1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp gạch Tuynel Hoàng mai

48 398 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Tác Kế Toán Tập Hợp Chi Phí Và Tính Giá Thành Sản Phẩm Tại Xí Nghiệp Gạch Tuynel Hoàng Mai
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Chuyên đề thực tập
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 587 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp gạch Tuynel Hoàng mai

Trang 1

PHẦN I TỔNG QUAN CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP GẠCH TUYNEL

HOÀNG MAI 1./ Qúa trinh hình thành và phát triển của xí nghiệp:

Xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai chuyên sản xuất và cung cấp sản phẩm gạch 2 lỗ, 4 lỗ và 6 lỗ phục vụ cho nhu cầu xây dựng trong và ngoài huyện

Tên giao dịch: Xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai trực thuộc công ty xây dựng số 6 Nghệ An

Trụ sở chính: Quỳnh thiện - Quỳnh Lưu – Nghệ An

Điện thoại: 0383664233

Fax: 038

Xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai được xây dựng và đưa vào hoạt động theo thiết kế ban đầu vào năm 1977 với tên gọi Xí nghiệp công trình 4.Năm 1998 do nhu cầu xây dựng ngày càng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu gạch cho xây dựng, Xí nghiệp đã đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ sản xuất gạch nung Tuynel thay cho phương pháp đốt thủ công trước đây

Vào thời điểm đó, do hạn chế của nền kinh tế tập trung bao cấp cùng với phương pháp nung đất lạc hậu nên Xí nghiệp công trình 4 không đem lại hiệu quả cao là tất yếu, sau một thời gian nghiên cứu, phân tích đạc điểm sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp, đặc điểm của địa bàn hoạt động cụng như khả năng sản xuất của mình, năm 1998 đã quyết định chuyển sang sản xuất gạch bằng phương pháp lò nung tuynel Được

sự giúp đỡ lạnh Đạo công ty 6, sở xây dựng tỉnh và quyết tâm cao của tập thể cán bộ công nhân viên của Xí nghiệp, qua thời gian học tập và nghiên cứu xem xét thiết bị công nghệ sản xuất gạch của các Xí nghiệp bạn , Xí nghiệp đã xây dựng thành công phương pháp sản xuất lò nung tuynel với công suất 15 triệu viên/năm Cũng từ đây Xí nghiệp có tên gọi là Xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai trực thuộc công ty số 6 Nghệ

An, với nhiệm vụ sản xuất gạch 2 lỗ, 4 lỗ và 6 lỗ cung cấp cho thị trường xây dựng

Về đội ngũ kỹ thuật: Hiện nay Xí nghiệp có một đội ngũ kỹ thuật trẻ, khỏe, lành nghề, làm chủ dây chuyền sản xuất hiện đại của Xí nghiệp Mặt khác đội ngũ này được cử đi đào tạo các cơ sở khác để nân cao trình độ, bắt kịp tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày một phát triển

Về quy mô của Xí nghiệp: Văn phòng của Xí nghiệp có địa thế đẹp, nhà cửa khang trang với trang thiết bị đầy đủ triện nghi Với một vị trí tốt

Trang 2

đến nay Xí nghiệp đã đưa ra nhiều loại sản phẩm phù hợp với thị trường

Xí nghiệp có diện tích lên tới 5000m2

Tổng số công nhân viên: 99 người

Trong đó:

Công nhân viên trực tiếp sản xuất: 87 người

Công nhân quản lý : 12 người

Niên độ kế toán bắt đầu từ 01/01 và kết thúc ngày 21/12 năm dương lịch

Hình thức kế toán của Xí nghiệp: Nhật ký chứng từ

Khấu hao theo phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp hàng tồn kho thường xuyên

Xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai được hình thành từ thời điểm nền kinh tế đang thời bao cấp và chuyển sang kinh tế thị trường nên bước đầu bỡ ngỡ trong cơ chế mới, thị trường bị thu hẹp nhất là các loại sản phẩm chưa phù hợp với mậu mã, chất lượng kém không đạt nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng Tuy nhiên nhờ việc nhanh chóng cải tiến

kỹ thuật, đa dạng hóa công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm, Xí nghiệp đã dần khẳng định vị trí của mình

Thời gian gần đây, Xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai đã đem lại cho người tiêu dùng những sản phẩm gạch có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, không những chủ yếu tiêu dùng ở địa bàn mà còn tiêu thụ ở nhiều địa bàn khác Chính bởi sự đa dạng phong phú về mẫu mã và chất lượng

mà hàng năm lượng tiêu thụ càng nhiều khối lượng sản xuất và tiêu thụ hàng năm cao hơn năm trước Trong đó vốn cố định 4.678.414.300 đồng, vốn lưu động: 1.071.080.855 đồng

Để nâng cao hiệu quả sản xuất, năm 2001 để đầu tư xây dựng thêm nhà xưởng lò tuynel với dây chuyền hiện đại, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ công nhân viên

Từ năm 1994 đến năm 1997 công suất từ 1,5 đến 2,5 triệu viên 1 năm Từ năm 1998 sau khi xây dựng lò tuynel với dây chuyền sản xuất gạch đồng bộ khép kín mội năm đạt từ 10 đến 15 triệu viên các loại 1 năm Mấy năm gần đây doanh thu tăng dần là một trong nhựng nghành sản xuất vật liệu có thu nhập tương đối khá trong nghành sản xuất vật liệu xây dựng ở Nghệ An Năng lực sản lượng và chất lượng sản phẩm ngày càng được tăng lên

PHẦN II

Trang 3

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM.

