1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng công thương Việt Nam

87 434 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng công thương Việt Nam
Tác giả Vũ Tiến Đạt
Người hướng dẫn Ths. Lê Trung Thành
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Ngân hàng - Tài chính
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 833,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng công thương Việt Nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

Đề tài : Phát triển hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng

khoán ngân hàng công thương Việt Nam

Giáo viên hướng dẫn : Ths Lê Trung Thành Sinh viên thực hiện : Vũ Tiến Đạt

Lớp : Thị trường chứng khoán 44

Khoa: Ngân hàng - Tài chính

Trang 2

Muc lục

Danh mục các bảng biểu 3

Lời mở đầu 4

Chương 1: Tổng quan về hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán 6

1.1 Các hoạt động của công ty chứng khoán 6

1.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán 6

1.1.1.1 Lịch sử hình thành các công ty chứng khoán 6

1.1.1.2 Mô hình tổ chức hoạt động của công ty chứng khoán 7

1.1.1.3 Các loại hình tổ chức của công ty chứng khoán 7

1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của công ty chứng khoán 8

1.1.2.1 Hoạt động môi giới chứng khoán 8

1.1.2.2 Hoạt động tự doanh 9

1.1.2.3 Hoạt động bảo lãnh phát hành 10

1.1.2.4 Hoạt động tư vấn 10

1.1.2.5 Hoạt động lưu ký 11

1.1.2.6 Hoạt động quản lý danh mục đầu tư 11

1.1.2.7 Hoạt động khác 11

1.2 Khái niệm về giao dịch kì hạn 12

1.2.1 Các quan điểm về giao dịch kì hạn 12

1.2.2 Hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán 14

1.2.2.1 Giới thiệu về trái phiếu 13

1.2.2.2 Giao dịch kì hạn trái phiếu 15

1.2.3 Vai trò của hoạt động giao dịch kì hạn chứng khoán 16

1.2.3.1 Đối với thị trường tài chính 16

1.2.3.2 Đối với ngân hàng trung ương và chính phủ 17

1.2.3.3 Đối với các tổ chức tài chính trung gian 17

1.2.3.4 Đối với các nhà buôn, nhà đầu tư, nhà quản lý danh mục đầu tư 18

1.2.4 Giao dịch kì hạn sử dụng hợp đồng mua lại (repos và rerepos) 19

1.2.4.1 Hợp đồng mua lại chứng khoán ( hợp đồng repos – rp) 19

1.2.4.1.1 Khái niệm 19

1.2.4.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua lại 20

1.2.4.1.3 Rủi ro khi thực hiện giao dịch repo 24

1.2.4.1.4 Các điều khoản liên quan tới hợp đồng repo 26

1.2.4.1.5 Pháp luật điều chỉnh 27

Trang 3

1.2.4.1.6 Thị trường rp 28

1.2.4.2 Phân loại hợp đồng repo 31

1.2.4.3 Kinh nghiệm sử dụng hợp đồng repo trái phiếu trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho thị trường việt nam 32

1.2.4.3.1 Lịch sử hình thành 32

1.2.4.3.2 Sự tăng trưởng của thị trường repo và kinh nghiệm sử dụng hợp đồng repo ở một số thị trường quốc tế 33

1.2.4.3.3 Bài học kinh nghiệm cho thị trường việt nam 40

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán 41

1.3.1 Các nhân tố khách quan 41

1.3.1.1 Các nhân tố vĩ mô 41

1.3.1.2 Môi trường vi mô 43

1.3.2 Các nhân tố thuộc về nội tại công ty chứng khoán 44

Chương 2: Thực trạng hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng công thương việt nam 46

2.1 Giới thiệu chung về công ty chứng khoán ngân hàng công thương việt nam 46

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 46

2.1.2 Các dịch vụ chính của ibs và kết quả đạt được trong năm 2005 48

2.1.2.1 Dịch vụ môi giới chứng khoán 48

2.1.2.2 Dịch vụ tự doanh chứng khoán 49

2.1.2.3 Dịch vụ quản lý danh mục đầu tư 51

2.1.2.4 Dịch vụ đại lý và bảo lãnh phát hành 52

2.1.2.5 Dịch vụ phân tích, tư vấn đầu tư chứng khoán 53

2.1.2.6 Dịch vụ lưu ký 53

2.1.2.7 Dịch vụ tư vấn doanh nghiệp 53

2.1.2.8 Dịch vụ trung gian bán đấu giá cổ phần 55

2.1.2.9 Các dịch vụ hỗ trợ khác 56

2.1.3 Đánh giá kết quả hoạt động và môi trường kinh doanh 56

2.1.3.1 Đánh giá swot về công ty chứng khoán công thương 56

2.1.3.2 Đánh giá hoạt động của toàn công ty 58

2.1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng 60

2.2 Hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng công thương việt nam 61

2.2.1 Hoạt động tự doanh và bảo lãnh phát hành 61

Trang 4

2.2.2 Hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng

công thương việt nam 63

2.2.2.1 Hoạt động repo trái phiếu tại thị trường việt nam 63

2.2.2.2 Hoạt động repo trái phiếu của công ty chứng khoán công thương 64

2.2.2.2.1 Quy trình giao dịch kì hạn trái phiếu 65

2.2.2.2.2 Các khách hàng trong hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu 68

2.2.2.2.3 Phương thức tiến hành giao dịch 69

2.2.2.2.4 Kết quả hoạt động repo trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng công thương việt nam 71

2.2.3 Đánh giá về hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng công thương việt nam 73

2.2.3.1 Đánh giá chung 73

2.2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 74

2.2.3.2.1 Hạn chế về mặt thị trường 74

2.2.3.2.2 Hạn chế về mặt pháp lý 75

2.2.3.2.3 Hạn chế về cơ sở vật chất – nguồn vốn – nguồn nhân lực 76

Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng công thương việt nam 78

3.1 Định hướng của công ty chứng khoán ngân hàng công thương việt nam cho tới năm 2010 78

3.2 Các giải pháp phát triển hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng công thương việt nam 79

3.2.1 Giải pháp chung cho toàn công ty 79

3.2.2 Nâng cấp cơ sở vật chất – kĩ thuật 80

3.2.3 Hoàn thiện quy trình giao dich, tăng cường áp dụng các kĩ thuật trong giao dịch kì hạn trái phiếu 80

3.2.4 Tìm kiếm nguồn vốn cho các giao dịch repo 83

3.2.5 Tìm kiếm và phát triển nguồn nhân lực 84

3.2.6 Phát triển các sản phẩm giao dịch kì hạn mới 85

3.3 Một số kiến nghị với các cơ quan quản lý 86

3.3.1 Hoàn thiện cơ cấu thị trường chứng khoán 86

3.3.2 Hoàn thiện pháp luật cho các giao dịch kì hạn 87

Kết luận 88

Phụ lục 89 Tài liệu tham khảo

Trang 5

Danh mục các bảng biểu, đồ thị

Bảng 1.1 Giải trình về tính toán lợi nhuận trong giao dịch repo mở 22

Bảng 1.2 Quy định về mức giá để tính biên độ dao động giá trong các hợp đồng repo 23

Bảng 1.3 Quy mô của các khoản vay và thị trường repo các chứng khoán chính phủ 34

Đồ thị 1.1 So sánh 3 thị trường repo mỹ, anh, nhật bản 35

Bảng 2.1 Sết quả hoạt động môi giới năm 2005 …48

Bảng 2.2 Kết quả tự doanh cổ phiếu 49

Bảng 2.3 Kết quả giao dịch kì hạn(repo) và mua bán trái phiếu 50

Bảng 2.4 Cơ cấu sản phẩm besfitinvestment 51

Bảng 2.5 Kết quả hoạt động bảo lãnh phát hành năm 2005 52

Bảng 2.6 Một số chỉ tiêu kết quả kinh doanh 58

Bảng 2.7 Kết quả kinh doanh trái phiếu năm 2004, 2005 71

Bảng 2.8 So sánh hoạt động repo trái phiếu với các hoạt động khác 72

Bảng 2.9 So sánh hoạt động repo trái phiếu với công ty chứng khoán ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thông việt nam năm 2005 73

Đồ thị 2.1 Biến động lợi nhuận qua 5 năm 68

Đồ thị 2.2 So sánh lợi nhuận từ các hoạt động của công ty chứng khoán công thương 72

Trang 6

Lời mở đầu

Thị trường chứng khoán việt nam đã đi vào hoạt động và phát triển được 5 năm và

đã có những thành tựu đáng kể là quy mô thị trường ngày càng lớn, khối lượng giaodịch đã tăng gấp đôi, sự quan tâm đến thị trường chứng khoán của công chúng đầu tưngày càng nhiều đặc biệt là từ khi thị trường bất động sản đóng băng, thị trường vàngbất ổn định và sự không hấp dẫn của các cơ hội đầu tư khác kết quả cho thấy thịtrường thứ cấp đang thực sự phát triển xu hướng cũng như chủ trương cổ phần hoácác doanh nghiệp nhà nước cộng với ưu thế của việc huy động vốn qua thị trườngchứng khoán đã thúc đẩy thị trường sơ cấp phát triển, ngày càng khẳng định thịtrường chứng khoán là nơi tích tụ, tập trung và phân phối có hiệu quả nhất, theo các

xu hướng đó cơ cấu của thị trường chứng khoán cũng đang dần được hoàn thiện

ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển, các giao dịch sử dụng loại công cụ

có nguồn gốc chứng khoán được thực hiện một cách phổ biến như hợp đồng future,hợp đồng quyền chọn…, trong đó có sử dụng công cụ kì hạn nhằm rào chắn rủi ro vàthực hiện đầu cơ thu lợi nhuận hợp đồng mua lại hay hợp đồng repo là một công cụtrên thị trường tiền tệ, tuy nhiên sử dụng các chứng khoán như trái phiếu làm chứngkhoán cơ sở cho các giao dịch kì hạn ngắn loại hợp đồng này cũng được coi là mộtcông cụ giao dịch kì hạn và rất linh hoạt vì tính chất cũng như đặc điểm của nó sựphát triển của thị trường hợp đồng repo thúc đẩy sự phát triển của thị trường tiền tệ,thị trường vốn, thị trường chứng khoán với sự phát triển của thị trường chứng khoánviệt nam như hiện nay, việc sử dụng các công cụ kì hạn trong hiện tại và tương lai làmột điều tất yếu

Mục tiêu của đề tài là xác định các điều kiện về cơ sở vật chất – kĩ thuật và các

điều kiện khác mà một công ty cần phải có để thực hiện các giao dịch kì hạn tráiphiếu trên cơ sở lý luận về giao dịch kì hạn trái phiếu sử dụng hợp đồng mua lại vàhoạt động repo trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng công thương việt nam,

đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm phát triển hoạt động giao dịch kì hạntrái phiếu của công ty

Phạm vi nghiên cứu : phân tích hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu nói chung và

của công ty chứng khoán ngân hàng công thương việt nam nói riêng

kết cấu của đề tài gồm có ba chương:

Chương 1 : tổng quan về hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứngkhoán

Trang 7

Chương 2 : thực trạng hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoánngân hàng công thương việt nam.

Chương 3 : các giải pháp phát triển hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công tychứng khoán ngân hàng công thương việt nam

Em xin cảm ơn thạc sỹ Lê Trung Thành – giảng viên khoa ngân hàng tài chính, thạc

sỹ Nguyễn Hữu Tú – trưởng phòng tự doanh và bảo lãnh phát hành, chị Lan – chuyênviên phòng tự doanh và bảo lãnh phát hành đã giúp em hoàn thành chuyên đề này

Trang 8

Chương 1 : Tổng quan về hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán

1.1.Các hoạt động của công ty chứng khoán khái niệm công ty chứng khoán

Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụtrên thị trường chứng khoán công ty chứng khoán là tác nhân thúc đẩy nền kinh tếnói chung và thị trường chứng khoán nói riêng

1.1.1.1 Lịch sử hình thành các công ty chứng khoán

- Khi thị trường chứng khoán mới bước đầu hình thành thì loại hình trung gian nhưcông ty chứng khoán là vẫn chưa có, lúc đó mới chỉ tồn tại các giao dịch tự do và mớichỉ có các nhà môi giới độc lập để kết nối người bán và người mua chứng khoán

- Đến năm 1800, ngân hàng đảm nhiệm ngoài vai trò là nhà đầu tư còn giám sát, lựachọn, xác định giá trị, giá cả, số lượng và phát hành vào thị trường tài chính

đến khoảng những năm 1870, ở london, paris, new york đã xuất hiện một vài cáccông ty tư nhân đảm nhiệm hai nhiệm vụ sau: một là, định giá và bảo lãnh phát hànhtrọn gói chứng khoán ra thị trường cho các công ty; hai là, tìm kiếm khách hàng vàthực hiện tư vấn cho các nhà đầu tư về các loại chứng khoán các công ty này đã pháttriển rất nhanh chóng và trở thành các đại lý phát hành chứng khoán chuyên nghiệpcho hàng trăm các tập đoàn lớn

- Cho đến nay các công ty chứng khoán đã thực sự trở thành một nhân tố quan trọngtrong thị trường chứng khoán công ty chứng khoán có thể được hiểu là các công tysau:

+ Công ty môi giới chứng khoán: là công ty chứng khoán chỉ thực hiện việc trunggian mua bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng

+ Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán : là các công ty chứng khoán chỉ thựchiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành để hưởng mức phí hoặc chênh lệch giá

+ Công ty kinh doanh chứng khoán : là các công ty chứng khoán thực hiện kinhdoanh cho chính mình, tự bỏ vốn và tự chịu rủi ro trước quyết định kinh doanh củamình

+ Công ty kinh doanh trái phiếu : là các công ty chuyên mua và bán các loại tráiphiếu

+ các công ty môi giới – giao dịch : là các công ty chứng khoán chủ yếu hoạt độngtrên thị trường otc và đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường cho các chứng khoán 1.1.1.2 Mô hình tổ chức hoạt động của công ty chứng khoán

- Mô hình công ty chứng khoán đa năng

Trang 9

+ Công ty chứng khoán đa năng một phần : theo mô hình này các ngân hàng muốnkinh doanh chứng khoán thì phải thành lập các công ty con trực thuộc ngân hàngnhằm tách biệt hoạt động tín dụng, tiền tệ với hoạt động kinh doanh chứng khoán + Công ty chứng khoán đa năng toàn phần : các ngân hàng có thể trực tiếp kinhdoanh thêm chứng khoán ngoài các nghiệp vụ truyền thống của mình.

