ẢNH HỞNG ĐỘ MẶN LÊN ĐIỀU HÒA ÁP SUẤT THẨM THẤU, TỈ LỆ SỐNG, ƠNG THỬ NGHIỆM CÁ CHÌNH (Anguilla marmorata), THÀNH PHỐ CÀ MAU
Trang 1Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN
ẢNH HƯỞNG ĐỘ MẶN LÊN ĐIỀU HÒA ÁP SUẤT THẨM THẤU, TỈ LỆ SỐNG VÀ ƯƠNG THỬ NGHIỆM CÁ CHÌNH
(Anguilla marmorata) TẠI THÀNH PHỐ CÀ MAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2009
Trang 2Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN
ẢNH HƯỞNG ĐỘ MẶN LÊN ĐIỀU HÒA ÁP SUẤT THẨM THẤU, TỈ LỆ SỐNG VÀ ƯƠNG THỬ NGHIỆM CÁ CHÌNH
(Anguilla marmorata) TẠI THÀNH PHỐ CÀ MAU
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ts TRẦN NGỌC HẢI
Ts ĐỖ THỊ THANH HƯƠNG
2009
Trang 3Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Trang 4Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
LỜI CẢM ƠN
Luận văn cao học được hoàn thành ngoài sự nỗ lực của chính bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong Khoa Thủy sản trường Đại học Cần thơ cùng các thầy cô đã giảng dạy tôi trong suốt khóa học cao học Nhân đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến tất cả sự giúp đỡ đó Xin cảm ơn sự hỗ trợ kinh phí thực hiện đề tài của dự án physCAM cùng sự quan tâm của Cán bộ Bộ môn Dinh dưỡng và Chế biến Thủy sản Khoa thủy sản trường Đại học Cần Thơ Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Tiến sỹ Trần Ngọc Hải và Cô Tiến sỹ Đỗ Thị Thanh Hương, người đã trực tiếp hướng dẫn định hướng giúp đỡ tôi hoàn thành các nội dung trong luận văn này
Cảm ơn Cán bộ Trung tâm Khuyến ngư tỉnh Cà Mau và bà con nông dân các huyện, tỉnh Cà Mau đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về cơ sở vật chất, phương tiện, tài liệu, thông tin trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng xin cảm ơn đến tất cả các bạn bè đồng nghiệp
Trang 5Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cần Thơ, ngày 21 tháng 10 năm 2009
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Nguyễn Thị Bích Vân
Là học viên lớp cao học Nuôi trồng Thủy sản khóa 2006 – 2009 Trường Đại học Cần Thơ
Thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng độ mặn lên điều hòa áp suất thẩm thấu, tỉ lệ sống
và ương thử nghiệm cá chình (Anguilla marmorata) tại Thành phố Cà Mau”
Tôi xin cam đoan các kết quả số liệu sử dụng trong bản luận văn này là của chính bản thân tôi thực hiện và chưa được sử dụng trong bất kỳ báo cáo nào Nếu có gì sai trái tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả
Nguyễn Thị Bích Vân
Trang 6Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TÓM TẮT
Nghiên cứu ảnh hưởng độ mặn lên quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu và tỷ lệ
sống của cá chình Anguilla marmorata đã được tiến hành tại Khoa Thủy sản Đại