I Bản chất, nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

Như chúng ta đã biết, xã hội loài người tồn tại và phát triển gắn liền với sản xuất Để có thể tiến hành sản xuất cần có các yếu tố cơ bản

là Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Đồng thời đây cũng là quá trình tiêu hao của chính bản thân các nhân tố trên Việc sử dụng các yếu tố này trong quá trình sản xuất cũng chính là quá trình trong doanh nghiệp chi ra những chi phí sản xuất tương ứng với việc sử dụng nhiên liệu, nguyên vật liệu với việc sử dụng lao động đó là tiền công, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y-tế, kinh phí công đoàn và việc trích khầu hao tài sản cố định

Trong điều kiện kinh tế hàng hoá đều được biểu hiện bằng tiền trong đó chi phí về tiền công là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống còn chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, khấu hao tài sản

cố định…là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động vật hoá

Như vậy việc hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra các giá thành sản phẩm là tất yếu khách quan nó không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người sản xuất

Trong quá trình sản xuất việc tập hợp được chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng, để có thể xác định chính xác, cung cấp thông tin thực tế về chúng trước hết phải tìm hiểu về bản chất kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về toàn

bộ lao động sống và lao động vật hoá và các chi phí khác mà doanh nghiệp chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong một kỳ nhất định

Giá thành là chi phí sản xuất tính cho khối lượng hoặc đơn vị sản phẩm công việc, lao vụ do doanh nghiệp sản xuất hoàn thành

Muốn hoạch toán giá thành sản phẩm 1 cách chính xác là phải tính đúng và đầy đủ chi phí sản xuất Tuỳ theo mục đích, phạm vi, giới hạn xác định chi phí mới có sự phân biệt các loại giá thành và phân biệt chi phí sản xuất với giá thành sản phẩm Sự giống nhau giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là đều có cùng bản chất là giá trị lao động kết tinh thuộc các yếu tố của quá trình sản xuất Song chúng cũng có những mặt khác nhau

+ Chi phí sản xuất luôn gắn với thời kỳ nhất định nó là tổng chi phí chi ra trong kỳ đó Còn giá thành sản phẩm chỉ gắn với một loại sản phẩm, công việc, lao vụ cụ thể Trong giá thành sản phẩm bao gồm một

Trang 4

phần kinh phí kỳ trước chuyển sang, một phần chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra trong kỳ và cả một phần chi phí sẽ còn phát sinh ở kỳ sau nhưng đã ghi nhận vào chi phí của kỳ này.

+ Chi phí sản xuất trong kỳ là căn cứ, cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm … Việc tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản suất của doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành Việc quản lý giá thành sản phẩm luôn gắn liền với quản lý chi phí sản xuất Tuy nhiên chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm do nhiều yếu tố của quá trình sản xuất cấu thành nhưng mỗi yếu tố quyết định vào quá trình sản xuất lại rất khác nhau Việc phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

và cơ sở để tiến hành các biện pháp tổ chức quản lý chi phí có hiệu quả

và vạch ra được nhân tố cụ thể làm tăng, giảm giá thành sản phẩm Đồng thời là cơ sở đầu tiên cho việc hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

II Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.

1.1 Phân loại theo nội dung kinh tế của chi phí:

Theo cách phân loại này căn cứ vào tính chất, nội dung kinh tế của chi phí sản xuất khác nhau để chia ra các yếu tố chi phí bao gồm có nội dung kinh tế, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực nào? ở đâu? Mục đích hoặc tác dụng của nó như thế nào? Toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ được chia thành các yếu tố sau:

- Chi phí nguyên liệu, vật liệu

- Chi phí nhân công

- Chi phí khấu hao tài sản cố định

- Chi phí dịch vụ mua ngoài

- Chi phí khác bằng tiền

Việc phân loại theo nội dung kinh tế của chi phí sản xuất có ý nghiã, tác dụng rất lớn trong việc quản lý chi phí sản xuất Cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố chi phí sản xuất để phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất Làm cơ sở để lập bảng thuyết minh báo cáo tài chính và tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất, kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương và tính toán nhu cầu về vốn lưu động cho kỳ sau:

1.2 Phân loại theo mục đích và công dụng của chi phí.

Những yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong thời kỳ đều có mục đích và công dụng nhất định trong hoạt động sản xuất, vì vậy theo cách

Trang 5

phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng khác nhau của chi phí

để chia ra các khoản mục chi phí, công dụng không phân biệt chi phí đó

có nội dung kinh tế như thế nào? Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp chỉ

ra trong thời kỳ được chia thành các khoản mục sau:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

- Chi phí phân công trực tiếp

- Chi phí sản xuất chung

Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này có tác dụng cung cấp

số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm làm căn cứ cho việc xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ doanh nghiệp

Trên đây là 2 phương pháp phân loại chi phí nhằm phục vụ công tác nghiên cứu thực tế chủ yếu của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thường áp dụng

2.Phân loại giá thành sản phẩm:

Để giúp cho việc nghiên cứu và quản lý tốt giá thành sản phẩm kế toán cần phân biệt các loại giá thành khác nhau về lý luận chung như thực tế có 2 cách phân loại giá thành chủ yếu sau:

2.1 Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành:

Căn cứ vào cách phân loại thì giá thành sản phẩm được chia làm

3 loại như sau:

do bộ phận kế toán cung cấp giúp cho nhà quản lý doanh nghiệp có thể

đề ra được những quyết định hạ hoặc tăng giá thành sản xuất và nắm được những khoản mục chi phí sản xuất có trung thực hay không, ảnh hưởng đến việc tính giá thành sản phẩm 1 cách chính xác hơn và việc phân tích đúng, đánh giá chính xác kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 6

Để tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đáp ứng đúng, đầy đủ, trung thực và kịp thời những yêu cầu quản lý chi phí sản suất và giá thành sản phẩm thì kế toán cần làm tốt các nhiệm vụ sau:

- Căn cứ đặc điểm quy trình công nghệ, đặc biệt tổ chức sản xuất của doanh nghiệp để xác định đối tượng tập hợp chi phí và phương pháp tính giá thành thích hợp

- Tổ chức tập hợp chi phí sản xuất và phân bổ từng loại chi phí theo đúng đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, cung cấp kịp thời những số liệu thông tin tổng hợp về các khoản chi phí và yếu tố quy định, xác định chi phí sản xuất cho sản phẩm dở dang cuối kì một cách chính sách, hợp lý

-Thực hiện tính giá thành sản phẩm một cách kịp thời, chính xác, đúng đối tượng tính giá thành và đúng phương pháp tính giá thành đã được xác định

III Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.

