nơi tập trung nhiều nghệ nhân có nghề chạm khắc gỗ tinh xảo, đặc biệt là nghề thêu, nghề trồng hoa, nghề chơi cây kiểng nên đã tạo ra hàng trăm loại sản phẩm lưu niệm có giá trị phục vụ du lịch

2.7.3 Tiềm năng về nguồn nhân lực

Trong những năm qua, số lượng lao động trong ngành du lịch của Lâm Đồng không ngừng được tăng lên Tuy nhiên, theo báo cáo của Sở Du lịch và Thương mại tỉnh Lâm Đồng thì số lao động do Sở trực tiếp quản lý đến năm 2005 có 4.700 lao động (bảng 2.5) Tỷ lệ lao động bình quân trên một phòng khách sạn ở Lâm Đồng đến năm 2005 là 0,6 (so với mức trung bình của cả nước là 1,4)

Nhìn vào bảng 2.5, chúng ta thấy rõ nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ du

lịch còn rất thiếu về số lượng Mặt khác, trình độ nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên,

Trang 38

đặc biệt là hướng dẫn viên du lịch còn rất thấp Với lực lượng lao động như vậy

không thể nào đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của ngành du lịch Lâm Đồng

Bảng 2.5: Lao động trong ngành du lịch tỉnh Lâm Đồng

ĐVT : Người

Năm Chỉ tiêu

Trình độ khác (qua đào tạo tại chỗ

Nguồn: Sở Thương mại và Du lịch tỉnh Lâm Đồng

2.8 Nhận định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của du lịch Lâm Đồng

2.8.1 Tóm tắt điểm mạnh, điểm yếu của du lịch Lâm Đồng

Xuất phát từ thực trạng và tiềm năng đa dạng hóa sản phẩm du lịch tỉnh Lâm

Đồng Dựa trên kết quả phân tích môi trường bên trong, dưới đây xin trình bày

những điểm mạnh và điểm yếu của du lịch tỉnh Lâm Đồng

• Những điểm mạnh chính của du lịch tỉnh Lâm Đồng

S1: Đà Lạt có khí hậu mát mẻ quanh năm, môi trường trong lành

S2: Lâm Đồng có tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú

S3: Lâm Đồng có tài nguyên nhân văn, văn hóa cồng chiêng đặc sắc

S4: Đà Lạt có môi trường xã hội an toàn, thân thiện và thanh lịch

S5: Được sự quan tâm ủng hộ của chính quyền và nhân dân địa phương

S6: Trường nghiệp vụ du lịch được thành lập, trường Đại Học Đà Lạt đã có khoa du

lịch

S7: Tỉnh đã có qui hoạch tổng thể phát triển du lịch 1996-2010

• Những điểm yếu chính của du lịch Lâm Đồng

W1: Chưa khai thác tốt tiềm năng du lịch, mới chủ yếu khai thác loại hình tham

quan danh lam thắng cảnh

Trang 39

W2: Sản phẩm du lịch chưa đa dạng và phong phú, chất lượng yếu kém, qui mô nhỏ

W3: Chưa có khu vui chơi giải trí qui mô lớn, chưa có trung tâm thương mại, siêu thị

W4: Nguồn nhân lực của ngành du lịch hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên

W5: Hoạt động quảng bá xúc tiến du lịch kém hiệu quả

W6: Việc quản lý các dự án đầu tư du lịch, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng còn lỏng lẻo, kém hiệu quả

W7: Chưa quản lý được giá cả vào mùa đông khách, gây thiện chí không tốt về du lịch Đà Lạt của du khách

W8: Chưa có chính sách thu hút nhân tài phục vụ cho ngành du lịch

W9: Việc đầu tư phát triển du lịch còn thiếu trọng tâm, trọng điểm, thiếu vốn, chưa hiệu quả, chính sách về đầu tư chưa thực sự thu hút các nhà đầu tư

2.8.2 Tóm tắt cơ hội, nguy cơ của du lịch tỉnh Lâm Đồng

Dựa trên kết quả phân tích môi trường bên ngoài, dưới đây xin trình bày các

cơ hội và nguy cơ chủ yếu của du lịch tỉnh Lâm Đồng

• Các cơ hội chủ yếu của du lịch Lâm Đồng

O1: Đà Lạt được Tổng cục Du lịch chọn làm nơi tổ chức Festival hoa 2 năm một lần, bắt đầu từ năm 2005; dự kiến Đà Lạt sẽ trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2010

O2: Đà Lạt là trung tâm du lịch của cả nước do vậy được chính phủ và các ban ngành Trung ương quan tâm hỗ trợ

O3: Việt Nam là điểm đến an toàn và thân thiện đối với khách du lịch quốc tế Chính vì vậy, số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam được gia tăng Năm 2006,