Việc áp dụng mô hình công ty chứng khoán đa năng làm cho các ngân hàng có thểcan thiệp sâu hơn vào thị trường chứng khoán, có thể tận dụng những ưu thế về vốn,mạng lưới, khách hàng, cơ sở vật chất… để đa dạng hoá đầu tư, giảm bớt rủi ro tuynhiên mô hình công ty chứng khoán đa năng toàn phần cũng có khuyết điểm, nếungân hàng không thể bán được các chứng khoán để thu lợi nhuận thì các khách hàngcủa ngân hàng có thể đối mặt với rủi ro vỡ nợ chính vì vậy sau các vụ vỡ nợ củangân hàng vào những năm 1930 – 1933, chính phủ mỹ đã phải ra đạo luật glass –steagall cấm các ngân hàng thương mại thực hiện hoạt động bảo dảm và kinh doanhcác chứng khoán ( trừ trái phiếu chính phủ mới phát hành) cho đến ngày nay cácngân hàng muốn tham gia thị trường chứng khoán phải thành lập một công ty độc lậpchuyên hoạt động trên thị trường chứng khoán

- Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh : theo mô hình này các công tychứng khoán sẽ là các công ty độc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực thị trườngchứng khoán mô hình này làm giảm đi tính rủi ro cho hệ thống ngân hàng và tạo điềukiện cho công ty chuyên môn hoá sâu hơn trong lĩnh vực chứng khoán mô hình công

ty chứng khoán chuyên doanh được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới ở các nước cóthị trường chứng khoán phát triển, các công ty chứng khoán hoạt động rất hiệu quả,

có thể thực hiện tất cả các dịch vụ trên thị trường hay chỉ thực hiện một hoạt độngnhư các công ty môi giới, công ty đầu tư, công ty kinh doanh trái phiếu…, ngoài racòn có thể tham gia vào thị trường tiền tệ, bảo hiểm nhằm đa dạng hoá các hoạt động

1.1.1.3 Các loại hình tổ chức của công ty chứng khoán

- Công ty hợp danh : là các công ty có từ hai chủ sở hữu trở lên các thành viên thamgia bao gồm thành viên góp vốn và thành viên hợp danh các thành viên hợp danhphải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công

ty, các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trên phần vốn góp của mình đối vớicông ty công ty hợp danh không được phép phát hành bất kì loại chứng khoán nào

- Công ty cổ phần : công ty được thành lập dựa trên sự góp vốn của các cổ đông,công ty có tư cách pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu các cổ đông tham gia gópvốn chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm

vi vốn góp của mình

Trang 10

- Công ty TNHH : thành viên của công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và cácnghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanhnghiệp công ty chứng khoán không được phép phát hành cổ phiếu.

1.1.2.Các hoạt động chủ yếu của công ty chứng khoán

1.1.2.1.Hoạt động môi giới chứng khoán

Hoạt động môi giới của công ty chứng khoán là nhằm kết nối người bán và ngườimua chứng khoán theo đó công ty chứng khoán đóng vai trò là nhà môi giới, đạidiện, thay mặt khách hàng thực thi lệnh mua hoặc bán cho khách hàng, khách hàngphải tự chịu trách nhiệm đối với quyết định của mình để trở thành một trung gianthực hiện lệnh hộ cho khách hàng, công ty chứng khoán phải là thành viên một sởgiao dịch tập trung hoặc thị trường otc, tại đó công ty có các nhà môi giới ủy nhiệmhay là môi giới thừa hành là thành viên của công ty, đại diện cho công ty xử lý cáclệnh của khách hàng trên sở giao dịch khi thực hiện hoạt động môi giới công tychứng khoán được hưởng một mức phí môi giới hay còn gọi là hoa hồng môi giới cơchế hoa hang môi giới có thể được chia ra làm hai loại :

+ Cơ chế hoa hồng cố định hay cơ chế hoa hồng tối thiểu đây là mức phí môi giới

do từng sở giao dịch chứng khoán quy định tỷ lệ hoa hông này phụ thuộc vào tổnggiá trị giao dịch

+ Cơ chế hoa hồng thoả thuận mức phí môi giới loại này được hình thành dựa trên

sự thoả thuận giữa nhà môi giới và khách hàng trong từng giao dịch

Trong hoạt động môi giới công ty chứng khoán đơn thuần chỉ là trung gian thựchiện lệnh hộ cho khách hàng và không có tư cách tạo lập giá cho các chứng khoán.hoạt động môi giới của các công ty chứng khoán có vai trò đẩy mạnh lưu thông cácchứng khoán trên thị trường, giúp tạo ra tính thanh khoản cho các chứng khoán, giúpcho người có nhu cầu mua và bán chứng khoán có thể đến với nhau…

1.1.2.2.Hoạt động tự doanh

Hoạt động tự doanh thực chất là hoạt động mà các công ty chứng khoán tự muabán chứng khoán cho mình mực đích của hoạt động tự doanh là lợi nhuận thu đượccho chính công ty thông qua hoạt động mua bán, giao dịch trên thị trường các giaodịch chủ yếu mà công ty chứng khoán thực hiện bao gồm :

+ Giao dịch gián tiếp : công ty chứng khoán đặt các lệnh mua hoặc bán các chứng

khoán trên các sở giao dịch, công ty đóng vai trò như một khách hàng bình thường vàhoàn toàn không biết đến các đối tác

+ Giao dịch trực tiếp : là giao dịch dựa trên mức giá thoả thuận giữa công ty chứng

khoán và các khách hàng hình thức giao dịch chủ yếu là qua phương tiện thông tin

Trang 11

hay gặp gỡ trực tiếp với khách hàng giao dịch gián tiếp thường được thực hiện vớicác chứng khoán otc

Công ty chứng khoán còn được kinh doanh các nghiệp vụ khác ngoài mua bánchứng khoán thông thường nhằm thu lợi nhuận cho chính mình khác như cho vaychứng khoán, repo chứng khoán, mua bán các công cụ chứng khoán phái sinh…khi thực hiện hoạt động tự doanh công ty cũng phải tuân thủ một số các quy định nhưsau:

+ Tách biệt quản lý : công ty chứng khoán phải tách biệt giữa hoạt động môi giới

và hoạt động tự doanh nhằm tránh các xung đột lợi ích giữa công ty và khách hàng

sự tách biệt này bao gồm cả về yếu tố con người, quy trình nghiệp vụ, vốn và tài sảncủa khách hàng, của công ty

+ Ưu tiên lệnh của khách hàng trước : nguyên nhân chính của quy định này là do

các công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên môn hoá trên thị trường chứng khoánnên khả năng dự báo, nắm bắt và xử lý thông tin cao hơn so với các khách hàngthông thường do đó các lệnh của khách hàng phải được xử lý trước lệnh của công ty.nguyên tắc này đảm bảo sự công bằng cho các khách hàng trong quá trình giao dịch

+ Bình ổn giá chứng khoán : hoạt động này cùng với hoạt động mua bán cổ phiếu

ngân quỹ của các công ty niêm yết nhằm bình ổn giá chứng khoán theo luật pháp củamỗi nước đều có quy định một tỷ lệ nhất định trong các giao dịch của của công tynhằm bình ổn giá thị trường các công ty chứng khoán phải có nghĩa vụ mua vào khigiá chứng khoán giảm và bán ra khi giá chứng khoán tăng

+ Tạo lập thị trưòng cho các chứng khoán : đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường

(market maker) hay các nhà buôn chứng khoán, công ty sẵn sàng mua và bán chứngkhoán bất kì lúc nào nhằm tăng tính thanh khoản cho các chứng khoán trên thịtrường một lệnh của khách hàng đến mà không có người mua hoặc bán thì công tysẵn sàng mua hay bán các chứng khoán nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng

1.1.2.3.Hoạt động bảo lãnh phát hành :

Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc công ty chứng khoán thực hiệnbảo lãnh cho doanh nghiệp cổ phần hoặc chính phủ phát hành chứng khoán ra côngchúng hoạt động bảo lãnh bao gồm bao gồm các giai đoạn sau :

+ Giai đoạn trước khi phát hành : công ty chứng khoán sẽ tư vấn về tài chính chodoanh nghiệp, xác định phương thức phát hành chứng khoán cho doanh nghiệp, thựchiện các thủ tục pháp lý về phát hành ra công chúng, tìm kiếm các nhà đầu tư có tiềmnăng để mua chứng khoán…

Trang 12

+ Giai đoạn chào bán chứng khoán ra công chúng : tổ chức bán đầu giá, thực hiệnphân phối các chứng khoán một cách hợp lý, đảm bảo số chứng khoán phát hành rađược bán hết.

+ Giai đoạn sau phát hành : giúp bình ổn giá chứng khoán đã phát hành ra ngoài thông thường một công ty chứng khoán thường đưa ra các hình thức bảo lãnh đểdoanh nghiệp lựa chọn, bao gồm : cam kết chắc chắn, cố gắng tối đa, bán tất cả hoặckhông, bảo lãnh tối thiểu tối đa các hình thức bảo lãnh phát hành có thể áp dụng chochứng khoán là cổ phiếu hoặc trái phiếu và mỗi đợt phát hành công ty chứng khoánđều được hưởng mức phí bảo lãnh

tư vấn niêm yết, đăng ký giao dịch, tư vấn thành lập, giải thể, sáp nhập doanhnghiệp các nghiệp vụ trên đều được thực hiện theo một quy trình thống nhất và cóhiệu quả công ty sẽ thực hiện mức phí tư vấn đối với doanh nghiệp

- Tư vấn đầu tư chứng khoán : công ty sẽ thực hiện hoạt động phân tích chứngkhoán bao gồm phân tích cơ bản, phân tích kĩ thuật, phân tích tài chính và cácphương pháp phân tích khác để đưa ra lời khuyên hợp lý đối với các nhà đầu tư tronghoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán, nhà tư vấn phải tuân thủ nguyên tắc về khôngđảm bảo chắc chắn về giá trị chứng khoán, luôn phải nhắc nhở khách hàng rằng lời tưvấn của mình chỉ mang tính chất tham khảo, khách hàng vẫn là người quyết định cuốicùng, không đựoc dụ dỗ, mời chào khách hàng mua hay bán bất kì một loại chứngkhoán nào

1.1.2.5.Hoạt động lưu ký :

Khi thực hiện hoạt động lưu ký, công ty chứng khoán sẽ lưu giữ, bảo quản chứngkhoán của khách hàng thông qua các tài khoản lưu ký chứng khoán đây là một trongnhững quy định bắt buộc trong giao dịch chứng khoán vì các giao dịch chứng khoánthường đựoc thực hiện qua tài khoản lưu ký của khách hàng tại các công ty chứngkhoán hoặc ký gửi chứng khoán (nếu các chứng khoán dưới dạng chứng chỉ vật chất).khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng khoán sẽnhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí rút và chuyển nhượng chứngkhoán

1.1.2.6.Hoạt động quản lý danh mục đầu tư :

Trang 13

Hoạt động này giống như là một hình thức nhận vốn và đầu tư hộ cho khách hàng.nghiệp vụ này bao gồm các bước sau:

+ Tìm kiếm khách hàng và nhận vốn ủy thác : trong bước này công ty và kháchhàng sẽ tiếp xúc và tìm hiểu về năng lực tài chính, trình độ chuyên môn, về các sảnphẩm mà công ty đưa ra… để từ đó đưa ra các yêu cầu về quản lý vốn ủy thác

+ Ký hợp đồng ủy thác : công ty chứng khoán sẽ ký hợp đồng với khách hàng, thoảthuận về các điều khoản về vốn, mức phí quản lý, thời hạn uỷ thác, mục tiêu đầu tư,quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên liên quan

+ Thực hiện hợp đồng : trên cơ sở hợp đồng đã được ký kết, công ty sẽ thực hiệnphân tích và kết cấu một danh mục hợp lý gồm các chứng khoán, thực hiện thay đổikết cấu theo sự biến động của thị trường nhằm đảm bảo được mục tiêu đã đề ra

+ Kết thúc hợp đồng : khách hàng có nghĩa vụ thanh toán các khoản phí theo hợpđồng đã kí kết, nhận lại phần vốn và lợi nhuận xử lý các trường hợp công ty chứngkhoán bị ngưng hoạt động, giải thể hoặc phá sản

1.1.2.7 Các hoạt động khác

Ngoài các hoạt động kinh doanh thuần tuý của một công ty chứng khoán, công tycòn duy trì các khối nghiệp vụ quản lý nhằm đảm bảo cho hoạt động được tốt nhất vàhiệu quả nhất gắn liền với khối quản lý là các hoạt động tài chính kế toán, các hoạtđộng hành chính như quản trị nhân sự, quản lý tiền lương, quản trị tin học và côngnghệ thông tin… các công ty chứng khoán còn kết hợp với các tổ chức tài chính tíndụng nhằm mở rộng các hoạt động như cho vay cầm cố chứng khoán, cho vay ứngtrước tiền bán chứng khoán…

1.2 Khái niệm về giao dịch kì hạn :

1.2.1.Các quan điểm về giao dịch kì hạn :

- Trước hết là khái niệm tỉ lệ giao ngay và tỉ lệ kì hạn

Tỉ lệ giao ngay – spot rate là tỉ lệ mà tại đó ngay lập tức một khoản tiền vay sẽ đượcchuyển cho bên đi vay, khoản tiền vay này cũng với tỉ lệ lãi suất đó sẽ được thu vềvào một ngày nào đó trong tương lai tỉ lệ giao ngay được xác định trong các hợpđồng giao ngay, điển hình nhất là các hợp đồng tín dụng

Tỉ lệ kì hạn – forward rate là tỉ lệ lãi suất được nhà đầu tư kì vọng trong tương lai tỉ

lệ kì hạn có thể tính được từ tỉ lệ giao ngay và được sử dụng trong các trong các giaodịch kì hạn tiền tệ, ngoại hối hay chứng khoán tỉ lệ kì hạn thường được xác địnhtrong các hợp đồng kì hạn, hợp đồng tương lai

Trang 14

Giao dịch kì hạn là hình thức cam kết mua và bán một tài sản nào đó ( tài sản tàichính hoặc hàng hoá vật chất) dựa trên mức giá hoặc lãi suất được xác định tronghôm nay nhưng thực hiện trong tương lai

