Đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tươi Việt Nam giai đoạn 2006 - 2008
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Hiện nay thu nhập của người dân nước ta đã tăng lên đáng kể Nhu cầu của họkhông chỉ là “ăn no mặc ấm” nữa mà đã nâng lên một mức mới đó là “ăn ngon mặcđẹp” và các nhu cầu về vui chơi giải trí, thăm quan du lịch trở nên rất cần thiết Chínhnhững nhu cầu đó đã làm phát sinh và thúc đẩy cho ngành hoa tươi Việt Nam trongnhững năm gần đây phát triển mạnh Qui mô hiện nay không chỉ giới hạn ở những hộgia đình trồng hoa nhỏ lẻ với mục đích vui chơi nữa mà ngày nay nó đã trở thành mộtngành kinh doanh chính thức và có mức lợi nhuận tương đối cao nên đã xuất hiệnnhững công ty, tập đoàn, khu vực trồng hoa chuyên canh với qui mô lớn như:Hà Nội,
Đà lạt…
Hoa tươi không chỉ cung cấp cho nhu cầu trong nước đặc biệt là những ngày lễlớn như: ngày Valentine, ngày 8 tháng 3, ngày 20 tháng 10… mà nó còn mở rộng sanglĩnh vực xuất khẩu ra nước ngoài như: thị trường Trung Quốc, Nhật Bản…Việc xuấtkhẩu này không chỉ làm tăng GDP của quốc gia mà còn giải quyết được công ăn việclàm và góp phần cải thiện mức sống của người dân nước ta Chính vì lý do nóng bỏng
và thiết thực của đề tài nên em đã quyết định chọn đề tài “Đánh giá tình hình sản xuất
và tiêu thụ hoa tươi Việt Nam giai đoạn 2006 - 2008 ” làm đề tài nghiên cứu chuyên
đề kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu:
2.1 Mục tiêu chung:
Phân tích và đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tươi Việt Nam giai đoạn
2006 - 2008, trên cơ sở đó để định hướng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao khảnăng tiêu thụ hoa tươi của Việt Nam trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu cụ thể:
Phân tích khái quát tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tươi Việt Nam
Đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tươi Việt Nam
Đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng tiêu thụ hoa tươi của Việt Namtrong thời gian tới
3 Phương pháp nghiên cứu:
3.1 Phương pháp thu thập số liệu:
Thu thập số liệu thứ cấp trên sách, báo, tạp chí kinh tế, tivi và Internet…
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 1
Trang 2
3.2 Phương pháp phân tích số liệu:
Sử dụng phương pháp phân tích dựa trên các con số tương đối và tuyệt đối kếthợp với phân tích SWOT để thấy được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe doạ củangành hoa tươi Việt Nam Dựa vào số liệu đó để đưa ra một số giải pháp nâng cao khảnăng tiêu thụ hoa tươi của Việt Nam trong thời gian tới