học Cần Thơ bằng cách tăng độ mặn nước nuôi từ 0‰ đến độ mặn cá chết 100% theo các nghiệm thức khác nhau như sau: NT1 (tăng 2‰/ngày), NT2 (tăng chậm 4‰/ngày), NT3 (tăng chậm 8‰/ngày), NT4 (tăng chậm 16‰/ngày), NT5 (tăng sốc 8‰/ngày) và NT6 (tăng sốc 16‰/ngày) Kết quả cho thấy khả năng chịu đựng độ mặn của cá có sự thay đổi theo các phương pháp thuần hóa Tùy theo nghiệm thực, điểm đẳng áp của cá và môi trường dao động trong khoảng 285,39-297,38 mosmol/kg tại độ mặn 11.05 - 12.4‰ Thời gian cá chịu đựng được độ mặn cao nhất là 773,3 giờ, đạt độ mặn tối đa 64‰ Kết quả đề nghị nên chọn phương pháp thuần độ mặn tăng 2‰ đến 4‰/ngày
Thông qua điều tra 23 hộ ương cá chình tại Cà Mau về kỹ thuật và hiệu quả kinh tế, kết quả cho thấy hiện có 2 hình thức ương là ương cá trong bể đất lót bạt và ương trong ao Cá giống thu từ tự nhiên tại Miền Trung, có kích cỡ trung bình 13,86±4,02g/con được thả ương với mật độ trung bình 8,2 con/m2 và cho ăn chủ yếu bằng cá tạp Sau thời gian ương trung bình 6,8 tháng, tỷ lệ sống đạt 81,2%, năng suất 58,9 kg/100m2, FCR 6,3 Với chi phí trung bình 16.993,73± 9.385,51 triệu đồng/100m2, lợi nhuận đạt được 18,531±14,984 triệu đồng/100m2, tỷ suất lợi nhuận 1,04, nghề ương cá chình cho thấy khá hiệu quả và triển vọng ở Cà Mau Ngoài ra, nghiên cứu sự tăng trưởng của cá ương nuôi ở 3 ao có độ mặn khác nhau
ở Cà Mau trong thời gian 3 tháng, kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng của cá có sự khác nhau, cá ương ở ao có độ mặn gần điểm đẳng áp thì lớn nhanh hơn cá ở ao có
độ mặn thấp
Kết quả của các nghiên cứu trên sẽ góp phần quan trọng ứng dụng vào thực tế ương nuôi cá chình giống ở Cà Mau nói riêng và ĐBSCL nói chung
Trang 7
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ABSTRACT
Research on the effects of salinity on osmoregulation and survival rate of
Anguilla marmorata was conducted at the College of Aquaculture and Fisheries
by increasing water salinity from 0‰ to sality level where eels completely died through different treatments including: Treatment 1 (increasing salinity 2‰/day), Treatment 2 (increasing salinity slowly 4‰/day), Treatment 3 (increasing salinity slowly 8‰/day), Treatment 4 (increasing salinity slowly 16‰/day), Treatment 5 (shock 8‰/day) and Treatment 6 (shock 16‰/day) The results showed that the ability to tolerate salinity of the eels changed according to the methods of acclimation Depending on treatment, isobaric point is in range of 285.39-297.38 mosmol/kg at salinity of 11.05 - 12.4‰ The longest time in which eels can tolerate is 773.3 hours, reaching salinity up to 64‰ In culture, increasing saltity 2‰-4‰ per day should be applied for acclimation
Through a survey of 23 households rearing ell seeds in Ca Mau on technical and economical aspects, the results showed that there are currently two culture
methods including pond culture and lined tank culture Wild Anguilla marmorata
seeds of 13,86±4,02 g/fish from the central provinces were stocked at average density of 8.2 eels/m2 and fed with trash fish After 6.8 months of culture, survival rates of 81.2% and productivity of 58.9 kg/100m2 were obtained, and FCR was 6.3 With total production cost of 16.993± 9.385 million VND/100m2/year, net income of 18.531±14.984 million VND/100m2/year, and 1.04 of NI/TC ratio, rearing of A marmorata seeds indicated as an economically
