1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn thị trường cổ phiếu của các DNV&N ở Việt Nam.

105 577 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Cơ Sở Lý Luận Và Thực Tiễn Thị Trường Cổ Phiếu Của Các DNV&N Ở Việt Nam
Tác giả Trần Thị Bích Ngọc
Người hướng dẫn ThS. Lê Trung Thành
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 685 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn thị trường cổ phiếu của các DNV&N ở Việt Nam.

Trang 1

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2 CNH-HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

5 DNV&N Doanh nghiệp vừa và nhỏ

7 TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán

9 Tp HCM Thành phố Hồ Chí Minh

10 UBCKNN Uỷ ban chứng khoán nhà nước

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu.

Thị trường chứng khoán Việt Nam sau hơn 5 năm triển khai và đi vào hoạtđộng, những kết quả đạt được bước đầu là không thể phủ nhận, tuy nhiên hoạtđộng của thị trường cũng còn nhiều tồn tại và bất cập Thực tế hiện nay, TTGDCKTp.Hồ Chí Minh đã bước đầu ổn định, mở ra một kênh huy động vốn trung và dàihạn cho các doanh nghiệp nói riêng và cho nền kinh tế nói chung Tuy nhiên, thịtrường này mới chỉ đáp ứng cho các doanh nghiệp có vốn lớn trên 10 tỷ đồng, và

có khả năng đáp ứng những yêu cầu khắt khe để được niêm yết trên Trung tâm,như vậy quy mô của thị trường còn rất nhỏ bé Trong khi hiện nay các DNV&N ởnước ta chiếm tỷ trọng tương đối lớn, khoảng 88% tổng số doanh nghiệp hiện có,đóng góp khoảng 45% GDP cho nền kinh tế Nhưng thực tế các doanh nghiệp nàyđang gặp khó khăn rất lớn về vốn để đầu tư mở rộng và tiếp tục sản xuất

TTGDCK Hà Nội cũng đã chính thức đi vào hoạt động, tạo điều kiện chocác doanh nghiệp DNV&N được tham gia vào thị trường chứng khoán để có thểtiếp cận được nguồn vốn trung và dài hạn Song quy mô thị trường còn rất nhỏ,hàng hoá ít, chưa thu hút được nhiều các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNV&Ntham gia thị trường mặc dù các quy định niêm yết đã được nới lỏng hơn rất nhiều

so với trên TTGDCK Tp.HCM Trong khi đó, thị trường tự do lại hoạt động khásôi động, có quy mô khá lớn song lại tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro và về lâu dài khóđảm bảo được tính bền vững Việc tổ chức và phát triển thị trường chứng khoáncho DNV&N là đòi hỏi bức xúc cả về lý luận và thực tiễn Vì vậy, em đã chọn

“Phát triển thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam”làm đề tài nghiên cứu

Trang 3

2 Mục tiêu nghiên cứu.

- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về việc phát triển TTCK của cácDNV&N

- Đánh giá thực trạng của TTCK của các DNV&N ở Việt Nam

- Đề xuất hệ thống các giải pháp phát triển TTCK của các DNV&N

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thựctiễn thị trường cổ phiếu của các DNV&N ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu phát triển thị trường cổphiếu của các DNV&N trên TTGDCK Hà Nội

4 Phương pháp nghiên cứu.

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử làm căn bản Đồng thời kết hợp với các phương pháp cụ thể như phân tích, đánhgiá…

5 Kết cấu của đề tài.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về TTCK của các DNV&N.

Chương 2: Thực trạng TTCK của các DNV&N ở Việt Nam hiện nay.

Chương 3: Giải pháp phát triển TTCK của các DNV&N ở Việt Nam.

Trang 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1 Tổng quan về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

1.1.1 Khái quát sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán

TTCK được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại.Với tư cách là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, TTCK được hiểumột cách chung nhất là nơi diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán-các hànghoá và dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia, theo những quy tắc ấn địnhtrước

TTCK ra đời xuất phát từ nhu cầu phát triển tất yếu của nền kinh tế Một nềnkinh tế muốn phát triển, tăng trưởng nhanh và bền vững trước hết phải đáp ứng đủnhu cầu về vốn đầu tư Tới một lúc nào đó, nhu cầu vốn này vượt quá khả năngđáp ứng của các kênh huy động truyền thống Mà trên thực tế, đang tồn tại mộtlượng vốn rất lớn trong cộng đồng dân cư chưa tham gia vào hoạt động sản xuấtkinh doanh, gây mất cân đối trong nền kinh tế, đó là những người có cơ hội đầu tưsinh lời thì thiếu vốn, trái lại những người có vốn nhàn rỗi thì lại không có cơ hộiđầu tư, dẫn đến vốn bị ứ đọng, gây lãng phí Xuất phát từ nghịch lý này, TTCK đã

ra đời đóng vai trò là kênh dẫn vốn quan trọng, góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ,tập trung, phân phối vốn một cách hiệu quả trong nền kinh tế

Hình thức sơ khai của TTCK đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm vàokhoảng thế kỷ 15, ở các thành phố trung tâm thương mại của các nước phươngTây Cho đến nay, quá trình phát triển của nó đã trải qua nhiều bước thăng trầm.Lịch sử đã đánh dấu hai đợt khủng hoảng lớn, đó là khi các TTCK lớn ở Mĩ, Tây

Âu, Nhật Bản bị sụp đổ chỉ trong vài giờ vào “ ngày thứ 5 đen tối”, 29/10/1929 và

“ngày thứ 2 đen tối”, 19/10/1987 Song, cùng với yêu cầu phát triển của nền kinh

Trang 5

tế, thị trường đã được phục hồi, tiếp tục phát triển và trở thành một thể chế tàichính không thể thiếu của kinh tế thị trường.

1.1.2 Khái niệm và vai trò của thị trường chứng khoán.

1.1.2.1 Khái niệm thị trường chứng khoán.

TTCK được hiểu một cách chung nhất là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán Nghĩa là ở đâu có giao dịch mua bán chứng khoán thì

đó là hoạt động của TTCK

Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cókhả năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư, cho phép chủ sở hữu có quyềnyêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành Các quyền yêu cầu này có sựkhác nhau giữa các loại chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu của chúng Cónhiều cách để phân loại chứng khoán dựa theo các tiêu thức khác nhau Nếu dựatheo tính chất của chứng khoán thì hàng hoá trên thị trường bao gồm hai loại chủyếu là chứng khoán vốn và chứng khoán nợ

Với chứng khoán vốn, mà đại diện là cổ phiếu, nó xác nhận sự góp vốn vàquyền sở hữu phần vốn góp đó của cổ đông đối với tài sản của công ty cổ phần Cổđông có thể tiến hành mua bán, chuyển nhượng các cổ phiếu trên thị trường thứcấp theo quy định của pháp luật Ngoài ra, cổ đông còn có quyền tham gia quản lýcông ty thông qua quyền tham gia và bỏ phiếu tại Đại hội cổ đông, quyền muatrước đối với cổ phiếu phát hành mới

Với chứng khoán nợ, điển hình là trái phiếu, là loại chứng khoán quy địnhnghĩa vụ của tổ chức phát hành phải trả cho chủ sở hữu chứng khoán toàn bộ giá trịcam kết bao gồm cả gốc và lãi sau một thời hạn nhất định

Với các đặc tính trên, chứng khoán được xem là các tài sản tài chính mà giátrị của nó phụ thuộc vào giá trị kinh tế cơ bản của các quyền của chủ sở hữu đốivới tổ chức phát hành

Trang 6

Đặc điểm cơ bản nhất của TTCK là thị trường tự do, tự do nhất trong cácloại thị trường Ở TTCK không có sự độc đoán, can thiệp cưỡng ép về giá Giámua bán hoàn toàn do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định.

Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơcấp hay ở thị trường thứ cấp, tại Sở giao dịch hay tại thị trường giao dịch qua quầy,

ở thị trường giao ngay hay ở thị trường kì hạn Các quan hệ mua bán trao đổi làmthay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, thực chất đây chính là quá trình vận độngcủa tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh

Quá trình vận động của tư bản được thực hiện xuất phát từ chức năng kinh tếnòng cốt của thị trường tài chính trong việc dẫn vốn từ những người tạm thời dưthừa vốn sang những người cần vốn Sự chuyển dịch vốn được thể hiện qua sơ đồH1.1

Người cho vay vốn

1 Hộ gia đình

2 Doanh nghiệp

3 Chính phủ

4 Nước ngoài

Các trung gian tài chính

- Ngân hàng thương mại

- Bảo hiểm, quỹ hưu trí

- Tổ chức nhận tiền gửi và cho vay

Tài trợ gián tiếp

Người đi vay vốn

Tài trợ trực tiếp

Sơ đồ 1: Các dòng vốn qua hệ thống tài chính

Trang 7

Qua sơ đồ trên ta thấy, sự chuyển dịch vốn được thực hiện qua hai conđường trực tiếp và gián tiếp Những người cần vốn có thể huy động trực tiếp từnhững người tạm dư thừa vốn bằng cách bán các chứng khoán cho họ Hoặc conđường thứ hai để dẫn vốn là thông qua các trung gian tài chính, đây là một bộ phận

đã chuyển tải một khối lượng đáng kể nguồn tiết kiệm đưa vào đầu tư và góp phầntích cực trong việc đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn

Như vậy, thị trường tài chính có vai trò hết sức quan trọng trong việc tích tụ,tập trung, phân phối vốn một cách hiệu quả trong nền kinh tế Được xem là đặctrưng cơ bản của thị trường vốn, TTCK là thị trường mà giá cả của chứng khoán(hàng hoá trên thị trường) chính là giá cả của vốn đầu tư, vì vậy, TTCK được coi làhình thức phát triển bậc cao của nền kinh tế thị trường

1.1.2.2 Vai trò của TTCK

Xu thế hội nhập và quốc tế hoá nền kinh tế đòi hỏi tự bản thân mỗi quốc giaphải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu quả cao Một thị trường tài chínhnăng động có khả năng làm tăng thêm sức mạnh cho nền kinh tế hơn bất cứ mộtloại tài nguyên nào, mà trong đó TTCK là một định chế tài chính rất quan trọng.Thực tế phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã khẳng định vai trò quantrọng của TTCK trong phát triển kinh tế:

Thứ nhất, TTCK cùng với sự vận hành của mình đã tạo ra các công cụ có

tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối, chuyển thời hạn củavốn phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế Yếu tố thông tin và yếu tố cạnhtranh trên thị trường sẽ đảm bảo cho việc phân phối vốn một cách có hiệu quả

Thứ hai, TTCK tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở hữu và quản lý

doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn doanh nghiệp Với cơchế thông tin hoàn hảo đã tạo khả năng giám sát chặt chẽ của TTCK đã làm giảmtác động của các tiêu cực trong quản lý, đảm bảo phân bổ lợi ích một cách hài hoà

Trang 8

giữa người sở hữu, nhà quản lý và người làm công ăn lương Đồng thời, TTCK đãtạo điều kiện thúc đẩy quá trình cổ phần hoá DNNN.