4 Phạm vi nghiên cứu:
4.1 Không gian: đề tài tập trung nghiên cứu mặt hàng hoa tươi xuất trong phạm vi
cả nước
4.2 Thời gian: Số liệu, thông tin được đề cập chủ yếu từ năm 2006 đến nay.
4.3 Nội dung: Đề tài phân tích và đánh giá tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tươi
Việt Nam giai đoạn 2006 - 2008, trên cơ sở đó để định hướng và đưa ra một số giảipháp nhằm nâng cao khả năng tiêu thụ của ngành hoa tươi Việt Nam trong thời gian tới
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CỦA
NGÀNH HOA TƯƠI VIỆT NAM
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 2
Trang 3
1.1 Khái quát tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tươi trên thế giới
1.1.1 Thị trường EU:
Hiện nay, Eu là thị trường tiêu thụ trên 50% lượng hoa của thế giới Nhiều quốcgia thuộc Eu có mức tiêu thụ hoa cắt cành bình quân đầu người tương đối cao Theothống kê, Đức là nước có mức tiêu thụ hoa lớn nhất Eu, kế đến là Anh, Pháp và Ý
Cho đến nay Hà lan vẫn là nước sản xuất hoa chính của EU, kế đến là Italia.Trồng hoa tại các quốc gia khác ở vùng tây bắc EU như Pháp, Anh, Đức và Phần Lanđang giảm Số lượng hộ nông dân trồng hoa ở Hà Lan, Italia, Tây Ban Nha, Bỉ, ThụyĐiển và Đan Mạch cũng giảm mạnh Tuy nhiên, sản lượng trung bình/công ty lại tănggóp phần làm tổng sản lượng hoa giữ ở mức ổn định
Ngoài ra, sản lượng hoa cắt cành tại Ireland và các quốc gia đông âu khác như
Ba Lan, Hungari cũng đang trên đà phục hồi và thậm chí còn tăng Xét toàn diện thìtổng sản lượng hoa của Eu dự báo sẽ vẫn ổn định trong những năm tới.Tuy nhiên EUvẫn phải nhập hoa tươi từ các khu vực khác nữa như: Kenya, Colombia, Ecuador,Israel…
Xu hướng biến động sản lượng hoa ở khu vực EU đã đem lại cho các doanhnghiệp xuất khẩu hoa ở nước đang phát triển những cơ hội sau: tăng số lượng nhà sảnxuất những trang trại sản xuất Rosa ở châu ÂU đang chuyển sang sản xuất các loài hạtmầm kích thước lớn vì chịu sự cạnh tranh mạnh từ các nhà cung cấp loại “sweethearts”(ví dụ như các hạt mầm loại nhỏ) từ các nước đang phát triển
Quy mô sản xuất và năng suất của các nước sản xuất hoa ở châu Âu đang tăngcao đó là những khó khăn mà nhà xuất khẩu hoa ở các nước đang phát triển phải đốimặt
Việc các cơ sở trồng hoa ở Eu ứng dụng công nghệ sản xuất hiện đại đã giúp họtăng sản lượng và chất lượng hoa, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Xu hướnggiảm lượng hoa sản xuất từ các nước Trung Âu và Bắc Âu sang các nước vùng ngoại vichâu Âu Nguy cơ dư cung và áp lực giảm giá đặc biệt là đối với loại hoa hồng trên thịtrường này
Hiện nay có khoảng 50 đến 60% người tiêu dùng mua hoa chủ yếu phục vụnhu cầu quà tặng, 15% mua hoa để phục vụ các đám tang và khoảng 20% nhằm mụcđích tiêu dùng cá nhân Tuy nhiên, số liệu thống kê cho từng quốc gia riêng lẻ là rấtkhác nhau Nhìn chung, mức tiêu thụ hoa nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân ở nhữngnước có thu nhập cao thuộc Eu thường cao hơn so với các nước khác có mức thu nhậpthấp hơn Trong những kỳ nghỉ, lễ lớn là những khoảng thời gian mà nhu cầu về trang
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 3
Trang 4