1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 1.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất:

Là phạm vi, giới hạn mà chi phí phải tập trung nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giám sát chi phí và yêu cầu tính giá thành

Chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại và được sản xuất khác nhau của doanh nghiệp Do đó chi phí sản xuất của các doanh nghiệp phát sinh cần phải tập hợp theo các yếu tố, khoản mục chi phí với phạm vi, giới hạn nhất định phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm

Các căn cứ để xác định đối tượng tập hợp chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất

- Dựa vào quy định công nghệ tính chất sản xuất sản phẩm

- Căn cứ vào cơ cấu tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp

- Căn cứ đặc điểm cơ cấu sản xuất

- Căn cứ vào trình độ quản lý kinh tế của từng doanh nghiệp

- Căn cứ vào đối tượng tình giá thành

1.2 Đối tượng tính giá thành.

Là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ doanh nghiệp sản xuất ra phải tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị

Xác định đối tượng tính giá thành là công việc cần đầu tiên trong toàn bộ công việc tính giá thành sản phẩm của kế toán Bộ phận kế toán giá thành phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp theo vụ

và sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất, tính chất cung cấp và sử dụng vào sản xuất để xác định đối tượng tính giá thành cho phù hợp

Trang 7

2 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất.

2.1 Tổ chức hệ thống chứng từ ban đầu.

Từ các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất của doanh nghiệp được xác định, kế toán trưởng tổ chức việc tập các chứng từ hạch toán ban đầu đối với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất như với chi phí nhân công là bảng thanh toán lương… Với chi phí khấu hao tài sản cố định là bảng phân bổ và trích khấu hao tài sản cố định…

2.2 Các tài khản kế toán sử dụng:

- Tài khoản 621 ''Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp '' tài khoản này được sử dụng dùng để tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất trong kỳ được phát sinh

- Tài khoản 622 ''Chi phí nhân công trực tiếp '' tài khoản này được

sử dụng để tập hợp phản ánh toàn bộ chi phí nhân công trực tiếp cho từng đối tượng hạch toán và kết chuyển phí nhân công để tính giá thành sản phẩm

Tài khản 627: ''Chi phí sản xuất chung'' tài khoản này được sử dụng dùng để tập hợp toàn bộ chi phí mang tính chất chung liên quan đến phục vụ sản xuất và quản lý sản xuất ….trong các phân xưởng bộ phận

Tài khoản 154' ''chi phí sản xuất kinh doanh dở dang '' đối với kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên thì khoản tài sản này dùng để tập hợp chi phi sản xuất phát sinh trong kỳ phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm Còn đối với kế toán hàng tồn kho không theo phuơng pháp kiểm kê định kỳ tài khoản này dùng để phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh dở dang để phản ánh chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đầu kỳ và cuối kỳ

- Tài khoản 631 ''Giá thành sản xuất'' tài khoản này chỉ sử dụng để tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp áp dụng kế toán hàng tồn kho theo phương phát kiểm kê định kỳ

2.3 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:

a Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

Bao gồm các chi phí về các loại chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu… dùng trực tiếp vào sản xuất và chế tạo sản phẩm

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có liên quan trực tiếp tới từng đối tượng tập hợp chi phí Tổ chức tập hợp theo phương pháp ghi trực tiếp nghĩa là phải ghi đúng đối tượng chịu chi phí từ các chứng từ có liên quan đến chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được tính toán phải căn cứ vào nguyên vật liệu trực tiếp được tính toán phải căn cứ vào nguyên vật liệu xuất kho dùng cho sản xuất sản phẩm đối với từng đối tượng của kế toán vật liệu

Trang 8

Nếu với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có liên quan đến nhiều đối tượng dùng cho sản xuất không tập hợp được một cách trực tiếp cho từng đối tượng thì phải lựa chon tiêu thức hợp lý để tiến hành phân bổ chúng và áp dụng theo công thức:

Tổng hợp chi phí nguyên vật Đại lượng

Chi phí nguyên vật liệu liệu đã tập hợp cần phân bổ của tiêu chuẩn

phân bổ chi = x phân bố của đối đối tượng thứ i Tổng đại lượng của tiêu tượng thứ i

thức dùng để phân bổ

Chi phí nguyên vật liệu chính, nữa thành phẩm mua ngoài… có thể chọn tiêu thức phân bố là chi phí định mức nguyên vật liệu, khối lượng sản phẩm sản xuất

Để tính chính xác tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế đã chi ra trong kỳ được xác định theo công thức sau:

Chi phí NVL Trị gá NVL Trị giá NVL Trị giá Thực tế trực tiếp = xuất đứa vào - còn lại - phế liệu Trong kỳ sư dụng chưa sử dụng thu hồi

- Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu được hiểu quả qua sơ đồ sau:

3

Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

Trang 9

TK 152 (611) TK 621 (611) TK152 (611)

Trị giỏ NVL xuất kho dựng Trị giỏ NVL chưa sử dụng và

sản xuất trực tiếp phế liệu thu hồi

b Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp:

Là các khoản lơng chính, lơng phụ và các khoản trích tiền BHXH, kinh phí Công đoàn, HBYT phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất Ph -

ơng pháp tập hợp chi phi nhân công trực tiếp về nguyên tắc thì tơng tự

nh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Chi phí nhân công trực tiếp đ ợc tập hợp cụ thể nh sau:

Đối với tiền lơng của công nhân sản xuất có quan hệ trực tiếp đến từng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất thì kế toán sử dụng ph ơng pháp trực tiếp tập hợp cho từng đối tợng

Đối với tiền lơng của công nhân sản xuất có liên quan đến nhiều đối tợng, tập hợp chi phí sản xuất thì kế toán sử dụng phơng pháp phân bố gián tiếp cho từng đối tợng cụ thể tiêu thức phân bổ là chi phí tiền công

định múc khối lợng sản phẩm sản xuất

Kế toán căn cứ tiền lơng của công nhân trực tiếp sản xuất đã tập hợp đợc cho từng đối tợng và các tỷ lệ trích riêng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y-tế, kinh phí Công đoàn đã đợc chi cho đối tợng

Cuối kỳ tiến hành phân bổ, kết chuyển toàn bộ chi phí nhân công trực tiếp vào đối tợng liên quan

Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp.