promising industry in Ca Mau
In addition, a study on the growth of A marmorata in 3 ponds with different
salinity in Ca Mau found that there was difference in growth rates of fish which fish culture in salinity near the isobaric point gave better growth rates compared
to the others
In general, the findings of this study provide good information to contribute to ell seed rearing and growout in Ca Mau province, particularly and the Mekong Delta, generally
Trang 8Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.1 Đặc điểm hình thái phân loại, phân bố 3
2.8 Tình hình ương nuôi cá chình tại tỉnh Cà Mau 12
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.5 Phương pháp thu mẫu và phân tích các chỉ tiêu 21
Trang 9Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
4.1 Đánh giá khả năng chịu đựng độ mặn của cá chình theo
4.2 Hiện trạng ương cá chình tại tỉnh Cà Mau 31
4.3 Kết quả nghiên cứu ương nuôi cá trong ao 47
Trang 10Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH SÁCH BẢNG
TRANG
Bảng 2.1 Yếu tố thủy lý hóa trong phạm vi thích hợp cho cá chình 4
Bảng 2.2 Tỷ lệ thức ăn so với trọng lượng thân cá ở các giai đoạn 6
Bảng 2.3 Sản lượng nuôi cá chình của các nước trên thế giới 15 Bảng 2.4 Tình hình nuôi cá chình ở một số tỉnh nước ta 15 Bảng 2.5 Diện tích, năng suất, sản lượng cá chình năm 2007 Cà Mau 17 Bảng 4.1 Nhiệt độ, pH trong các bể thí nghiệm 23
Bảng 4.2 Biến đổi ASTT của dịch máu cá chình khi tăng độ mặn 24
Bảng 4.3 Khả năng chịu đựng độ mặn của cá theo 2 cách thuần hóa 29
Bảng 4.4 Nhu cầu giống cá chình đến năm 2010 tại Cà Mau 34
Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế khảo sát cho từng hộ và 100m2 39
Bảng 4.8 Một số yếu tố môi trường trong các ao ương 49
Bảng 4.9 Một số thông tin kỹ thuật của 3 ao ương 49
Trang 11Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH SÁCH HÌNH
TRANG
Hình 2.2 Sự điều hòa thẩm thấu của cá nước ngọt và cá biển 12
Hình 4.1 Điểm đẳng áp của cá chình theo phương pháp thuần hóa 28
Hình 4.4 Biểu đồ cơ cấu chi phí mô hình ương cá chình 39
Hình 4.5 Ảnh hưởng mô hình ương lên năng suất & lợi nhuận 40 Hình 4.6 Ảnh hưởng độ sâu ao ương lên năng suất & lợi nhuận 41 Hình 4.7 Ảnh hưởng khối lượng giống lên năng suất & lợi nhuận 42 Hình 4.8 Ảnh hưởng mật độ thả ương lên năng suất & lợi nhuận 43 Hình 4.9 Ảnh hưởng mùa vụ ương lên năng suất & lợi nhuận 44 Hình 4.10 Ảnh hưởng tỷ lệ thay nước lên năng suất & lợi nhuận 45
Hình 4.11 Ảnh hưởng thời gian ương lên năng suất & lợi nhuận 46
Hình 4.13 Tăng trưởng của cá theo các độ mặn khác nhau 51
Hình 4.14 Tương quan giữa khối lượng cá & giá trị ASTT 52
Hình 4.15 Tương quan giữa giá trị ASTT cá & nước theo độ mặn 53