trí, quà tặng tăng cao nên đã góp phần quan trọng thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ hoa cắt vàsản phẩm trang trí Vào những ngày đặc biệt như giáng sinh, ngày Valentine; ngày của
Mẹ, ngày của Thư ký (Secretary’s Day), doanh số kinh doanh hoa thường tăng mạnh.Bên cạnh những ngày nghỉ lễ quốc tế nổi tiếng, hầu hết các quốc gia còn có những ngày
lễ kỷ niệm riêng của mình
1.1.2 Thị trường Châu Mỹ:
Ecuador là một trong những nước xuất khẩu hoa hồng lớn trong khu vực và
trên thế giới Trong vòng chưa đầy 20 năm, với đà phát triển mạnh mẽ, ngành côngnghiệp trồng hoa Ecuador đã đóng góp tới 5% kim ngạch xuất khẩu, và trở thành mộttrong những khu vực kinh tế năng động nhất, tạo việc làm cho hàng nghìn người trongbối cảnh lúc đó Ecuador có tỷ lệ thất nghiệp lên tới 10% Về địa lý, Ecuador nằm giữađường xích đạo phân chia Bắc Bán cầu với Nam Bán cầu, quanh năm tràn nắng ấm, rấtthuận lợi cho việc trồng hoa Một trong những công ty trồng hoa hàng đầu của Ecuador,Rosadex, mỗi năm xuất khẩu 15 triệu cành hồng thuộc hơn 20 loài, trong đó 60% vàothị trường Mỹ, phần còn lại được xuất sang Liên minh châu Âu (EU) và Nga
Hiện Ecuador có 14.000 ha đất trồng hoa hồng trên cả nước, chủ yếu ở vùng núi.Các hộ gia đình trồng hoa có thu nhập khoảng 4.000 USD/người/năm, trong khi mứcthu nhập bình quân cả nước chỉ đạt hơn 1.000 USD Hoa hồng chính là loại cây xóa đóigiảm nghèo ở Ecuador, và những ngày nghỉ lễ tết chính là dịp tăng thu nhập của ngườitrồng hoa
1.1.3 Thị trường châu Á:
Theo đánh giá của giới chuyên môn hiện giao thương các sản phẩm hoa là hoạtđộng được mở rộng mạnh mẽ nhất trên toàn cầu Dự báo đến năm 2010, giá trị giao dịchsản phẩm này trên thị trường thế giới ước đạt 16 tỷ USD, tăng 5 tỷ USD so với hiện
nay.
1.1.4.Ấn Độ:
Được đánh giá là nước có tiềm năng xuất khẩu hoa lớn trong khu vực với
nhiều triển vọng tăng thị phần hoa của mình trên thị trường quốc tế Theo thống kê, hiệnhoa Ấn Độ chiếm gần 1% trong tổng 11 tỷ USD trị giá hoa giao dịch toàn thế giới
Mặc dù kim ngạch xuất khẩu sản phẩm hoa cây cảnh của Ấn Độ đã tăng khá ấntượng trong thời gian qua, từ mức 188 triệu RS năm 1994 lên mức 3050 triệu RS năm
2006 (gấp trên 16 lần) nhưng nước này vẫn được coi là nước còn nhiều tiềm năng lớn
để xuất khẩu mặt hàng này
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 4
Trang 5
Những loại hoa trồng nhiều ở Ấn Độ gồm hoa hồng, hoa cúc, cúc vạn thọ, hoanhài, heliconias và hoa cẩm chướng với tổng diện tích đạt 116 nghìn hecta chủ yếu tậptrung ở các khu vực chính như: Tamil Nadu, Karnataka, Haryana, Andhra Pradesh,Maharashtra, West Bengal và Gujarat Tổng sản lượng hoa thu hoạch của nước nàytrong năm 2006 đạt 654 nghìn tấn.
Phòng thương mại Ấn Độ đang rất quan tâm đến việc canh tác những sản phẩmhoa định hướng xuất khẩu và hiện nước này có 500 hecta hoa đang được trồng trongnhà kính Ngoài ra, ngành hoa Ấn Độ cũng đang nỗ lực cải tổ lại những cơ sở sản xuất
và kinh doanh hoa kém hiệu quả để tập trung vào những cơ sở có tiềm năng xuất khẩulớn và tạo nhiều việc làm cho nước này
1.1.5 Trung Quốc:
Là nước sản xuất và tiêu thụ hoa cắt cành lớn nhất thế giới Diện tích trồnghoa ở Trung Quốc là 122.400 ha, với công suất sản xuất 2,7 triệu tấn mỗi năm, đạt trịgiá 6,6 tỷ USD (tiêu thụ hoa toàn cầu đạt 25 tỷ USD mỗi năm) trong đó xuất khẩu đạt
32 triệu USD
Năm 2006 giá hoa thế giới tăng cao đẩy kim ngạch xuất khẩu hoa cắt cành củatỉnh Vân Nam - vùng trồng hoa chính của Trung Quốc tăng mạnh Chỉ tính đến tháng11/2006, lượng hoa xuất khẩu của tỉnh Vân Nam đã đạt 4.362 nghìn tấn, với kim ngạch10,45 triệu USD, tăng 8,6% về lượng và tăng 85,9% về kim ngạch so với cùng kỳ năm2005
Theo thống kê, giá hoa xuất khẩu trung bình của tỉnh Vân Nam trong 11 thángđầu năm 2006 tăng trên 73%, đạt khoảng 2,37USD/kg Hoa hồng, cẩm chướng và lyli lànhững mặt hàng xuất khẩu chủ yếu ở khu vực này Hoa cắt cành của Vân Nam chủ yếuđược xuất sang Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc
Trong đó, thị trường xuất khẩu hoa lớn nhất của Vân Nam trong năm qua làNhật Bản, với kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm 2006 đạt 2,75 triệu USD, tăng 18% sovới cùng kỳ năm 2005
Nhật Bản, Hồng Kông cũng là thị trường xuất khẩu hoa lớn của Vân Nam vớikim ngạch xuất khẩu trong 11 tháng năm 2006 đạt 2,71 triệu USD, gấp 3,5 lần so vớicùng kỳ năm 2005 Ngoài ra, xuất khẩu hoa sang thị trường ASEAN năm qua của VânNam cũng tăng cao, đạt 3,62 triệu USD, tăng gấp 2 so với cùng kỳ năm ngoái
Ngoài ra, trong năm 2006 kim ngạch xuất khẩu hoa tươi cắt cành của các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 54,6% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng nàycủa Vân Nam, tăng 26,1% so với năm 2005
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 5
Trang 6
Yếu tố chính hỗ trợ kinh doanh hoa cắt cành ở Trung Quốc phát triển nhanh làtăng trưởng kinh tế cao, làm tăng nhu cầu tiêu thụ hoa trong nước.
Trong giai đoạn tái thiết ngành nông nghiệp, Chính phủ Trung Quốc đã hỗ trợcho ngành trồng hoa Ngoài ra, gia nhập WTO còn tạo cho Trung Quốc tham gia hợptác quốc tế để phát triển và học hỏi công nghệ hiện đại trong kinh doanh hoa Đặc biệttrong kế hoạch phát triển Quốc gia lần thứ 10, lĩnh vực nghiên cứu công nghệ mới đượctập trung mạnh cho kinh doanh hoa cành Ngành này đã phát triển rất nhanh từ mấy nămnay, đây vẫn là cơ hội hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, vì tới 70% hạt và củ giốnghoa, và 80% máy móc dùng trong kinh doanh hoa cành, được nhập từ nước ngoài
Ngoài ra, Chính phủ cũng đang khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong gieotrồng hoa như trồng trong nhà kính Đây là nền tảng để dự đoán kinh doanh hoa cành ởTrung Quốc sẽ rất khả quan trong những năm tới Đây cũng sẽ là thị trường rộng lớncho hoa nhập khẩu, nhất là từ các nước trong khu vực như: Thái Lan, Việt Nam Đồngthời, ngành kinh doanh hoa cắt cành ở Trung Quốc cũng sẽ trở thành đối thủ cạnh tranhlớn so với các nước sản xuất hoa trong khu vực và thế giới Vì giá sản phẩm của TrungQuốc luôn rẻ
Bắt đầu hoạt động từ 10/12/2002, Trung tâm đấu giá hoa tươi quốc tế Côn Minh