Thứ ba, TTCK góp phần thực hiện tái phân phối công bằng hơn, thông qua

việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra công chúng, từ đóphân tán quyền lực kinh tế trong tay một số tập đoàn, tránh hiện tượng độc quyền,song vẫn tập trung vốn cho phát triển kinh tế Việc giải toả tập trung quyền lựckinh tế cũng tạo điều kiện cạnh tranh công bằng hơn, qua đó tạo hiệu quả và tăngtrưởng kinh tế

Thứ tư, TTCK tạo cơ hội cho Chính phủ có thể huy động được các nguồn

tài chính để phục vụ cho các mục đích của mình mà không tạo áp lực về lạm phát,hơn nữa, hoạt động của TTCK còn giúp tăng thu ngân sách cho Nhà nước, đồngthời tạo các công cụ cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ

Thứ năm, việc mở cửa TTCK làm tăng tính lỏng và cạnh tranh trên thị

trường quốc tế hay nói khác đi muốn khẳng định đến tính hiệu quả của quốc tế hoáTTCK Điều này cho phép các công ty có thể huy động được một lượng vốn đầu tưlớn ở thị trường ngoài nước, bên cạnh đó mở rộng các cơ hội kinh doanh cho cáccông ty trong nước, cho phép các công ty có thể huy động nguồn vốn được rẻ hơn

Thứ sáu, TTCK cung cấp một dự báo tuyệt vời về các chu kỳ kinh doanh

trong tương lai Việc giá chứng khoán lên xuống có xu hướng đi trước chu kỳ kinhdoanh đã đưa ra một dự báo giúp cho Chính phủ và các công ty có kế hoạch phân

bổ các nguồn lực của họ Như vậy, TTCK cũng tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinhtế

Ngoài những tác động tích cực trên, hoạt động của TTCK cũng có những tácđộng tiêu cực nhất định Ta biết rằng, thị trường hoạt động dựa trên cơ sở thông tinhoàn hảo, tuy nhiên ở hầu hết các thị trường không phải nhà đầu tư nào cũng cókhả năng tiếp cận thông tin đầy đủ và như nhau, vì vậy việc đưa ra các quyết địnhđầu tư không hoàn toàn dựa trên việc xử lý thông tin, dẫn tới việc giá cả chứngkhoán không phản ánh chính xác giá trị công ty và chưa phân bổ một cách hiệu quảcác nguồn lực Ngoài ra, còn có một số hiện tượng tiêu cực khác trên TTCK như

Trang 9

hiện tượng đầu cơ, mua bán nội gián, xung đột quyền lực…gây tâm lý e ngại chocác nhà đầu tư Thực tế này đặt lên vai các nhà quản lý thị trường phải có nhữngbiện pháp hiệu quả để giảm thiểu đến mức tối đa các tiêu cực trên thị trường nhằmđảm bảo cho tính hiệu quả của thị trường, đồng thời bảo vệ quyền lợi cho các nhàđầu tư.

Như vậy ta thấy vai trò của TTCK đã được thể hiện dưới nhiều góc độ khácnhau Vai trò này có thực sự được phát huy hay không nó phụ thuộc vào sự quản lýcủa Nhà nước và các chủ thể tham gia thị trường

1.1.3 Các chủ thể tham gia TTCK

TTCK là một thực thể phức tạp mà hoạt động của thị trường có nhiều loạichủ thể khác nhau tham gia Các chủ thể này hoặc là bán chứng khoán, hoặc làmua chứng khoán, hoặc chỉ là trung gian môi giới cho hai bên mua bán để hưởnghoa hồng Bên cạnh đó còn có các chủ thể quản lý là Nhà nước và các tổ chức phụtrợ

1.1.3.1 Chủ thể quản lý

Chủ thể quản lý có nghĩa vụ bảo đảm cho TTCK hoạt động theo đúng cácquy định của pháp luật, nhằm bảo đảm cho việc mua bán chứng khoán trên thịtrường diễn ra một cách công khai, công bằng, tránh những yếu tố tiêu cực có thểxảy ra, từ đó bảo vệ lợi ích của người đầu tư

Hiện nay hầu hết các nước có TTCK đều có cơ quan quản lý và giám sát vềchứng khoán và TTCK Với những tên gọi khác nhau (tuỳ theo mỗi nước) nhưngthường là UBCK Quốc gia, bên cạnh đó còn có Hiệp hội kinh doanh chứng khoán,các Sở giao dịch chứng khoán Ở mỗi quốc gia, với những đặc trưng riêng có mà

có những hình thức quản lý khác nhau và thiết lập nên những cơ quan quản lý khácnhau

Ở Việt Nam hiện nay, UBCKNN đang trực thuộc Bộ Tài chính là cơ quanquản lý cao nhất về chứng khoán và TTCK Theo đó, UBCKNN sẽ nghiên cứuvạch kế hoạch, dự thảo các văn bản pháp luật và các thể lệ chế độ về tổ chức và

Trang 10

hoạt động TTCK để trình cấp có thẩm quyền quyết định ban hành Đồng thời quản

lý, giám sát hoạt động của TTCK, đưa ra các giải pháp hữu hiệu để đảm bảo thịtrường hoạt động tốt Ngoài UBCKNN, các cơ quan quản lý khác như Ngân hàngNhà nước, các Bộ, đặc biệt là Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán cũng cóvai trò rất lớn trong hoạt động quản lý các thành viên tham gia thị trường, và bảo

vệ lợi ích cho các thành viên

1.1.3.2 Chủ thể kinh doanh ( Trung gian tài chính )

Các trung gian tài chính là một chủ thể quan trọng của TTCK, TTCK hoạtđộng hiệu quả một phần là nhờ sự thủ vai tốt của các trung gian này Với tư cách lànhà kinh doanh chứng khoán, họ thực hiện việc mua bán chứng khoán cho chínhbản thân mình nhằm mục tiêu lợi nhuận Bên cạnh đó, họ còn đóng vai trò là thànhviên hỗ trợ cho hoạt động của thị trường thông qua các nghiệp vụ đại lý bão lãnhphát hành, tư vấn và môi giới chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư Trên thực tế,các công ty chứng khoán tham gia với vai trò là nhà môi giới kinh doanh chứngkhoán thường làm cả hai nghiệp vụ là môi giới để hưởng hoa hồng và tự doanh đểtìm chêch lệch giá Sự tham gia của các công ty chứng khoán này đã góp phần làmcho hoạt động của thị trường diễn ra liên tục, thúc đẩy sự phát triển của thị trường

1.1.3.3 Các nhà đầu tư

Chủ thể đầu tư là những người có tiền nhàn rỗi, sử dụng tiền đầu tư vàoTTCK bằng cách thực sự mua các chứng khoán đang được phát hành nhằm hưởnglãi và lợi nhuận Chủ thể đầu tư trên thị trường có thể là tổ chức đầu tư hoặc cácnhà đầu tư cá nhân

Nhà đầu tư cá nhân chính là công chúng, một loại chủ thể có khả năng cungcấp một khối lượng tiền tệ rất lớn Công chúng khi có vốn tạm thời nhàn rỗi, họtham gia mua chứng khoán với mục đích đầu tư kiếm lời Khi có nhu cầu vốn họđem bán lại các chứng khoán đã mua trên thị trường thứ cấp Họ tham gia thịtrường bằng nhiều cách khác nhau có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua cácnhà đầu tư có tổ chức, các trung gian tài chính

Trang 11

Nhà đầu tư có tổ chức, có thể là các NHTM, công ty bảo hiểm, các quỹ hưutrí, quỹ tương hỗ, công ty quản lý quỹ…họ thường xuyên mua bán chứng khoánvới số lượng lớn trên thị trường để tìm kiếm lợi nhuận Các tổ chức đầu tư thườngđầu tư theo danh mục và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia

có trình độ và kinh nghiệm cao, mang tính chuyên nghiệp Vai trò của các tổ chứcđầu tư này ở các nước có TTCK phát triển ngày càng to lớn

1.1.3.4 Tổ chức phát hành chứng khoán.

Là những người huy động vốn bằng cách phát hành và bán các chứng khoántrên thị trường sơ cấp Các chủ thể phát hành bao gồm: Chính phủ, các tổ chức tàichính trung gian khác, và các doanh nghiệp Trong số đó chủ yếu là Chính phủ vàcác doanh nghiệp

Các chủ thể phát hành tham gia huy động vốn bằng nhiều phương thức khácnhau nhằm phục vụ cho các mục đích khác nhau Chính phủ phát hành các chứngkhoán như: Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếu Kho bạc nhằm bù đắp thâm hụt ngânsách, xây dựng cơ sở hạ tầng, cầu cống, đường xá… Các doanh nghiệp phát hành

cổ phiếu, trái phiếu công ty nhằm đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất kinhdoanh…Các doanh nghiệp tham gia thị trường với tư cách là người tạo ra hàng hoá

ở thị trường sơ cấp, và mua bán lại các chứng khoán ở thị trường thứ cấp

1.1.3.5 Các tổ chức phụ trợ

Sự tham gia của các tổ chức phụ trợ giúp cho hoạt động của thị trường diễn

ra trôi chảy, đó là Trung tâm Lưu ký, thanh toán và bù trừ chứng khoán, các công

Trang 12

1.1.4 Phân loại TTCK.

Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà người ta có thể phân loại TTCK theo cáctiêu thức khác nhau, có thể phân loại theo hàng hoá, phân loại theo cấu trúc tổ chứccủa thị trường hay phân loại theo quá trình luân chuyển vốn Trong bài nghiên cứunày, người viết sẽ phân loại theo cấu trúc tổ chức thị trường Theo đó, TTCK đượcphân thành 3 loại thị trường sau:

Sở giao dịch chứng khoán: Tại đây, người mua và người bán (hoặc môi

giới của họ) gặp nhau tại một địa điểm nhất định để tiến hành giao dịch, mua bánchứng khoán Vì vậy người ta còn gọi Sở giao dịch là thị trường tập trung – là nơitập trung các giao dịch chứng khoán một cách có tổ chức tuân theo những luật lệnhất định, là nơi tiến hành giao dịch chứng khoán của những công ty lớn, làm ăn

có hiệu quả Như vậy, Sở giao dịch chứng khoán không tham gia vào việc mua bán

chứng khoán mà chỉ là nơi giao dịch, một trung tâm tạo điều kiện cho các giao

dịch được tiến hành một cách thuận lợi, dễ dàng Đồng thời, Sở giao dịch cũng là

cơ quan thực hiện chức năng quản lý, điều hành các hoạt động diễn ra trên thịtrường tập trung nhằm tạo điều kiện để các giao dịch được thực hiện công bằng,minh bạch và đúng pháp luật Sở giao dịch chứng khoán được quản lý một cáchchặt chẽ bởi UBCKNN

Thị trường phi tập trung (Thị trường OTC): Tại hầu hết các nước, bên

cạnh thị trường giao dịch tập trung, nơi diễn ra các hoạt động giao dịch chứngkhoán của những công ty lớn, còn có thị trường phi tập trung (OTC) chủ yếu dànhcho việc giao dịch chứng khoán của những DNV&N chưa hội đủ các điều kiệnniêm yết trên thị trường giao dịch tập trung Thị trường OTC đại diện cho một thịtrường thương lượng, nơi mà người bán và người mua trực tiếp thương lượng vớinhau về những điều kiện chủ yếu của giao dịch như số lượng, giá… Có thể nóirằng, OTC là thị trường của những nhà tạo lập thị trường - những nhà đầu tưchuyên nghiệp Các nhà tạo lập thị trường nắm trong tay một lượng chứng khoán

đủ lớn và họ sẵn sàng mua bán chứng khoán với nhau cũng như với các nhà đầu tư

Trang 13

khi họ chấp nhận được giá cả của họ Tương tự như hệ thống thị trường tập trung,thị trường OTC thường được tổ chức theo 2 cấp: cấp quản lý Nhà nước và cấp tựquản.

Như vậy, trong TTCK để huy động vốn cho các doanh nghiệp, Sở giao dịch

là nơi giao dịch chứng khoán của những doanh nghiệp lớn, những doanh nghiệpnày có khả năng đáp ứng được những quy định niêm yết ngặt nghèo về vốn, tìnhhình hoạt động kinh doanh…trên Sở, mà những DNV&N thường không đáp ứng

đủ Còn đại bộ phận cổ phiếu của các DNV&N được giao dịch trên thị trườngOTC, ở đó những tiêu chuẩn niêm yết thường thấp hơn trên Sở giao dịch Hay nóikhác đi, TTCK cho các DNV&N là một bộ phận chủ yếu của thị trường OTC Sở

dĩ người ta đưa ra các tiêu chuẩn niêm yết khác nhau trên các loại thị trường là vì:nếu chúng ta không phân ra và cứ để phát triển một TTCK chung cho tất cả cácdoanh nghiệp có quy mô khác nhau thì Nhà nước khó đề ra những chính sách côngbằng và quản lý tối ưu cho thị trường chung ấy Thực tế cho thấy, có doanh nghiệpvốn lớn hàng trăm tỷ đồng, nhưng cũng có những doanh nghiệp quy mô vài tỷđồng, quy mô của doanh nghiệp có thể quyết định đến khả năng hoạt động, lĩnhvực kinh doanh, cách thức tiếp cận vốn, các tiêu chí về rủi ro an toàn, niềm tin củanhà đầu tư…đối với hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, người ta thường có sựphân tách giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế để có những chính sách,chiến lược phù hợp điều chỉnh hoạt động của từng doanh nghiệp Hơn nữa khi raquyết định đầu tư, nhà đầu tư cũng thường quan tâm đến độ lớn vốn chủ của cácdoanh nghiệp niêm yết Vì vậy, cần có sự phân biệt giữa TTCK giao dịch chứngkhoán của những doanh nghiệp lớn và TTCK giao dịch chứng khoán của nhữngdoanh nghiệp nhỏ, điều này là rất cần thiết để có chiến lược phát triển cho từngloại thị trường một cách hiệu quả, đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý của Nhà nước,nguyện vọng của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư cũng như các chủ thể kháctham gia TTCK

Ngoài hai loại thị trường trên người ta còn nói tới một thị trường thứ ba, thịtrường dành cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn để giao dịch trên hai thị

Trang 14

trường trên Ngoài ra, người ta còn phân loại TTCK thành thị trường mở và thịtrường đàm phán, thị trường giao ngay và thị trường kỳ hạn Việc phân loại TTCK

sẽ giúp phân tích cụ thể hơn vai trò của TTCK

1.2 Một số vấn đề về doanh nghiệp vừa và nhỏ.

1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thuật ngữ “DNV&N” ở các nước phương Tây viết tắt là SME ( Small andmedium Enterprise) là một thuật ngữ có nhiều cách hiểu khác nhau Trong thực tế,việc xác định DNV&N của mỗi nước thường được cân nhắc đối với từng giai đoạnphát triển kinh tế, tính chất ngành nghề, và điều kiện phát triển của mỗi vùng lãnhthổ nhất định Tuy nhiên chúng đều có một điểm chung nhất là dùng để chỉ mộtloại hình doanh nghiệp được xếp loại theo những tiêu chí nhất định, thông thường

đó là các tiêu chí về số nhân công, vốn đăng ký, doanh thu… Các tiêu chí này thayđổi theo từng quốc gia, từng ngành Trong bản thân một nước, các tiêu chí xác địnhDNV&N cũng không cố định mà được thay đổi tuỳ theo trình độ phát triển củatừng thời kỳ nhất định Bảng 1.1 dưới đây đã tập hợp một số tiêu thức phân loạiDNV&N ở một số nước trên thế giới

Bảng 1: Tiêu thức xác định DNV&N của một số nước trên thế giới

Trang 15

Dịch vụ nhỏ < 20 Dịch vụ vừa 20 - 199

Không quan trọng

TM & DV 0 - 20

II Các nước đang phát triển

Sản xuất nhỏ Không quantrọng 0 - 50 tr Baht

Trang 16

Ở Việt Nam, ngày 20/6/1998 Chính phủ đã ban hành công văn số KTN về định hướng chiến lược và chính sách phát triển DNV&N; theo đóDNV&N trong ngành công nghiệp là các doanh nghiệp phải có số vốn điều lệ dưới

61/CP-5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 300 người Trong thương mại,dịch vụ là những doanh nghiệp có vốn sản xuất dưới 3 tỷ đồng và số lao động dưới

200 người Trong đó, doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng và số lao động dưới 50người trong công nghiệp và dưới 30 người trong thương mại, dịch vụ là doanhnghiệp nhỏ Tiêu chí này dựa trên hai căn cứ là tổng số vốn và số người lao động

Và tiếp sau đó, để đảm bảo thống nhất cách hiểu về DNV&N trên toàn quốc,ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đưa rađịnh nghĩa chính thức về DNV&N như sau: “ DNV&N là cơ sở sản xuất, kinhdoanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kýkhông quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300người”

Việc xác định DNV&N như trên là phù hợp với thực tế khách quan củanước ta trong giai đoạn hiện nay với nguồn vốn có hạn, lao động dồi dào, đáp ứngđược nhu cầu bức bách của xã hội là đảm bảo công ăn việc làm, nâng cao mứcsống của đại đa số nhân dân lao động Theo cách xác định này thì ở nước ta hiệnnay, số DNV&N chiếm khoảng 90% trong tổng số doanh nghiệp, là nơi tạo việclàm cho gần 90% lực lượng lao động và có một vai trò quan trọng trong sự pháttriển kinh tế Do đó, Nhà nước cần có những chính sách phù hợp để phát triển khốicác doanh nghiệp này

1.2.2 Vai trò của DNV&N

DNV&N ở Việt Nam nói riêng cũng như nhiều nước trên thế giới đóng mộtvai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Theo thống kê tại Việt Nam, trong tổng

số khoảng 200.000 doanh nghiệp thì khối các DNV&N chiếm khoảng 88%, vớinhững đặc điểm riêng có, khu vực DNV&N thể hiện qua một số vai trò chủ yếusau:

Trang 17

Một là, DNV&N có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự tăng

trưởng và phát triển kinh tế

Ở mỗi nước, tỷ lệ phát triển hợp lý giữa các doanh nghiệp lớn và DNV&N làtuỳ thuộc vào thực trạng kinh tế xã hội ở từng thời kỳ Thông thường các doanhnghiệp lớn hoạt động trong một số ngành nòng cốt với kỹ thuật hiện đại, vốn lớn.Còn các DNV&N hoạt động trong những ngành vốn ít, sử dụng nhiều lao độngnhư các ngành công nghiệp nhẹ hoặc các ngành giữ vai trò bổ trợ cho các doanhnghiệp lớn Hai khu vực doanh nghiệp này luôn có tác động tương hỗ nhằm pháthuy thế mạnh của nhau, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của cả nước

Ở Việt Nam, theo đánh giá của Viện nghiên cứu và quản lý Trung ương trongnhững năm qua khối DNV&N đã đóng góp khoảng 30% GDP của cả nước Ngoài

ra, các DNV&N của nước ta còn cung cấp 100% sản phẩm trong nhiều ngành, đặcbiệt là những ngành công nghiệp thủ công truyền thống như chiếu cói, giầy dép.Ngày nay, khối các DNV&N đang ngày càng lớn mạnh, với sự phát triển này chắcchắn nó đang và sẽ góp phần không nhỏ vào tăng trưởng và phát triển kinh tế

Hai là, góp phần làm năng động, linh hoạt, tăng tính cạnh tranh trong

nền kinh tế.