Trang 12Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NTTS Nuôi trồng Thuỷ sản GTTB Giá trị trung bình ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 13Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU 1.1 Giới thiệu
Những năm qua, sản lượng nuôi trồng thủy sản trên thế giới liên tục tăng từ 30,6
triệu tấn năm 1998 lên 35,5 triệu tấn năm 2000 (FAO 2002, 2004) Theo
http://tim.vietbao.vn/31/10 (2006) bản báo cáo tình hình nuôi trồng thủy sản thế
giới năm 2006 của Tổ chức Lương nông thế giới (FAO), châu Á chiếm chín vị trí
trong 10 quốc gia dẫn đầu về nuôi trồng thủy sản, trong đó Việt Nam đứng vị trí
thứ sáu
Sản lượng nuôi các đối tượng lấy giống từ tự nhiên chiếm 20% tổng sản lượng
của nghề NTTS (FAO, 2004) Các loài cá đang được quan tâm phát triển nuôi là
cá măng, cá mú, cá ngừ, cá chình Năm 2000, sản lượng cá chình đạt 288.000
tấn, cá mú 15.000 tấn, cá ngừ vây xanh 10.000 tấn, và giá trị đã vượt quá 1,7 tỷ
USD Theo (http://vst.vista.gov.vn, 7/2006 Thông tin KHKT – kinh tế thủy sản)
Nhìn chung các loài cá chình trong giống Anguilla là đối tượng có giá trị dinh
dưỡng cao, chất lượng thịt thơm ngon được người dân ở nhiều nước trên thế giới
ưa chuộng Nhiều nước trên thế giới đã đầu tư nuôi rất mạnh đối tượng này như:
Nhật bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ý, Hà Lan, Đan Mạch…, (Chu Văn
Công, 2005)
Ở nước ta, những năm gần đây ngành Nuôi trồng Thủy sản đã đạt được nhiều
thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế (Chu văn
Công, 2005) Sản lượng nuôi trồng Thủy sản năm 2004 đạt 1.349.000 tấn chiếm
43,9% tổng sản lượng Thủy sản cả nước (3.073.000 tấn) đã góp phần quan trọng
về xuất khẩu Thủy sản chiếm 9-10% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành (Bộ
Thủy sản, 2004)
Hiện nay, trong ngành NTTS, chúng ta đã tiến hành sản xuất và chọn giống được
rất nhiều loài động vật thuỷ sản, đã đưa vào nuôi trồng phổ biến trên diện rộng và
mang lại rất nhiều hiệu quả về mặt kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có
những giống loài có giá trị kinh tế rất cao nhưng chưa được nuôi trồng rộng rãi do
chúng ta chưa sản xuất được con giống (nguồn con giống chủ yếu được cung cấp
từ tự nhiên) Điển hình cho nhóm đối tượng này là loài cá chình Những năm gần
đây nghề nuôi cá chình phát triển rất mạnh ở Đồng bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL) Hiện nay cá chình được nuôi phổ biến trong ao đất, nuôi trong lồng bè nhiều ở các tỉnh như: Phú yên, Khánh hòa, Bạc Liêu, Cà Mau và các tỉnh vùng
Trang 14Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nước ngọt An Giang, Đồng Tháp, … Cá chình nước ngọt cũng phát triển rộng khắp trong vùng, phong trào nuôi cá chình nước mặn và lợ cũng khá sôi động, nhất là các vùng nước lợ ở các huyện Thới Bình, Đầm Dơi, U Minh (Cà Mau), Giá Rai, Đông Hải, Vĩnh Lợi (Bạc Liêu)
Với lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: Ảnh hưởng độ mặn lên điều hòa áp
suất thẩm thấu, tỉ lệ sống và ương thử nghiệm cá chình (Anguilla marmorata) tại
Thành phố Cà Mau