Trang 10

TK 334 TK 622 TK 154 (631)

Lương chớnh, lương phụ phải Kết chuyển chi phớ nhõn cụng trực

trả cho nhõn cụng SX tiếp cho đối tượng chịu chi phớ

TK 335

Trớch trước tiền lương nghỉ

phộp của cụng nhõn SX

c Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung:

Chi phí sản xuất chung là những chi phí phục vụ sản xuất ngoài 2 khoản chi phí đã nêu trên phát sinh ở các phân xởng, tổ, đội sản xuất

Chi phí sản xuất chung phải đợc tập hợp theo từng địa điểm phát sinh chi phí Một doanh nghiệp nếu có nhiều phân xởng, tổ, đội sản xuất chung cho từng phân xởng sản suất từng tổ, đội sản xuất

Cuối tháng tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung theo đối t ợng

Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung:

Trang 11

Việc tập hợp chi phí trả trước và phân bổ thường được thực hiện trên tài khoản 142 ''Chi phí trả trước'' tài khoản này có 2 tài khoản cấp 2.

Tài khoản 1421 ''chi phí trả trước''

Tài khoản 1422: ''chi phí chờ kết chuyển''

- Kế toán chi phí phải trả là những chi phí được coi là chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ mặc dù thực tế chưa phát sinh chúng được trích trước vào chi phí sản xuất kinh doanh theo kế hoạch nhằm làm cho chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ít bị biến động giữa các kỳ

Trang 12

- Chi phí sản phẩm phải trả gồm tiền lương của công nhân sản xuất trong thời gian nghỉ phép, chi phí sửa chữa tài sản cố định theo

kế hoạch Chi phí phải trả được phản ảnh trên tài khoản 335 ''chi phí phải trả'' tài khoản này được phản ánh chi phí nhân công trực tiếp, các khoản được ghi nhận là chi phí trong thời kỳ thực tế chưa được phát sinh

d Tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp.

Chi phí sản xuất sau khi đã tập hợp riêng cho khoản mục, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung cần được kết chuyển để tập hợp được chi phí sản xuất của toàn doanh nghiệp và chi phí kết chuyển để tập hợp chi phí sản xuất của toàn doanh nghiệp và chi phí kết chuyển theo từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất

Nhằm giúp đỡ cho việc tập hợp chi phí kế toán có thể vận dụng

kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên hay kiểm kê định kỳ mà sử dụng các tài khoản khác nhau Đối với doanh nghiệp áp dụng phương pháp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp

kê khai thường xuyên thì phải sử dụng tài khoản 154'' chi phí sản xuất kinh doanh dở dang '' để tập hợp chi phí sản xuất cho toàn bộ doanh nghiệp và nó được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp.

(Theo phương pháp kê khai thường xuyên)

TK 621 TK 154 TK 152

Kết chuyển chi phí NVL Phế liệu thu hồi do

trực tiếp sản phẩm hỏng

TK 622 TK 138

Kết chuyể chi phí Bồi thường phải thu do

nhân công trực tiếp sản phẩm hỏng

TK 627 TK 155 Kết chuyể chi phí Giá thành sản xuất

sản xuất chung thành phẩm nhập kho

Trang 13

Đánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ và tính toán xác định phân chi phí mà sản phẩm làm dở cuối kỳ phải chịu Việc đánh giá sản phẩm làm

dở hợp lý là một trong những nhân tố quyết định tính trung học, hợp lý của giá thành sản phẩm dở hợp lý của giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ Tuy nhiên việc tính toán đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

là một công việc rất phức tạp khó có thể thực hiện một cách chính xác tuyệt đối, kế toán phải phụ thuộc vào tình hình cụ thể về tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất cấu thành của chi phí sản xuất và yếu cầu trình độ quản lý của từng doanh nghiệp để vận dụng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang kỳ cuối thích hợp

Tuy thuộc vào điều kiện cụ thể của các doanh nghiệp để tiện cho phần phục vụ thực tế của doanh nghiệp có thể áp dụng để đánh giá sản phẩm làm dở theo các phương pháp sau:

3.1 đánh giá sản phẩm làm dở theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

Theo phương pháp này, sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ tính toán phần chi phí nguyên vật liệu trực tiếp còn chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tính cả cho thành phẩm chịu và nó được áp dụng theo công thức sau

Trang 14

Ddk + Ctk

Dck = x Qdck

Qht + Qdck

Trong đó:

Ddk, Dck: Chi phí dở dang đầu kỳ và cuối kỳ

Ctk: Chi phí phát sinh trong kỳ

Qht: Sản lượng dở dang cuối kỳ

Phương pháp này có ưu điểm tính toán đơn giản, khối lượng công việc tính toán không nhiều và dễ làm nhưng độ chính xác về sớ liệu tính toán không cao

3.2 đánh giá sản phẩm làm dở dang khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương:

Theo phương pháp này, căn cứ vào số lượng sản phẩm làm dở và mức độ hoàn thành để quy đổi sản phẩm làm dở về sản phẩm hoàn thành tương đương sau đó tiến hành phân bổ chi phí cho tổng số sản phẩm hoàn thành nguyên tắc sau:

- Đối với các loại chi phí bỏ ngay vào sản xuất từ đầu của quy định công nghệ thì được tính đều cho sản phẩm dở và sản phẩm hoàn thành:

Dđk + Ctk

Dck = x Qdck (1)

Qht + Qdck

Trong đó:

Dđk: Dck Chi phí dở dang đầu kỳ và cuối kỳ

Ctk: Chi phí phát sinh trong kỳ

Qht: Sản lượng hoàn thành trong kỳ

Qdck: Sản lượng hoàn thành cuối kỳ

- Đối với các khoản chi phí bỏ dần vào quá trình sản xuất được tính đều cho sản phẩm dở theo mức độ hoàn thành theo công thức:

Dđk + Ctk

Dck = x ( Qdck x ht ) (1)

Qht + ( Qdck x %ht )

Trong đó:

Dđk: Dck Chi phí dở dang đầu kỳ và cuối kỳ

Ctk: Chi phí phát sinh trong kỳ

Qht: Sản lượng hoàn thành trong kỳ

( Qdck x % ht ): Khối lượng sản phẩm dở dang đã quy đổi ra khối lượng thành phẩm tương đương theo tỷ lệ hoàn thành

Trang 15

Việc đánh giá sản phẩm làm dở theo phương pháp này thì đảm bảo tính chính xác hơn nhưng tính toán lại phức tạp hơn.

3.3 Đánh giá sản phẩm làm dở theo phương pháp định mức:

Phương pháp này áp dụng thích hợp đối với các doanh nghiệp sản xuất thực hiện việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp định mức Phương pháp này căn cứ vào khối lượng sản phảm làm dở và chi phí sản xuất định mức cho từng đơn vị sản phẩm làm dở cuối lỳ theo chi phí sản xuất định mức nhưng có tính đến mức độ hoàn thành

Theo phương pháp này việc tính toán đơn giản nhưng không đảm bảo tính chính xác vì vậy chỉ áp dụng phương pháp phù hợp Có những phương pháp tính giá thành chủ yếu sau:

3.4 Phương pháp tính giá thành đơn giản ( phương pháp trực tiếp ).

Theo phương pháp này giá thành sản phẩm được tính bằng cách căn cứ trực tiếp vào chi phí trong kỳ đã tập hợp được vf giá trị sản phẩm làm dở đầu kỳ và cuối kỳ để tính ra giá thành sản phẩm theo công thức:

Tổng giá thành chi phí sản xuất chi phí sản xuất sản phẩm = + -

SP thực tế sản phẩm dở ĐK phát sinh KT dở CK

Tổng giá thành sản phẩm thực tế

Giá thành đơn vị thành phẩm =

Khối lượng sản phẩm hoàn thành

Phương pháp này áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp sản xuất có quy trình công nghệ đơn giản khép kín đưa nguyên vật liệu vào cho đến khi hoàn thành sản phẩm, mặt hàng sản phẩm ít, khối lượng lớn,chu kỳ sản xuất ngắn, tính giá thành phù hợp với báo cáo

3.5- Phương pháp tính giá thành theo phương pháp hệ số:

Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp tập hợp chung toàn bộ chi phí sản xuất cho cả quy trình công nghệ để tính giá thành của từng loại sản phẩm rồi tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Quy đổi sản lượng thực tế từng loại sản phẩm theo hệ số tính giá thành để làm tiêu thức phân bổ

Trang 16

Q: Tổng sản lượng quy đổi.

Pi: Sản lượng của sản phẩm loại i

Hi: Hệ số quy đổi sản phảm i

Bước 2: Tính hệ số phân bổ chi phí của từng loại sản phẩm:

Hệ số phân bổ Sản lượng quy đổi sản phẩm i

=

Chi phí của Spi Tổng sản lượng quy đổi

Bước 3: Tính tổng giá thành thực tế từng loại sản phẩm theo từng khoản:

4.3 Phương pháp tính giá thành phân bước:

Phương pháp này được áp dụng thích hợp với các doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, kiểu liên tục phải qua nhiều giai đoạn chế biên liên tiếp nhau Nửa thành phẩm bước trước (giai đoạn trước) lại là đối tượng tiếp tục chế biến ở giai đoạn sau

- Phương pháp phân bước có tính giá thành mới thành phẩm

- Phương pháp phân bước không tính giá thành nữa thành phẩm

a Phương pháp phân bước có tính giá thành nữa thành phẩm:

Theo phương pháp này thì phải xác định được nữa giá thành phẩm bước trước và chi phí về nữa thành phẩm bước trước chuyển sang bước sau cùng với các chi phí khác của bước sau để tính giá thành của nửa thành phẩm bước sau, cứ như vậy lần lượt tuần tự cho đến khi tính được giá thành của thành phẩm

Trình tự tính giá thành của nửa thành phẩm tự chế và đánh giá thành của thành phẩm ở giai đoạn cuoói cùng được thực hiện như sau:

-Giai đoạn 1: Căn cứ chi phí sản xuất đã tập hợp ở phân xưởng 1

để tính ra giá thành đơn vị của nửa thành phẩm tự chế của giai đoạn 1 hoàn thành theo công thức:

ΖTP1 = DĐC1 + C1 - DCK1

Trong đó:

ΖTP1: Tổng giá thành của thành phẩm

DĐC1: Chi phí SP dở dang đàu kỳ giai đoạn 1

C1: Chi phí sản xuất tập hợp được trong giai đoạn 1

DCK1: Chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ ở giai đoạn 1

Trang 17

Giá thành đơn vị Tổng giá thành nửa thàn phẩm giai đoạn 1 của nửa thành phẩm =

giai đoạn 1 Sản lượng nửa thành phẩm hoàn thành ở GĐ1

Giai đoạn 2: Căn cứ vào giá thành thực tế của nửa thành phẩm

bước 1 và chi phí của giai đoạn 2 để tính giá thành và gía thành đơn vị của nửa thành phẩm giai đoạn 2

