1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Điện Biên

14 433 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 3,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất chưa sử dụng của Điện Biên cũng rất lớn, tới 466.245ha, chiếm 48,8% tổng diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là đất dốc chỉ có khả năng phát triển lâm nghiệp.. Với lượng mưa hàng nă

Trang 1

1 Nguồn lực thiên nhiên.

1.1 Vị trí địa lý.

Điện Biên là tỉnh được tách ra từ tỉnh Lai Châu cũ, nằm ở phía nam sông Đà.

Địa hình Điện Biên có nhiều dãy núi chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam

Lòng chảo Mường Thanh ở Điện Biên lớn nhất vùng Tây Bắc

Điện Biên là một tỉnh nằm trong tọa

độ từ 102°01’ đến 103°01’ kinh độ Đông

và từ 20°54’ đến 22°33' vĩ độ Bắc Tổng

diện tích tự nhiên toàn tỉnh hiện nay là

9.554.097 km2 Nằm ở vùng Tây Bắc,

cách thủ đô Hà Nội gần 504km về phía

Tây, miền Bắc Việt Nam

Điện Biên nơi “gà gáy ba nước đều

nghe tiếng” phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu,

phía Đông và Đông bắc giáp tỉnh Sơn

La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam –

Trung Quốc, phía Tây và Tây Nam giáp

với huyện Phongsaly và Luangprabang

nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào

Đây là tỉnh duy nhất của Việt Nam có

chung đường biên giới với 2 quốc gia

Trung Quốc (chiều dài đường biên giới

38,5km) và Lào (chiều dài đường biên giới

360km) Địa hình chủ yếu là rừng, núi cao

và dốc, xen với nhiều thung lũng hẹp,

những cao nguyên nhỏ, sông suối

Trang 2

Điện Biên Phủ là thành phố tỉnh lỵ tỉnh Điện Biên ở tây bắc Việt Nam Thành

phố Điện Biên Phủ phía đông nam giáp huyện Điện Biên Đông, các phía còn lại

giáp huyện Điện Biên

1.2 Nguồn tài nguyên thiên nhiên

1.2.1 Tài nguyên khí hậu

Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, mùa đông tương đối lạnh và ít

mưa; mùa hạ nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến bất thường, phân hoá đa

dạng, ít chịu ảnh hưởng của bão, chịu ảnh hưởng của gió tây khô và nóng Nhiệt độ

trung bình hàng năm từ 21 – 230C, nhiệt độ trung bình thấp nhất thường vào tháng

12 đến tháng 2 năm sau (từ 14 - 180C), các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất từ

tháng 4 - 9 (250C), chỉ xảy ra các khu vực có độ cao thấp hơn 500m

Lượng mưa hàng năm trung bình từ 1300 mm đến 2000mm, thường tập trung

theo mùa, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Độ ẩm trung bình

hàng năm từ 76 - 84% Số giờ nắng bình quân từ 158 – 187 giờ trong năm

Do diện tích tự nhiên rộng, địa hình lại bị chia cắt nên khí hậu ở đây bị phân hoá

thành 3 tiểu vùng rõ rệt: tiểu vùng khí hậu Mường Nhé, tiểu vùng khí hậu Mường

Lay và tiểu vùng khí hậu cao nguyên Sơn La và thượng nguồn sông Mã

1.2.2 Tài nguyên đất.

Điện Biên có các nhóm đất chính là: nhóm đất phù sa, nhóm đất đen, nhóm đất

mùn vàng đỏ trên núi Những loại đất này rất phù hợp để phát triển các loại cây

lương thực, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày, trồng và khoanh nuôi tái sinh

rừng

Điện Biên có tổng diện tích tự nhiên là 955.409ha Trong đó hầu hết đất đai có

độ dốc lớn, tầng canh tác mỏng Hơn 70% quỹ đất của tỉnh có độ dốc trên 250, chỉ

thích hợp cho phát triển lâm nghiệp, trồng và tái sinh rừng Diện tích có độ dốc từ