Như vậy giao dịch kì hạn là giao dịch mà trong đó có một công cụ trung gian làmột hợp đồng trong đó xác định rõ các điều khoản liên quan tới việc thực hiện giaodịch trong tương lai và các điều khoản này được thoả thuận trong hiện tại lúc đầu cácgiao dịch kì hạn thường được thực hiện với các hàng hoá vật chất, sau đó phát triểnlên các loại hàng hóa đặc biệt khác như tiền tệ, chứng khoán về bản chất thì các giaodịch kì hạn là sự thoả thuận trong hiện tại nhưng việc thực hiện lại trong tương lai,hình thức biểu hiện của giao dịch kì hạn thường được đặc trưng bằng các hợp đồnggiao dịch kì hạn như hợp đồng kì hạn, hợp đồng mua lại (hay còn gọi là hợp đồngrepo), hợp đồng tương lai

Do đó giao dịch kì hạn trái phiếu là một hình thức cam kết bằng các loại hợpđồng trên trong việc mua và bán các loại trái phiếu với mức giá và lãi suất được xácđịnh ở thời điểm hiện tại nhưng được thanh toán và chuyển giao trong tương lai.hợp đồng kì hạn – forward : là một sự thoả thuận mua hoặc bán một tài sản tại mộtthời điểm nhất định trong tuơng lại ở một mức giá xác định hợp đồng kì hạn khácvới hợp đồng giao ngay là sự thoả thuận mua hoặc bán một tài sản vào một ngày hiệntại và được thanh toán sau đó hai ngày hợp đồng kì hạn được dùng để rào chắn vàquản lý các tài sản rủi ro hợp đồng kì hạn thường là sự thoả thuận giữa hai bên, mộtbên ở vị thế đồng ý mua tài sản với một mức giá xác định ở một ngày cụ thể, một bênđồng ý bán tài sản đó với cùng mức giá và thời điểm thoả thuận hợp đồng kì hạnkhông theo những chuẩn mực được tiêu chuẩn hoá của thị trường tập trung về chấtlượng hàng hoá, thời hạn hợp đồng, phương thức thanh toán, giao hàng… hợp đồng

kì hạn thường được thoả thuận trực tiếp giữa các cá nhân, tổ chức với nhau và đượcthanh toán vào ngày đáo hạn hợp đồng kì hạn thường được giao dịch trên thị trườngOTC

Hợp đồng tương lai- future là sự chuẩn hoá hợp đồng kì hạn về các điều khoản liênquan như kỳ hạn, quy mô, chất lượng, phương thức, thủ tục thanh toán… hợp đồngtương lai được giao dịch trên các sở giao dịch và trên thị trường có tổ chức

có nhiều loại hợp đồng kì hạn và tương lai khác nhau:

+ Ban đầu các hợp đồng này dùng để giao dịch các loại hàng hoá vật chất trongtương lai với một mức giá và thời điểm xác định trước sau đó được phát triển rộnghơn

+ Hợp đồng tương lai và kì hạn về ngoại tệ trên cơ sở xác định tỉ giá hối đoái tàisản cơ sở được sử dụng trong giao dịch kì hạn này là tiền tệ

Trang 15

+ Hợp đồng giao dịch kì hạn và tương lai lãi suất trên cơ sở xác định lãi suất và tàisản cơ sở là các chứng khoán nợ.

+ Hợp đồng giao dịch kì hạn chỉ số cổ phiếu đây là một loại hợp đồng đặc biệt dựavào việc xác định chỉ số cổ phiếu tài sản cơ sở là một bội số giá trị của một chỉ số vàgiá trị này được coi là biến thiên, sẽ được xác định trước thời điểm ký hợp đồng

cơ chế của các giao dịch kì hạn sử dụng hợp đồng kì hạn và hợp đồng tương lai + Đối với các giao dịch tự do hay các giao dịch trên thị trường otc : các bên liênquan sẽ thực hiện kí kết một hợp đồng kì hạn trong đó xác định các điều khoản vềhàng hoá, mức giá, lãi suất và thời điểm thanh toán đến ngày đáo hạn thì hàng hoá sẽđược chuyển cho bên mua và tiền sẽ được chuyển cho bên bán với mức giá, số lượng,chất lượng và các điều khoản đã được xác định từ trước

+ Đối với các giao dịch trên các sở giao dịch chứng khoán : một nhà đầu tư nắm giữmột số lượng trái phiếu, nhà đầu tư này dự đoán lãi suất sẽ giảm trong 1 năm do đónhà đầu tư sẽ thực hiện mua một hợp đồng tương lai trên sở giao dịch hợp đồng này

là một lời cam kết về việc sẽ mua các trái phiếu với một mức giá và lãi suất xác địnhtrong năm tới của một tổ chức nào đó nếu lãi suất giảm, nhà đầu tư sẽ được hưởngphần chênh lệch lãi suất nhà đầu tư đó đã sử dụng hợp đồng tương lai để thực hiệnmột giao dịch kì hạn các trái phiếu của mình

- Hợp đồng mua lại hay hợp đồng repo: đây cũng là một dạng phổ biến của các giaodịch kì hạn và thường được áp dụng cho các loại trái phiếu chính phủ

1.2.2 Hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán.

1.2.2.1 Giới thiệu về trái phiếu :

- Khái niệm : trái phiếu là công cụ của thị trường vốn, là một loại giấy tờ có giáchứng nhận cho người nắm giữ nó được quyền đòi nợ đối với người phát hành ra nó.sau một thời gian nhất định sau khi phát hành, người nắm giữ trái phiếu được cơ quanphát hành hoàn trả vốn theo mệnh giá khi đáo hạn; hàng năm hoặc hàng quý ngườinắm giữ trái phiếu sẽ được trả một khoản tiền theo một mức lãi suất cố định

- Phân loại trái phiếu: theo chủ thể phát hành ta co các loại trái phiếu sau:

+ Trái phiếu chính phủ do chính phủ phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách

để thực hiện việc bù đắp thâm hụt hoặc để đầu tư vào các dự án vĩ mô, trái phiếuchính phủ thường có thời hạn dài, mức độ rủi ro thấp nhưng lợi tức lại không cao.đầu tư vào trái phiếu được cho là hoạt động đầu tư an toàn vì trái phiếu chính phủđược coi là tài sản phi rủi ro

+ Trái phiếu công ty là do một công ty, tập đoàn hay một tổ chức phát hành ranhằm mục đích huy động vốn phát triển sản xuất kinh doanh gồm có các loại nhưtrái phiếu coupon, trái phiếu có thế chấp, trái phiếu tín chấp, trái phiếu chuyển đổi,

Trang 16

trái phiếu thu nhập, trái phiếu zero-coupon, trái phiếu có lãi suất thả nổi mỗi loại tráiphiếu trên đều có đặc tính và người nắm giữ nó sẽ được hưởng các quyền lợi riêngbiệt nhìn chung các trái phiếu công ty có lợi suất cao nhưng độ rủi ro lớn

+ Trái phiếu đô thị là trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành nhằm mụcđích huy động vốn phát triển vùng, trái phiếu đô thị có lợi suất như trái phiếu chínhphủ nhưng lại được ưu đãi về thuế thu nhập

- Đặc điểm của trái phiếu :

+ Mệnh giá : là giá trị ghi trên bề mặt của trái phiếu thường cho biết số tiền màcông ty hay chính phủ cam kết trả cho người có trái phiếu

+ Ngày đáo hạn : là ngày mà chủ thể phát hành sẽ thanh toán mệnh giá cho trái chủ,ngày đáo hạn cũng được ghi trên bề mặt trái phiếu kì hạn cho biết số năm mà ngườinắm giữ trái phiếu có thể chờ đợi để nhận được một khoản lợi nhuận và số năm trướckhi vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ lợi nhuận của trái phiếu phụ thuộc vào số ngày nắmgiữ các trái phiếu kì hạn trái phiếu càng dài thì sự biến động giá đối với sự thay đổilãi suất thị trường càng lớn

+ Lãi suất : mỗi một trái phiếu đều có một mức tiền lãi mà nhà phát hành cam kết sẽtrả cho người nắm giữ nó vào một ngày xác định lãi suất thường được thanh toánđịnh kì trên cơ sở lý thuyết lãi suất có ảnh hưởng đến lợi nhuận và giá của trái phiếu.+ Giá mua : là mức giá mà nhà đầu tư mua trái phiếu tại một thời điểm nào đó nhàđầu tư có thể trả đúng bằng mệnh giá đối với các trái phiếu coupon hay trả thấp hơnmệnh giá đối với các trái phiếu chiết khấu giá mua trái phiếu phụ thuộc vào các nhân

tố như nhà phát hành, lãi suất trên thị trường tiền tệ…

giao dịch kì hạn trái phiếu :

- Pháp luật các nước đều quy định trái phiếu là một tài sản tài chính, là một loại giấy

tờ có giá, do đó có thể đem mua bán, cho, biếu tặng, thừa kế, cầm cố, thế chấp vàthực hiện các hoạt động khác mà không bị pháp luật cấm

- Công ty chứng khoán ngoài việc cung cấp các dịch vụ thì cũng là một chủ thể kinhdoanh trên thị trường chứng khoán, công ty thu lợi nhuận lớn bằng việc kinh doanhcác loại chứng khoán, trong đó có trái phiếu các công ty chứng khoán thường sở hữumột lượng trái phiếu lớn, tuy nhiên do các trái phiếu có kì hạn dài, tính thanh khoảnkém hơn cổ phiếu , nếu nắm giữ đến ngày đáo hạn mới hưởng lợi nhuận thì công ty

sẽ mất đi các cơ hội đầu tư khác, mặt khác trái phiếu cũng là công cụ an toàn hơn sovới cổ phiếu do đó công ty chứng khoán thường sử dụng các trái phiếu, đặc biệt làtrái phiếu chính phủ trong hoạt động giao dịch kì hạn nhằm các mục đích sau

Trang 17

+ Tìm kiếm nguồn vốn để đầu tư sinh lời cao hơn trong ngắn hạn hoạt động nàychủ yếu được thực hiện bằng các giao dịch kì hạn mà sử dụng hợp đồng repo tráiphiếu để vay tiền

+ Tìm kiếm và sở hữu được các trái phiếu có mức sinh lời hấp dẫn trong tương laihay là hoạt động đầu cơ trái phiếu trên thị trường chứng khoán hoạt động này đượcthực hiện bằng các giao dịch kì hạn sử dụng hợp đồng tương lai hay hợp đồng quyềnchọn

+ Phòng chống lại các rủi ro do sự biến động lãi suất và các nhân tố khác trên thịtrường tài chính tăng tính thanh khoản của các trái phiếu, tăng sự hấp dẫn của thịtrường trái phiếu

Trong các giao dịch kì hạn thì công ty chứng khoán đứng vai trò là một nhà buônchứng khoán đang tìm kiếm cơ hội đầu tư sinh lời hay một mục đích nào khác phầntiếp theo sẽ giới thiệu kĩ hơn về hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu về vai trò, kháiniệm, cũng như cơ chế và giới hạn hoạt động giao dịch kì hạn bằng hợp đồng mua lại(hay còn gọi là hợp đồng repo) của một công ty chứng khoán cho phù hợp với thựctiễn

1.2.3 Vai trò của hoạt động giao dịch kì hạn chứng khoán :

1.2.3.1 Đối với thị trường tài chính :

- Thúc đẩy thị trường tài chính phát triển : Nhờ những ưu thế của nó mà hoạt động

giao dịch kì hạn chứng khoán làm tăng tính thanh khoản của thị trường chứng khoánnhờ việc sử dụng hợp đồng repo để thực hiện vay hay cho vay tiền hoặc chứng khoántrong tạm thời, do đó làm giảm sự mất khả năng thanh toán

- Hoàn thiện về cấu trúc của thị trường tài chính Các hợp đồng kì hạn, hợp đồng

tương lai chuẩn hoá xuất hiện, được giao dịch trên thị trường riêng là thị trường cácchứng khoán phái sinh – một bộ phận của thị trường tài chính mà người ta thườngbiết đến như là thị trường future nhờ đó thị trường tài chính cũng xuất hiện thêm cácnhà đầu cơ tài chính, các trung gian chuyên thực hiện các dịch vụ cho giao dịch kìhạn…

- Thay đổi cấu trúc kì hạn của các công cụ nợ dài hạn Các nhà đầu tư thường tìm

cách quay vòng vốn nhanh, việc họ nắm giữ các công cụ dài hạn có thể làm mất đi cơhội đầu tư khác hợp đồng repo xuất hiện đã phá vỡ khoảng cách đó, nhờ hợp đồngnày mà các nhà đầu tư có thể tiếp cận được các chứng khoán trên thị trường tiền tệ vàcác cơ hội đầu tư khác

- Tăng tính thanh khoản Sự hình thành thị trường repo chứng khoán, thị trường này

hoạt động hiệu quả sẽ làm tăng tính thanh khoản cho các chứng khoán trên thị trường

Trang 18

tiền tệ, đồng thời cũng tăng tính thanh khoản cho các chứng khoán nợ dài hạn dùngcho các hợp đồng repo.