Trong đó:

ΖNTP2: Tổng giá thành nửa thành phẩm giai đoạn 2

ΖNTP1: Tổng giá thành nửa thành phẩm giai đoạn 1 và sản phẩm làm đầu giai đoạn 2

C2: Chi phí sản xuất phát sinh giai đoạn 2

DCK2: Chi phí sản xuất dở dang cuối giai đoạn 2

Chi phí sản xuất từng giai đoạn trong thành phẩm kết chuyển song

song từng khoản mục để tính giá thành sản xuất của thành phẩm theo công thức:

Tổng giá thành Chi phí sản xuất Chi phí sản Chi phí sản xuất

= + +

thành phẩm giai đoạn 1 xuất giai đoạn 2 giai đoạn n

Phương pháp nhận bước không tính giá thành nửa thành phẩm được tính toán nhanh chóng kịp thời nhưng có hạn chế không xác định giá thành nửa sản phẩm nên không có tác dụng xác đinh hiệu quả sản xuất ở từng giai đoạn

Ngoài các phương pháp tính giá thành thành phẩm đã nêu ở trên còn có các phương pháp tính thành phẩm sau:

- Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng

- Phương pháp tính giá thành theo từng loại trù chi phí

-Phương pháp tính giá thành theo đinh mức

-Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ

Trang 18

PHẦN III

TÌNH HÌNH THỰC TẾ KẾ TOÁN TẬP HỢP CPSX VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở XÍ NGHIỆP GẠCH TUYNEL HOÀNG MAI.

I Đặc điểm của Xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai.

1 Quá trình hình thành và phát triển của gạch tuynel Hoàng Mai.

1 Xí nghiệp gach tuynel Hoàng Mai tên giao dịch là: Xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai trực thuộc công ty xây dựng số 6 Nghệ An, có trụ sở tại xã Quỳnh Thiện huyện Quỳnh Lưu – Nghệ An trên trục được quốc lộ 1A với diện tích gần 5000m2 bên cạch Xí nghiệp Hoàng Mai,với địa bàn này rất thuận lợi cho việc sản xuất và cung cấp cho người tiêu dùng

2 Xí nghiệp gạch tuynel Hoang Mai có nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất và cung cấp sản phẩm gạch 2lỗ, 4 lỗ và gạch 6 lỗ phục vụ cho nhu cầu xây dựng trong và ngoại huyện

Xí nghiệp gạch tuynel Hoang Mai được xây dựng và đưa vào hoạt động theo thiết kế ban đầu vào năm 1977 với tên gọi Xí nghiệp công trình 4

Năm 1998 do nhu cầu xây dựng ngày càng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu gạch cho xây dựng, Xí nghiệp đã đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ sản xuất gạch nung Tuynel thay cho phương pháp nung đốt thủ công trước đây

Vào thời điểm đó, do hạn chế của nền kinh tế tập trung bao cấp cùng với phương pháp nung đất lạc hậu nên Xí nghiệp công trình 4 không đem lại hiệu quả cao là tất yếu, sau một thời gian nghiên cứu, phân tích đặc điểm sản xuất kinh doanh của xí nghiệp, đặc điểm của địa bàn hoạt động cũng như khả năng sản xuất của mình, năm 1998 đã quyết định chuyển sang sản xuất gạch bằng phương pháp lò nung tuynel Được

sự giúp đỡ lãnh đạo Công ty xây dựng số 6, sở xây dựng tỉnh và quyết tâm cao của tập thể cán bộ công nhân viên của Xí nghiệp, qua thời gian học tập và xem xét thiết bị công nghệ sản xuất gạch của các xí nghiệp bạn, xí nghiệp đã xây dựng thành công phương pháp sản xuất lò nung Tuynel với công suất15 triệu viên / năm Củng từ đây

Xí nghiệp có tên gọi là Xí nghiệp gạch Tuynel Hoàng Mai trực thuộc công ty xây dựng số 6 Nghệ An , với nhiệm vụ sản xuất gạch 2 lỗ , 4 lỗ

và gạch 6 lỗ cung cấp cho thị trường xây dựng

3 Tổng số CNV: 99 người

Trong đó :

CNV trực tiếp sảng xuất : 87 người

CNV quản lý : 12 người

Trang 19

Niên độ kế toán bắt đầu từ 01/01 và kết thúc ngày 31/12 năm dương lịch

Hình thức ké toán của Xí nghiệp; nhật ký chứng từ

Khấu hao theo phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp hàng tồn kho thường xuyên

Xí gạch tuynel Hoàng Mai được hình thành từ thời điểm nền kinh

tế đang thời bao cấp vì chuyển sang kinh tế thị trường nên bước đầu bỡ ngỡ trong cơ chế mới, thị trường bị thu hẹp nhất là các loại sản phẩm chưa phù hợp về mẩu mã, chất lượng kém không đạt nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng Tuy nhiên nhờ việc nhanh chóng cải tiến công nghệ , đa dạng hoá công nghệ đa dạng hoá sản phẩm , xí nghiệp đã dần khẳng định vị trí của mình

Thời gian gần đây, Xí nghiệp gạch tuynel Hoàng mai đã đem lại cho người tiêu dùng những sản phẩm gạch có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, không những chủ yếu tiêu dùng ở địa bàn mà còn tiêu thụ ở các địa bàn khác Chính bởi sự đa dạng phong phú về mẫu mã và chất lượng mà hàng năm lượng gạch tiêu thụ càng nhiều khối lượng sản xuất và tiêu thụ năm sau cao hơn năm trước Trong đó vốn cố định 4.678.414.300 đồng, vốn lưu động 1.071.080.855 đồng

4 Để nâng cao hiệu quả sản xuất, năm 2001 để đầu tư xây dựng thêm nhà xưởng lò tuynel với dây chuyền hiện đại, nâng cao đồi sống vật chất tinh thần cho cán bộ công nhân viên

Từ năm 1994 đến năm 1997 công suất từ 1,5 đến 2,5 triệu viên 1năm Từ năm 1998 sau khi xây dựng lò tuynel với dây chuyền sản xuất gạch đồng bộ khép kín mỗi năm đạt từ 10-15 triệu viên các loại 1năm Mây năm gần đây doanh thu tăng dần là một trong những ngành sản xuất vật liệu có thu nhập tương đối khá trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng ở Nghệ An Năng lực sản lượng và chất lượng sản phẩm ngày càng được tăng lên

II Đặc điểm của quy trình sản xuất gạch, thổ chức sản xuất, tổ chức quản lý của Xí nghiệp.