Các DNV&N hoạt động với quy mô vốn không lớn nên có ưu thế nổi bật là

có thể chuyển hướng kinh doanh nhanh từ những ngành nghề kém hiệu quả sangnhững ngành nghề hiệu quả hơn nhằm thoả mãn nhu cầu rất linh hoạt của dân cư

Do lợi thế là linh hoạt và sáng tạo trong kinh doanh cho nên các DNV&N gópphần làm cho nền kinh tế trở nên năng động hơn Hơn nữa, chiếm đa số trong tổng

số các doanh nghiệp trong cả nước tham gia vào nền kinh tế (với tư cách là nhữngchủ thể kinh doanh độc lập), nó sẽ tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ, giảm bớt khảnăng độc quyền của các doanh nghiệp lớn và giảm bớt mức độ rủi ro trong nềnkinh tế

Trang 18

Ba là, DNV&N có vai trò quan trọng đối với quá trình CNH-HĐH và

chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Quá trình phát triển DNV&N cũng là một quá trình cải tiến máy móc, thiết

bị, nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thịtrường, đến một mức độ nào đó nhất định sẽ dẫn đến đổi mới công nghệ, làm choquá trình CNH-HĐH đất nước không chỉ ở chiều sâu mà cả ở chiều rộng

Sự mềm mại, linh hoạt của DNN&V tạo ra một cơ cấu kinh tế có tính đổimới và thích ứng cao cho nền kinh tế đang trong quá trình đổi mới và phát triển

Cơ cấu ngành, thành phần, cơ cấu vùng lãnh thổ tạo điều kiện tận dụng và thu húttốt các nguồn lực cho đầu tư phát triển, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn

Bốn là, DNV&N góp phần giải quyết công ăn việc làm, từ đó làm giảm

tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động.

Theo số liệu điều tra của Tổng cục thống kê, hiện nay, ở nước ta hằng năm

có thêm khoảng 1,2-1,4 triệu người đến tuổi lao động Việc tạo thêm việc làm đang

là một áp lực xã hội mạnh đối với Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương.Các DNV&N có đặc điểm chung là vốn ít, hoạt động chủ yếu trong các ngành sửdụng nhiều lao động, thu hút khoảng 50-75% lực lượng lao động trong các ngànhkinh tế đã tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc cho dân cư, tăng thu nhập chongười lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp

Ở Việt Nam theo báo cáo tổng kết đánh giá 4 năm thi hành Luật doanhnghiệp cho thấy, trong 4 năm qua ước tính đã có khoảng 1,8-2 triệu chỗ làm việcmới đã được tạo ra nhờ các doanh nghiệp, trong đó DNV&N đóng góp khoảng80% chỗ làm việc

Ngoài ra, phần lớn lao động trong các DNV&N đều xuất thân từ nôngnghiệp, nông thôn, chưa quen với lối sống và làm việc theo phương thức côngnghiệp Vì vậy, ngoài việc đào tạo nghề, không ít chủ doanh nghiệp còn phảihướng dẫn họ về nếp sống mới, về tính kỷ luật trong phương thức sản xuất công

Trang 19

nghiệp, qua đó góp phần xoá đói giảm nghèo, giảm khoảng cách về thu nhập giữacác tầng lớp dân cư và tăng mức độ công bằng trong nền kinh tế.

Năm là, gieo mầm cho các tài năng kinh doanh – là “lồng ấp” cho các

doanh nghiệp lớn.

Sự phát triển của các DNV&N đã có tác dụng đào tạo, chọn lọc các tài năngkinh doanh trẻ Với trí tuệ và kinh nghiệm, họ biết cách làm giàu cho bản thânmình và xã hội, kinh nghiệm quản lý của họ sẽ được nhân ra và truyền bá tới nhiều

cá nhân trong cả nước để học hỏi và noi theo

Ngoài ra, các DNV&N còn là nền tảng quan trọng để phát triển các doanhnghiệp lớn Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy, phần lớn các tập đoàn, các tổngcông ty lớn đều bắt nguồn từ DNV&N làm ăn hiệu quả, tiến hành mở rộng sảnxuất kinh doanh để phát triển thành các tập đoàn

Qua sự phân tích trên ta thấy, khối các DNV&N đóng một vai trò hết sứcquan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, những đóng góp của khốicác doanh nghiệp này không hề nhỏ Tuy nhiên hiện nay, các DNV&N đang hoạtđộng trong một môi trường kinh tế không hoàn toàn thuận lợi ở cả tầm vĩ mô và vi

mô, trong đó gặp rất nhiều khó khăn về công nghệ sản xuất, mô hình quản lý, kỹnăng của đội ngũ lãnh đạo, đặc biệt phải kể đến sự hạn chế về vốn đầu tư để tiếnhành đổi mới trang thiết bị, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Với số lượngngày càng gia tăng thì nhu cầu huy động vốn của khối các DNV&N cũng ngàycàng lớn, trong khi đó các nguồn đáp ứng lại bị hạn chế Vậy thì, các doanh nghiệpnày sẽ đối mặt với vấn đề huy động vốn phục vụ cho nhu cầu của mình như thếnào?

1.2.3 Đặc điểm của DNV&N.

Đặc điểm của các DNV&N có thể được phân tích thông qua các điểm mạnh

và điểm yếu của nó:

Về các điểm mạnh:

So với các loại hình doanh nghiệp khác thì DNV&N có một số điểm mạnhsau:

Trang 20

Một là, dễ khởi nghiệp Loại hình doanh nghiệp này gần như không đòi hỏi

một lượng vốn lớn ngay trong giai đoạn đầu cho nên dễ dàng có thể bắt đầu ngaysau khi có ý tưởng kinh doanh và có một số vốn nhỏ

Hai là, tính linh hoạt Do quy mô nhỏ, hoạt động chủ yếu trong các ngành

nghề thủ công truyền thống nên hầu hết các doanh nghiệp này đều rất năng động

và dễ dàng thay đổi thích ứng với môi trường kinh doanh phù hợp thông qua việcchuyển dịch các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

Ba là, lợi thế trong cạnh tranh, lợi thế trong việc theo sát thị hiếu và nhu cầu

của người tiêu dùng, qua đó tạo ra nhiều loại hàng hoá và dịch vụ đáp ứng ngàycàng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng

Về tổ chức sản xuất, có thể thấy năng lực quản lý trong các DNV&N là rấtyếu kém, doanh nghiệp thường được tổ chức theo mô hình gia đình trị, vì vậy bảnthân doanh nghiệp không muốn lên sàn, không muốn cổ đông bên ngoài doanhnghiệp nắm giữ phần tài sản của nó, bên cạnh đó doanh nghiệp cũng rất ngại vấn

đề công bố thông tin khi tham gia TTCK

Ngoài ra, các DNV&N cũng gây ra không ít những ảnh hưởng tiêu cực trongnền kinh tế như do vốn ít, quy mô hoạt động nhỏ nên hầu hết các doanh nghiệp nàykhông quan tâm đến việc bảo vệ môi trường hoặc nhiều khi doanh nghiệp bị phásản thì gây ra sự mất lòng tin của công chúng đối với loại hình doanh nghiệp này

Trang 21

Như vậy, thông qua việc phân tích các đặc điểm của DNV&N, có thể thấymột số vấn đề nổi lên như hầu hết các DNV&N đều đang rất thiếu vốn để mở rộnghoạt động sản xuất kinh doanh, tuy nhiên do đặc điểm trong mô hình tổ chức sảnxuất và vấn đề công bố thông tin nên các DNV&N này ngại “lên sàn” để huy độngvốn Trong khi đó bên ngoài thị trường rất nhiều cổ phiếu của các doanh nghiệpnày đang trôi nổi trên thị trường tự do, không có sự quản lý của Nhà nước, gây rarất nhiều rủi ro cho cả phía doanh nghiệp và công chúng đầu tư Vì vậy, vấn đề đặt

ra là Nhà nước phải có những cơ chế, chính sách như thế nào để có thể thúc đẩyđược các doanh nghiệp này tham gia niêm yết trên TTCK để huy động vốn trung

và dài hạn phục vụ cho mục đích huy động của mình Để có thể có đưa ra các giảipháp thúc đẩy các DNV&N lên sàn, thu hẹp quy mô thị trường tự do, thì cần phảihiểu rõ thực trạng huy động vốn hiện nay của DNV&N như thế nào, phần tiếp theo

sẽ đề cập đến vấn đề đó

1.2.4 DNV&N ở Việt Nam hiện nay và vấn đề huy động vốn.

1.2.4.1 Tình hình các DNV&N ở nước ta hiện nay.

Như một tất yếu của quá trình chuyển giao từ một nền kinh tế kế hoạch sangnền kinh tế thị trường, khu vực kinh tế tư nhân non trẻ nước ta hiện nay chủ yếubao gồm các DNV&N Khối các doanh nghiệp này đã không ngừng phát triển cả

về quy mô, số lượng và đã tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế Theothống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 12/2005 tổng số cácDNV&N trên cả nước là khoảng 176.000 doanh nghiệp, chiếm khoảng 88% tổng

số doanh nghiệp cả nước Trong đó, chiếm 65.9% hợp tác xã và liên hiệp hợp tác

xã, 94.6% công ty TNHH, 99.4% số DNTN, 65.9% số DNNN, và 33.6% cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Gần 100% số doanh nghiệp hoạt động ởkhu vực nông thôn là DNN&V Qua các năm thì số lượng DNV&N đăng ký ngàycàng tăng lên một cách rõ rệt, trung bình tăng khoảng 22%/ năm, tăng chủ yếu ởkhu vực ngoài quốc doanh là 25.6%/ năm (trong đó tăng nhanh nhất là công ty cổphần 93.3%/ năm và công ty TNHH 49.9%/ năm) còn doanh nghiệp Nhà nước lại

Trang 22

giảm do tổ chức sắp xếp lại và cổ phần hoá chuyển sang khu vực ngoài quốcdoanh, thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2: Số lượng DNV&N trong từng loại hình doanh nghiệp

Số tương đối(%)

Số tuyệt đối

Số tương đối(%)

Số tuyệt đối

Số tương đối(%)

Số tuyệt đối

Số tương đối(%)