- tỉnh Vân Nam đã trở thành trung tâm giao dịch hoa lớn với khối lượng giao dịch hàngngày từ 600.000 đến 800.000 bông, có ảnh hưởng lớn tới giá hoa hồng, loa kèn, cẩmchướng và hoa cúc châu Phi Côn Minh có quy định chặt chẽ hơn nhiều so với các trungtâm bán hoa khác, với quy định người có số hoa giao dịch tối thiểu 300.000 bông/ngàymới được tham gia Hiện nay có khoảng 100 doanh nghiệp kinh doanh hoa, 300 ngườitrồng hoa vừa và lớn cung cấp hoa thường xuyên cho trung tâm này và hơn 70 thươnggia mua hoa mỗi ngày
Tỉnh Vân Nam cung cấp hơn 50% tổng sản lượng hoa Trung Quốc Trên 80%sản lượng hoa của tỉnh được bán cho hơn 70 thành phố trên toàn quốc, xuất khẩu 15%
ra nước ngoài Vân Nam có 7.864,7 ha đất trồng hoa, cho sản lượng hoa trị giá 0,4 tỷUSD, trong đó xuất khẩu hoa khoảng 18 triệu USD, chủ yếu sang Thái Lan, Singapore,Malaixia, Philipin và Hàn Quốc
Zhangzhou, tỉnh Phúc Kiến, đã đề ra kế hoạch phát triển ngành trồng hoa từ naytới năm 2010, theo đó sẽ xuất khẩu khoảng 26,9 triệu USD Hiện Zhangzhou trồng1.400 loại hoa, trong đó có 800 giống nhập từ nước ngoài Zhangzhou là trung tâm sảnxuất và xuất khẩu hoa lớn nhất của tỉnh Phúc Kiến, đồng thời cũng là trung tâm thôngtin và hợp tác giữa Trung Quốc lục địa và Đài Loan
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 6
Trang 7
Ngành kinh doanh hoa ở Trung Quốc phát triển mạnh từ mấy năm qua vàInternet có vai trò ngày càng quan trọng trong ngành này Hiện Trung Quốc đã có trên20.000 website của các vườn hoa cũng như nhà kinh doanh hoa chuyên nghiệp
1.1.6 Các nước khác trong khu vực như:
Thái Lan, Việt Nam… cũng có tiềm năng để trở thành những cường quốc sảnxuất và xuất khẩu hoa tươi cắt cành lớn trong khu vực và thế giới dựa vào điều kiện khíhậu thuận lợi, nguồn nhân lực rẻ, đặc biệt là sự phong phú của các chủng loại hoa…
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tươi trong nước.
1.2.1 Tình hình sản xuất:
Hoa cắt cành các loại là một trong những điểm mạnh của các nhà xuất khẩu hoaViệt Nam trong những năm gần đây đã thu được một lượng ngoại tệ đáng kể cho quốcgia Mở rộng diện tích sản xuất trồng hoa của cả nước đạt 8000 ha với sản lượng 4,5 tỷcành trong đó mục tiêu xuất khẩu 1 tỉ cành hoa, trị giá trên 60 triệu USD vào năm 2010,tương đương với Hà Lan Trong đó Đà Lạt là nơi sản xuất hoa lớn nhất cả nước Đó làthông điệp của Bộ Thương mại đưa ra từ chiến lược phát triển hoa xuất khẩu
Hiện nay, cả nước có khoảng 4.000 ha diện tích sản xuất hoa cắt cành với sảnlượng khoảng 3 tỷ cành hoa Quy mô về diện tích này tương đương Tây Ban Nha, nướcđứng thứ 5 châu Âu về sản xuất hoa Sản xuất hoa cắt cành ở nước ta hiện nay tập trungxung quanh một số đô thị lớn Ở Hà Nội và vùng lân cận có trên 1.000 ha trong đó vùnghoa Tây Tựu- Từ Liêm- Hà Nội với diện tích trồng hoa đạt 330 ha chủ yếu là hoa hồng,cúc, đào, lay ơn, cẩm chướng Ở Hải Phòng có 300 ha vùng trồng hoa hàng hóa Trung
du miền núi phía Bắc với diện tích gần 136ha gồm: vùng trồng hoa Lao Cai; vùng trồnghoa Hoành Bồ- Quảng Ninh
Khu vực duyên hải Miền Trung mới bắt đầu sản xuất hoa cắt cành, chủ yếu phục