- Tác động đến cấu trúc lãi suất Nếu thị trường đang có một số lượng lớn các giao

dịch repo thì dẫn tới xu hướng chung tác động đến cấu trúc kì hạn của lãi suất, đặcbiệt là trong thị trường liên ngân hàng lãi suất có thể bị thay đổi trong ngắn hạntương ứng với các lãi suất trong hợp đồng repo

1.2.3.2 Đối với ngân hàng trung ương và chính phủ

- Đối với các ngân hàng trung ương: các hợp đồng repo được xem như là công cụthực hiện chính sách tiền tệ và là một phần của nghiệp vụ thị trường mở của ngânhàng trung ương bằng việc sử dụng hợp đồng repo trái phiếu chính phủ với các ngânhàng thương mại, ngân hàng trung ương có thể tăng hoặc giảm lượng cung tiền trongngắn hạn nhằm đối phó với tình trạng thiếu hụt tiền và sự mất khả năng thanh toáncủa các ngân hàng trong ngắn hạn, đồng thời cũng làm giảm tính không ổn định củalãi suất vay tiền một số ngân hàng trung ương các nước còn thực hiện cho vay cácchứng khoán chính phủ để tạo ra tính thanh khoản cho thị trường

- Đối với chính phủ thì hợp đồng repo được sử dụng để quản lý tiền của chính phủmột cách thuận tiện, dễ nhận thấy nhất là hoạt động quản lý nợ chính phủ vai trò thứnhất là nhằm bù đắp lại tình trạng thâm hụt ngân sách với chi phí rẻ hơn so với pháthành giấy nợ hoặc tìm kiếm lợi nhuận trong trường hợp thặng dư ngân sách màkhông ảnh hưởng đến nhu cầu tiền của cả nền kinh tế trong ngắn hạn vai trò thứ hai

là làm cho các trái phiếu chính phủ có tính thanh khoản cao hơn

1.2.2.3 Đối với các tổ chức tài chính trung gian :

- Tìm được nguồn vốn rẻ và cơ hội đầu tư sinh lời cao trong ngắn hạn một công tychứng khoán đang có một cơ hội đầu tư trong ngắn hạn, tuy nhiên công ty thiếu vốn

để thực hiện , việc vay ngân hàng thương mại sẽ chịu lãi suất cao, các ngân hàngthường thận trọng khi cho vay mua chứng khoán, do đó công ty sẽ thực hiện một giaodịch kì hạn sử dụng hợp đồng repo các chứng khoán chính phủ đối với các tổ chứckhác công ty chứng khoán hoàn toàn thu được một khoản tiền với một lãi suất thấp

và thu được một khoản chênh lệch cao

- Tạo điều kiện cho các tổ chức trở thành một trung gian giữa người vay tiền vàngười cho vay tiền họ sẽ thực hiện nhiệm vụ quản lý và giám sát những người thamgia hợp đồng repo trong quy trình khép kín từ khi các bên ký kết hợp đồng, chuyểngiao tiền và chứng khoán cho tới ngày đáo hạn của hợp đồng, thực hiện giải quyếtcác vấn đề phát sinh giữa bên đi vay và bên cho vay như là gia hạn hợp đồng hay cóyêu cầu đáo hạn trước thời hạn của hợp đồng của một bên

Trang 19

1.2.3.4 Đối với các nhà buôn, nhà đầu tư chứng khoán, nhà quản lý danh mục đầu tư

- Thông thường trong các giao dịch kì hạn thì các nhà đầu tư chủ yếu là các nhà đầu

tư có tổ chức vì họ thường có lượng vốn và lượng trái phiếu lớn tiếp cận với thịtrường rp, các nhà đầu tư và các nhà quản lý danh mục đầu tư có thể thu được lợinhuận tăng thêm khi họ cho vay các chứng khoán của mình trên cơ sở thế chấp, do đócũng làm tính thanh khoản của thị trường rp, tiền thu được từ các hoạt động cho vaychứng khoán, các tổ chức sẽ thực hiện đầu tư lại vào thị trường rp để tìm kiếm được

cơ hội đầu tư mang lại lợi nhuận lớn hơn

- Đối với các nhà buôn chứng khoán thì thị trường rp và các giao dịch kì hạn sử dụnghợp đồng repo cho phép họ được tiếp cận trên cả thị trường vốn và thị trường tiền tệ.với lượng chứng khoán lớn trong “kho”, các nhà buôn có thể sử dụng để vay tiền vàthực hiện đầu tư chênh lệch giá vào các công cụ ngắn hạn nhằm thu được một khoảnlợi nhuận chênh lệch nhìn chung hoạt động giao dịch kì hạn này đã cung cấp cho cácnhà buôn một khoản thu nhập tăng thêm và một nguồn vốn cho hoạt động đầu tưtương đối rẻ

- Ngoài ra, hoạt động giao dịch kì hạn còn rất quan trọng đối với nhà đầu tư có tổchức, đặc biệt là các quỹ đầu tư, các ngân hàng thương mại, các công ty chứngkhoán… để ngăn ngừa các rủi ro gây ra sự biến động lãi suất trên thị trường trongngắn hạn hoặc do các đối tác việc sử dụng hợp đồng rp mà tài sản cơ sở là các tráiphiếu chính phủ thường giảm được rủi ro không thanh toán, rủi ro lãi suất

Như vậy vai trò của các giao dịch kì hạn là tương đối quan trọng và là một phầnkhông thể thiếu của các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán các hợp đồng mualại hay hợp đồng repo thường được giao dịch trên thị trường repo và được thực hiệntrong kì hạn ngắn hợp đồng repo có tính linh hoạt và sự an toàn nên không chỉ đượccác nhà đầu tư tài chính mà ngân hàng trung ương và chính phủ đều sử dụng để thựchiện các hoạt động của họ trong ngắn hạn phần tiếp theo của chuyên đề sẽ thực hiệnphân tích kĩ về hình thức giao dịch kì hạn sử dụng hợp đồng repo cũng như bài họckinh nghiệm khi sử dụng tại thị trường việt nam

1.2.4.Giao dịch kì hạn sử dụng hợp đồng mua lại ( repos và rerepos ) 1

1.2.4.1.Hợp đồng mua lại chứng khoán ( hợp đồng repos – rp)

1.2.4.1.1.Khái niệm

1 phân biệt 2 loại hợp đồng này dựa vào chủ thể trong giai đoạn đầu của giao dịch : hợp đồng repos khi được nhìn nhận từ khía cạnh của nhà buôn chứng khoán và rerepos khi đứng trên khía cạnh của người cung cấp vốn hay nhà đầu tư

Trang 20

Quan điểm 1 : hợp đồng mua lại – hợp đồng repos là một công cụ của thị trườngtiền tệ, trong đó chấp nhận việc vay hay cho vay trên cơ sở có tài sản thế chấp thôngqua hoạt động bán và mua các công cụ nợ dưới một giao dịch sử dụng hợp đồngrepo, các nhà buôn chứng khoán sẽ thực hiện bán các chứng khoán của họ tới mộtnhà đầu tư với một cam kết là sẽ mua lại chúng tại một thời điểm và một tỉ lệ lãi suấtđịnh trước.

Quan điểm 2 : thuật ngữ hợp đồng mua lại (repos hay rp) và rerepos được hiểu làmột hình thức giao dịch trong đó một bên tham gia vào thị trường tiền tệ ngay lập tứcthu được vốn bằng cách bán các chứng khoán và đồng thời chấp nhận việc mua lạicác chứng khoán đó hay là các chứng khoán tương đương sau một khoảng thời giantại một mức giá nhất định, trong đó tính đến một mức lãi suất chấp nhận được Quan điểm 3 : một giao dịch sử dụng hợp đồng mua lại cũng có thể được gọi là mộtgiao dịch kì hạn có nghĩa là một lượng vốn sẽ thu về khi bán các chứng khoán nắmgiữ tại một tỉ lệ giao ngay và mua lại chúng tại một tỉ lệ kì hạn

Như vậy một giao dịch kì hạn mà sử dụng hợp đồng repo phải đảm bảo các yếu tốsau :

- Một bên là các nhà buôn chứng khoán hoặc một công ty chứng khoán đang có cơhội đầu tư trong ngắn hạn nhưng thiếu vốn để thực hiện những người đi vay tiền sẽbán các chứng khoán trong “kho” của mình tại một tỉ lệ giao ngay và mua lại tại một

tỉ lệ kì hạn trong tương lai

- Một bên là nhà đầu tư đang dư vốn tạm thời, chấp nhận cho đối tác sử dụng hợpđồng mua lại để vay tiền nhà đầu tư sẽ thu được một lãi suất khi hợp đồng đáo hạn

- Tài sản đảm bảo và được sử dụng cho giao dịch là các trái phiếu chính phủ, đây làloại trái phiếu có tính an toàn cao, có kì hạn lớn

- Một hợp đồng mua lại quy định các điều kiện liên quan tới giao dịch, cách giảiquyết các vấn đề phát sinh trong giao dịch

- Về bản chất thì giao dịch kì hạn sử dụng hợp đồng mua lại như là một hình thức vaytiền có tài sản đảm bảo vì vậy hoàn toàn có thể gọi các nhà buôn trong hợp đồng làngười đi vay và các nhà đầu tư là những người cho vay, mức lãi suất phải trả là tỉ lệlãi suất repo, tài sản đảm bảo là các trái phiếu chính phủ

- Một giao dịch kì hạn trái phiếu sử dụng hợp đồng rp thường có hai giai đoạn

+ Giai đoạn đầu : bên a sẽ bán cho bên b số trái phiếu chính phủ có giá trị giao dịchbằng với số vốn cần vay với giá trị danh nghĩa là x hoặc x(1 – v%) trong đó v% làbiên độ giá hoặc một khoản giảm trừ, hay nói cách khác các trái phiếu này được bán

Trang 21

tại một tỉ lệ giao ngay bên a sẽ nhận được số tiền cần vay và chuyển toàn bộ quyền

sở hữu các trái phiếu đó cho bên b

+ Giai đoạn hai : bên a trả cho bên b số tiền đã vay cộng với một tỉ lệ lãi suất đượcthoả thuận trước hay gọi là tỉ lệ repo và mua lại số trái phiếu trên với một mức giádanh nghĩa x đã thoả thuận từ trước hay nói cách khác các trái phiếu này được bánvới một tỉ lệ kì hạn đã được xác định từ trước

1.2.4.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua lại

Kì hạn các hợp đồng rp được thực hiện trong thời gian ngắn hạn – thường là qua

đêm hay một vài ngày các hợp đồng repo dài hạn thường đuợc thực hiện tại một kìhạn tiêu chuẩn theo tuần, theo tháng hoặc một năm hợp đồng repo có thể được thựchiện theo xu hướng “ mở” hay trên cơ sở tiếp diễn, các hợp đồng mở thường kèmtheo các điều kiện khác nhưng tạo được sự linh hoạt cho các bên tham gia các hợpđồng diễn tiếp được hiểu là một chuỗi các rp qua đêm; các hợp đồng này liên tục điềuchỉnh lượng vốn đã đầu tư và lãi suất repo theo thị trường các hợp đồng tiếp diễn cóthể được chấm dứt theo nhu cầu của các bên tham gia

Vốn cơ sở theo các nghiên cứu trên thế giới thì các hợp đồng rp qua đêm và hợp

đồng rp với kì hạn một tuần hoặc thấp hơn thông thường đuợc thực hiện với lượngtiền lớn hơn hoặc bằng 25 triệu đôla, và hạn mức tối thiểu là 10 triệu đôla đối với cáchợp đồng có kì hạn dài hơn mặc dù cũng có một vài hợp đồng được thoả thuận lượngvốn dưới 100000 đô la, nhưng thông thường các hợp đồng giao dịch nhỏ nhất với cácnhà buôn chứng khoán là 1 triệu đôla

Lợi nhuận người cho vay hoặc người mua chứng khoán trong giai đoạn đầu trong

hợp đồng rp được quyền thu một khoản lãi bù lại việc cho mượn vốn đối với đối táccủa họ lãi suất repo thường được ẩn trong mức giá mua lại, vì vậy giá mua lạithường cao hơn giá bán trong giai đoạn đầu nếu giá mua lại và giá bán là như nhauthì một tỉ lệ lãi suất hợp lý sẽ được trả riêng biệt bởi nguời đi vay trong ngày thanhtoán bên cho vay chỉ thu được lãi suất repo, còn lãi suất coupon của trái phiếu phảihoàn trả cho bên đi vay

Tỉ lệ rp hay tỉ lệ lãi suất repo tỉ lệ lãi suất trả cho lượng vốn cơ sở hay tỉ lệ thu

nhập từ hợp đồng repo – thường gọi là tỉ lệ repo được thoả thuận bởi các bên thamgia và không phụ thuộc vào tỉ lệ coupon trả cho các trái phiếu hay số lượng các

Trang 22

chứng khoán cơ sở tỉ lệ lãi suất repo bị ảnh hưởng bởi các điều kiện của toàn thịtrường tiền tệ, các tỉ lệ lãi suất trả cho các loại vốn vay trong thị trường, và sự sẵn cócủa các chứng khoán thế chấp thích hợp.

Tại các nước có thị trường tài chính phát triển người ta thường so sánh việc vay tiềnbằng hợp đồng rp với các hình thức khác quỹ vốn liên bang là một ví dụ, các tổ chứctrung gian như các ngân hàng thương mại hay quỹ đầu tư có thể tiếp cận trực tiếp tới

cả thị trường rp và thị trường vốn liên bang vì vậy các tỉ lệ lãi suất trong các giaodịch rp và quỹ vốn liên bang phải có mối liên hệ gần với nhau ví dụ, khi mà lượngcầu cho việc dự trữ tiền tăng cao so với lượng cung tiền của ngân hàng trung ương,thì các tổ chức nhận tiền gửi thường đặt nhiều tỉ lệ lãi cao cho vốn liên bang lý donày khiến cho một vài tổ chức sẽ hướng tới thị trường rp để tăng vốn, và điều nàycũng dẫn tới tỉ lệ lãi suất rp cao hơn cả hai tỉ lệ này tiếp tục tăng cho tới khi nàolượng cung và cầu cho việc dự trữ tiền trong hệ thống ngân hàng trở lại cân bằng.tạithị trường mỹ cũng như một số nước châu âu thì tỉ lệ lãi suất cho các khoản vốn liênbang qua đêm thường vượt qua tỉ lệ rp qua đêm, vì thế các nhà đầu tư thích nắm giữcác hợp đồng rp thế chấp bằng các chứng khoán hơn sự sụt giảm nhu cầu tài trợ vốnbằng rp của các nhà buôn xảy ra khi tỉ lệ rp thấp so với tỉ lệ vốn liên bang các tỉ lệ rp

có xu hướng tăng so với tỉ lệ vốn liên bang thì có nghĩa là việc vay mượn ròng trongthị trường rp của các nhà buôn sẽ tăng lên nhanh chóng trong thời gian này, gánhnặng tài trợ thêm vốn đã góp phần đáng kể vào sự khan hiếm và thỉnh thoảng gây racác khoảng chênh lệch âm giữa tỉ lệ rp và tỉ lệ vốn liên bang khoảng chênh lệch cũng

đã thu hẹp đáng kể khi các chứng khoán thế chấp bị coi là có vấn đề, hầu hết bắtnguồn từ sự thất bại của các nhà buôn chứng khoán chính phủ

Tính toán thu nhập từ các hợp đồng rp lượng tiền lãi thu được đối với lượng vốn

được đầu tư trong một rp cho nhà đầu tư được xác định như sau :

Tiền lãi thu về = Lượng vốn đã đầu tư * tỉ lệ rp * ( số ngày thực tế/360).