Số tuyệt đối

Trang 23

Bảng 3: Cơ cấu của khu vực DNV&N theo ngành

<Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam>

Việc tăng số lượng và quy mô vốn của doanh nghiệp đã đóng góp quantrọng vào phát triển kinh tế, huy động nguồn lực vào sản xuất, tạo việc làm, cảithiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách Nhà nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng CNH-HĐH, phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên hiệnnay các DNV&N ở nước ta đang gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn vềvốn, điều này xuất phát từ nội tại của các DNV&N do: quy mô nhỏ, hầu hết cácdoanh nghiệp giải quyết nhu cầu về vốn chủ yếu dựa vào thị trường tài chính phichính thức; trình độ công nghệ, trang thiết bị, máy móc nhìn chung tương đối lạchậu so với trang thiết bị máy móc của các doanh nghiệp trên cả nước

Qua phân tích thực trạng các DNV&N ở nước ta hiện nay chúng ta thấyrằng, để tháo gỡ các khó khăn trên thì một yếu tố quan trọng là DNV&N phải tiếpcận được các nguồn vốn tín dụng chính thức trung và dài hạn Vậy thì làm thế nào

để có thể lôi kéo được đông đảo các doanh nghiệp này huy động vốn trên TTCK?Trước khi làm rõ vấn đề trên, chúng ta sẽ đề cập nhu cầu huy động vốn của khốicác doanh nghiệp này

Trang 24

1.2.4.2 Nhu cầu về vốn của các DNV&N ở nước ta hiện nay.

Thực hiện Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triểnDNV&N và Chỉ thị số 27/2003/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩymạnh thực hiện Luật doanh nghiệp, khuyến khích phát triển DNV&N đã tháo gỡrất nhiều khó khăn, vướng mắc đối với DNV&N về đổi mới cơ chế, khuyến khíchtạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân nói chung và DNV&N nói riêng tạo điềukiện phát triển mạnh mẽ các DNV&N với một số lượng doanh nghiệp lớn và đã cónhững đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế ở nước ta Toàn bộ khuvực DNV&N của cả nước chiếm khoảng 45% GDP Đóng góp của khu vực kinh tếngoài quốc doanh mà chủ yếu là các DNV&N vào giá trị sản xuất công nghiệp 6tháng đầu năm 2005 là 52.109 tỷ đồng, chiếm 32% trên tổng giá trị sản xuất côngnghiệp Tuy nhiên, trong quá trình phát triển các DNV&N vẫn gặp rất nhiều khó

khăn nhất là khó khăn do thiếu vốn để sản xuất và mở rộng sản xuất kinh doanh.

Giáo sư Norman Scarborough trường Quản trị kinh doanh ở Nam Carolinanói: “Tiền không chỉ là nguyên căn của mọi điều ác mà nó cũng là nguyên nhândẫn đến thất bại của các DNV&N - một khi doanh nghiệp thiếu tiền thì có thể bắtđầu một vòng xoáy đi xuống và từ đó chẳng bao giờ doanh nghiệp có thể đi lên

được nữa” Điều này cho thấy, nhu cầu về vốn đối với doanh nghiệp là rất quan trọng và cần thiết trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp để mở rộng sản xuất

kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Ngoài ra, trình độ công nghệ, trang thiết bị, máy móc của khu vực DNV&Nnhìn chung còn rất lạc hậu, tỷ lệ đổi mới trang thiết bị thấp, một số nghiên cứu chothấy tỷ lệ đổi mới máy móc thiết bị trong các doanh nghiệp ở Tp Hồ Chí Minh –trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước, cũng chỉ là khoảng 10% một năm tínhtheo vốn đầu tư Thực tế này phản ánh rằng, hiện nay các DNV&N rất cần vốn đểđổi mới trang thiết bị, công nghệ phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằmnâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường

Trang 25

Phân tích trên cho thấy, nhu cầu về vốn của các DNV&N hiện nay là rất lớn

và lâu dài Vậy thì các doanh nghiệp có thể tiếp cận được nguồn vốn thông qua

những con đường nào và phải đối mặt với những khó khăn gì trong quá trình huyđộng vốn phục vụ cho nhu cầu của mình

1.2.4.3 Khả năng huy động vốn của các DNV&N và những khó khăn gặp phải.

Để đáp ứng cho nhu cầu vốn của mình, các DNV&N ở nước ta hiện nay chủyếu huy động vốn thông qua thị trường tài chính phi chính thức, nhu cầu vốn rấtlớn nhưng thường chỉ thực hiện được qua con đường cá nhân, như vay từ gia đình,bạn bè, từ cán bộ công nhân viên và vay của những người cho vay lấy lãi Nhữngkhoản vay này cũng chỉ có hạn nhất định, hoặc bị vay với lãi suất nóng Bên cạnh

đó, đại đa số các DNV&N, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất khó cóthể tiếp cận được với nguồn tín dụng ngân hàng, bởi một lẽ các khoản vay này đòihỏi phải có sự đánh giá về phương án trả nợ, tình hình kinh doanh hiện tại, kếhoạch kinh doanh mà tiền vay được sử dụng và điều kiện tiên quyết là doanhnghiệp phải có tài sản thế chấp Trong khi đó, thị trường bất động sản hiện nayđang bị đóng băng cũng gây ra một trở ngại cho doanh nghiệp trong việc thế chấptài sản, đồng thời việc xác định giá trị tài sản thế chấp hoàn toàn phụ thuộc vàophía ngân hàng, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho phía ngân hàng đánh thấpgiá trị tài sản thế chấp của doanh nghiệp Tóm lại, khả năng tiếp cận vốn của cácDNV&N từ nguồn tín dụng gặp rất nhiều trở ngại, mặc dù chính sách tín dụng ởnước ta phần nào cũng đã dựa trên nhận thức vai trò của DNV&N, những trở ngại

đó có thể là:

Thứ nhất, trong khi ưu tiên dành cho khu vực DNV&N còn rất hạn hẹp, thì

những quy định về đảm bảo tiền vay lại có xu hướng hỗ trợ cho khối các DNNN

và những doanh nghiệp có quy mô lớn Trên thực tế, chỉ có một số ít các NHTMlớn ở nước ta quan tâm chú trọng đến việc dành riêng một khoản tín dụng cho cácDNV&N vay

Trang 26

Thứ hai, theo luật định, mọi khoản vay đều phải có yêu cầu về tài sản thế

chấp, đây là khó khăn rất lớn đối với các DNV&N Việc yêu cầu có tài sản thếchấp, trong nhiều trường hợp đã làm cho doanh nghiệp không thể đáp ứng đượccác điều kiện vay Một cuộc điều tra tại tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy, số doanhnghiệp có nhu cầu tín dụng chiếm khoảng 98% tổng số, nhưng tỷ lệ này chỉ còn lại57,6% khi yêu cầu có tài sản thế chấp

Thứ ba, các NHTM hoạt động dựa trên nguyên tắc an toàn và hiệu quả Theo

đó, các NHTM thường ngần ngại cấp tín dụng cho các DNV&N, một phần vì họ longại vấn đề rủi ro trong kinh doanh của các doanh nghiệp này, mặt khác vấn đề chiphí giao dịch họ phải bỏ ra là lớn hơn so với cho các doanh nghiệp lớn vay

Ngoài ra, còn một nguyên nhân quan trọng khác khiến các DNV&N khó tiếpcận được nguồn tín dụng ngân hàng, điều này xuất phát từ bản thân các doanhnghiệp Các DNV&N đôi khi không thích đi vay ngân hàng bởi họ ngại phải đốimặt với rất nhiều quy định ngặt ngèo, những thủ tục vay phức tạp và chi phí chonhững thủ tục khác như: chi phí công chứng, doanh nghiệp phải chịu các khoảnmôi giới tín dụng, các khoản phí tư vấn lập luận chứng khả thi… Hơn nữa, cácDNV&N hoạt động không có tính ổn định cao, vì vậy chưa tạo được chữ tín đốivới ngân hàng, đồng thời thiếu chiến lược và kế hoạch kinh doanh trong việc lập

kế hoạch để hoàn thiện thủ tục vay vốn…

Những rào cản trên đã trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn củacác DNV&N từ các tổ chức tín dụng Qua phân tích trên cho thấy khả năng tiếpcận vốn từ nguồn này của khối các DNV&N là không có tính khả thi cao

Để có vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, trong khi nguồn vay

từ ngân hàng bị hết sức hạn chế, các DNV&N còn có thể trang trải cho nhu cầuvốn của mình bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu Việc huy động vốn bằngcách phát hành chứng khoán có những lợi thế nhất định đối với doanh nghiệp, đặc

biệt là hình thức này cho phép doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn lớn và ổn định từ bên ngoài mà không vấp phải những hạn chế về thời gian như vay tín

dụng, thoát khỏi sự rằng buộc với một bên thứ ba nào đó Đồng thời, quảng bá

Trang 27

được hình ảnh, thương hiệu của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp được tănglên Bên cạnh đó, giúp tăng tính thanh khoản cho chứng khoán, công tác quản trịđiều hành doanh nghiệp được hiệu quả hơn… Tuy nhiên, việc tăng vốn chủ theohình thức phát hành chứng khoán này thường là rất khó khăn cho các DNV&N vớinguồn tài chính hạn chế Mặc dù vậy, khi doanh nghiệp cần vốn để phục vụ chonhu cầu của mình, thì qua phân tích các nguồn mà doanh nghiệp có thể tiếp cận cóthể nhận thấy rằng, trong khi nguồn tín dụng ngân hàng là không có tính khả thicao, hoặc có tiếp cận được cũng chỉ là nguồn ngắn hạn, thì nguồn phát hành cổphiếu ra thị trường có ưu việt hơn cả đối với đặc thù của các DNV&N hiện nay, tấtnhiên không loại trừ những khó khăn mà DNV&N gặp phải, tuy vậy đây vẫn đượccoi là nguồn tiếp cận hiệu quả và phù hợp nhất.