vụ thị trường tại chỗ Vùng trồng hoa tập trung tp Hồ Chí Minh với diện tích 700ha, cáctỉnh Nam Bộ… là nơi sản xuất hoa và cây cảnh đáng kể nhưng chủ yếu là các loại hoanhiệt đới Riêng tỉnh Lâm Đồng có diện tích hoa cắt cành trên 1.100 ha với sản lượngkhông dưới 800 triệu cành mỗi năm Với khả năng sản xuất quanh năm, Lâm Đồng cóthể được coi là trung tâm sản xuất hoa cắt cành lớn nhất cả nước Tuy nhiên, ngòai một
số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có ứng dụng các yếu tố công nghệ tiên tiến
và quan trọng hơn cả là có đầu ra, xuất khẩu (số này không nhiều), hoa của Lâm Đồngnói riêng và cả nước nói chung hầu hết để phục vụ thị trường trong nước, lượng xuấtkhẩu tiểu ngạch cho các nước láng giềng như Trung Quốc, Campuchia hầu như khôngđáng kể
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 7
Trang 8
Tại các vùng trồng hoa tập trung này, hoa hồng và hoa cúc vẫn là hai loại hoacắt chủ đạo, với đa dạng chủng loại và phẩm cấp, từ hoa phục vụ trang trí hàng ngày,tặng trong dịp lễ tết, hoa cúng, hoa khuôn viên cho đến các loại hoa xuất khẩu cao cấp
Tại vùng trồng hoa Tây Tựu-Từ Liêm-Hà Nội, hoa hồng và hoa cúc là hai loạihoa có diện tích trồng và sản lượng cao nhất Hoa hồng cho thu hoạch quanh năm và tạothu nhập thường xuyên Hoa cúc đứng hàng thứ hai với chu kỳ 3 tháng một lần cho thuhoạch Hoa cúc của vùng không chỉ được tiêu thụ tại các thị trường phía Bắc mà đangđược đưa dần vào thị trường phía Nam và xuất khẩu sang Nhật Bản,Đài Loan
Vùng trồng hoa công nghệ cao Đà Lạt được mệnh danh là thiên đường hoa củaViệt Nam, hoa hồng và hoa cúc cũng là hai loại hoa chủ đạo Hoa cúc có tới 40 loạikhác nhau, chia thành 3 nhóm lớn và cúc đại đóa màu vàng anh, tím, cúc giống nhỏ vàcúc có nhóm tia có muỗng Hoa hồng cũng có tới trên 15 loại với chất lượng nổi trội.Hoa hồng Đà Lạt không chỉ được đánh giá cao bởi người tiêu dùng Việt Nam mà cònbởi cả các bạn hàng thế giới với ưu điểm hoa to, cành thẳng, bền, thơm, sinh trưởng vàphát triển tốt, khả năng kháng bệnh cao…
Trong diện tích gần 136 ha trồng hoa của vùng Trung du và miền núi phía Bắc,diện tích trồng hoa hồng đã chiếm tới trên 55,27% với sản lượng 26,53 triệu bông/năm.Diện tích trồng hoa cúc lớn thứ hai với 14,5 ha, sản lượng 5 triệu cành/năm
Với tỷ lệ hoa hồng và hoa cúc khá cao, cơ cấu ngành hoa Việt Nam tương đốiphù hợp với thị hiếu của các thị trường cao cấp trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc
và Tây Âu Tuy nhiên, đây đều là những thị trường khó tính với những yêu cầu về chấtlượng, mẫu mã và an toàn thực vật rất cao Các tiêu chuẩn về hàm lượng thuốc trừ sâu,thuốc bảo vệ, bảo quản thực vật được đặt lên hàng đầu Bên cạnh đó, để có thể thâmnhập các thị trường này, hoa Việt Nam còn phải cạnh tranh về hình thức, giá cả và độtươi lâu
1.2.2 Tình hình xuất khẩu - tiêu thụ:
Đà Lạt được xem là trung tâm sản xuất hoa lớn nhất của cả nước với sản lượng,chủng loại hoa phong phú và đa dạng Việc hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những cơ hộithuận lợi cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu hoa tươi Việt Nam ra thị trờng thế giới
Mà chủ yếu là xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản với các loại hoa chủ lực như: cúc,cẩm chướng, hồng, lan, lys, kỳ lân
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 8