15 - 250 chiếm 25% Đất có độ dốc dưới 150 chỉ chiếm 4% quỹ đất của tỉnh, trong

đó khoảng 75% có tầng dày trên 50 cm

Trang 3

- Quỹ đất thích hợp cho gieo trồng lúa nước chỉ chiếm khoảng 1,5% tổng diện

tích tự nhiên, bao gồm các loại đất phân bố ở độ dốc dưới 80; chủ yếu là nhóm đất

phù sa

- Quỹ đất thích hợp cho cây ngắn ngày khác (lúa nương, hoa màu, cây công

nghiệp ngắn ngày ) chiếm khoảng 1,6% tổng diện tích tự nhiên, bao gồm các loại

đất có độ dốc 8 - 150, tầng dày trờn 70cm, chủ yếu là nhóm đất feralit đỏ vàng

- Quỹ đất thích hợp cho phát triển cây dài ngày theo phương thức nông lâm kết

hợp chiếm khoảng 18% tổng diện tích tự nhiên; gồm các loại đất phân bố ở độ dốc

dưới 150, tầng dày từ 50 - 70cm và ở độ dốc từ 15 - 250, tầng đất dày trên 70cm

Chủ yếu là nhóm đất feralit đỏ vàng

- Quỹ đất dành cho phát triển lâm nghiệp chiếm khoảng 75% tổng diện tích tự

nhiên, bao gồm các loại đất nằm ở độ dốc trên 250 và một phần đất ở độ dốc dưới

250 nhưng có tầng đất dày mỏng, chỉ dưới 50 cm

Diện tích đất đang sử dụng vào sản xuất nông, lâm nghiệp của Điện Biên có

479.817ha, chiếm 50,2% diện tích tự nhiên của tỉnh Trong đó đất sử dụng vào sản

xuất nông nghiệp là 111.749ha, chiếm 11,6% diện tích tự nhiên; đất sử dụng vào

sản xuất lâm nghiệp là 367.398 ha, chiếm 38,5% và mặt nước nuôi trồng thủy sản

là 670ha, chiếm 0,07% diện tích tự nhiên của tỉnh

Đất chưa sử dụng của Điện Biên cũng rất lớn, tới 466.245ha, chiếm 48,8% tổng

diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là đất dốc chỉ có khả năng phát triển lâm

nghiệp

1.2.3 Tài nguyên nước.

Với lượng mưa hàng năm khá lớn, hệ thống ao hồ và sông suối nhiều (toàn tỉnh

có hơn 10 hồ lớn và hơn 1.000 sông suối lớn nhỏ phân bố tương đối đồng đều trong

tỉnh) nên nguồn nước mặt ở Điện Biên rất phong phú theo 3 hệ thống sông chính:

- Sông Đà ở phía Bắc tỉnh (giáp

với tỉnh Lai Châu mới) bắt nguồn từ

Vân Nam (Trung Quốc) qua Mường

Tè (tỉnh Lai Châu) - thị xã Mường

Lay - Tuần Giáo rồi chảy về tỉnh

Sơn La Sông Đà (trên địa bàn Điện

Biên có các phụ lưu chính là Nậm

Ma, Nậm Bum, Nậm Pụ, Nậm

Mức với tổng diện tích lưu vực

khoảng 5.300 km2, chiếm 55% diện

tích tự nhiên của tỉnh

Cầu Hang Tôm trên sông Đà

- Hệ thống sông Mã có các phụ

lưu chính là sông Nậm Khoai thuộc

huyện Tuần Giaó và sông Nậm Mạ

Trang 4

thuộc huyện Điện Biên với diện tích

lưu vực 2.550 km2 Đây là hệ thống

sông lớn thứ hai của tỉnh

- Hệ thống sông Mê Kông có

diện tích lưu vực là 1.650 km2 với

các nhánh chính là sông Nậm Rốm,

Nậm Núa Sông Nậm Rốm bắt

nguồn từ Bắc huyện Điện Biên qua

thành phố Điện Biên Phủ - Pa Thơm

Sông Nậm Rốm ở tp.Điện Biên Phủ

(huyện Điện Biên) rồi chảy sang Lào Sông Nậm Núa bắt nguồn từ Mường Nhà

chảy theo hướng Nam - Bắc sau đó chuyển sang hướng Đông - Tây và gặp sông

Nậm Rốm ở lòng chảo Điện Biên rồi chảy sang Lào

Đặc điểm chung của các sông suối trong tỉnh là có độ dốc lớn, lắm thác nhiều

ghềnh, nhất là các sông suối thuộc hệ thống sông Đà và sông Nậm Rốm Chất

lượng nước tương đối cao, ít bị ô nhiễm

Sông suối ở Điện Biên dốc, lắm thác nhiều ghềnh, có lượng dòng chảy lớn

Lượng dòng chảy giảm dần từ phía Bắc đến phía Nam của tỉnh Các huyện Mường

Chà và phía bắc Tuần Giáo có một dòng chảy từ 30 đến 40 l/s/km2; huyện Điện

Biên và phía nam Tuần Giáo chỉ còn 20 l/s/km2

Sông suối ở Điện Biên nhiều, nguồn nước tương đối dồi dào Tuy nhiên, do cấu

tạo địa chất cộng với địa hình cao, dốc nên khả năng giữ nước vào mùa khô rất

khó

Nguồn nước ngầm của tỉnh Điện Biên được tập trung chủ yếu ở các thung lũng

lớn như Điện Biên, Tuần Giáo Các thung lũng này có trữ lượng nước ngầm khá

lớn và hình thành túi đựng nước ở độ sâu từ 20 đến 200 m

* Về tiềm năng thủy điện: Do nằm ở vùng núi cao, nhiều sông suối, lắm thác

ghềnh, lưu lượng dòng chảy mạnh nên tỉnh Điện Biên có tiềm năng thuỷ điện rất

phong phú và đa dạng về quy mô Theo khảo sát sơ bộ, tại Điện Biên có nhiều

điểm có khả năng xây dựng nhà máy thuỷ điện, trong đó đáng chú ý là các điểm:

Thuỷ điện Mùn Chung trên suối Nậm Pay, thuỷ điện Mường Pồn trên suối Nậm

Ty, thuỷ điện Nậm Mức trên sông Nậm Mức, thuỷ điện Nậm He trên suối Nậm He,

thuỷ điện Nậm Pồ, trên suối Nậm Pồ, hệ thống thuỷ điện trên sông Nậm Rốm, Nậm

Khẩu Hu

Tuy nhiên việc khai thác các tiềm năng này còn ở mức khiêm tốn Hiện nay trên

địa bàn tỉnh mới có một số nhà máy thuỷ điện như Nà Lơi 9.300 KW, thác Bay

2.400 KW, Thác trắng 6.200 KW, Nậm Mức 44 Mw được xây dựng và khai thác

khá hiệu quả

1.2.3 Tài nguyên khác.

Trang 5

Tài nguyên rừng và đất rừng: Là tỉnh miền núi nên Điện Biên có tiềm

năng rừng và đất rừng rất lớn Toàn tỉnh có tới 757.937ha rừng và đất rừng, chiếm

79,3% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Năm 2004, tổng diện tích đất có rừng của

Điện Biên chỉ có 367.398 ha, chiếm 48,5% tiềm năng đất rừng và đạt tỷ lệ che phủ

38,5%, trong đó rừng tự nhiên là 356.225 ha, chiếm 96,9% đất có rừng; rừng trồng

là 11.225 ha chiếm 3,1% Hầu hết rừng ở Điện Biên hiện nay là rừng phòng hộ

Trong số hơn 466 ngàn ha đất chưa sử dụng thì diện tích đất đã quy hoạch cho phát

triển lâm nghiệp của tỉnh là 397.989 ha

thăm dò đánh giá kỹ Qua tra cứu các tài liệu lịch sử liên quan cho thấy, Điện Biên

có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng về chủng loại, gồm các loại chính như:

nước khoáng, than mỡ, đá vôi, đá đen, đá granit, quặng sắt và kim loại màu,

nhưng trữ lượng thấp và nằm rải rác trong tỉnh

Đến nay trên địa bàn tỉnh đó xác định được 32 điểm quặng sắt và kim loại, 14

điểm mỏ than, trong đó có 2 điểm đó được đánh giá trữ lượng cấp C1 và nhiều

điểm khoáng sản vật liệu xây dựng, nước khoáng nhưng chưa được thăm dò đánh

giá sâu về trữ lượng và chất lượng Sơ bộ cho thấy, các khoáng sản chính ở Điện

Biên là khoáng sản kim loại: có sắt, chì, chì - kẽm, nhôm, đồng, thủy ngân

- Sắt có phân bố rải rác ở các huyện Điện Biên, Tuần Giáo và Mường Chà với

quy mô nhỏ, chỉ ở mức điểm quặng và chưa xác định được trữ lượng

- Chì - kẽm phân bố tập trung quanh huyện Điện Biên, Điện Biên Đông, Tủa

Chùa và thành phố Điện Biên Phủ hiện nay có điểm quặng chì kẽm ở khu vực

Tuần Giáo đang hoạt động

- Đồng qua khảo sát sơ bộ phát hiện mỏ đồng ở khu vực Chà Tở huyện Mường

Chà với trữ lượng khá lơn nhưng chưa được thăm dò đánh giá cụ thể

- Nhôm và nhôm - sắt có triển vọng ở xã Phình Sáng huyện Tuần Giáo với trữ

lượng cấp P khoảng 40 - 50 triệu tấn

2 Nguồn lực kinh tế - xã hội.

2.1 Dân c – ngu n l c lao đ ng ư – nguồn lực lao động ồn lực lao động ực lao động ộng.

Điện Biên Phủ có số dân khoảng

491.046 người (năm 2008) Trong đó tỉ

lệ dân cư sống ở thành thị là 96,55%, tỉ

lệ dân cư sống ở nông thôn là 3,45%

Mật độ dân số 54 người/km² Cư dân

sống ở đây không chỉ có người

Kinh (~20%) mà còn có một số đông

là người Thái (~38%), người H'Mông

(~30%) , người Si La Các dân tộc

thiểu số chiếm 1/3 dân số của thành

phố Điện Biên Phủ cũng là thành phố

có dân số thấp nhất nước

Trang 6

CHỈ TIÊU

Đơn vị tính

Thực hiện năm 2004

Thực hiện năm 2005

Thực hiện năm 2007

Ước thực hiện năm 2008

Năm B/

c so với năm trước DÂN SỐ VÀ LAO ĐỘNG

Nam Người 225.914 235.256 239.907 101,98

Nữ Người 224.024 233.026 237.464 101,90

Phân theo thành thị nông thôn Người

Thành thị ,, 72.956 75.700 77.220 78.595 101,78

Nông thôn ,, 367.897 374.238 391.061 398.776 101,97

2 Dân số phân theo huyện, thị, TP Người 449.938 468.282 477.371 101,94

8 Huyện Điện Biên " 103.937 106.683 107.879 101,12

9 Huyện Điện Biên Đông " 51.126 53.611 54.705 102,04

3 Dân số trong độ tuổi lao động có khả

4 LĐ đang làm việc trong các ngành

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ,, 192.947 194.548 196.794 197.076 100,14

Nông nghiệp, lâm nghiệp ,, 191.929 193.472 195.634 195.887 100,13

Thuỷ sản ,, 1.018 1.076 1.160 1.189 102,50

Công nghiệp và xây dựng ,, 14.211 15.192 15.755 16.065 101,97

Công nghiệp ,, 6.025 6.632 6.722 6.852 101,93

Xây dựng ,, 8.186 8.560 9.033 9.213 101,99

Dịch vụ ,, 29.863 32.908 39.900 44.632 111,86

5 Lao động khu vực nhà nước Người 21.321 22.408 25.014 26.911 107,58

Địa phương quản lý ,, 690 426 288 300 104,17

Công nghiệp và xây dựng ,, 3.202 2.796 2.178 2.172 99,72

Trung ương quản lý ,, 718 746 733 752 102,59

Địa phương quản lý ,, 2.484 2.050 1.445 1.420 98,27

Trung ương quản lý ,, 1.767 2.288 2.575 2.728 105,94

Địa phương quản lý ,, 15.824 16.898 19.973 21.711 108,70

6 Số lượt người được sắp xếp việc

làm:

Lượt người 1.538 1.716 1.034 1.213 117,31

người 1.510 1.715 1.034 1.113 107,64

7 Tỷ lệ LĐ thất nghiệp ở khu vực thành

8 Tỷ lệ sử dụng thời gian LĐ ở KV nông

9 Tỷ lệ sinh thô của dân số ‰ 26,3 25,95 23,30 22,65 -0,65

11 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ‰ 19,7 18,85 17,20 16,60 -0,60

Bảng: Dân số lao động tỉnh Điện Biên 2008

Trang 7

2.2 Cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của địa phương.

Tỉnh Điện Biên nơi vừa có núi non hùng vĩ, vừa có cánh đồng rộng thẳng cánh

cò bay, cảnh yêu, người mếm có di tích lịch sử Điện Biên Phủ, khu chỉ huy chiến

dịch Mường Phăng…là tài sản vô cùng quý giá để khai thác phát triển du lịch và

nghiên cứu lịch sử, bên cạnh đó tỉnh còn có nhiều điểm du lịch hấp dẫn như: hồ Pa

Khoang, suối khoáng nóng Hua Pe, hồ U Va, thác Mường Luân, thành Bản Phủ…

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 18 dân tộc anh em sinh sống với những nét văn

hoá đặc trưng riêng, gồm cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể, rất thích hợp để

phát triển du lịch văn hoá

Vì vậy, tỉnh Điện Biên rất chú trọng phát triển du lịch các di tích lịch sử:

Hầm Đờ-Cát-Tơ-Ri Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ

Trang 8

Đồi A1 Nghĩa Trang liệt sỹ

Tượng đài Mường phăng Lán cỏ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Ngoài ra, Điện Biên còn phát triển về du lịch văn hóa dân tộc, các danh lam

thắng cảnh, ẩm thực:

Hồ Pa Khoang Thành Bản Phủ

Trang 9

Đền Hoàng Công Chất Động Pa Thơm

Điệu múa xòe của dân tộc Thái Lễ hội của người Mông

Hội thành Bản Phủ Đặc sản rượu sâu chít

Trang 10

Xôi nếp nương Thịt trâu xông khói

Để phục vụ cho phát triển thăm quan du lịch Tỉnh Điện Biên cũng chú trọng

xây dựng các dịch vụ đời sống cho du khách:

Phương tiện giao thông

Trung tâm mua sắm

Trang 11

Khách sạn, nhà hàng

2.3 Đường lối phát triển kinh tế xã hội của Điện Biên

Để kinh tế xã hội Điện Biên phát triển hơn nữa, vận dụng sáng tạo, linh hoạt

đường lối, chủ trương của Đảng vào thực tiễn địa phương, với phương châm:"Phát

triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt" Tỉnh Điện Biên tập trung chỉ đạo phát triển kinh tế theo hướng :nhanh, mạnh, bền vững, gắn với bảo vệ môi

trường sinh thái, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng

công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

trên cơ sở khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế về đất đai, rừng, thủy điện,

khoáng sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

nguồn nhân lực Phát triển văn hoá, xã hội đồng bộ với tăng trưởng kinh tế, bảo vệ

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tiếp tục đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, tạo

thêm nhiều việc làm mới, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân Phát huy khối

đại đoàn kết các dân tộc đảm bảo giữ vững ổn định an ninh chính trị, bảo vệ vững

chắc chủ quyền biên giới quốc gia Để đưa Điện Biên cơ bản ra khỏi tình trạng đặc

biệt khó khăn, rút ngắn khoảng cách phát triển trong vùng và trong cả nước

Tạo sự chuyển biến rõ nét về cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng

nông, lâm nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong tổng GDP của

tỉnh

Mỗi năm giảm tỷ lệ hộ đói nghèo Phấn đấu đến năm 2015 lệ hộ nghèoc òn dưới

10% và đến năm 2020 còn dưới 3%

Duy trì kết quả phổ cập giáo dục bậc tiểu học và xoá mù chữ Phấn đấu đạt

chuẩn phổ cập giáo dục bậc trung học cơ sở trong toàn Tỉnh Đạt chuẩn phổ cập

trung học phổ thông trong toàn tỉnh trước năm 2020

Đẩy mạnh công tác đào tạo dạy nghề Đa dạng hoá các loại hình đào tạo, mở

rộng quy mô và hình thức đào tạo ở các trường chuyên nghiệp trong tỉnh với các

ngành nghề phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất ở địa phương Phấn đấu nâng

