đề tài thị trường lâm sản việt nam
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN NHÓM
Đề tài: Tình hình thị trường lâm sản Việt Nam trong những năm gần đây.
MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
II.1.TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LÂM SẢN VIỆT NAM
II.1.1.Khái niệm lâm nghiệp
II.1.2 Khái niệm thị trường lâm sản
II.2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG GỖ VÀ LÂM SẢN VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
II.2.1 THỊ TRƯỜNG CHÍNH NGẠCH
II.2.1.1.Thị trường nguyên liệu đầu vào của ngành lâm nghiệp
II.2.1.1.1 Nguồn khai thác trong nước
II.2.1.1.2 Nguồn nhập khẩu
II.2.1.2 Thị trường xuất khẩu
II.2.1.3 Phân tích tình hình XKLS tại Việt Nam từ năm 2006- 2008
II.2.2 THỊ TRƯỜNG PHI CHÍNH NGẠCH
II.2.2 1 Lâm sản bị tịch thu tính từ đầu năm đến tháng 12 năm 2007
II.2.2.2 Lâm sản bị tịch thu tính từ đầu năm đến tháng 12 năm 2008
II.2.2.3 Lâm sản bị tịch thu tính từ đầu năm đến tháng 12 năm 2009
II.3 GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG LÂM SẢN
II.3.1 Giải pháp về chính sách
II.3.2 Giải pháp về quản lý, bảo vệ
II.3.3 Giải pháp về kỹ thuật
II.3.4 Các giải pháp về kinh tế
II.3.5 Giải pháp về môi trường
III.KẾT LUẬN
Trang 2I ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được đánh giá là một đất nước trẻ Kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Một bộ phận của nền kinh tế, kinh tế lâm nghiệp cũng đang cũng đang vươn mình lớn lên hoà chung với sự phát triển của đất nước Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt, sản phẩm lâm nghiệp có tác dụng nhiều mặt trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội Trong Luật bảo vệ và phát triển rừng có ghi “Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo
là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh
tế quốc dân, gắn liền đời sống của nhân dân với sự sống còn của các dân tộc” Trong vòng 6 năm (từ năm 2003 đến năm 2008), lâm nghiệp ở Việt Nam tăng trưởng với tốc độ bình quân 30%/năm và sản xuất lượng sản phẩm chất lượng cao cho xuất khẩu Đặc biệt tốc độ tăng trưởng rất cao sau khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa để trở thành thành viên đầy đủ của WTO Hiện nay, các
cơ hội để sản phẩm lâm sản của Việt Nam bước vào thị trường toàn cầu đang rộng mở, tuy nhiên, ngành cũng đối mặt với rất nhiều thách thức từ thị trường nội địa và quốc tế Mặc dù thị trường lâm sản hoạt động sôi động song vẫn còn nhiều thách thức và khó khăn nên đòi hỏi cần có sự đánh giá đầy đủ nhằm duy trì mức tăng trưởng của ngành lâm nghiệp Việt Nam
Tìm hiểu thực trạng của thị trường lâm sản Việt Nam trong 5 năm 2003 -2008 sẽgiúp ta có cái nhìn sâu sắc hơn về tình hình phát triến kinh tế lâm nghiệp Việt Nam, giúp ta chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân, cơ hội, thách thức của thị trường này Từ đó đề ra những giải pháp để xây dựng một thị
trường lâm sản linh hoạt, vững mạnh Đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội trong thời kì CNH-HĐH đất nước
Trang 3II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
II.1.TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LÂM SẢN VIỆT NAM
II.1.1.Khái niệm lâm nghiệp
Có nhiều khái niệm khác nhau về lâm nghiệp, hiểu khái quát nhất thì lâm nghiệp
là ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh tế quốc dân có chức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản và phát huy chức năng phòng hộ, của rừng
II.1.2 Khái niệm thị trường lâm sản
Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm thị trường Ta có thể gặp một số khái niệm phổ biến sau:
Thị trường là một tập hợp các dàn xếp mà thông qua đó người bán và người muatiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ
Thị trường là một khuôn khổ vô hình trong đó người này tiếp xúc với người kia
để trao đổi một thứ gì đó, họ cùng xác định giá và số lượng trao đổi
Thuật ngữ thị trường lâm sản, hiểu một cách chung nhất, là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu lâm sản ở một thời điểm nhất định Hay nói một cách khác, thị trường lâm sản là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, trao đổi hàng hoá lâm sản Như vậy, bản chất thị trường lâm sản chính là sự chuyển giao quyền sở hữu lâm sản từ người chủ này sang người chủ khác với một giá cả nhấtđịnh do họ thoả thuận định ra
II.2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG GỖ VÀ LÂM SẢN VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Dựa và sự hoạt động hợp pháp hay bất hợp pháp của hoạt động thị trường mà chúng ta chia thị trường lâm sản thành thị trường chính ngạch(hoạt động hợp pháp theo luật pháp của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam) và thị trường phi chính ngạch(hoạt động bất hợp pháp không theo luật pháp của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam như khai thác, săn bắn, buôn bán trộm)
II.2.1 THỊ TRƯỜNG CHÍNH NGẠCH
Trang 4Chế biến gỗ và lâm sản là một trong những lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh
nhất trong những năm gần đây, vươn lên trở thành một trong 10 mặt hàng có
kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cả nước, và là một trong những nước đứng đầu về xuất khẩu gỗ và lâm sản trong khu vực Hiện nay, ước tính cả nước có khoảng
gần 2000 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vực
sản xuất và chế biến gỗ, trong đó có khoảng 450 doanh nghiệp chuyên xuất khẩu
đồ gỗ (120 doanh nghiệp chuyên các sản phẩm ngoài trời và 330 doanh nghiệp chuyên đồ nội thất xuất khẩu) Năng lực sản xuất chế biến gỗ của các doanh
nghiệp trong cả nước tăng lên nhanh chóng, từ 2,5 triệu m3 năm 2003 lên 2,8
triệu m3 năm 2004
II.2.1.1.Thị trường nguyên liệu đầu vào của ngành lâm nghiệp
II.2.1.1.1 Nguồn khai thác trong nước
Nguyên liệu cho sản xuất và chế biến gỗ có từ hai nguồn chính: khai thác
trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài Trước đây, nguồn gỗ để khai thác dựa
chủ yếu vào rừng tự nhiên, nhưng những năm gần đây đã chuyển sang nguồn gỗ nguyên liệu nhập khẩu và khai thác từ rừng trồng Hiện nay, diện tích có rừng
của Việt Nam là khoảng 12,3 triệu ha (2004) với trữ lượng gỗ khoảng 750 triệu
m3, trong đó 10,1 triệu ha là rừng tự nhiên, còn lại là rừng trồng (xem bảng 1.1)
Để bảo vệ môi trường và đảm bảo cho sự phát triển bền vững, Chính phủ giới
hạn khai thác gỗ từ rừng tự nhiên khoảng 300.000m3 mỗi năm trong giai đoạn
2000 – 2010, chủ yếu để phục vụ nhu cầu sản xuất và xây dựng trong nước
(250.000 m3) và sản xuất đồ mỹ nghệ xuất khẩu 50.000 m3 Tuy nhiên, tình trạngkhai thác gỗ trái phép trong các khu rừng tự nhiên là rất phổ biến, hiện đã vượt quá tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng, nên số lượng gỗ thực tế khai thác được từ rừng tự nhiên hàng năm lên tới 550.000 – 600.000 m3
Bảng 1.1 Diện tích rừng Việt Nam (2002 – 2004)
nhiên
Rừng trồng
2002 32.928.8 11.784,6 9.865,0 1.919,6 35,8
2003 32.928.8 12.094,5 10.004,7 2.089,8 36,1
2004 32.928.8 12.306,9 10.088,3 2.218,6 36,7
Trang 5Bảng 1.1 cho thấy diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng của Việt Nam tăng đều qua các năm Tuy nhiên, gỗ khai thác được từ rừng trong nước thường có chất lượng không cao, không đảm bảo tiêu chuẩn sản xuất chế biến đồ gỗ xuất khẩu