1.2 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu chung
Xác định ảnh hưởng độ mặn lên sự tăng trưởng, tỷ lệ sống và một số chỉ tiêu
sinh lý của cá chình Anguilla sp giống.Từ đó góp phần bổ sung cơ sở khoa học,
đề xuất giải pháp kỹ thuật phù hợp cho qui hoạch và phát triển nghề ương nuôi
cá chình
Mục tiêu cụ thể
- Phân tích ảnh hưởng độ mặn lên quá trình điều hòa ASTT của cá, từ đó xác
định được điểm đẳng áp và phương pháp thuần thích hợp
- Đánh giá thực trạng kỹ thuật và kinh tế của mô hình ương cá chình tại Cà Mau góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc qui hoạch và phát triển nghề ương nuôi ở Cà Mau
- Phân tích mức độ ảnh hưởng độ mặn của 3 ao ương đối với sự tăng trưởng, tỉ
lệ sống, ASTT và một số yếu tố môi trường, từ đó xác định được độ mặn phù hợp trong ương cá chình
1.3 Nội dung đề tài
• Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các độ mặn khác nhau lên tỷ lệ sống và sự
điều hòa áp suất thẩm thấu của cá chình (Anguilla sp) giai đoạn giống
• Nghiên cứu hiện trạng kỹ thuật và kinh tế của mô hình ương giống cá
chình (Anguilla sp) tại Cà Mau
• Nghiên cứu một số yếu tố môi trường, tăng trưởng, tỉ lệ sống, áp suất
thẩm thấu của 3 ao ương cá chình (Anguilla sp) giống tại Thành Phố Cà
Mau
Trang 15Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm hình thái phân loại, phân bố
● Vị trí phân loại
Theo hệ thống phân loại của Nguyễn Hữu Phụng (2001)
Lớp : Osteichthyes Phân lớp : Acfinopterygii
Bộ : Anguilliformes
Phân bộ : Anguilloidei Họ: Anguillidae
Giống : Anguilla Loài: Anguilla sp( Quoy and Gaimard, 1824 )
● Đặc điểm hình thái
Cá có thân dài, dạng rắn, phía sau dẹp bên Chiều dài đầu lớn hơn khoảng cách từ khe mang đến khởi điểm vây lưng; bằng, lớn hoặc nhỏ hơn một chút với khoảng cách giữa khởi điểm vây lưng và khởi điểm vây hậu môn Vây lưng và hậu môn dài, phía sau thường gắn với vây đuôi, không có gai cứng Bong bóng thông với ruột Mõm nhọn, chiều dài mõm lớn hơn chiều rộng của đáy miệng Miệng khá rộng, rạch miệng kéo dài về phía sau tới qua viền sau của mắt Răng trên xương gian hàm và xương lá mía tạo một dải rộng ở phía trước, hẹp dần ở phía sau và kết thúc bởi đuôi nhọn.Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn liền với nhau (http://vi.wikipedia.org )
Theo Vũ Trung Tạng và ctv (2005) cá chình là bộ thân dài có đốt sống lên đến
260 đốt Vẩy tròn nhưng thường không có xương Xương cánh mắt bướm thành đôi Đai vây ngực không có xương, xương sau thái dương không gắn với hộp sọ
mà với xương đốt sống Ở những dạng cá hiện đại không có vây bụng Xương gian hàm gắn với xương mesoetmoid (ở một vài loài lại gắn với xương mũi) và mang răng như xương hàm
Trang 16Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bicolor-(Hà Nội) vào năm 1937
Ở Việt Nam, theo các tài liệu nghiên cứu trước đây, cá chình giống Anguilla có 5 loài là: Cá chình Phi: A nebulosa McClelland, 1844; cá chình nhật: A japonica Temminck and Schlegel, 1846; cá chình hoa: A marmorata Quoy and Gaimard, 1824; Cá chình Xêlêbet: A celebensis Kaup, 1856; và cá chình ấn độ: A bicorlo