Lượng vốn cơ sở bằng giá trị thị trường hiện hành của các chứng khoán trừ đi mộtbiên độ hay một khoản giảm trừ nhân với số chứng khoán repo

Ví dụ, một nhà đầu tư thực hiện khoản đầu tư rp qua đêm 1 triệu đôla với một tỉ lệrepo là 5.75% sẽ mang lại lợi nhuận là 159.72 đôla: 1000000ì0.575*(1/360) = 159.72lượng tiền lãi sẽ tăng khi kì hạn của hợp đồng càng dài.trường hợp nhà đầu tư kí kếtvới nhà buôn một hợp đồng rp mở hay diễn tiếp tại một tỉ lệ repo ban đầu là 5.75%,nhưng chấm dứt hợp đồng sau khoảng thời gian 5 ngày tỉ lệ repo được giả định thayđổi theo ngày như bảng dưới, thu nhập của nhà đầu tư trong khoảng thời gian này là802.22 đôla :

Bảng 1.1 Giải trình về tính toán lợi nhuận trong giao dịch repo mở

Trang 23

Ngày Tỉ lệ RP Tính toán Lợi nhuận

Vấn đề định giá các chứng khoán thế chấp hay các chứng khoán cơ sở mặc dù

hầu hết các giao dịch repo sử dụng các trái phiếu phi rủi ro, nhưng bản thân các hợpđồng đều chứa đựng rủi ro trong đó có rủi ro lãi suất và thịt trường các chứng khoán

cơ sở sẽ được định giá lại tại mức giá thị trường hiện hành cộng với mức lãi suấtcoupon cho các trái phiếu được tính cho đến ngày đáo hạn của hợp đồng, trừ đi mộtbiên độ hoặc một tỉ lệ chiết khấu do vậy có hai vấn đề cần quan tâm khi tiến hànhđịnh giá cho các chứng khoán cơ sở

+ Xác định biên độ và điều chỉnh theo thị trường trong các hợp đồng repo, giá của

các chứng khoán ghi trong đó luôn thấp hơn so với giá trị thị trường nguyên nhânchủ yếu là do các nhà đầu tư và nhà buôn đã thoả thuận một biên độ dao động giá haymột khoản giảm trừ nhằm đối phó với tình huống giá trị của các chứng khoán thayđổi bất lợi cho hai bên trong thời hạn thực hiện repo biên độ dao động hay các khoảngiảm trừ lớn hơn so với mức độ dao động giá của các chứng khoán cơ sở, khoản giảmtrừ hay biên độ dao động càng tăng khi thời hạn của hợp đồng tăng thêm, các khoảngiảm trừ của trái phiếu chiết khấu thường cao hơn là các khoản giảm trừ của tráiphiếu trả lãi cố định.việc điều chỉnh giá trị của các chứng khoán cơ sở được thực hiệntheo thị trường hàng ngày nhằm giảm thiểu rủi ro lãi suất sự điều chỉnh này phản ánhmức độ thay đổi theo giá trị thị trường của các chứng khoán và để duy trì biên độ daođộng theo điều khoản thoả thuận trong hợp đồng khi giá trị thị trường của các chứngkhoán repo giảm đáng kể thì nhà buôn hay người đi vay có thể bị đòi hỏi phải cungcấp thêm các tài sản thế chấp phù hợp khác còn nếu như giá trị thị trường của cácchứng khoán tăng lên thì nhà đầu tư có thể bị yêu cầu trả lại phần tài sản thế chấp bị

Trang 24

vượt quá cho nhà buôn chứng khoán mức giá dùng để tính biên độ phụ thuộc vàoquy định của từng nước bảng 1.2 chỉ ra quy định về việc xác định giá ban đầu để tínhbiên độ dao động tại một số nước và khu vực

Bảng 1.2: Quy định về mức giá để tính biên độ dao động giá trong hợp đồng repo

Trái phiếu của pháp

BTF và BTAN: xác định theo tỉ lệ Banque de France được cố định giữa 4 giờ và 4 giờ 30 chiều

OAT: Giá đóng cửa sàn giao dịch Paris vào sau 5h30 chiều

Trái phiếu của Đức

Bubills: Giá trung bình đóng cửa và mở cửa vào khoảng 6h30 chiều.

Các loại trái phiếu khác: Bunds, Schatze, Bobl : Giá trên sàn Frankfurt Kassakurs vào

khoảng 2 h chiều.

Trái phiếu của Italia và Euro Cố định vào khoảng 4h chiều giờ CET, mức giá chấp nhận sau 5h30 chiều giờ CET

(Nguồn: Margining methodology on bonds cash and repo transactions cleared by clearnet – 2002)

+ Vấn đề lãi suất luỹ kế trong các trái phiếu thế chấp đối với các hợp đồng repo dài

hạn thì tồn tại vấn đề là lãi suất coupon trả cho các trái phiếu cơ sở, như ở thị trường

mỹ thì lãi suất được trả 6 tháng một lần như vậy lãi suất coupon trả cho các tráiphiếu cũng là một vấn đề cần quan tâm khi định giá các chứng khoán cơ sở giá trị thịtrường của các trái phiếu đã bao gồm các khoản lãi suất coupon luỹ kế trên thực tếthì khi định giá các chứng khoán cơ sở người ta lại loại trừ khoản tiền luỹ kế này cácnhà đầu tư trong giao dịch luôn bị đặt trong tình trạng nguy hiểm khi lãi suất luỹ kếcộng vào với khoản vay đối với các giao dịch dài hạn, tỉ lệ lãi suất cho các khoảnvay có thể bị thay đổi theo thời gian nên cần phải điều chỉnh định kì đối với cácchứng khoán trong hợp đồng nếu tỉ lệ coupon được trả trong thời hạn của hợp đồngrepo, thì có nghĩa là cần phải điều chỉnh lại giá trị thị trường của các chứng khoán mà

mà không làm thay đổi tương ứng giá trị của các khoản vay cộng với lãi suất lũy kế.trên thực tế thì hầu hết các giao dịch repo trong ngắn hạn sẽ sử dụng các trái phiếu

mà có ngày thanh toán coupon nằm ngoài thời hạn của hợp đồng sự thất bại của một

số các nhà buôn trong thực tế khi định giá các chứng khoán không tính đến khoản lãisuất luỹ kế cũng đã đặt ra vấn đề khi định giá bán ban đầu và giá mua lại sau đó theo

đó lãi suất luỹ kế sẽ được tính đầy đủ hơn khi định giá chứng khoán và được điềuchỉnh theo thị trường hàng ngày

Trang 25

1.2.1.4.3 Rủi ro khi thực hiện giao dịch repo :

- Rủi ro tín dụng : trong các giao dịch repo, rủi ro tín dụng phát sinh khi bên đi vaytiền mất khả năng thanh toán hay không thể mua lại đúng hạn số chứng khoán đã báncho các nhà đầu tư cả nhà đầu tư và người đi vay đều phải chịu rủi ro ở cả hai giaiđoạn của quá trình thực hiện repo trường hợp người đi vay mất khả năng thanh toánthì bên cho vay vẫn phải chịu rủi ro khi các tài sản thế chấp không thanh lý được

- Rủi ro thanh khoản: là việc mất khả năng thanh toán tạm thời của các bên, lý do là

họ có nhu cầu lớn về tiền để đáp ứng các nghĩa vụ khác khi nó đáo hạn rủi ro thanhkhoản có thể xảy ra cho cả hai bên khi hợp đồng được yêu cầu chấm dứt trước thờihạn bên đi vay sẽ phải thực hiện vay mượn ở nơi khác hoặc thu hồi từ các hợp đồngkhác để thanh toán tiền cho bên vay bên cho vay cũng phải chịu rủi ro thanh khoảntrong trường hợp họ đã chuyển nhượng hay cầm cố số chứng khoán repo, như vậy họ

sẽ không có đủ chứng khoán để thực hiện thanh toán hợp đồng một dạng rủi ro thanhkhoản khác là đối với giá trị của các chứng khoán repo nếu giá trị của các chứngkhoán này sụt giảm so với khoản tiền đã vay thì bên cho vay sẽ yêu cầu bên đi vay bổsung thêm chứng khoán hoặc tiền

- Rủi ro thị trường : là sự thua lỗ gây ra bởi sự thay đổi bất lợi về giá hay sự biếnđộng giá thị trường của tài sản rủi ro này bắt nguồn từ sự biến động của môi trườngđầu tư tài chính hoặc từ nội tại công ty rủi ro về sự thay đổi lãi suất là rõ ràng nhấtđối với các giao dịch repo, lãi suất repo đã thoả thuận có thể sẽ không hấp dẫn nữakhi lãi suất tăng lên trong ngắn hạn, như vậy bên cho vay phải chịu thiệt hại do sựbiến động lãi suất còn bên cho vay phải chịu thiệt hại trong trường hợp giá của cácchứng khoán giảm vào thời điểm thanh toán hợp đồng do giá mua lại được xác định

từ trước một rủi ro khác cho bên đi vay là khoản đầu tư từ số tiền vay của họ mất giátrị do thị trường, khiến cho bên đi vay mất khả năng thanh toán, làm cho bên vaycũng chịu rủi ro thanh toán gây ra bởi sự biến động của thị trường

- Rủi ro pháp lý : là khoản thiệt hại gây ra bởi việc áp dụng luật hay các quy định mộtcách không định trước hoặc do các hợp đồng không có hiệu lực hợp đồng sẽ khôngthể ký kết khi mà một bên không đủ tư cách pháp lý hay sự ủy quyền ký kết hợp đồngtheo pháp luật của nước sở tại đối với hợp đồng repo thì hiệu lực pháp lý phải đượcđảm bảo ở cả giai đoạn bán và giai đoạn mua lại chứng khoán tuy nhiên trong trườnghợp một hợp đồng hợp lệ, có đầy đủ các điều khoản và được thực hiện vẫn có thể xảy

ra rủi ro pháp lý khi bên đối tác lâm vào tình trạng phá sản, khi đó bên phá sản có thể

áp dụng một số điều luật khác gây bất lợi cho phía bên kia rủi ro còn có thể là do các

Trang 26

yếu tố khác như các điều luật ngăn cản một số vấn đề xảy ra như thanh lý tài sản rủi

ro càng cao khi các giao dịch được thực hiện xuyên quốc gia

- Rủi ro hoạt động : là loại rủi ro do sự yếu kém của hệ thống thông tin hay kiểm soátdẫn tới những thiệt hại nằm ngoài mong đợi rủi ro này có thể gây thiệt hại một phầnhay toàn bộ giá trị giao dịch, hoặc liên quan tới những hình thức phát áp đặt cho bênkia một số nước không có đầy đủ hệ thống xác nhận, bù trừ, thanh toán giao dịch nênngay cả các công ty được áp dụng hệ thống kĩ thuật cao nhất cũng phải thao tác thủcông khi tiến hành các giao dịch tại thị trường đó, vì thế dễ gặp phải sự chênh lệchhay thất bại trong các giao dịch sự yếu kém trong khâu kiểm soát nội bộ cũng có thểdẫn tới các tổn thất do gian lận, như các giao dịch viên đảm trách các vị trí khôngđược ủy quyền, không tuân thủ các chính sách hay họ tự đặt ra mức chấp nhận rủi rocao hơn mức quy định đề ra

- Rủi ro thanh toán xảy ra khi việc hoàn tất thanh toán trong các giao dịch đơn lẻ diễn

ra không như mong đợi trong giao dịch repo, rủi ro thanh toán có thể xảy ra ở cả haigiai đoạn, biểu hiện là ở thời gian kéo dài việc thanh toán tiền và chứng khoán tại thịtrường của các nước phát triển, hệ thống thanh toán và chuyển giao được tiêu chuẩnhoá nên việc thanh toán tiền và chứng khoán có thể diễn ra đồng thời, do đó làm giảmrủi ro, tuy nhiên không có gì đảm bảo khi các giao dịch ở thị trường này lại không córủi ro thanh toán một yếu tố nữa cũng gây ra rủi ro thanh toán là điều kiện và thủ tụcđăng ký chứng khoán nếu đăng ký là điều kiện tiên quyết để thanh toán thì điều này

có thể gây ra sự chậm trễ trong thanh toán thời gian đăng ký chứng khoán kéo dàigây ra sự chậm trễ trong thanh toán thời gian đăng ký chậm có thể làm cho bên đivay hoặc cho vay mất đi một số các quyền như hưởng một số lợi nhuận hay mất đicác cơ hội đầu tư trong khoảng thời gian đó

- Rủi ro lưu ký : là những thiệt hại xảy ra liên quan đến các chứng khoán được lưugiữ tại các tổ chức lưu ký trong trường hợp như phá sản, bất cẩn hay gian lận của tổchức lưu ký sự thiệt hại xảy ra khi quá trình hạch toán các chứng khoán hay tiền cóvấn đề, có nghĩa là tổ chức lưu ký không đảm bảo cho giao dịch để hạn chế việc cácchứng khoán bị sử dụng cho cầm cố, thế chấp … thì trong các hợp đồng thường rằngbuộc tổ chức lưu ký không được thực hiện các việc như thế vì các tổ chức lưu kýđóng vai trò là các đại lý trong giao dịch repo nên nguồn gốc của rủi ro liên quan tớilưu ký là rủi ro về đại lý đại lý có thể trốn tránh trách nhiệm trong những tình huốngxảy ra vì mục đích lợi ích của mình khi thực hiện hợp đồng mà có sự tham gia củacác đại thì thì thông thường các đại lý đều được trao cho quyền hạn để thực hiện cáchành động được coi là cần thiết và phù hợp để quản lý các giao dịch rủi ro đại lý cóthể hoàn toàn xảy ra khi các bên trực tiếp giao dịch với nhau không hiểu các điều

Trang 27

khoản của hợp đồng đại lý, dẫn tới họ phải chịu thiệt hại do mất mát hay bồi thườngtrong trường hợp xảy ra sự cố.