Ở Việt Nam hiện nay, chưa có khu rừng nào được cấp chứng chỉ rừng Diện tíchrừng trồng tăng nhanh nhưng cho chất lượng gỗ không cao do chủ yếu là những loại gỗ ngắn ngày, có tốc độ tăng trưởng nhanh Hơn 80% gỗ khai thác từ các rừng trồng được sử dụng làm nguyên liệu thô cho ngành công nghiệp giấy Chỉ khoảng 300.000 – 400.000 m3 gỗ khai thác từ các khu rừng trồng có chất lượng tốt (chủ yếu là cây cao su, thông và keo) là được sử dụng trong lĩnh vực chế biến
đồ gỗ nội thất và mỹ nghệ
Nhằm chủ động nguồn nguyên liệu gỗ, hiện nay Việt Nam cũng đang tích cực xây dựng các nhà máy sản xuất ván gỗ nhân tạo với những nhà máy chủ yếu sau: nhà máy ván sợi MDF Gia Lai công suất 54.000m3 sản phẩm/năm, nhà máy MDF Sơn La với công suất 15.000 m3 sản phẩm/năm, nhà máy MDF Bình
Thuận với công suất 10.000 m3 sản phẩm/năm, các nhà máy ván dăm Thái
Nguyên có công suất 16.500 m3 sản phẩm/năm, Thái Hòa (Nghệ An) 15.000m3
và Hoành Bồ (Quảng Ninh) 3.000m3/năm
II.2.1.1.2 Nguồn nhập khẩu
Để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp chế biến gỗ trong khi nguồn nguyên liệu gỗ trong nước thiếu hụt cả về số lượng và chất lượng, hàng năm các doanh nghiệp gỗ Việt Nam nhập khẩu từ 250.000 – 300.000m3 gỗ nguyên liệu từ nước ngoài Lượng gỗ nhập khẩu từ nước ngoài tăng đều qua các năm, từ 161 triệu USD năm 2001 lên đến 651 triệu USD năm 2005 Tổng kim ngạch gỗ nhập khẩuvào Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2005 là 1.770 triệu USD, với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 33,8% (xem bảng 1.2)
Trang 6ở các nước này chủ yếu là rừng tự nhiên, có điều kiện tự nhiên tương đồng với Việt Nam nên chủng loại gỗ rừng tương đối giống với Việt Nam, các doanh nghiệp không cần quá tốn công để tìm hiểu về đặc tính kỹ thuật của gỗ nhập khẩu Tuy nhiên, nhập khẩu từ các thị trường này cũng có nhiều rủi ro Chính sách quản lý khai thác gỗ rừng ở các nước này thường xuyên thay đổi Thêm vào đó, về dài hạn, đây không phải là thị trường ổn định cho các doanh nghiệp nhập khẩu gỗ Việt Nam do các nước này ngày càng hạn chế việc khai thác gỗ nguyên liệu xuất khẩu bởi tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt và sự khuyến cáo của các tổ chức quốc tế Mặt khác, ở các nước này trong khi để xâm nhập vào các thị trường nhập khẩu sản phẩm đồ gỗ lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản hay EU thì các doanh nghiệp Việt Nam phải có chứng chỉ rừng Hiện ở khu vực Đông Nam Á chỉ có Malaysia là nước làm tốt công tác quản lý rừng thông qua
hệ thống chứng chỉ rừng
- Từ các nước có khoảng cách xa về địa lý nhưng có ngành công nghiệp gỗ phát triển như New Zealand, Australia, Nam Phi, Canada và các nước thuộc bán đảo Scandinavia như Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan… Nhập khẩu gỗ nguyên liệu
từ các thị trường này có chi phí vận chuyển lớn, nên thường làm cho giá thành
gỗ nguyên liệu cao Tuy nhiên, đây là những thị trường có ngành công nghiệp
gỗ rất phát triển, sản lượng gỗ cung cấp lớn và ổn định với chất lượng tốt và các khu rừng được cấp chứng chỉ Hiện nay, xu thế phổ biến trên thế giới là quản lý rừng thương mại bền vững thông qua nhiều biện pháp trong đó biện pháp hữu hiệu và phổ biến nhất là quản lý bằng hệ thống chứng chỉ cấp cho rừng trồng Các loại chứng chỉ rừng phổ biến hiện nay là hệ thống FSC (Forest Stewardship Council), hệ thống ISO 14001, hệ thống sáng kiến rừng bền vững Mỹ (the
American Sustainable Forestry Initiative), hệ thống của Hội đồng chứng nhận rừng châu Âu Pan PEFC (Pan European Forest Certification Council), trong đó phổ biến nhất là hệ thống FSC với tiêu chí quản lý tài nguyên rừng bền vững, hướng tới lợi ích lâu dài về kinh tế, xã hội và môi trường cho các thế hệ tương lai Các doanh nghiệp Việt Nam nên hướng tới lựa chọn nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ các thị trường được cấp chứng chỉ rừng, đặc biệt là chứng chỉ FSC