picifica Schmidt, 1928 (Nguyễn Hữu Phụng, 2001)
Theo Chu Văn Công (2005) ở Việt Nam cá chình bông phân bố từ Hà Tĩnh vào phía Nam nhiều nhất là ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Bình Định, với kết quả
điều tra tại Phú Yên cho thấy cá chình bông (Anguilla marmorata) chiếm ưu thế
về khối lượng 94,43% và cá chình mun (A bicolor) chiếm tỷ lệ rất nhỏ 5,57%
Con giống hầu như có quanh năm nhưng mùa mưa cao hơn mùa khô
2.2 Môi trường
Theo Nguyễn Tuần (2007), các yếu tố thủy lý hóa trong thích hợp của cá chình như bảng 2.1
Bảng 2.1 Các yếu tố thủy lý hóa trong phạm vi thích hợp của cá chình
Yếu tố môi trường Phạm vi thích hợp
Trang 17Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.2.1 Nhiệt độ
Theo Boyd (1990) nhiệt độ thích hợp cho các loài thuỷ sản nuôi dao động trong khoảng 25 –28oC Cá chình là loài có tốc độ sinh trưởng nhanh trong điều kiện khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ thích hợp từ 23-280C Nếu nhiệt độ cao hay thấp quá vượt khỏi mức thích hợp sẽ làm cá giảm ăn, sinh trưởng kém, hoạt động chậm và có thể gây chết (WBM Oceanics, 1992; Wray, 1995)
Cá chình là loài cá có tính thích ứng rộng với độ mặn, cá có thể sống được ở nước mặn, nước lợ, nước ngọt Cá thích bóng tối, sợ ánh sáng nên ban ngày chui rúc trong hang, dưới đáy ao, nơi có ánh sáng yếu, tối bò ra kiếm mồi di chuyển đi nơi khác Da và ruột cá có khả năng hô hấp, dưới 15oC chỉ cần giữ cho da cá ẩm ướt
là có thể sống được khá lâu Trời mưa cá hoạt động rất khoẻ bò trườn khắp ao Đây là loài cá có phạm vi thích nhiệt rộng Nhiệt độ từ 1 - 38o
C cá đều có thể sống được, nhưng trên 12oC cá mới bắt đầu mồi Nhiệt độ sinh trưởng là 13 -
30oC thích hợp nhất là 25 - 27oC Hàm lượng oxy hoà tan trong nước yêu cầu phải trên 2 mg/1, 5 mg/l là thích hợp cho sinh trưởng, vượt quá 12 mg/l dễ sinh ra bệnh bọt khí (http://www.nongthon.net) Trong ương nuôi chỉ thay nước khi thật
sự cần thịết Bởi vì, cá chình rất mẫn cảm với sự thay đổi môi trường Mỗi lần thay không vượt quá 20% lượng nước trong ao, vào những ngày nắng nóng, tốt nhất nên lấy nước vào lúc nữa đêm đến sáng sớm để tránh cho cá bị sốc do môi trường thay đổi đột ngột dẫn đến cá bỏ ăn, dễ sinh bệnh (http://www.fistenet.gov.vn)
Nhiệt độ tốt nhất nuôi cá chình châu Mỹ, châu Âu là 23-250C Nhiệt độ giảm xuống cá ít ăn và ngừng ăn ở 8-150C Cá chình ít nhạy cảm khi oxy thấp so với các loài cá khác Degani, Horowitz, và Levanon (1985) nhận thấy không có sự khác biệt nhau đáng kể về tỷ lệ sinh trưởng cá chình châu Âu trong điều kiện oxy hòa tan 4 - 8 mg/l Usui (1991), S Arai (1991) lượng oxy hòa tan đối với cá chình Nhật phải duy trì trên 1mg/l Tuy nhiên thừa oxy và nitrogen có thể dẫn đến nghiêm trọng về vấn đề trao đổi khí ở cá chình kích thước nhỏ hơn 6 cm (Matsui, 1986)