Việt Nam đón khoảng 3,585 triệu lượt khách

O4: Đã có tuyến bay Hà Nội – Đà Lạt và tuyến bay Đà Lạt – Singapore sẽ được thiết lập cuối năm 2007; đường cao tốc Đà Lạt – Dầu Giây hoàn thành vào cuối năm 2008

Trang 40

O5: Nhu cầu du lịch trên thế giới tăng mạnh, xu thế du lịch thế giới phát triển theo hướng chuyển dần sang khu vực Đông Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á Theo

dự báo của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), khu vực Đông Nam Á đến năm 2020

sẽ đón khoảng 125 triệu lượt khách quốc tế Bối cảnh đó tạo cơ hội thuận lợi để du lịch Việt Nam nói chung và du lịch tỉnh Lâm Đồng nói riêng ngày càng mở rộng và phát triển

O6: Chính sách chủ trương phát triển nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại, trong đó có du lịch phát triển Ngoài ra, việc bỏ chế độ VISA đối với công dân một số nước ASEAN và Nhật Bản, việc mở thêm các đường bay Việt Nam – Hoa Kỳ, Việt Nam – Hàn Quốc…cũng góp phần thu hút thêm khách du lịch các nước nói trên đến Việt Nam

O7: Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (World Trading Organization)

• Các nguy cơ chủ yếu đối với du lịch Lâm Đồng

T1: Nhiều đối thủ cạnh tranh thu hút khách quốc tế như: Thái Lan, Singapore, Indonesia, Malaysia, Trung quốc

T2: Nhiều đối thủ cạnh tranh thu hút khách nội địa như: Vũng Tàu, Phan Thiết, Phan Rang, Nha Trang, các tỉnh đồng bằng Nam Bộ

T3: Đà Lạt ngày càng nóng dần, ít có sương mù, nguy cơ ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng

T4: Tình hình thế giới mất ổn định do: chiến tranh, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh T5: Đà Lạt cách xa thành phố Hồ Chí Minh, khách mất nhiều thời gian cho việc đi lại

T6: Đòi hỏi yêu cầu ngày càng cao của du khách về các sản phẩm du lịch, đặc biệt

là du khách quốc tế

2.9 Khảo sát đánh giá của du khách về sản phẩm du lịch tỉnh Lâm Đồng

2.9.1 Thiết kế bảng câu hỏi

Từ yêu cầu nội dung nghiên cứu của đề tài, thông qua thảo luận ý kiến với một số chuyên gia, tác giả đã đưa ra bảng câu hỏi sơ bộ và tiến hành khảo sát thử 15

Ngày đăng: 01/04/2013, 11:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Doanh thu xã hội từ  du lịch Lâm Đồng thời kỳ 2001 - 2006 - GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH  TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2015
Bảng 2.1 Doanh thu xã hội từ du lịch Lâm Đồng thời kỳ 2001 - 2006 (Trang 24)
Bảng 2.7: Đánh giá của du khách mức độ quan trọng các yếu tố SPDL - GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH  TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2015
Bảng 2.7 Đánh giá của du khách mức độ quan trọng các yếu tố SPDL (Trang 44)
Bảng 2.8 : Mức độ quan trọng của  sản phẩm du lịch - GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH  TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2015
Bảng 2.8 Mức độ quan trọng của sản phẩm du lịch (Trang 45)
Bảng 2.9 : Đánh giá của du khách về thực trạng các yếu tố SPDL Lâm Đồng - GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH  TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2015
Bảng 2.9 Đánh giá của du khách về thực trạng các yếu tố SPDL Lâm Đồng (Trang 46)
Bảng 2.10: Đánh giá của du khách về thực trạng các sản phẩm du lịch Lâm Đồng - GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH  TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2015
Bảng 2.10 Đánh giá của du khách về thực trạng các sản phẩm du lịch Lâm Đồng (Trang 47)
Bảng 2.11: So sánh sự chênh lệch giữa mức độ quan trọng và thực trạng  các yếu tố sản phẩm du lịch - GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH  TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2015
Bảng 2.11 So sánh sự chênh lệch giữa mức độ quan trọng và thực trạng các yếu tố sản phẩm du lịch (Trang 48)
Bảng 2.12: So sánh sự chênh lệch giữa mức độ quan trọng và thực trạng  các sản phẩm du lịch - GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH  TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2015
Bảng 2.12 So sánh sự chênh lệch giữa mức độ quan trọng và thực trạng các sản phẩm du lịch (Trang 49)
1. BẢNG CÂU HỎI: Xin ông (bà) đánh dấu (x) vào ô được lựa chọn - GIẢI PHÁP ĐA DẠNG HÓA SẢN PHẨM DU LỊCH  TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2015
1. BẢNG CÂU HỎI: Xin ông (bà) đánh dấu (x) vào ô được lựa chọn (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w