II.2.1.2 Thị trường xuất khẩu
Khái niệm xuất khẩu lâm sản
Hiểu chung nhất, xuất khẩu lâm sản là các hoạt động trong thị trường lâm sản nhằm di chuyển một lượng hàng hoá (lâm sản) và các dịch vụ đi kèm từ trong nước ra nước ngoài để thu về lơị nhuận
Thị trường gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong những năm gần đây Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng qua các năm (xem Bảng 1.3) Hiện nay gỗ và lâm sản đã trở thành một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ trong giai đoạn
2001 – 2005 là 4.039 triệu USD, với tốc độ tăng trung bình tương đối cao và ổn định là 39,7%/năm
Trang 7Bảng 1.3 Kim ngạch xuất khẩu gỗ (2001 – 2005)
Đơn vị tính: triệu USD
- Nhóm 4: sản phẩm đồ gỗ trong nhà như bàn ghế, giường, tủ, giá sách, ván sàn…
- Nhóm 5: sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ được làm chủ yếu từ gỗ rừng tự nhiên áp dụng các công nghệ truyền thống như chạm, khắc, khảm…
Hiện nay, đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt ở khoảng 120 nước trên thế giới Đồ gỗ Việt Nam được xuất khẩu thông qua hai hình thức chủ yếu là: (1) Gia công xuất khẩu cho các nhà xuất khẩu Đài Loan, Singapore, Hàn
Quốc… để các nước này tiếp tục xuất khẩu sang các nước thứ ba dưới nhãn hiệucủa họ Đây là hình thức xuất khẩu chủ yếu trong những năm trước đây khi các doanh nghiệp gỗ Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong công nghệ chế biến, thiết kế mẫu mã cũng như năng lực tìm kiếm thị trường và khách hàng còn hạn chế Hiện nay, hình thức xuất khẩu này đang dần được thu hẹp, nhường chỗ cho hình thức xuất khẩu trực tiếp
(2) Xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường như Mỹ, Nhật Bản, EU, Nga… với nhãn hiệu của chính các doanh nghiệp Việt Nam Hiện nay, trên thị trường gỗ thế giới, Việt Nam
II.2.1.3 Phân tích tình hình xuất khẩu lâm sản tại Việt Nam từ năm 2006- 2009
Trong những năm gần đây, sản phẩm gỗ đã trở thành một trong 5 mặt hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của VN liên tục tăng cao từ năm 2000 đến nay Năm 2007, đồ gỗ đứng thứ 5 trong số các mặt hàng xuất khẩu lớn nhất Tuy nhiên việc tiêu thụ nội địa các sản phẩm gỗ lại chưa được quan tâm đầy đủ Sau khi Việt Nam là thành viên của WTO, sản phẩm gỗ của
Trang 8các nước thành viên sẽ tràn vào Việt Nam và được phép kinh doanh một cách bình đẳng với các doanh nghiệp trong nước Đây chính là một khó khăn rất lớn
mà các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đang phải đối mặt
II.2.1.3.1 Năm 2006
Kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ (chủ yếu là mây, tre, cói, thảm…) đạt 1,7 tỷ USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm ngoái xuất khẩu sản phẩm gỗ vào thị trường EU ước đạt 521,9 triệu USD.Với sự chuẩn bị ra nhập WTO, thị trường lâm sản Việt Nam sẽ phải đứng trước nhiều thách thức mới
II.2.1.3.2 Năm 2007
Sau khi chính thúc ra ra nhập WTO, chịu nhiều áp lực về thuế, giá, chính sách, cạnh tranh trên thị trường Kim ngạch xuất khẩu có phần giảm dần, song vẫn đạt được kết quả nhất định Tháng 12/07, kim ngạch xuất khẩu lâm sản cả nước đạt 261,22 triệu USD, tăng 19,8% so với tháng 11/07 và tăng 45,1% so với tháng 12/06 Tổng kim ngạch xuất khẩu lâm sản cả năm 2007 đạt 2,37 tỷ USD, tăng 22,8% so với năm 2006 Cả năm 2007, sản phẩm lâm sản của Việt Nam đã xuất khẩu được sang 94 thị trường trên thế giới, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm của ta sang một số thị trường đã có sự tăng trưởng cao như Mỹ, Anh, Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ý, Canada, Áo, Nga…