tỷ lệ lao động được đào tạo của tỉnh từ 16,4% hiện nay lên hơn 35% vào năm 2020,

Trang 12

trên 100% số học sinh phổ thông được hướng nghiệp dạy nghề tại các trung tâm

vào năm 2020

Hoàn thiện mạng lưới y tế từ tỉnh đến xã, bản Đến năm 2020, đạt 10 bác

sĩ/1vạn dân, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn dưới 10% và

100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế

Đến năm 2015, toàn bộ hệ thống đường tỉnh, huyện và đường đến trung tâm xã,

cụm xã được rải nhựa hoặc bê tông: trên 50% số thôn bản có đường ô tô, 100% dân

số được dùng điện, 100% dân số được xem truyền hình Đến năm 2020, trên 95%

số thôn bản có đường ô tô đi lại được cả 2 mùa

Nâng tỷ lệ che phủ của rừng năm 2020 nhằm bảo đảm chức năng phòng hộ đầu

nguồn và đóng góp lớn vào nền kinh tế

Đến năm 2013, tất cả các đô thị trong tỉnh có công trình thu gom và xử lý chất

thải tập trung; 60% dân số đô thị được cấp nước sinh hoạt sạch và 80% dân số nông

thôn được cấp nước sinh hoạt, khoảng 70% số hộ nông thôn có công trình vệ sinh

hợp quy cách Đến năm 2020, 100% dân số đô thị được cấp nước sinh hoạt sạch và

100% dân số nông thôn được cấp nước sinh hoạt, trong đó trên 80% được cấp nước

sạch; 100% số hộ nông thôn có công trình vệ sinh hợp quy cách

3 Kết luận chung.

Thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội tại Điện Biên

Điện Biên có lợi thế lớn về tiềm năng đất đai, đặc biệt là diện tích đất chưa sử

dụng còn rất lớn (trên 500.000 ha, chiếm 55% tổng diện tích tự nhiên) Đây chính

là tiềm năng lợi thế lớn để tỉnh đầu tư phát triển lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp,

chăn nuôi đại gia súc… Ngoài ra cánh đồng Điện Biên rộng lớn với đất đai màu

mỡ, được coi là vựa lúa của vùng Tây Bắc, nếu được đầu tư thoả đáng và áp dụng

tiến bộ khoa học kỹ thuật thì sẽ trở thành nơi sản xuất lúa gạo chất lượng cao của

cả nước để xuất khẩu Tại các vùng Mường Nhé, Si Pa Thìn, Điện Biên có rất

nhiều thuận lợi để tập trung phát triển chăn nuôi các loại gia súc theo hướng kinh tế

trang trại

Trên địa bàn tỉnh còn có rất nhiều di tích lịch sử có giá trị văn hoá, du lịch cao,

trong đó đáng chú ý là di tích Điện Biên Phủ và nhiều danh lam thắng cảnh gắn với

nền văn hoá truyền thống của các dân tộc anh em, đây là lợi thế lớn để tỉnh phát

triển mạnh ngành du lịch, dịch vụ

Ngoài những tiềm năng trên Điện Biên còn có đường biên giới chung với nước

Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và Trung Quốc Tại đây có các cửa khẩu Tây

Trang (đang đề nghị được nâng cấp thành cửa khẩu quốc tế), cửa khẩu Pa Thơm,

cửa khẩu Mường Lói, cửa khẩu A Pa Chải… Đây là những cửa khẩu quan trọng để

tỉnh Điện Biên mở mang phát triển kinh tế và giao lưu với các nước Ngoài tỉnh còn

có sân bay Điện Biên đang được nâng cấp và mở rộng, đồng thời còn có nhiều tiềm

năng để phát triển thuỷ điện và các nguồn điện năng khác

Ngày đăng: 13/02/2015, 13:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w