Theo Boyd (1982) nhiệt độ thích hợp cho tôm cá ở vùng nhiệt đới 25 – 320C, tuy nhiên cá có thể chịu được nhiệt độ trong khoảng 20-350C Biên độ dao động nhiệt
độ nước trong ngay thay đổi đột ngột 3- 50
C có thể làm cá bị chết do sốc nhiệt ( Bùi Quang Tề, 2002)
Trang 18Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Kết quả Lin (1991) được trích dẫn bởi Chu Văn Công (2005) cá chình chỉ sinh trưởng và phát triển bình thường khi nhiệt độ dao động trong khoảng 13 -300C Nhiệt độ cực thuận cho sự phát triển của cá chình khoảng 25 -270C, nhiệt độ tối thiểu là 1-20C và nhiệt độ tối đa mà cá chình có thể chịu đựng được là 380C
2.2.2 Giá trị pH
Nguồn nước có chất lượng tốt như không có mầm bệnh hay các hoá chất độc và đảm bảo pH từ 7,0-8,0 Nếu nước có độ pH thấp thì không thể dùng để nuôi cá chình được Kết cấu của ao có độ nghiêng sẽ thuận lợi cho việc cấp và thoát nước (Forteath, 1994; Ussui, 1991) Khi pH tăng độc tính NH3 sẽ tăng, ngược lại khi
pH giảm làm cho độc tính của H2S tăng Giá trị pH từ 6,5-9 là thích hợp cho các đối tượng thuỷ sản (http://giangvien.net/forum/showthread.php?p=989)
2.2.3 Độ mặn
Atsushi Usui (1991) và Ngô Trọng Lư (1997) cho rằng cá chình là loài có tính thích ứng rộng với độ mặn Cá có thể sống được ở nước lợ, ngọt và mặn Cá chình là loài rộng muối và chúng có khả năng thích ứng rất tốt với sự thay đổi độ mặn đột ngột bởi tác dụng của cơ quan điều hòa ASTT (Lin, 1991) được trích dẫn bởi Chu Văn Công (2005)
2.2.4 Nitrogen
Nitrogen trong nước tồn tại dưới 4 dạng chính: NH3, NH4+, NO2- và NO3- Trong
đó, NH3 là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỉ lệ sống, sinh trưởng của thuỷ sinh vật Đây là một loại khí độc đối với tôm, cá còn ion NH4+ không độc (Dowing và Markins, 1975) Theo Colt và Armstrong (1979) tác dụng độc hại của NH3 đối với cá là khi hàm lượng cao của nó trong nước làm cho cá khó bài tiết NH3 ra môi trường ngoài NH3 trong máu và các mô cao tăng làm pH tăng dẫn đến rối loạn những phản ứng xúc tác của enzyme và độ bền vững của màng tế bào đưa đến cá chết vì không điều kiển được quá trình trao đổi muối giữa cơ thể và môi trường ngoài NH3 cũng làm tăng tiêu hao oxy ở các mô, làm tổn thương mang và giảm khả năng vận chuyển oxy của máu
Đạm NH4+ trong nước rất cần thiết cho sự phát triển của các sinh vật là thức ăn tự nhiên, nhưng nếu NH4+ quá cao sẽ làm cho thực vật phù du phát triển quá mức sẽ gây hại cho tôm cá và hàm lượng thích hợp dao động trong khoảng từ 0,2- 2 mg/l
NO-2 cho phép đối với các ao nuôi tôm cá từ 0,01-1,7 mg/l, thích hợp là nhỏ hơn 0,1 mg/l (Boyd, 1982)
Trang 19Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Theo kỹ thuật nuôi cá nước ngọt (2004) NO3- trong thủy vực là dạng đạm được thực vật hấp thu dễ nhất và không độc đối với thủy sinh vật, hàm lượng NO3- thích hợp cho các ao nuôi cá dao động từ 0,1-10mg/l
2.3 Tính ăn và sinh trưởng
Theo Vũ Trung tạng và ctv (2005) cá chình dinh dưỡng bằng cá, động vật đáy,