Thực tế ở Việt nam hiện nay, với khoảng 88 % là các DNV&N so với tổng

số toàn doanh nghiệp hiện có trong cả nước, thì việc phát triển TTCK của khối cácdoanh nghiệp này là một đòi hỏi khách quan Vừa qua, TTGDCK Hà Nội đi vàohoạt động phần nào đã đáp ứng được nhu cầu bức xúc đó, tạo điều kiện cho cácDNV&N có điều kiện được lên sàn để huy động vốn Tuy quy mô thị trường cònnhỏ, chưa thu hút được đông đảo các doanh nghiệp tham gia, nhưng bước đầu đãđặt nền tảng quan trọng cho sự phát triển tiếp theo của thị trường

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

1.3.1 Sự ổn định và tăng trưởng kinh tế.

Một nền kinh tế ổn định và tăng trưởng là tiền đề, là điều kiện quan trọng đểphát triển TTCK nói chung và TTCK cho các DNV&N nói riêng

Sự ổn định và tăng trưởng kinh tế sẽ tạo ra nhiều việc làm mới, giảm tỷ lệthất nghiệp, tăng thu nhập của dân cư, nâng mức tích luỹ trong dân, đây là nền tảng

để chuyển tiết kiệm thành đầu tư, tăng nhu cầu đầu tư từ phía công chúng, từ đótăng số lượng nhà đầu tư tham gia thị trường, góp phần làm cho hoạt động của thịtrường trở nên sôi động hơn

Trang 28

Sự ổn định và tăng trưởng kinh tế sẽ tạo môi trường làm ăn thuận lợi cho cácdoanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinhdoanh, khi đó mức cầu về vốn trong các doanh nghiệp tăng cao, kích thích họ thamgia TTCK để huy động được lượng vốn phục vụ cho nhu cầu của mình Việc thamgia này làm tăng cung hàng hoá cho thị trường, tạo khả năng tích tụ, tập trung,phân phối vốn có hiệu quả.

Sự ổn định và tăng trưởng kinh tế sẽ tạo ra một môi trường đầu tư hiệu quả,giúp làm giảm rủi ro và làm tăng hiệu quả của hoạt động đầu tư Đây là yếu tố làmtăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước, từ đó thu hút được ngày càngnhiều lượng vốn từ đầu tư nước ngoài Đồng thời, nó cũng kích thích nhu cầu đầu

tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư trong nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việchội nhập TTCK

1.3.2 Khung pháp lý

Một hệ thống pháp luật đầy đủ và đồng bộ sẽ tạo hành lang pháp lý đảm bảocho hoạt động của thị trường được diễn ra một cách công bằng, công khai và minhbạch Đồng thời, đảm bảo điều kiện bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thểtham gia thị trường Hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện dần, cần phải đưa ramột khung pháp lý thích hợp với từng đối tượng tuỳ thuộc vào tình hình phát triểncủa thị trường ở các thời điểm khác nhau

1.3.3.Năng lực của các cơ quan quản lý Nhà nước.

Các cơ quan quản lý Nhà nước là những người bảo đảm cho thị trường hoạtđộng theo đúng các quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo cho việc mua bánchứng khoán trên thị trường diễn ra một cách công khai, công bằng, tránh nhữngyếu tố tiêu cực có thể xảy ra, từ đó bảo vệ lợi ích cho người đầu tư, như vậy các cơquan này đóng vai trò là người điều hoà thị trường Ta thấy rằng, nói đến năng lực

của cơ quan quản lý là nói đến năng lực quản lý và năng lực giám sát thị trường.

Nội dung của công tác giám sát là giám sát hoạt động các công ty chứng khoán,giám sát hoạt động các tổ chức niêm yết, giám sát các hoạt động giao dịch chứng

Trang 29

khoán trên thị trường Việc thực thi tốt công tác này được thể hiện thông qua việchoàn thiện các văn bản pháp luật về thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm trênTTCK Nội dung của quản lý thị trường gồm có quản lý phát hành, quản lý cácgiao dịch và quản lý các nhà kinh doanh chứng khoán.

1.3.4.Công chúng đầu tư.

Mọi nỗ lực của Nhà nước, của cơ quan quản lý sẽ là vô nghĩa nếu thị trườngkhông có sự tham gia tích cực của công chúng đầu tư Công chúng đầu tư là nhữngngười có vốn, họ sẽ tham gia mua bán, trao đổi chứng khoán trên thị trường Bêncạnh năng lực về vốn, công chúng đầu tư cần phải có sự hiểu biết và nắm bắtnhanh được các cơ hội kinh doanh trên thị trường, cũng như những rủi ro tiềm ẩntrong các cơ hội đầu tư của mình Các nhà quản lý cần phải lưu ý hơn nữa trongviệc tuyên truyền, phổ biến kiến thức cơ bản về chứng khoán cho các nhà đầu tư,đồng thời có những hỗ trợ cần thiết, đặc biệt là về tài chính khi họ tham gia thịtrường

1.3.5.Sự tích cực tham gia của các DNV&N.

Một thị trường phát triển phải dựa trên sự tương hợp giữa cung và cầu Vìvậy, TTCK cho DNV&N nói riêng và TTCK nói chung muốn phát triển và vậnhành có hiệu quả thì phải có một lượng cung đủ lớn, phong phú về chủng loạichứng khoán Một lượng hàng phong phú trên thị trường trước hết sẽ làm cho quy

mô thị trường được mở rộng, đồng thời thông qua cơ chế cạnh tranh, cơ chế thâutóm và sáp nhập sẽ tìm ra được những doanh nghiệp làm ăn thực sự hiệu quả,những doanh nghiệp này sẽ thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúngđầu tư, sẽ dễ dàng huy động được vốn trên thị trường với chi phí hợp lý, và cổphiếu của nó có tính thanh khoản cao Như vậy, sự tham gia tích cực của các doanhnghiệp sẽ góp phần tạo ra lượng cung lớn cho thị trường

1.3.6 Chính sách hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước.

Trang 30

Cung cầu là hai yếu tố cơ bản để cho thị trường tồn tại và phát triển Bêncạnh đó, còn có rất nhiều các yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến sự phát triểncủa thị trường, một trong những yếu tố đó chính là các chính sách hỗ trợ đặc biệtcủa Nhà nước Chính phủ bằng những cam kết nhất định và các chính sách hỗ trợ,

sẽ tạo niềm tin cho công chúng vào một thị trường phát triển ổn định và an toàn

Cụ thể Nhà nước cần có: Chính sách đối với các DNV&N khi tham gia thị trường, chính sách đối với nhà đầu tư khi tham gia thị trường Sự hỗ trợ đó có

thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức như: được thể hiện trong các văn bảnpháp luật, chính sách ưu đãi về thuế, phí…hay có thể là bằng việc lập quỹ hỗ trợ đểđiều tiết thị trường khi có những biến động lớn xảy ra

1.3.7 Hệ thống các trung gian tài chính.

Tham gia vào thị trường, các trung gian tài chính cung cấp các dịch vụ kinhdoanh chứng khoán như: Môi giới chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán,quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán,dịch vụ lưu ký chứng khoán Việc cung ứng các dịch vụ trên có thể là các ctyCK,NHTM, công ty quản lý quỹ, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty kiểmtoán và một số tổ chức khác

Các ctyCK là những tổ chức trung gian có phạm vi hoạt động rộng nhất trênTTCK, từ môi giới, tự doanh, tư vấn đầu tư, tư vấn tài chính, bảo lãnh phát hành,quản lý danh mục đầu tư cho đến lưu ký chứng khoán

Các NHTM tham gia TTCK chủ yếu với tư cách là những tổ chức cung ứngdịch vụ lưu ký chứng khoán, bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành trái phiếu vàmột số dịch vụ mang tính phụ trợ khác như: cung cấp tín dụng các nhà đầu tư (cầm

cố chứng khoán, tạm ứng tiền trả…)

Các công ty quản lý quỹ là những tổ chức cung ứng dịch vụ thuần tuý trênthị trường với hoạt động quản lý quỹ Công ty quản lý quỹ cũng tham gia cung ứngcác dịch vụ tư vấn tài chính nhưng đối tượng khách hàng chỉ là những doanh

Trang 31

nghiêp tiếp nhận nguồn vốn đầu tư của các quỹ do họ quản lý Mục tiêu của cáchoạt động tư vấn này không phải là phí tư vấn như các tổ chức khác, mà nhằm làmtăng giá trị của các khoản đầu tư….

Với những đặc điểm riêng có của khối các DNV&N, thì sự tham gia của hệthống các trung gian tài chính đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển củathị trường Xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi các dịch vụ ngày một tốt và phong phúhơn, buộc các trung gian tài chính phải tự đổi mới mình trong hoạt động trênTTCK, và áp lực cạnh tranh đã làm tăng năng lực của chính các trung gian này

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã tạo ra những công nghệ mới, đi đôivới vấn đề này cũng chính là sự gia tăng chi phí hoạt động của các trung gian tàichính Để có thể giảm chi phí, giảm rủi ro và tăng lợi nhuận trong hoạt động củamình, thì các trung gian phải đa dạng hoá danh mục đầu tư và đa dạng hoá các dịch

vụ cung cấp trên thị trường, cũng như chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ, bởi

vì cạnh tranh bằng chất lượng là cách thức cạnh tranh mang tính ổn định nhất, lâudài nhất và quyết định nhất

Trên đây là các nhân tố có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến sựphát triển TTCK của các DNV&N Các nhân tố này liên đới bổ trợ cho nhau giúpcho việc hình thành và phát triển TTCK nói chung và TTCK của các DNV&N nóiriêng ngày càng hoàn thiện hơn

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội.