1.2.4.1.4 Các điều khoản liên quan tới hợp đồng repo trái phiếu

- Điều khoản về quyền hợp pháp đối với các chứng khoán cơ sở

Trong các giao dịch repo trái phiếu thì sau khi hợp đồng ký kết các trái phiếu đượcchuyển giao từ một bên sang cho bên kia vấn đề phát sinh đối với quyền sở hữu cáctrái phiếu và lãi suất nhận được từ trái phiếu đó các bên tham gia giao dịch repo trênthế giới quy ước với nhau về điều khoản này và được ghi trong hợp đồng, thôngthường người ta thường sử dụng một văn bản chuẩn có quy định đầy đủ các điềukhoản thi hành hợp đồng theo đó, trong giai đoạn đầu bên đi vay tiền sẽ bán các tráiphiếu cho bên cho vay để nhận một số tiền, quyền sở hữu các trái phiếu ấy đượcchuyển hoàn toàn tới bên cho vay bên cho vay có quyền sử dụng số trái phiếu đó đểrepo lại hoặc làm tài sản cầm cố, thế chấp tuy nhiên, đối với các hợp đồng repo dàihạn mà có lãi suất trả cho các trái phiếu thì quyền nhận lãi này vẫn thuộc về bên đivay, hợp đồng repo thường quy định bên cho vay phải hoàn trả đầy đủ số tiền lãi phátsinh trong thời hạn repo

- Điều khoản nắm giữ, thanh toán và chuyển giao :

Điều khoản này quy định quá trình thực hiện giao dịch repo bao gồm thời gianthanh toán, phương thức giao dịch, phương thức chuyển giao theo đó các bên có thểthực hiện thoả thuận tự nắm giữ hợp đồng, chuyển giao và thanh toán hay tất cả việcnày sẽ được thực hiện bởi một bên thứ ba phương thức giao dịch thông thường đượcquy định là phương thức giao dịch thoả thuận trực tiếp giữa các đối tác hay qua mộttrung gian, phương thức chuyển giao và thanh toán thì có thể là chuyển giao chứngkhoán cùng với chuyển giao tiền (dvp) hay là phương thức chuyển giao chứng khoáncùng với một chứng khoán khác (dvd), phương thức chuyển giao thứ hai thường ápdụng cho các giao dịch vay chứng khoán, ngoài ra còn có thể thực hiện phương thứcchuyển giao chứng khoán chậm hơn so với chuyển giao tiền trong trường hợp các bênthoả thuận được với nhau tất cả các điều khoản nắm giữ, chuyển giao và thanh toánđều được ghi rõ trong hợp đồng

1.2.4.1.5 Pháp luật điều chỉnh :

Giao dịch repo là một hình thức giao dịch đảm bảo dựa trên cơ sở chuyển giaohợp pháp nhưng cũng giống như các hợp đồng khác, hợp đồng repo cũng có thểkhông có hiệu lực vì các bên tham gia không có khả năng hay quyền hợp pháp đểthực hiện các giao dịch repo, hay các bên có thể bị áp đặt một sự hạn chế nào đó đốivới khả năng hay quyền ký kết và thoả thuận các hợp đồng repo các giao dịch repo làtương đối phức tạp nếu có sự tham gia của nhiều đối tác khác ngoài người cho vay và

Trang 28

người đi vay, hợp đồng cũng dễ bị vi phạm nếu không có các điều luật chặt chẽ hay

có cơ quan quản lý riêng về các giao dịch repo, khi đó các hợp đồng repo trở thànhcác công cụ huy động vốn không an toàn lịch sử cho thấy sự kiện phá sản của một sốcác nhà buôn chứng khoán lớn như lớn như lombard – wall inc vào tháng 8/1982,chính sự phá sản do không thu hồi được nguồn vốn bao gồm cả lãi suất lũy kế từ cáchợp đồng repo đã làm nảy sinh về sự không chặt chẽ về cơ sở pháp lý của hợp đồngrepo và về các quyền của cac bên tham gia sự kiện này được giải quyết theo phánquyết của toà án kinh tế liên bang theo luật phá sản của mỹ nhằm tránh một sự đổ vỡnghiêm trọng hơn đối với các khách hàng của lombard – wall, tất cả các hợp đồngrepo của công ty này được chuyển cho một ngân hàng và các bên tham gia sẽ phảithoả thuận với ngân hàng đó sự phát triển của các nhà buôn đã khiến cho quốc hội vàngân hàng dự trữ new york phải sửa đổi một số điều luật trong luật phá sản, phải cắtgiảm một số điều và điều chỉnh lại giới hạn luật cho các hợp đồng và chứng khoán.các sự kiện phá sản của các nhà buôn chứng khoán đã thúc đẩy các nước trên thế giớiphát triển các hợp đồng repo có cơ sở pháp lý tiêu chuẩn như ở thị trường australia

có hợp đồng tiêu chuẩn isda của hiệp hội thị trường tài chính australia, thị trườngcanada sử dụng văn bản tiêu chuẩn của hiệp hội các nhà đầu tư và kinh doanh chứngkhoán, tại thị trường anh có hợp đồng repo tiêu chuẩn psa/isma, còn tại thị trường mỹhợp đồng tiêu chuẩn psa, còn hợp đồng repo osld của hiệp hội các nhà cho vay chứngkhoán quốc tế được sử dụng cho các giao dịch giữa các nước với nhau nhìn chungmột hợp đồng có cơ sở pháp lý thường quy định các điều sau:

+ Tư cách pháp lý của các bên tham gia hợp đồng

+ Quyền hợp pháp của các bên tham gia mua hoặc bán chứng khoán

+ Sự chuyển giao hoàn toàn các quyền hợp pháp

+ Quản lý các rủi ro bằng cách tiêu chuẩn theo thị trường, xác định tỉ lệ biên độgiao động giá, thay thế bằng các tài sản khác hay định giá lại các chứng khoán cơ sở + Các điều khoản nắm giữ, chuyển giao, thanh toán, nhận lại các chứng khoán + Cách thức xử lý đối với lãi suất trả cho trái phiếu, cổ tức trả cho cổ phiếu mà cácchứng khoán này được sử dụng để repo và thời hạn thanh toán các khoản đó

+ Thủ tục phá sản, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia đối với hậu quả từ hợpđồng trong đó bao gồm cả quyền được đền bù

+ Luật pháp bao trùm toàn hợp đồng như luật doanh nghiệp, luật phá sản, luật bảo

vệ các nhà đầu tư

1.2.4.1.6 Thị trường RP :

Thị trường cho vay chứng khoán trên thế giới đã phát triển từ rất lâu, là một bộ phậncấu thành và quan trọng của thị trường chứng khoán thị trường cho vay thực hiện các

Trang 29

giao dịch cho vay chứng khoán, giao dịch repo chứng khoán, giao dịch bán và mualại thị trường cho vay chứng khoán gồm có hai bộ phận cấu thành là thị trường chovay chứng khoán và thị trường cho vay tiền thị trường rp nằm trong bộ phận của thịtrường cho vay tiền tham gia vào thị trường rp phải kể đến các chủ thể sau:

+ Các nhà đầu tư : tham gia nhiều nhất là các nhà đầu tư có tổ chức như các ngânhàng và các tổ chức tiết kiệm, các công ty phi tài chính, quỹ đầu tư mở, các quỹ hưutrí, các chủ thể thuộc nhà nước như ngân hàng nhà nước, chính phủ, ngoài ra còn cócác chủ thể công khác các nhà đầu tư sẽ nhận được một tỉ lệ thu nhập tương đối caogần như phi rủi ro so với lãi suất tiết kiệm từ các hợp đồng repo đồng thời các nhàđầu tư cũng có thể kết cấu thành một danh mục đầu tư hợp đồng repo vì kì hạn củahợp đồng là từ qua đến cho đến dài hạn

+ Các nhà kinh doanh chứng khoán : thông thường là các công ty chứng khoán, cácnhà tạo lập thị trường, các ngân hàng lớn nhằm mục đích là để tài trợ vốn cho hoạtđộng của mình các công ty chứng khoán tham gia vào thị trường nhằm thực hiệnchức năng tạo lập thị trường, thực hiện các giao dịch repo có tính thanh khoản cao đểhuy động vốn nhằm duy trì hoạt động kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận nguồn vốnrepo là tương đối rẻ đối với nhà buôn chứng khoán, chi phí cho các giao dịch repo rẻhơn nhiều, cơ chế lại linh hoạt hơn so với các hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếuhay vốn tín dụng hợp đồng repo cũng được các nhà buôn có tổ chức quản lý thànhmột danh mục và sử dụng trong các chiến lược giao dịch

+ Ngân hàng trung ương : thị trường rp rất hữu ích đối với các ngân hàng trung ương

vì hợp đồng repo có vai trò như là một công cụ để thực hiện các chính sách tiền tệtrong ngắn hạn ngân hàng trung ương sẽ tạo cung tiền và giảm cung tiền thông quahợp đồng repo đối với các ngân hàng thương mại

+ Nác trung gian : là các tổ chức cung cấp các dịch vụ cho các giao dịch repo baogồm : các nhà môi giới đóng vai trò là người kết nối trung gian và nhà tạo lập thịtrường; các tổ chức lưu ký có nhiệm vụ lưu trữ, hạch toán giao dịch và quản lý danhmục đầu tư, đại diện cho khách hàng tham gia giao dịch; các tổ chức thanh toán cónhiệm vụ thanh toán hộ cho các bên; các đại diện quản lý tài sản quản lý toàn bộ tàisản đảm bảo và các chứng khoán repo bao gồm cả việc định giá lại các chứng khoán,xác định biên độ, thông báo thu nhập; các chuyên gia thứ ba là những người đại diệnlàm toàn bộ các công việc cho cả hai bên trong giao dịch

Cấu trúc một giao dịch repo trái phiếu

Các chủ thể đã giúp hình thành thị trường repo, các giao dịch repo được thực hiệntrong một quy trình khép kín và thường bao gồm các bước sau:

Trang 30

- Thực hiện giao dịch : hai bên tiến hành thoả thuận và đi tới kí kết một hợp đồng

pháp lý chuẩn để thực hiện giao dịch trong đó thoả thuận :

+ Thời hạn giao dịch: trên thế giới các giao dịch repo thường được thực hiện là cáckhoản vay qua đêm hay nhiều ngày hơn

+ Quy mô giao dịch : xác định rõ quy mô giao dịch là bao nhiêu, thông thường ítnhất là 100000đôla đối với thị trường mỹ

+ Định giá các chứng khoán cơ sở : việc này có liên quan tới quy mô giao dịch và

để xác định giá bán, giá mua lại các chứng khoán ngoài ra còn quy đinh việc định giálại để điều chỉnh mức giá theo thị trường và quản lý các rủi ro xảy ra đối với cácchứng khoán cơ sở để đảm bảo an toàn và tránh thiệt hại cho các bên thì trước khigiao dịch các bên phải thoả thuận một mức biên độ dao động giá hay một khoản giảmtrừ bù lại cho việc tăng giá hay giảm giá các chứng khoán cơ sở

+ Tài sản đảm bảo : một số các giao dịch repo còn phải đảm bảo một số loại tài sảnnào đó chẳng hạn như là tiền, chứng khoán khác hay thư tín dụng của ngân hàng vàcác tài sản đảm bảo này được tính theo tỉ lệ của nguồn vốn vay

xác nhận và bù trừ các khoản vay :

Các bên sẽ thực hiện xác nhận các điều khoản pháp lý và kinh tế đối với khoản vaybằng hợp đồng repo quá trình xác nhận được thực hiện song phương, không có sựliên quan của bên thứ ba bất kỳ có sự chênh lệch nào đối với các điều khoản hợpđồng đều được thực hiện điều chỉnh lại tiếp theo là giai đoạn bù trừ giao dịch, tínhtoán nghĩa vụ của mỗi bên voà ngày thanh toán, khi nghĩa vụ thanh toán được xácnhận thì lệnh thanh toán sẽ được chuyển tới hệ thống thanh toán

- Quy trình thanh toán : quá trình này được tham gia bởi các tổ chức trung gian như

tổ chức lưu ký và ngân hàng thanh toán phương thức chuyển giao và thanh toán giaodịch sử dụng hợp đồng repo chủ yếu là phương thức thanh toán dvp - chứng khoánchuyển giao cùng với tiền, phương thức này được áp dụng trong cả hai giai đoạn củagiao dịch cả hai bên đều phải chuyển lệnh thanh toán tới hệ thống thanh toán nhằmđảm bảo cho giao dịch được thực hiện thông thường thời gian thanh toán đối vớigiao dịch repo qua đêm là t+0 ở một số thị trường lớn , hoặc t + 1 đối với các thịtrường áp dụng thanh toán theo thông lệ

- Quản lý trong quá trình giao dịch repo : bao gồm quản lý quyền lợi hợp pháp đối

với các chứng khoán cơ sở, quản lý rủi ro, quản lý giá trị thị trường của các chứngkhoán cơ sở nhằm bảo đảm đúng giá trị với khoản vay tiền, và quản lý việc tôn trọngcác điều khoản đã ký kết của các bên tham gia

Trên đây là những đặc điểm cơ bản nhất của hợp đồng repo, bao gồm cả việc thựchiện một giao dịch trong thị trường rp hợp đồng repo tỏ ra có ưu thế trong các giao

Trang 31

dịch kì hạn có thời gian ngắn, đảm bảo được mục tiêu huy động được vốn, an toàn vàsinh lời về bản chất hợp đồng repo là một khoản vay thế chấp được đảm bảo bằngcác chứng khoán có rủi ro thấp như các trái phiếu chính phủ tuy nhiên, trên thế giới

sử dụng nhiều loại hợp đồng repo khác nhau, phần tiếp theo sẽ giới thiệu một số cáchợp đồng phổ biến nhất

1.2.4.2.Phân loại hợp đồng repo

- Hợp đồng repo mua bán lại: khi một giao dịch repo sử dụng hợp đồng này thìngười cho vay nắm quyền sở hữu thực đối với các tài sản thế chấp, do đó họ hoàntoàn có quyền để sử dụng chúng vào các việc khác trong các giao dịch này cácchứng khoán đuợc bán ra ngay lập tức và mua lại đồng thời chúng vào ngày thanhtoán sau đó quyền sở hữu trong hợp đồng repo được chuyển cho bên mua các chứngkhoán và do đó nhà đầu tư sẽ được hưởng phần lãi suất coupon lũy kế được trả chocác trái phiếu mức giá kì hạn của các trái phiếu sẽ được đặt tại một mức giá thuận lợi

có sự chênh lệch so với giá giao ngay ban đầu băng một việc điều chỉnh sự khác nhaugiữa lãi suất repo và lãi suất coupon thu được trong các chứng khoán nhà đầu tưtrong hợp đồng repo và người đi vay trong các hợp đồng vay chứng khoán sẽ thuđược một khoản lợi nhuận trong các chứng khoán cơ sở cộng hoặc trừ đi phần chênhlệch giữa phần chênh lệch trên và tỉ lệ repo

- Hợp đồng repo cổ điển : trong các giao dịch repo sử dụng loại hợp đồng này, việcbán các chứng khoán đồng thời cam kết sẽ mua lại chúng sau đó trong các hợp đồngnày giá ban đầu và giá mua lại của các chứng khoán là như nhau và lãi suất coupon sẽđược trả riêng biệt cho người bán chứng khoán hợp đồng repo cổ điển cho thấy rõràng rằng các chứng khoán chỉ là tài sản thế chấp cho một khoản vay tiền mặt hợpđồng repo loại này được sử dụng trong các giao dịch cho vay và vay các loại tráiphiếu, các nhà buôn sẽ cho vay các trái phiếu với một kì hạn mở hay một kì hạn cốđịnh và thu về một mức phí nào đó mức phí này được tính phụ thuộc vào loại chứngkhoán cơ sở, quy mô và kì hạn của khoản vay, thứ hạng và năng lực tín dụng của cácđối tác các giao dịch này được đảm bảo an toàn bằng một lời cam kết trong việc chovay chứng khoán và tiền hay các chứng khoán khác có giá trị tương đương sẽ đượcđem ra làm vật thế chấp cho các giao dịch hợp đồng repo loại cổ điển là an toàn vàthể hiện rõ quyền lợi của các bên tham gia