Xuất khẩu lâm gỗ và sản phẩm gỗ 2007 s0 với 2006
Trang 9Tuy nhiên từ cuối năm 2007 và 2008 do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cùng với những khó khăn ở trong nước như thiếu vốn, lãi xuất cao, chi phí đầu tư tăng,… Lâm nghiệp đang gặp phải rất nhiều khó khăn và đối mặt với nguy cơ giảm mạnh tăng trưởng trong giai đoạn tới Theo số liệu thống
kê chính thức, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam trong tháng 12 đạt 269,4 triệu USD, tăng 17,1% so với tháng 11 và tăng 3,1% so với cùng kỳy năm 2007 Trong năm 2008, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 2,8 tỷ USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm ngoái và chỉ đạt được 93,3% kế hoạch năm
Về thị trường, trong năm 2008, Mỹ duy trì là thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ chủ lực của Việt Nam, tuy vậy, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang thị trường này
đã có dấu hiệu chậm lại và càng thể hiện rõ nét hơn trong những tháng cuối năm Trong tháng 12, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Mỹ đạt 88,7 triệu USD, tăng 7% so tháng 11 và chỉ tăng 0,4% sovới cùng kỳ năm ngoái Trng năm
Trang 102008, tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường này đạt 1,049 tỷ USD, tăng 10,7% so với năm 2007 và chiếm 38% tỷ trọng Như vậy, xuất khẩu sản phẩm gỗ sang thị trường Mỹ vẫn khá khả quan Hiện nay, kinh tế Mỹ đang rơi vào suy thoái sâu đồng nghĩa với việc người dân Mỹ cắt giảm nhu cầu tiêu dùng Vì vậy, để duy trì kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này, các doanh nghiệp nên chú trọng hơn vào các sản phẩm giá rẻ, nhằm cạnh tranh với các đối thủ châu Á khác như Trung Quốc, Malaysia… Về sản phẩm, đến hơn 70% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ vào Mỹ là đồ nội thất dùng trong phòng ngủ; tiếp đến là đồ nội thất dùng trong phòng khách, phòng ănchiếm 15%; đồ nội thất văn phòng chiếm 10%…
Nhật Bản là nhà nhập khẩu sản phẩm gỗ lớn thứ 2 của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng về kim ngạch trong năm 2008 tăng khá, như vậy, xuất khẩu sản phẩm gỗ sang thị trường này đã dần được hồi phục Trong tháng 12, kim ngạch xuất khẩusản phẩm gỗ sang Nhật Bản đạt 36,6 triệu USD, tăng 13% so tháng 11 và tăng 57,1% so cùng kỳ năm ngoái Trong năm 2008, tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang thị trường này đạt 371,7 triệu USD, tăng 21% so cùng kỳ năm ngoái Dự báo, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Nhật Bản trong năm tới đạt khoảng 450 triệu USD, tăng 21% so năm 2008
Trong năm 2008, xuất khẩu sản phẩm gỗ sang khối EU cũng đạt khá, đạt 730,15triệu USD, tăng 15,23% so năm 2007 Trong tháng 12/08, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm vào EU đạt khá, trên 100,5 triệu USD, tăng 45,8% so tháng trước và tăng 24% so cùng kỳ năm ngoái Trong đó, xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Anh đạtcao nhất nhưng lại giảm so tháng 12/07; xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Đức, Pháp,
Hà Lan - những thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ lớn của Việt Nam tăng mạnh;còn xuất khẩu sang một số thị trường nhỏ nhưng đầy tiềm năng là Thuỵ Điển, Phần Lan, Hy Lạp tăng rất mạnh… Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ sang một số thị trường lại sụt giảm như Bỉ, CH Ai Len…
Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng đã xúc tiến mạnh sản phẩm gỗ sang thị trường Trung Đông thể hiện ở tăng trưởng kim ngạch như Ả Rập, Tiểu Vương quốc Arập Thống nhất và một số thị trường khác như Nauy, Thái Lan, Nam Phi…