1 Đặc điểm của quy trình sản xuất gạch.

Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Xí nghiệp là quy trình sản xuất đơn giản kiểu chế biến liên tục loại hình sản xuất với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn và xen kẻ liên tục , sản phẩm của quy trình công nghệ này là các loại gạch có khả năng chịu lực, chịu nước cao Phẩm chất các loại gạch phụ thuộc vào kỷ thuật sản xuất đòi hỏi tay nghề của công nhân sản xuất cao, bộ phận quản lý phải chặt chẽ Từ việc gia công thô muốn sản xuất ra thành phẩm phải trải qua các công đoạn

Các công đoạn sản xuất được biểu diện theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 2-1 Quy trình công nghệ sản xuất gạch tại xí nghiệp

Trang 20

2 Đặc điểm tổ chức sản xuất:

Với nhiệm vụ chính là sản xuât gạch các loại, xí nghiệp chỉ có một phân xưởng trong đó được chia ra nhiều tổ để công việc sản xuât đạt hiệu quả

Sơ đồ 2.2 Cơ cấu sản xuất của xí nghiệp như sau:

Xí nghiệpPhân xưởng

NungPhân loại sản phẩm

Trang 21

Tổ

nghiền

Tổtạo hình

Tổ gộp gạch

Tổralò

Tổđốt

TổVàolò

TổCơkhí

Nhiệm vụ của các bộ phận trong cơ cấu sản xuất như sau:

- Tổ pha nghiền than, đất sau khi ngâm ủ được pha với than đã nghiền

để nhào trộn với nước thành một hỗn hợp mềm dẻo để tạo thành gạch các loại

- Tổ tạo hình: cho các hỗn hợp ở các công đoạn trước vào máy đùn ép

và cắt thành hình gạch các loại, theo tỷ lệ và kích cở quy định

-Tổ gộp gạch: sản phẩm gạch mộc sau khi phơi, sấy khô theo tiêu chuẩn

kỷ thuật quy định được tổ gộp gạch thu gom, vận chuyển từ cáng vào kho để bắt đầu công đoạn cuối nung đốt

- Tổ vào lò: tiếp tục làm công việc xếp gạch vào lò để nung đốt

- Tổ đốt: có nhiệm vụ đốt lò, luôn giữ lò ở nhiệt độ quy định

- Tổ ra lò: có nhiệm vụ ra sản phẩm sau khi đã đốt xong

Tổ cơ khí, điện máy, xe máy: có nhiệm vu phục vụ điện, sửa chữa máy móc vận hành tốt, thiết bị phục vụ sản xuất vận tải và chuyên chở phục

vụ nhu cầu của xí nghiệp và chủ yếu là giao tận tay cho khach hàng theo yêu cầu đã thoả thuận trước

Trong phân xưởng được tổ chức thành các tổ sản xuất, sắp xếp theo một trình tự hợp lí, mỗi công nhân thực hiện một hoặc một số bước công nghệ nhất định

3 Đặc điểm về tổ chức quản lý:

Đứng đầu xí nghiệp là Giám đốc phụ trách bao quát chung toàn bộ hoạt động của xí nghiệp, giới Giám đốc có một phó Giám đốc có nhiệm vụ

và trực tiếp phụ trách kinh doanh bán hàng

Sơ đồ 2.3 bộ máy quản lý của xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai.

Giám đốcPhó giám đốc

Trang 22

Phòng

kế

toán

Phòng KHKT

Phòng TCHC

Phòng kinhdoanh

Phòng bảo vệ

Chức năng của các phòng ban gồm:

- Phòng kế toán: Ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tổng hợp số liệu, thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp số liệu cho ban Giám đốc và người có nhu cầu sử dụng thông tin, đề xuất các biện pháp giúp lãnh đạo xí nghiệp có đường lối phát triển đúng đắn, đạt hiệu quả trong công tác quản trị Xí nghiệp

- Phòng kế hoạch kỹ thuật: Xây dựng các kế hoạch sản xuất lập các định mức kinh tế kỹ thuật, theo dõi quy trình công nghệ, đảm bảo về mặt kỹ thuật cho quy trình sản xuất xây dựng định mức nguyên vật liệu

- Phòng tổ chức hành chính: Quản lý lao động, tuyển sinh đào tạo, kỷ luật, giải quyết các chính sách chế độ tiền lương thưởng phạt cho công nhân viên

- Phòng kinh doanh: Cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm và điều động xe vận chuyển

- Phòng bảo vệ: Bảo vệ mọi tài sản, trật tự an ninh của xí nghiệp, quản

lý việc chấp hành kỷ luật giờ giấc của cán bộ công nhân viên

4 Đặc điểm về tổ chức công tác kế toán tại xí nghiệp:

Xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai tổ chức kế toán theo hình thức tập trung, bộ máy kế toán gọn nhẹ phù hợp với tình hình hiện nay gồm

có 1 kế toán trưởng và 4 kế toán viên với các nhiệm vụ như sau:

- Kế toán trưởng: Là người đứng đầu bộ máy kế toán có nhiệm vụ phụ trách chung, chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra các công việc do

kế toán viên thực hiện, chịu trách nhiệm trước Ban Giám Đốc, cơ quan chủ quản về số liệu kế toán cung cấp