Chủ trương thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã đượcChính phủ quyết định ngay từ khi xây dựng Đề án thành lập thị trường chứngkhoán Việt Nam và đã được khẳng định bằng Quyết định số 127/1998/QĐ-TTgngày 11/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập 2 TTGDCK Trongthời gian qua, dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, Uỷ ban Chứng khoánNhà nước đã tập trung xây dựng và phát triển TTGDCK Tp.HCM, đưa TTGDCK

Tp HCM chính thức đi vào hoạt động từ năm 2000, và lấy thực tiễn hoạt động củathị trường làm cơ sở nghiên cứu xây dựng mô hình hoạt động cho TTGDCKHN

Có thể nói, quyết định xây dựng TTGDCK Hà Nội là một quyết định xuấtphát từ nhu cầu thực tiễn, đòi hỏi khách quan của quá trình phát triển kinh tế ởnước ta

Ở góc độ vĩ mô, với những thành tựu đã đạt được trong 20 năm đổi mới, nềnkinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc theo hướng kinh tế thịtrường Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu về phát triển và đồng bộ các thểchế của thị trường sẽ đặt ra ở mức độ cao hơn, trong đó có việc phát triển thịtrường vốn, thị trường chứng khoán để giúp Chính phủ và doanh nghiệp huy độngvốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh và luânchuyển vốn trong xã hội được tốt hơn, điều hoà được những bất cập nảy sinh khinguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế lệ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng

Kết quả của việc tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng đa thành phần, đa sở hữu

đã dẫn tới thực tiễn là hàng ngàn doanh nghiệp cổ phần đã được thành lập và trên

Trang 33

2400 doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá Trong số này mới chỉ có trên

30 công ty được niêm yết và giao dịch tại TTGDCK Tp HCM, còn phần lớnchứng khoán chưa niêm yết đang được mua bán chuyển nhượng trên thị trường tự

do, mà người đầu tư phải chịu nhiều rủi ro do không có đầy đủ thông tin về tìnhhình sản xuất kinh doanh, về tài chính của doanh nghiệp, còn doanh nghiệp thì gặpkhó khăn trong việc phát hành để huy động vốn Đứng trước thực tế nêu trên, việckhẩn trương đưa TTGDCK Hà Nội đi vào hoạt động nhằm tạo ra một kênh huyđộng vốn mới, tạo điều kiện để mở rộng phạm vi thị trường chứng khoán có tổchức, thu hẹp thị trường tự do bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư và tăng khả năng tiếpcận của doanh nghiệp và công chúng với thị trường chứng khoán trở thành nhiệm

vụ quan trọng và cần thiết

Sau một thời gian nghiên cứu, định hướng mô hình hoạt động củaTTGDCKHN đã được xác định và được thể hiện trong Chiến lược phát triển thịtrường chứng khoán đến năm 2010 do Thủ tướng Chính phủ thông qua ngày5/8/2003 Tiếp đó, Bộ Tài chính và UBCKNN đã có các quyết định cụ thể về môhình tổ chức xây dựng cũng như định hướng phát triển của TTGDCKHN Theo đó,TTGDCKHN được định hướng xây dựng theo hai giai đoạn Giai đoạn 1 từ 2005-

2007, TTGDCKHN sẽ tổ chức đấu giá cổ phần, các tài sản tài chính, tổ chức đấuthầu trái phiếu; đồng thời tổ chức giao dịch thứ cấp cho chứng khoán chưa niêmyết theo mô hình OTC đơn giản Giai đoạn 2 từ sau năm 2007 sẽ phát triển quy môcủa thị trường chứng khoán Việt Nam TTGDCK Hà Nội sẽ tổ chức giao dịch chocác chứng khoán có tiêu chuẩn niêm yết thấp hơn trên TTGDCK Tp.HCM, nhưvậy có thể tạo được thị trường cho các DNV&N

Nếu như sự ra đời của TTGDCK Tp HCM vào tháng 7/2000 là sự kiệnchính thức khởi đầu hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam, và là bướcđầu tiên của mô hình SGDCK hiện đại, thì hoạt động của TTGDCKHN đã thực sựđánh dấu một bước trưởng thành của thị trường đồng thời là sự khởi đầu của thị

Trang 34

trường chứng khoán phi tập trung (OTC) ở Việt Nam Một cơ cấu thị trường chứngkhoán hoàn chỉnh đã bước đầu được xây dựng.

Việc chuẩn bị đưa TTGDCK Hà Nội vào hoạt động theo mô hình họat độngnêu trên là một quá trình công phu, có sự nỗ lực của Bộ Tài chính, UBCK Nhànước và sự phối kết hợp của các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương, và

sự hưởng ứng nhiệt tình của các tổ chức tham gia thị trường và công chúng đầu tư.Cùng với quá trình nghiên cứu xác định mô hình như đã nêu trên, có bốn khối côngviệc chính phải tập trung chuẩn bị gồm: xây dựng hệ thống các văn bản pháp quycho hoạt động giao dịch chứng khoán, chuẩn bị hàng hoá, chuẩn bị cơ sở vật chất

và nhân sự điều hành thị trường

Về hệ thống văn bản pháp quy, Chính phủ đã ban hành Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 là văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động vềchứng khoán và thị trường chứng khoán Tuy nhiên Nghị định này chủ yếu điềuchỉnh hoạt động thị trường chứng khoán niêm yết, và có nhiều điểm chưa phù hợpkhi triển khai hoạt động của TTGDCK Hà Nội theo mô hình mới Do vậy, để kịptriển khai TTGDCK Hà Nội, UBCK Nhà nước đã trình Bộ Tài chính phương ánvận dụng một số quy chế tạm thời để xử lý một số vấn đề chưa được quy địnhchính thức trong các văn bản pháp quy cao hơn Theo đó, hoạt động đấu giá được

tổ chức theo Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ, Thông

tư 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính, Quyết định UBCK ngày 04/01/2005 của Chủ tịch UBCKNN ban hành Quy trình Bán đấu giá

01/2004/QĐ-cổ phần qua TTGDCK Hoạt động đấu thầu trái phiếu được thực hiện theo Thông

tư 21/2004/TT-BTC ngày 24/3/2004 của Bộ Tài chính và các văn bản pháp luậthiện hành về phát hành trái phiếu Chính phủ Hoạt động giao dịch thứ cấp được tổchức trên nền tảng Nghị định 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ, Quyết định244/QĐ-BTC ngày 20/1/2005 của Bộ Tài chính và Quyết định số 245/QĐ-UBCKngày 4/5/2005 của Chủ tịch UBCKNN

Về cơ sở vật chất, lãnh đạo UBCKNN và lãnh đạo Bộ Tài chính đã có chỉđạo rất sát sao và quyết liệt để phát huy sức mạnh tổng lực của các đơn vị liên

Trang 35

quan tham gia chuẩn bị cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật cho TTGDCK Hà Nội.Toà nhà trụ sở TTGDCK Hà Nội đã được tôn tạo, nâng cấp Hệ thống trang thiết bịtin học phục vụ giao dịch và đấu giá, đấu thầu bao gồm cả phần cứng và phần mềmđược mua sắm và xây dựng đồng bộ và có khả năng tương thích cao, đảm bảo tínhchính xác, công khai, công bằng của các giao dịch, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của các nhà đầu tư và các tổ chức tham gia thị trường

Về nhân sự, trực tiếp UBCKNN đã bố trí cho TTGDCK Hà Nội đội ngũ cán

bộ trẻ, có chất lượng chuyên môn Với 80% cán bộ có trình độ đại học và trên đạihọc, có khả năng điều hành và quản lý thị trường một cách hiệu quả

Về hàng hoá, Bộ Tài chính đã trực tiếp chỉ đạo Cục Tài chính doanh nghiệpphối hợp với UBCKNN và các đơn vị liên quan chuẩn bị đưa doanh nghiệp cổphần hoá ra bán đấu giá tại TTGDCK Hà Nội, lựa chọn những doanh nghiệp đủtiêu chuẩn để tham gia đăng ký giao dịch tại TTGDCK Hà Nội

Với những chuẩn bị hết sức tích cực và khẩn trương từ các Bộ, ban, ngànhliên quan, TTGDCK Hà Nội đã chính thức khai trương từ ngày 8/3/2005 Đấu giá

cổ phần của các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá được tổ chức ngay sau khikhai trương với các cuộc đấu giá của Nhà máy Thiết bị Bưu điện, Nhà máy Thủyđiện Vĩnh Sơn-Sông Hinh, Điện lực Khánh Hoà Hoạt động đấu thầu trái phiếuChính phủ được bắt đầu một tháng sau đó và đặc biệt ngày 14/7/2005 hệ thốnggiao dịch thứ cấp của TTGDCK Hà Nội theo mô hình OTC đơn giản đã chính thức

đi vào hoạt động

Hiện nay, cấu trúc thị trường của TTGDCK Hà Nội được tổ chức theo sơ đồH2.1 như sau:

Trang 36

Thị trường sơ cấp

Đấu giá

cổ phần

Đấu thầutrái phiếu

Giao dịch

cổ phiếu

Giao dịchtrái phiếu

Thị trường thứ cấp

TTGDCKHN

FPT

Thoả thuận

Báogiá

SƠ ĐỒ 2: CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY TẠI TTGDCKHN

(Nguồn TTGDCK Hà Nội)

Như vậy, cấu trúc thị trường trên TTGDCK Hà Nội được tổ chức thành 2mảng là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Theo đó, thị trường sơ cấp sẽ thựchiện việc bán đấu giá cổ phần lần đầu cho các DNNN CPH, và thực hiện việc đấuthầu trái phiếu Còn thị trường sơ cấp sẽ thực hiện giao dịch cổ phiếu của cácdoanh nghiệp đăng ký giao dịch trên TTGDCK Hà Nội, đồng thời thực hiện giaodịch trái phiếu Các hoạt động giao dịch này được thực hiện theo 2 phương thức làphương thức giao dịch thoả thuận và phương thức giao dịch báo giá Toàn bộ cáchoạt động trên thị trường được kết nối và thực hiện thông qua hệ thống mạng máytính (FPT) khá hiện đại

 Tiêu chuẩn niêm yết trên TTGDCK Hà Nội:

Đối với cổ phiếu: Các công ty niêm yết phải có vốn điều lệ từ 5 tỷ đồng trở

lên; phải có tối thiểu 20% số cổ phiếu được nắm giữ bởi các nhà đầu tư ngoài tổchức, có ít nhất là 50 cổ đông; có tình hình tài chính minh bạch, hoạt động sản xuất

Trang 37

của năm liền trước năm đăng ký giao dịch có lãi; các thành viên Hội đồng quản trị

và giám đốc có kinh nghiệm trong quản lý; có phương án khả thi trong việc huyđộng và sử dụng vốn

Như vậy có thể thấy, việc đưa TTGDCK Hà Nội đi vào hoạt động đã mở ramột sân chơi cho các DNV&N có thể tham gia vào TTCK, tạo điều kiện cho cácDNV&N có thể huy động được nguồn vốn trung và dài hạn, đáp ứng cho nhu cầuvốn của mình Cho đến nay TTGDCK Hà Nội đã chính thức đi vào hoạt động đượckhoảng 1 năm, tuy nhiên quy mô của thị trường còn khá nhỏ bé, thị trường cònchưa được đông đảo các DNV&N tham gia, trong khi đó đang có rất nhiều chứngkhoán của các doanh nghiệp, chủ yếu là DNV&N đang trôi nổi trên thị trường tự

do, không có sự quản lý của Nhà nước đã gây không ít cản trở cho sự phát triểncủa thị trường Vậy thì thực trạng TTCK của các DNV&N hiện nay như thế nào,người viết sẽ làm rõ ở phần tiếp theo, nhưng trước tiên hãy đánh giá khả năng thamgia TTCK của các DNV&N ở nước ta hiện nay trong bối cảnh TTGDCK Hà Nội

đã đi vào hoạt động hay nói khác đi TTCK của các DNV&N đã được vận hành gần

Trang 38

nhất đối với hệ thống các doanh nghiệp, do hầu hết các khoản vay đều là ngắn hạnvới lãi suất cao và khó tìm được nguồn vốn trung và dài hạn.