Trang 9(Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ vnnet)
kim ngạch xuất khẩu hoa của Đa Lạt từ
2004 - 2006
0 20000 40000
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ vnnet)
Thị trường Nhật Bản:
Nhu cầu hoa tươi của thị trường Nhật Bản những năm gần đây liên tục tăng Sựgia tăng này đang mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trồng hoa Việt Nam Cụ thể lànăm 2002, nhập khẩu hoa tươi của Nhật chỉ chiếm tỷ trọng 10,6%, nhưng đã tăng lên11,4% trong năm 2003, 12,9% trong năm 2004 và kim ngạch nhập khẩu hoa tươi củaNhật trong năm 2005 đã lên tới 500 triệu USD
Những con số trên chứng tỏ hoa nhập khẩu ngày càng có ưu thế tại thị trườngNhật do nhiều loại hoa không được trồng phổ biến hoặc rất khó trồng vào thời tiết thu
và đông ở quốc gia này
Bình quân hàng năm, kim ngạch xuất khẩu hoa tươi của Việt Nam sang NhậtBản khoảng 6,2 triệu USD, chiếm 1,4% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hoa của Nhật.Con số này đã tăng lên 6,5 triệu USD trong năm 2005, nhưng trên thực tế vẫn chưatương xứng với tiềm năng vốn có của Việt Nam và chưa phản ánh hết sự nỗ lực, tậndụng triệt để mọi cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam
Nguyên nhân là do các doanh nghiệp chưa hiểu được đặc điểm và tập quán tiêudùng của thị trường Nhật Việc xuất khẩu hoa tươi của Việt Nam sang Nhật trong thờigian tới có thể tăng tới hơn 8 triệu USD/năm, đặc biệt là hoa phong lan và các loại hoaghép cành
Do nhu cầu phong phú về các loại hoa và giá nhân công tại Nhật cao, nên kimngạch nhập khẩu hoa của Nhật đã tăng mạnh trong những năm gần đây Bình quân mỗinăm, Nhật Bản nhập khẩu khoảng 453 triệu USD hoa tươi Các thị trường nhập khẩu
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 9
Trang 10
hoa chủ yếu của Nhật là Hà Lan (chiếm 27%), Trung Quốc (9,7%), Đài Loan (9%),Malaysia (8,8%), Thái Lan (7,3%) và Colombia (6,3%).Hiện tại, Hà Lan là nước cung cấp các loại hoa hồng, loa kèn, Freesia, các loại hạt và củhoa tuy-líp lớn nhất vào Nhật Bản Trong khi đó, Thái Lan là nước cung cấp hoa phonglan chủ yếu cho Nhật Bản Đài Loan cung cấp các loại hoa cúc Trung Quốc cung cấpcác loại cành, lá để phục vụ cho việc trang trí và bó hoa
Các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang bước đầu thăm dò, tìm hiểu nhằm đẩymạnh xuất khẩu hoa sang thị trường này Hiện nay, ngoài Đà Lạt Hasfarm (đơn vị sảnxuất và cung cấp hoa lớn nhất nước), đang có thêm nhiều doanh nghiệp đầu tư lớn choviệc trồng và sản xuất hoa phục vụ thị trường trong nước và tiến tới xuất khẩu
Điển hình là vào đầu tháng 12/2005, với sự hỗ trợ của Thương vụ Việt Nam tạiNhật Bản, hơn 200 doanh nghiệp Nhật Bản đã sang tìm hiểu thị trường hoa Việt Namvào đúng dịp Lễ hội hoa Đà Lạt tháng 12/2005 Sự kiện này là một cơ hội tốt để cácdoanh nghiệp sản xuất hoa quảng bá về đất nước, con người Việt Nam, đặc biệt là giớithiệu hoa tươi xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có hoa sen là loài hoa mà người Nhậtđặc biệt yêu thích Đây được xem là mặt hàng
xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam, bởi điều kiện khí hậu nước ta rất thuận lợi cho việctrồng loại hoa này