- Kế toán thanh toán: Có nhiệm vụ thanh toán tính lương cho công nhân viên, trích BHXH, BHYT, KPCĐ

- Kế toán bán hàng: theo dõi tình hình thanh toán công nợ

- Kế toán tổng hợp: Chịu trách nhiệm theo dõi ghi chép, thanh toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến tài sản cố định, vật

tư thành phẩm phản ánh các nghiệp vụ này vào sổ chi tiết, bảng phân bổ… cùng với số liệu do kế toán ở các phần khác chuyển qua, cuối tháng lập bảng tính giá thành, cuối quý lập báo cáo tài chính trình lên

kế toán trưởng duyệt

-Thủ quỹ: Chịu trách nhiệm thu chi quản lý tiền mặt theo dõi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến tiền mặt, tiền ngân hàng, kiểm quỹ đối chiếu trên sổ với số tiền thực có quỹ và chuyển số liệu cho kế toán tổng hợp

Trang 23

- Thủ kho và nhân viên kinh tế: theo dõi ghi chép phản ánh các hoạt động phát sinh trong quá trình sản xuất về mặt số lượng nhũng số liệu này giúp kế toán có căn cư để hạch toán đúng chi phí sản xuất trong kỳ.

Sơ đồ 2.4 bộ máy kế toán của Xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai.

Kế toán tổng hợp

Thủ quỹ

Thủ kho vàNVKT

Hiện nayXí nghiệp đang áp dụng hình thức kế toán nhật ký chứng

từ và phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên

Hệ thống sổ kế toán sử dụng:

Sổ chi tiết tài khoản 152, 153, 211, 131, 331, 621, 154…

Sổ kế toán tổng hợp, sổ cái các tài khoản, bảng phân bổ

Trình tự ghi sổ kế toán ở Xí nghiệp như sau:

1 Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ hợp lệ để ghi vào nhật ký

2 Các chứng từ cần hạch toánchi tiết mà chưa thể phản ánh trong các nhật ký chứng từ, bảng kê, bảng phân bổ thì ghi vào sổ kế toán chi tiết

3 Các chứng từ thu, chi tiền mặt ghi vào sổ quỹ rồi ghi vào các bảng kê, nhật ký chứng từ có liên quan

4 Cuối tháng căn cứ số liệu từ bảng phân bổ ghi vào các bảng kê, nhật ký chứng từ có liên quan

5 Căn cứ vào sổ chi tiết lập bảng tổng hợp số liệu chi tiết

6 Kiểm tra đối chiếu giữa các sổ kế toán về số liệu

7 Sử dụng số liệu nhật ký chứng từ ghi vào sổ cái tài khoản

Trang 24

8 Cuối cùng căn cứ số liệu nhật ký chứng từ, sổ cái, bảng tổng hợp chi tiết số liệu báo cáo kế toán.

III- Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp gạch Tuynel Hoàng Mai.

- Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất của Xí nghiệp: Là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất theo phân xưởng cũng chính là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất của xí nghiệp ( vì xí nghiệp chỉ có duy nhất một phân xưởng sản xuất)

- Đối tượng tính giá thành: Là từng loại sản phẩm gạch hoàn thành

1 Phương pháp tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.

1.1- Chi phí vật liệu chính trực tiếp:

- Vật liệu chính trực tiếp tại xí nghiệp bao gồm: Đất và than…vv…

Quy trình khai thác đất tại xí nghiệp được dùng bằng máy đào, xúc từ khu đất của xí nghiệp, sau đó đưa vào ngâm ủ và gia công

sơ bộ rồi dùng máy để bóc tách các loại đá và vật liệu cứng ra khỏi đất

Vật liệu than được mua ngoài thị trường về nhập kho xí nghiệp sau đó dùng bằng máy đập nghiền than nhỏ pha với đất sau khi ngâm ủ để nhào trộn với nước thành một hỗn hợp mềm dẻo

Phương pháp tính giá vốn xuất kho của than được tính theo phương pháp bình quân gia quyền:

Trị giá vật liệu Đơn giá Số lượng vật liệu

Chính (than) thực tế = vật liệu x chính (than)

xuất dùng chính (than) xuất dùng

Phương pháp tính giá vốn của đất cũng được áp dụng theo phương pháp bình quân gia quyền:

Trị giá vật liệu Giá thành Tất cả các chi phí

chính đất thực tế = thực tế + liên quan đến quá

xuất dùng khai thác trình khai thác

Lý do xuất kho: sản xuất gạch 2 lỗ

Xuất tại kho : vật tư anh Hồng

Ngày đăng: 01/04/2013, 11:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp. - Công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp gạch Tuynel Hoàng mai
Sơ đồ k ế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp (Trang 9)
Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung: - Công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp gạch Tuynel Hoàng mai
Sơ đồ k ế toán tập hợp chi phí sản xuất chung: (Trang 10)
Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp. - Công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp gạch Tuynel Hoàng mai
Sơ đồ k ế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp (Trang 12)
Sơ đồ 2.2. Cơ cấu sản xuất của xí nghiệp như sau: - Công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp gạch Tuynel Hoàng mai
Sơ đồ 2.2. Cơ cấu sản xuất của xí nghiệp như sau: (Trang 20)
Sơ đồ 2.3 bộ máy quản lý của xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai. - Công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp gạch Tuynel Hoàng mai
Sơ đồ 2.3 bộ máy quản lý của xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai (Trang 21)
Sơ đồ 2.4 bộ máy kế toán của Xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai. - Công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp gạch Tuynel Hoàng mai
Sơ đồ 2.4 bộ máy kế toán của Xí nghiệp gạch tuynel Hoàng Mai (Trang 23)
BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG SẢN PHẨM SẢN XUẤT - Công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp gạch Tuynel Hoàng mai
BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG SẢN PHẨM SẢN XUẤT (Trang 37)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w