Nhiệm vụ phát triển kinh tế nói chung cũng như phát triển DNV&N nóiriêng đòi hỏi cần có sự quan tâm hơn nữa và kiện toàn hệ thống pháp lý để pháttriển hệ thống doanh nghiệp này TTCK sẽ là một kênh huy động vốn trung và dàihạn cho nền kinh tế nói chung trong đó có các DNV&N Để có được những chínhsách phát triển phù hợp, UBCKNN đã thực hiện một dự án “Điều tra, đánh giá cácđiều kiện tham gia TTCK của các DNV&N” trên quy mô toàn quốc, tập trung vàomột số tỉnh, thành phố lớn và các địa bàn kinh tế quan trọng Khu vực phía Bắcchọn Hà Nội làm trọng điểm, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc để chọn mẫu so sánh Khuvực phía Nam chọn TP HCM làm trọng điểm, Đà Nẵng để chọn mẫu so sánh Đốitượng điều tra là các DNNN CPH, DNNN đang CPH và CtyCP có vốn từ 5 tỷđồng trở lên – đây là các đối tượng vận động đăng ký giao dịch trên TTGDCK HàNội, và các đối tượng khác là các doanh nghiệp cổ phần có vốn dưới 5 tỷ đồngnhưng có khả năng tăng vốn trên 5 tỷ đồng trong tương lai gần Số lượng điều tratoàn dự án là 477 doanh nghiệp Kết quả điều tra cụ thể như sau:

 Về tình hình doanh nghiệp khi chuyển thành CtyCP

Trong tổng số 477 doanh nghiệp được điều tra, có tới 214 là CtyCP (chiếm47,87%), tiếp đến 170 là DNNN CPH (chiếm 38,03%), phần còn lại là DNNNđang CPH ( chiếm 14,1%)

 Về tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Theo kết quả điều tra, có 53,7% doanh nghiệp kinh doanh có lãi Tuy nhiên,trên thực tế các doanh nghiệp hoạt động còn rất yếu do nhiều nguyên nhân nhưcông nghệ, thiết bị lạc hậu, trình độ quản lý và kinh doanh hạn chế, khả năng tàichính eo hẹp và những rào cản khác Vì vậy có 11,8% doanh nghiệp kinh doanhkhông có lãi và 20 doanh nghiệp không trả được nợ và lãi vay đúng hạn, chiếm4,4% Tình trạng này làm cho các doanh nghiệp phải chịu sức ép lớn về các khoảnchi phí trả lãi và dẫn đến sự mất cân đối trong cơ cấu vốn Từ những điều này cho

Trang 39

thấy, số các DNV&N hiện nay làm ăn có lãi vẫn thấp hơn so với các doanh nghiệplớn.

Trong tổng số các doanh nghiệp được điều tra chỉ có 46,3% doanh nghiệp cóbáo cáo tài chính năm 2003, đều là những công ty làm ăn có lãi và 20,3% doanhnghiệp không có báo cáo tài chính, là những doanh nghiệp có quy mô hoạt độngnhỏ và ít cổ động Việc không có báo cáo tài chính đã gây khó khăn cho các cổđông trong việc kiểm tra tình hình hoạt động của doanh nghiệp, cũng như doanhnghiệp không thực hiện việc kiểm toán báo cáo tài chính

 Nguồn vốn huy động hiện nay của doanh nghiệp

Kết quả điều tra cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp hiện nay huy động vốncho sản xuất kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vay từ ngân hàng (chiếm 74,9%).Nguồn vốn huy động bằng phát hành cổ phiếu còn rất hạn chế, chỉ chiếm 42,2% sốdoanh nghiệp được điều tra, chủ yếu là các CtyCP nhà nước Ngoài ra, các doanhnghiệp trên còn huy động vốn vay từ công nhân viên (40,9%) Bên cạnh nhữngnguồn vốn trên, một sô doanh nghiệp cũng huy động các nguồn khác, chiếm 40%(mua bán chịu, sử dụng vốn của đối tác ) Nguồn vốn này cũng đóng một vai tròquan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu nguồnvốn này chiếm tỷ lệ quá lớn sẽ dẫn đến những khó khăn cho doanh nghiệp trongviệc thanh toán, dẫn đến nợ nần, chiếm dụng vốn của nhau Số doanh nghiệp huyđộng của nguồn Ngân sách Nhà nước trong tổng số doanh nghiệp điều tra chỉ có 56doanh nghiệp (chiếm 12,5%), chứng tỏ Nhà nước vẫn là một nguồn tài trợ tronghoạt động của các doanh nghiệp hiện nay Đáng lưu ý, trong số doanh nghiệp đượchỏi có 3 doanh nghiệp phát hành trái phiếu ( chiếm 0,6%) và 11 doanh nghiệp liêndoanh với nước ngoài (chiếm 2,4%)

Qua đó cho thấy, việc phát hành cổ phiếu để huy động vốn chưa phải là ưutiên hàng đầu của các doanh nghiệp khi có nhu câu huy động vốn kinh doanh, đặcbiệt là vốn trung và dài hạn Điều này chứng tỏ doanh nghiệp huy động vốn dướihình thức này còn rất hạn chế do các doanh nghiệp chưa thực sự có uy tín trên thịtrường, chưa thu hút được đông đảo các nhà đầu tư

Trang 40

 Doanh nghiệp có ý định tham gia đăng ký giao dịch trên TTGDCK Hà Nội

Trong tổng số 477 doanh nghiệp được hỏi có 217 doanh nghiệp (48,6%) có

ý định tham gia đăng ký giao dịch trên TTGDCK Hà Nội; 230 doanh nghiệp không

có ý định tham gia đăng ký giao dịch Trong số các doanh nghiệp dự kiến tham giađăng ký giao dịch có 12 doanh nghiệp dự kiến đăng ký giao dịch năm 2005; 34doanh nghiệp năm 2006 và 97 doanh nghiệp năm 2007; 19 doanh nghiệp năm2008; 1 doanh nghiệp năm 2009; 21 doanh nghiệp năm 2010; 1 doanh nghiệp năm2015; 9 doanh nghiệp không xác định rõ thời gian đăng ký giao dịch

Tuy nhiên, sau khi xem xét và đánh giá các điều kiện niêm yết của cácdoanh nghiệp trên, số doanh nghiệp đủ điều kiện đăng ký giao dịch trên TTGDCK

Hà Nội chỉ có 194 doanh nghiệp

 Mục đích đăng ký giao dịch trên TTGDCK Hà Nội của doanh nghiệp

Khi được hỏi mục đích đăng ký giao dịch chứng khoán trên TTGDCK HàNội, 66,8% doanh nghiệp trả lời để nâng cao uy tín và quảng bá thương hiệu củacông ty; 60,2% doanh nghiệp nhằm huy động vốn mở rộng sản xuất và 49,4% đểtạo tính thanh khoản cho cổ phiếu của công ty Ngoài ra, các doanh nghiệp nhằmcác mục đích khác như huy động vốn để mua sắm đổi mới công nghệ (44,2%), thuhút vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ không cao (26,1%) Có tới 31,3% doanhnghiệp không cho rằng đăng ký giao dịch để thu hút đầu tư nước ngoài

Tuy nhiên, trong đó cũng có 18,8% doanh nghiệp không có mục đích huyđộng vốn để mua sắm đổi mới công nghệ; 13,6% doanh nghiệp có mục đích để cổphếu được giao dịch dễ dàng; còn lại là không có mục đích niêm yết khác từ 8,2%đến 2,2%

Từ kết quả trên có thể thấy, hiện nay các DNV&N CPH đều hoạt động khókhăn do vốn ít, một số doanh nghiệp hoạt động cầm chừng Vì vậy, khi điều tra,các doanh nghiệp đều cho rằng mục đích đăng ký giao dịch để tăng thêm uy tín vàquảng bá thương hiệu của công ty và huy động vốn để mở rộng sản xuất kinhdoanh, còn lại các mục đích khác chiếm tỷ lệ không cao Điều này chứng tỏ, doanhnghiệp hiện nay chưa thấy hết được mục đích của việc đăng ký giao dịch trên

Ngày đăng: 01/04/2013, 11:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Các dòng vốn qua hệ thống tài chính - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn thị trường cổ phiếu của các DNV&N ở Việt Nam.
Sơ đồ 1 Các dòng vốn qua hệ thống tài chính (Trang 6)
Bảng 2: Số lượng DNV&amp;N trong từng loại hình doanh nghiệp - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn thị trường cổ phiếu của các DNV&N ở Việt Nam.
Bảng 2 Số lượng DNV&amp;N trong từng loại hình doanh nghiệp (Trang 22)
Bảng 4: Tình hình đấu giá cổ phần DNNN CPH - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn thị trường cổ phiếu của các DNV&N ở Việt Nam.
Bảng 4 Tình hình đấu giá cổ phần DNNN CPH (Trang 46)
BẢNG 5: Quy mô giao dịch cổ phiếu toàn thị trờng 14/07/2005 - 10/03/2006 - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn thị trường cổ phiếu của các DNV&N ở Việt Nam.
BẢNG 5 Quy mô giao dịch cổ phiếu toàn thị trờng 14/07/2005 - 10/03/2006 (Trang 48)
BẢNG 6: Giao dịch của nhà đầu t nớc ngoài - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn thị trường cổ phiếu của các DNV&N ở Việt Nam.
BẢNG 6 Giao dịch của nhà đầu t nớc ngoài (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w