- Hợp đồng repo có sự tham gia của bên thứ ba: trong hợp đồng repo loại này thôngthường có một tổ chức lưu ký, thanh toán được chọn làm đối tác thứ ba để thực hiệnviệc chuyển giao và thanh toán trong các giao dịch repo đối tác thứ ba này cũngđược quy định rõ quyền hạn và nhiệm vụ trong hợp đồng, họ hoạt động dưới một hợpđồng repo có tiêu chuẩn được áp dụng rộng rãi và cung cấp cho các bên thanh toán hệ

Trang 32

thống thanh toán dvp, việc thay thế các chứng khoán khác, tự động điều chỉnh lại giáchứng khoán theo thị trường , quản lý và báo cáo hàng ngày bởi một chuyên gia độclập trong đó bao gồm cả quản lý các rủi ro và tự động xác nhận trong khi không cóyêu cầu phải thẩm định lại khả năng của các bên tham gia hệ thống này hoạt động kể

từ khi việc ký kết hợp đồng của tất cả các bên có liên quan và thoả thuận một hợpđồng repo tiêu chuẩn toàn cầu, một hợp đồng cung cấp dịch vụ repo có sự tham giacủa bên thứ ba loại hợp đồng này được đánh giá là có rủi ro tín dụng thấp và có thểđược sử dụng khi ký kết với một đối tác có thứ hạng tín dụng thấp bởi đối tác thứ ba

có thể trả nợ hộ trong trường hợp một bên mất khả năng thanh toán

1.2.4.3.Kinh nghiệm sử dụng hợp đồng repo trái phiếu trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho thị trường việt nam

1.2.4.3.1.Lịch sử hình thành

Thị trường RP là một bộ phận của thị trường cho vay chứng khoán và lịch sử hìnhthành của nó gắn với lịch sử hình thành các giao dịch cho vay tiền và chứng khoán.báo cáo về thị trường cho vay chứng khoán của ngân hàng thanh toán quốc tế ở basel,thụy sỹ và của hiệp hội các sở giao dịch chứng khoán quốc tế đã cho thấy quy mô vàtầm quan trọng của thị trường cho vay chứng khoán ngày càng tăng

- Thị trường cho vay chứng khoán xuất hiện từ thế kỷ 19, tuy nhiên các giao dịchvẫn ở dạng nhỏ lẻ, chưa có tính chất chuyên nghiệp, chưa có hệ thống riêng biệt vàchưa có luật điều chỉnh, giới hạn rất ít ở các quốc qua

- Cho tới những năm 1960, thị trường này vẫn ở quy mô nhỏ hẹp nhưng lại đượcđiều chỉnh bằng các quy định chặt chẽ và cụ thể nhằm đảm bảo các chứng khoán chỉđược giao dịch bởi một số các tổ chức nhất định và được quản lý bởi một số các tổchức chuyên môn

- Vào những năm 1980 khi thị trường trái phiếu phát triển mạnh đã thúc đẩy hoạtđộng repo trái phiếu của các nhà kinh doanh trái phiếu, họ đi tìm kiếm nguồn vốn,khắc phục tình trạng thiếu chứng khoán, kiếm lời hoặc rào chắn ngăn cản trước sựbiến động của lãi suất trong thời gian này ngân hàng trung ương bắt đầu tham giavào thị trường tuy nhiên hoạt động repo trái phiếu chỉ giới hạn đối với các tổ chứctrong nước trong khi hoạt động cho vay cổ phiếu đã vươn tầm quốc tế những năm

1980 chứng kiến sự phá sản của hàng loạt các tổ chức buôn chứng khoán đã khiếncho việc các hợp đồng cho vay tiền và chứng khoán được tiêu chuẩn hoá bởi hiệp hộithị trường trái phiếu, biên độ dao động của các chứng khoán cơ sở được xác lập vàvấn đề lãi suất lũy kế được chú ý hơn, hợp đồng repo chủ yếu là loại có sự tham giacủa bên thứ ba, tức là cả người đi vay và cho vay đều sử dụng dịch vụ của các tổ chức

Trang 33

thanh toán và lưu ký hoạt động giao dịch repo các chứng khoán được thực hiện vượtkhỏi biên giới quốc gia, bắt đầu là mỹ, anh.

- Cho tới những năm 1990 : sự phát triển mạnh mẽ của các giao dịch cho vay và repochứng khoán, các giao dịch lúc này mang tính chất quốc tế, có xu hướng toàn cầu hoá

và mở rộng tới cả các thị trường mới nổi trong giai đoạn này cũng đánh dấu một số

sự kiện đối với thị trường rp, trong thị trường anh, thị trường repo trái phiếu chínhphủ mở được thiết lập vào năm 1996 với một hợp đồng tiêu chuẩn và luật điều chỉnhthuế thị trường nhật bản vào năm 1996 cho phép sử dụng tiền làm tài sản thế chấp vàphát triển một hợp đồng repo chuẩn cho phù hợp với sự phát triển của thị trường thịtrường pháp thông qua một điều luật về repo vào năm 1993 và một hợp đồng repochuẩn tắc được thiết lập vào năm 1994.bộ tài chính của pháp cũng đã phát triển hệthống các nhà buôn hàng đầu cho thị trường repo trái phiếu chính phủ tại thụy sỹ, sựthay đổi về yêu cầu vốn tối thiểu được vay và cơ sở pháp lý bởi các luật trong ngânhàng quốc gia đã tạo một môi trường thuận lợi cho thị trường repo vào năm 1998 tạiitalia, một thị trường mới cho các hợp đồng mua bán lại trái phiếu chính phủ vào năm1997

1.2.4.3.2 Sự tăng trưởng của thị trường repo và kinh nghiệm sử dụng hợp đồng repotrái phiếu ở một số thị trường quốc tế:

- Sự tăng trưởng của thị trường cho vay chứng khoán trên thế giới:

Cũng giống như thị trường private là nơi có các giao dịch không công khai nênviệc thu thập số liệu và phân tích là tương đối khó khăn trong một quốc gia hoàntoàn khó có thể xác định quy mô của thị trường này, tuy nhiên việc xác định xuhướng cũng như quy mô của thị trường gần đây cũng có thực hiện dựa vào số liệuthống kê và từ việc nghiên cứu, điều tra, khảo sát các chủ thể tham gia thị trường,hoạt động này được thực hiện bởi các ngân hàng trung ương, các nhà nghiên cứu vàban hành luật chứng khoán, các bộ tài chính các nước

Các số liệu thống kê cho thấy thị trường cho vay chứng khoán chính phủ là mộtnguồn quan trọng trong việc tài trợ vốn và tăng tính thanh khoản của thị trường tàichính, thị trưòng đã tăng về quy mô cho đến cuối thế thập kỷ 90 và có xu hướng tăngmạnh trong tương lai tại các thị trường lớn như mỹ, anh, nhật bản thì việc sử dụngcác chứng khoán chính phủ làm công cụ thực hiện các khoản vay chứng khoán vàrepo là tương đối lớn, ở nhật bản, tỉ lệ sử dụng là 29.3% tổng giá trị chứng khoánchính phủ phát hành, ở thị trường mỹ là 55.3 %, ở thị trường anh là 37.2 % bảng 1.3chỉ dẫn sự phát triển và quy mô của thị trường cho vay chứng khoán trong nhữngnăm gần đây các số liệu thu được trong quá trình điều tra và nghiên cứu, trong báo

Trang 34

cỏo của hiệp hội cỏc nhà kinh doanh chứng khoỏn chớnh phủ hàng đầu cỏc nước vàcỏc ngõn hàng cho vay, ngõn hàng trung ương

Bảng 1.3 : Quy mụ của cỏc khoản vay và thị trường repo chứng khoỏn chớnh phủ (đv: triệu đụla)

Giỏ trị của cỏc chứng khoỏn chớnh phủ trong cỏc khoản vay

Giỏ trị cảu cỏc chứng khoỏn chớnh phủ trong cỏc giao dịch repo

Tổng giỏ trị chứng khoỏn chớnh phủ được phỏt hành

Tổng giá trị chứng khoán chính phủ đợc phát hành

Tỉ lệ phần trăm cỏc khoản vay hay repo ( E = C/D*100)

Ngày bỏo cỏo

Trang 35

- Kinh nghiệm sử dụng hợp đồng repo trái phiếu ở một thị trường trên thế giới

Đồ thị 1.1: So sánh 3 thị trường repo Mỹ, Anh, Nhật Bản 2

20.4 27.4

90

0 20 40 60 80 100

Bản

Tỉ lệ phần trăm các giao dịch repo

- Thị trường repo ở mỹ:

Thị trường mỹ đã có một lịch sử hình thành và phát triển lâu dài với nhiều các giaodịch và các chủ thể tham gia, giao dịch repo đầu tiên được thực hiện vào năm 1918khi cục dự trữ liên bang bắt đầu thực hiện hoạt động chiết khấu các hoá đơn thanhtoán của các ngân hàng, cục dự trữ liên bang sẽ thực hiện việc mua các hoá đơn nàyvới điều khoản sẽ bán lại, bằng cách đó cung cấp vốn cho các ngân hàng tại một tỉ lệchiết khấu hoạt động này mở đầu cho các giao dịch repo có quy mô lớn

Quy mô thị trường mỹ là 1376300 triệu đô là vào năm 1999, năm 2001 là 184nghìn tỷ yên, theo số liệu của các nhà nghiên cứu nhật bản quy mô của thị trườngtăng ngày càng mạnh, cho thấy các nhà đầu tư, các nhà buôn chứng khoán đã tăngcường sử dụng các giao dịch repo chứng khoán, đặc biệt là đối với các chứng khoánchính phủ

Thị trường repo của mỹ chấp nhận tất cả các loại chứng khoán bao gồm trái phiếuchính phủ, cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp và các loại trái phiếu khác cho giao dịch

2 Số liệu trên cho thị trường mỹ và nhật bản được cập nhật vào thời điểm kết thúc tháng 3 năm 2001 và thị trường anh vào thời điểm tháng 5/2001 tỉ lệ phần trăm các giao dịch repo được tính trên tổng giá trị trái phiếu chính phủ phát hành.

(nguồn: the japanese repo market: theory and evidence – naohiko baba and yasunari inamura – bank of japan – 2004)

Trang 36

repo hệ thống thanh toán sử dụng hệ thống dvp với thời gian thanh toán từ t + 0, t +

3 tuỳ thuộc vào hệ thống giao dịch của mỹ, ví dụ hệ thống febwire chỉ chấp nhậnrepo đối với loại trái phiếu chính phủ vào bất kì một thời gian nào với thời gian thanhtoán là t + 0, còn hệ thống giao dịch dtc chấp nhận đối với trái phiếu doanh nghiệp,

cổ phiếu, và các trái phiếu khác thì lại quy đinh cho đến 16h30 theo giờ est với thờigian thanh toán là t + 3

Sự tăng lên về quy mô trong những năm gần đây và vai trò quan trọng của thịtrường repo, trong lịch sử của thị trường mỹ cũng đã chứng kiến sự sụt đổ của mộtvài nhà kinh doanh chứng khoán như lombard-wall inc vào tháng 8/1982 và sự thấtbại của drysdale government securities vào tháng 5/1982, của e.s.m governmentsecurities , của bevill, bresler, schulman asset management corp vào năm 1985 nêncác nhà quản lý của cục dự trữ liên bang, các ngân hàng dự trữ, các hiệp hội kinhdoanh đã phải đi tới thống nhất về hợp đồng văn bản pháp lý chuẩn, công tác kế toán,thuế cho các giao dịch repo

Theo đó cơ sở pháp lý cho hợp đồng repo được quy định chặt chẽ và tiêu chuẩnhoá, các công ty bảo hiểm bao gồm cả tổ chức bảo hiểm tiền gửi của mỹ đều phảichịu sự điều chỉnh của luật liên bang và luật riêng của mỗi bang hiệp hội bảo hiểm

đã ban hành “ model act”, luật này cho phép các công ty bảo hiểm tham gia vào thịtrường repo chứng khoán các quỹ hỗ tương thì bị điều chỉnh bởi luật bảo vệ các nhàđầu tư vào năm 1940, khi tham gia vào thị trường repo họ phải tuân thủ các điều kiệnbao gồm cả việc cho vay các chứng khoán trong giới hạn cho phép, tỉ lệ tài sản đảmbảo khi thực hiện repo, và cả công bố thông tin rõ ràng các tổ chức tài chính như cácngân hàng sẽ chịu sự giám sát và điều hành bởi hội đồng thống đốc của cục dự trữliên bang các nhà môi giới và kinh doanh chứng khoán cũng chịu sự điều chỉnh củahai cơ quan là ủy ban chứng khoán và ngoại hội, cục dự trữ liên bang, trong đó điềukhoản 15c3-3 của luật giao dịch chứng khoán yêu cầu các nhà môi giới- kinh doanhchứng khoán phải tiến hành thu hồi và duy trì quyền sở hữu đối với lượng tiền mặthay tài sản đảm bảo vượt quá trên tài sản của khách hàng trường hợp có các vấn đềphát sinh thì sẽ giải quyết theo luật định như luật phá sản, luật doanh nghiệp, các điềuluật có liên quan khác và theo phán quyết của toà án kinh tế như vậy cơ sở pháp lýcho các giao dịch repo ở thị trường mỹ là hoàn toàn chặt chẽ, đảm bảo cho các bêntham gia thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời giúp cho các giao dịchđược thực hiện dễ dàng hơn pháp luật mỹ cũng quy định cách tính thuế đối với lợinhuận từ các giao dịch cho vay và repo chứng khoán theo luật về thu nhập trongnước tuy nhiên sẽ không đánh thuế thu nhập trong trường hợp các giao dịch đượcthực hiện theo một hợp đồng bằng văn bản được tiêu chuẩn hoá

Trang 37

Các giao dịch repo và cho vay chứng khoán cũng được hạch toán chặt chẽ theo cácquy tắc và quy chế điều chỉnh về kế toán các quy định về công tác kế toán giao dịchđược quy định ở báo cáo số 125 của ban tiêu chuẩn kế toán tài chính(fasb) và báo cáo

số 128 của ban tiêu chuẩn kế toán chính phủ (gasb) hai bản báo cáo này quy địnhchặt chẽ đối tượng tham gia vào trong các giao dịch, báo cáo 125 quy định tiêu chuẩn

về báo cáo tài chính và kế toán cho bên cho vay và bên đi vay, báo cáo số 128 quyđịnh tiêu chuẩn báo cáo tài chính và kế toán đối với các tổ chức của chính phủ thamgia vào các giao dịch repo và cho vay với các nhà kinh doanh, môi giới chứng khoán