Ở Nhật Bản mặt hàng hoa bao gồm rất nhiều chủng loại như hoa cắt, nụ hoa, lá,cành, cây cỏ, rêu, cây sống, hoa khô dùng làm trang trí… Do tính chất đặc thù của loàihoa, hầu hết các loại hoa nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản được thực hiện bằngđường hàng không và thông thường mất khoảng 4 ngày kể từ khi tiến hành xuất khẩuđến khi bày bán tại các cửa hàng bán lẻ ở Nhật Các doanh nghiệp nên nắm lấy nhữngthông tin này để lựa chọn sản xuất những loại hoa thích hợp để từng bước tạo vị thế chohoa xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Nhật
Hiện nay, Nhật Bản có thể tự trồng và cung cấp hầu hết nhu cầu hoa trong nước.Tuy nhiên, do nhu cầu trong nước về các loài hoa khá phong phú và chi phí nhân côngtại Nhật Bản khá đắt đỏ, không thể cạnh tranh với các nước khác, nên kim ngạch nhậpkhẩu hoa của Nhật Bản ngày càng tăng trong những năm gần đây
Nhìn chung giá các loại hoa xuất sang thị trường này khá ổn định Hoa cúc làloại có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất ( trên 193 nghìn USD) có đơn giá trung bình là0,18 USD/bông
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 10
Trang 11
Trong khi giá cẩm chướng xuất khẩu trung bình sang tất cả các thị trường là0,175 USD/bông thì xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản với đơn giá là 0,14 USD/bông.Riêng hoa kỳ lân có sự giảm nhẹ về đơn giá trung bình xuất khẩu Cụ thể: trong tháng05/2007 đơn giá xuất khẩu trung bình của loại hoa này là 0,10 USD/bông giảm so vớitháng 04/2007 là 0,09 USD/bông
để đáp ứng nhu cầu kịp thời nhằm gia tăng kim ngạch xuất khẩu hoa tươi của nước ta
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 11
Trang 12
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CỦA
NGÀNH HOA TƯƠI VIỆT NAM
2.1 Những điểm mạnh và điểm yếu của ngành hoa tươi Việt Nam:
2.1.1 Những điểm mạnh của ngành hoa tươi việt nam:
Nước ta được thiên nhiên ban tặng cho có điều kiện thiên nhiên ưu đãi cho sảnxuất nông nghiệp đặc biệt là cho ngành hoa tươi Có các vùng rất thuận lợi cho việctrồng hoa tươi như: Đà lạt, Hà Nội, Hải Phòng…
Lực lượng lao động dồi dào, mức lương của lao động VN lại thấp hơn so vớicác nước trong khu vực Công nhân Việt Nam có thu nhập từ 0,2 – 0,6 USD/giờ Trongkhi Trung Quốc từ 0,5 – 0,75 USD/giờ, Malaysia từ 1,25 – 1,4 USD/giờ, Thái Lan từ1,5 USD/giờ trở lên và ở Đài Loan khoảng 5 USD/giờ
Nằm trong nhóm hàng XK chủ lực của nước ta, nên được sự quan tâm và hỗtrợ của NN chẳng hạn như: Bộ Thương mại đã phối hợp với Bộ Công nghiệp, Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Tài Chính và các địa phương để giải quyết về vấn
đề nguyên liệu, tài chính, mặt bằng sản xuất kinh doanh và các vấn đề đẩy mạnh xúctiến XK vào một số thị trường trọng điểm
Chủng loại thì phong phú đa dạng: Hoa cúc có tới 40 loại khác nhau, chiathành 3 nhóm lớn và cúc đại đóa màu vàng anh, tím, cúc giống nhỏ và cúc có nhóm tia
có muỗng Hoa hồng cũng có tới trên 15 loại với chất lượng nổi trội
2.1.2 Những điểm yếu của ngành hoa tươi việt Nam.
CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ Trang 12