- Thị trường repo ở anh quốc:

Các giao dịch repo đầu tiên ở thị trường anh cũng giống như ở thị trường mỹ, bắtđầu bằng việc chiết khấu các hoá đơn thanh toán của các ngân hàng vào năm 1986,hoạt động repo các trái phiếu kho bạc và trái phiếu chính phủ đức đã tăng lên đáng

kể tuy nhiên các giao dịch repo trái phiếu chính phủ anh lại chỉ giới hạn vào các hoạtđộng của ngân hàng trung ương anh thị trường repo đã thực sự mở rộng tới tất cả cácchủ thể tham gia vào thị trường tài chính cho tới năm 1996 quy mô thị trường repoanh vào năm 1998 là 134593 triệu đô la tức là vào khoảng 70 tỷ bảng anh, và vàonăm 2001 là 22 nghìn tỷ yên ( theo số liệu của các nhà nghiên cứu nhật bản)

Thị trường anh có 3 hệ thống giao dịch cho các giao dịch repo và cho vay chứngkhoán là cgo, cmo, crest, các hệ thống này chấp nhận giao dịch ở bất kì thời gian nàotrong ngày hệ thống thanh toán cho các giao dịch là dvp hệ thống giao dịch cgo chỉchấp nhận repo và cho vay đối với các trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp,thời gian thanh toán là t + 1 hệ thống giao dịch crest chấp nhận cho vay và repo cáctrái phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu với thời gian thanh toán là t + 5 còn hệ thốnggiao dịch cmo chấp nhận các giao dịch repo và cho vay đối với các chứng khoán khácvới thời gian thanh toán là t + 0

Các hợp đồng giao dịch repo được tiêu chuẩn và hiện tại sử dụng là hợp đồngpsa/isma với các phụ lục liên quan các phụ lục này bao trùm được các đặc tính củatrái phiếu, bao gồm cả cả đặc tính giao theo giá trị trong hệ thống thanh toán cgo phụlục i chỉ rõ các thuật ngữ, phụ lục ii chỉ rõ các thông lệ giao dịch trên thị trường repotrái phiếu/cổ phiếu, phụ lục iii chỉ rõ các thời điểm quan trọng trong ngày giao dichrepo, phụ lục iv nêu ví dụ các cách tính toán trong giao dịch reô các hợp đồng pháp

lý chuẩn này đều quy định chặt chẽ về chuyển giao quyền sở hữu, quy định về địnhgiá lại các chứng khoán theo thị trường, quy định tỷ lệ tài sản đảm bảo phù hợp, quyđịnh nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên có liên quan trong trường hợp mất khảnăng thanh toán tại thị trường anh hoạt động repo và cho vay chứng khoán chỉ đượcthực hiện khi các công ty được cấp phép các giao dịch repo được điều chỉnh theo bộ

Trang 38

quy tắc london và liệt vào ngành kinh doanh bán sỉ các giao dịch repo được thựchiện qua sở giao dịch chứng khoán london, do đó các bên tham gia thị trường bị giámsát bởi các tổ chức dịch vụ tài chính và sở giao dịch london ủy ban repo và cho vaychứng khoán anh với chủ tịch là ngân hàng trung ương đã đưa ra những quy tắc đốivới hoạt động repo trái phiếu và cổ phiếu, thúc đẩy việc sử dụng các hợp đồng pháp

lý và các phụ lục chuẩn văn bản hướng dẫn về vốn dự trữ của eu cũng đưa ra quyđịnh nhằm đảm bảo cho các ngân hàng và các công ty chứng khoán phải có đủ lượngvốn dự trữ để ngăn ngừa rủi ro tín dụng ngoài ra luật pháp của anh cũng miễn giảmmột số loại thuế đối với giao dịch cho vay và repo chứng khoán nếu như cục thuế củaanh chấp nhận chủ sở hữu cổ phiếu quốc tế thì được miễn thuế thu nhập nhằm tạođộng lực cho các nhà buôn thực hiện vay ngoài nước công tác kế toán cũng thay đổitheo các giao dịch repo trái phiếu, các khoản lãi trái phiếu có thể được trả toàn bộ vàomột ngày nhất định các chứng khoán sử dụng trong hợp đồng cho vay hoặc repođược thực hiện trên bảng cân đối của bên vay chứ không phải bên đi vay tiền mặt đivay hoặc tiền dùng làm tài sản đảm bảo cũng được phản ánh trên bảng cân đối, tuynhiên chứng khoán làm tài sản đảm bảo trong các giao dịch cho vay chứng khoán thìkhông

- Thị trường repo tại nhật bản:

Các giao dịch repo chứng khoán ở nhật bản được gọi là các giao dịch gensaki, cácgiao dịch bán ngắn hạn trái phiếu được thực hiện vào năm 1989, khi đó hình thứcgiao dịch gensaki chỉ được chấp nhận như một hình thức vay đồng yên nhật các giaodịch này mới thực sự phát triển vào những năm gần đây, vào tháng 4/1996 thị trườngrepo được hình thành nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư kiếm lời từ khoản tiềnthặng dư nhàn rỗi và các nhà buôn trái phiếu có thể thực hiện việc cơ cấu lại danhmục đầu tư và thực hiện hoán đổi kì hạn dài thành ngắn cho tới tháng 12/1996 quy

mô của thị trường repo là 8 nghìn tỉ yên chiếm khoảng 6% tổng giá trị thị trường tiền

tệ, năm 1999 là 101042 triệu đô la ( theo báo cáo về thị trường cho vay chứng khoánthế giới – iosco – cpss), đến năm 2001 quy mô của thị trường là 42 nghìn tỉ yên, tỉ lệcác khoản giao dịch repo là 110 tỉ yên trên 1 nghìn tỷ yên giá trị trái phiếu chính phủphát hành ra, như vậy quy mô của thị trường repo nhật bản vẫn còn tiếp tục được mởrộng hơn nữa trong tương lai

Thị trường repo ở nhật bản cũng có 3 hệ thống giao dịch, hệ thống thanh toán chogiao dịch là dvp hệ thống giao dịch boj-net jgb services chấp nhận giao dịch các tráiphiếu chính phủ, hoạt động vào bất kì thời gian nào ngoại trừ thời gian đăng kí thanhtoán được thực hiện vào lúc 15 giờ thời gian thanh toán là t+3 hệ thống giao dịchjasdec chấp nhận giao dịch các loại cổ phiếu hoạt động vào bất kì lúc nào ngoại trừ

Trang 39

thời gian đăng ký thanh toán vào khoảng 9 giờ thời gian thanh toán là t + 3 hệ thốnggiao dịch jbnet chấp nhận giao dịch các trái phiếu doanh nghiệp, thời gian hoạt độngcho tới 15 h hàng ngày, thời gian thanh toán là t + 5.

Cơ sở pháp lý cho các hợp đồng repo và cho vay chứng khoán cũng được quy định

rõ ràng luật chứng khoán và ngoại hối, các quy định của hiệp hội các nhà kinh doanhchứng khoán nhật bản (jsda) đều điều chỉnh các giao dịch chênh lệch giá, qui định đốivới các tài sản đảm bảo, các loại tài sản sử dụng cho giao dịch repo, quy định về biên

độ giao động đối với các chứng khoán cơ sở tuy nhiên các quy định của jsda chỉ hiệulực đối với các thành viên của hiệp hội, còn những chủ thể khác đều nằm ngoài quyđịnh của luật này vì vậy quy định của hiệp hội các ngân hàng được ra đời năm 1997quy định đầy đủ hơn và biên độ dao động giá các chứng khoán được lập thành mộtđiều khoản đối với các giao dịch trái phiếu thị trường nhật bản đều có các văn bảnpháp lý chuẩn đối với các giao dịch cho vay và repo trái phiếu, cổ phiếu do jsda banhành, các văn bản này đều kèm theo phụ lục quy định chi tiết cách thức tính toán biên

độ dao động và tiêu chuẩn hoá theo thị trường điều luật close – out netting bắt đầu cóhiệu lực vào tháng 12/1998, làm giảm bớt sự không hiệu quả đối với các luật quyđịnh cho các giao dịch cho vay thế chấp bằng tiền mặt quy định về thuế đối với cácchứng khoán cũng vậy, các giao dịch chứng khoán tính thuế cho người bán chứnkhoán tuy nhiên mức phí vay mượn và lãi suất phải trả trong các khoản vay chứng,lợi nhuận chênh lệch giữa giá mua và giá bán trong các giao dịch repo đều liên quanđến thuế thu nhập chứ không liên quan đến thuế giao dịch chứng khoán các quy định

về thuế giao dịch chứng khoán bị huỷ bỏ vào tháng 5/1999, chính điều này đã thúcđẩy các chủ thể tăng cường các giao dịch repo trái phiếu nhiều hơn vì trước kia việcgiao dịch các trái phiếu kho bạc và trái phiếu tài trợ vốn với ngân hàng nhật bản đượctính thuế theo thuế giao dịch chứng khoán

Các quy định về kế toán trong các giao dịch cũng được quy định chuẩn, trong cácgiao dịch cho vay chứng khoán, quyền sở hữu hợp pháp các chứng khoán cơ sở đượcchuyển tới người đi vay các chứng khoán vay được ghi trong bảng cân đối kế toấncủa cả người cho vay và người đi vay còn đối với các giao dịch repo chứng khoán thìđược quy định như là một giao dịch tài trợ vốn hay giao dịch mua bán bình thườngnên thường phụ thuộc vào các chuẩn mực kế toán mà doanh nghiệp đang sử dụng.đối với các tổ chức như là các ngân hàng thì các giao dịch repo được ghi nhận là cácgiao dịch mua bán ngắn hạn trong đó lợi nhuận hay mức lỗ trong các danh mục đầu

tư đều được xác nhận đầy đủ

Trên đây là kinh nghiệm sử dụng các hợp đồng repo ở một số thị trường phát triểntrên thế giới các giao dịch cho vay và repo chứng khoán đã thực sự phát triển và trở

Trang 40

thành một phần quan trọng của thị trường chứng khoán ở các nước này hoàn toàn cóthể thấy được cơ sở pháp lý chắc chắn cho các hợp đồng, luật điều chỉnh các chủ thểtham gia vào thị trường, các hệ thống giao dịch riêng biệt đối với từng loại trái phiếu,

cổ phiếu, cơ sở pháp lý cho việc tính thuế thu nhập từ các giao dịch repo, các quy tắcchuẩn mực kế toán giao dịch cho vay và repo chứng khoán điều này rất hữu ích choviệc xem xét, nghiên cứu, áp dụng và phát triển đối với thị trường ở việt nam

1.2.4.3.3.Bài học kinh nghiệm cho thị trường việt nam :

Theo kinh nghiệm của các thị trường lớn trên thế giới thì cần phải tạo một số điềukiện tiền đề cho việc phát triển các giao dịch kì hạn trái phiếu ở thị trường việt nam.bao gồm các vấn đề sau

- Nhu cầu tài trợ vốn bằng các giao dịch repo: có thể kích cầu bằng cách cho phép

hoạt động bán khống hoặc phát triển thị trường trái phiếu để tạo điều kiện phát triểnhoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu

- Hệ thống trung gian hiệu quả: hầu hết ở thị trường các nước đều có một hệ thống

thanh toán, hệ thống trung gian như các tổ chức lưu ký, tổ chức thanh toán, cácchuyên gia, tổ chức môi giới trong đó có một đội ngũ nhân lực có trình độ chuyênmôn cao, chuyên nghiệp và có dạo đức nghề nghiệp hình thức đầu tư và giao dịchtheo kiểu ủy thác rất phát triển trên các thị trường nước ngoài, do đó thúc đẩy sự pháttriển của các trung gian các trung gian này được giao nhiều quyền hơn do đó họ phảinắm vững được các thông lệ cũng như quy tắc và nguyên tắc giao dịch trên thế giới

- Xây dựng cơ sở pháp lý chuẩn cho các giao dịch: nội dung các văn bản ở các nước

đều được xây dựng dựa trên các luật cơ bản như luật chứng khoán và ngoại hối, luậtdoanh nghiệp, luật phá sản, luật bảo vệ các nhà đầu tư… và các quy định của các hiệphội trên thị trường chứng khoán hợp đồng cần phải được chuẩn hoá bằng một vănbản có tính pháp lý, trong đó quy định các quyền hạn và nghĩa vụ của mỗi bên, cácđiều luật điều chỉnh hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng bao gồm cả thời hạn hạn đồng,thời gian có hiệu lực và hết hiệu lực, các diều khoản liên quan đến việc giải quyết, xử

lý trong trường hợp phá sản, mất khả năng thanh toán

- Thuế và kế toán: các nước đều có các quy tắc chuẩn mực về kế toán cho từng giao

dịch cho vay và repo chứng khoán, bao gồm cả việc hạch toán kế toán các khoản vay

và cho vay, lợi nhuận, các khoản lãi phát sinh bao gồm phí vay, lãi suất hoàn trả, cổtức và các khoản thu nhập khác trên cơ sở chuẩn mức kế toán giao dịch sẽ tính toánđược thuế thu nhập trong các giao dịch các trái phiếu trong các giao dịch repo có nênđược liệt kê vào trong bảng cân đối của bên cho vay hay bên đi vay , đây là một trongnhững việc cần phải xem xét

Ngày đăng: 01/04/2013, 11:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3 : Quy mô của các khoản vay và thị trường repo chứng khoán chính phủ (đv: triệu  đôla) - Phát triển hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng công thương Việt Nam
Bảng 1.3 Quy mô của các khoản vay và thị trường repo chứng khoán chính phủ (đv: triệu đôla) (Trang 37)
Bảng 2.8 : So sánh hoạt động repo trái phiếu với các hoạt động khác trong năm 2005 - Phát triển hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng công thương Việt Nam
Bảng 2.8 So sánh hoạt động repo trái phiếu với các hoạt động khác trong năm 2005 (Trang 72)
Bảng 2.9 So sánh hoạt động repo trái phiếu với công ty chứng khoán ngân hàng nông  nghiệp và phát triển nông thôn năm 2005 ( đơn vị : tỷ đồng) - Phát triển hoạt động giao dịch kì hạn trái phiếu của công ty chứng khoán ngân hàng công thương Việt Nam
Bảng 2.9 So sánh hoạt động repo trái phiếu với công ty chứng khoán ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2005 ( đơn vị : tỷ đồng) (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w