hiếm khi ăn plankton Cá chình có hiệu quả sử dụng thức ăn rất cao, hệ số chuyển đổi thức ăn công nghiệp của cá có thể đạt 1,5-2,0:1 (kg thức ăn:kg tăng trọng) (Forteath, 1994; Ussui, 1991) Cá ăn tạp, trong tự nhiên thức ăn của cá là tôm, cá con, động vật đáy nhỏ và côn trùng thuỷ sinh Khi còn nhỏ thức ăn chính của cá
là động vật phù du nhóm Cladocera và giun ít tơ Sau 2 năm nuôi, cá đạt kích cỡ
50 -100g Nếu thức ăn tốt sau 1 năm nuôi kể từ lúc vớt ngoài tự nhiên có thể đạt
cỡ 4 -6 con/kg Cá sinh trưởng chậm, nhất là cỡ từ 300g tốc độ sinh trưởng chỉ bằng 1/10 tốc độ sinh trưởng của giai đoạn cá có trọng lượng 70 -100g Khi còn nhỏ tốc độ sinh trưởng của cá trong đàn tương đương nhau, nhưng khi đạt chiều dài hơn 40cm con đực lớn chậm hơn con cái (http://www.nongthon.net) Cá không cắn, không ăn lẫn nhau Tập tính ăn đêm và ưa tối, thức ăn là trùng quế, cá vụn, cua ốc băm nhuyễn (http://www.dost-bentre.gov.vn)
Bảng 2.2 Tỷ lệ thức ăn so với trọng lượng thân cá chình ở các giai đoạn
Nguồn (http://www.dost-bentre.gov.vn)
Cỡ cá Cá bột Cá hương Cá giống Cá cỡ nhỏ Khối lượng cá (g) 0,2- 0,8 1-1,5 16-40 40-100
Tốc độ tăng trưởng của cá ở giai đoạn glass eel và elvers trong các điều kiện môi trường nuôi khác nhau dao động từ 0,5 đến 2,8%/ngày và 0,6 đến 4%/ngày (Silva 2001) tương ứng với cá chình Châu Âu và cá chình Nhật Bản
Trong điều kiện nuôi lý tưởng thì cá có thể đạt kích cỡ thương phẩm (150-200g) trong thời gian từ 12-18 tháng, tất nhiên tốc độ sinh trưởng rất khác nhau tuỳ theo
điều kiện chăm sóc Cá chình (Anguilla marmorata) là động vật ăn đêm kích
thước tối đa của nó là 2m và 20,5kg (Ussui, 1991)
2.4 Tập tính sinh sản
Theo Vũ Trung tạng và ctv (2005) tất cả cá chình đẻ trứng ở biển, nơi nước sâu,
trứng nổi, ấu trùng leptocephali có thân hình lá trong suốt Sau khi biến thái, ấu
Trang 20Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trùng di chuyển vào bờ trong các vực nước ngọt vùng ôn đới có loài cá chình
thường (Anguilla anguilla), di cư đẻ trứng ở vùng biển Sargass Sau khi đẻ cá bố
mẹ đều chết Leptocephali sau 2,5- 3 năm được dòng Gulstream đưa về bờ châu
Âu và đến giai đoạn cá chình kính (trong suốt), cá vào sống trong sông suối, đầm cho đến khi phát dục rồi lại di cư ra biển sinh sản
Ngoài ra theo (http://www.nongthon.net) cá chình là loài cá di cư, cá mẹ đẻ ở biển sâu, cá con sau khi nở trôi dạt vào bờ biển, cửa sông, vùng nước ngọt kiếm mồi và lớn lên Khi trưởng thành, cá lại di cư ra biển sâu để đẻ trứng Cá con mới lớn có hình lá liễu, sau 1 năm mới trôi dạt vào cửa sông Trải qua nhiều biến thái hình thành cá chình hương màu trắng, cá ngược dòng sắc tố đen tăng dần thành màu đen Cá giống đều dựa vào việc khai thác từ tự nhiên ngoài cửa sông hoặc ven biển ở nước ta cá chình phân bố nhiều từ Quảng Bình vào đến Bình Ðịnh, đặc biệt là vùng hồ Châu Trúc ở Bình Ðịnh có cá chình phân bố, hằng năm cung cấp một lượng cá giống quí cho nhân dân trong vùng để nuôi
Cùng từ kết quả được trích dẫn bởi Chu Văn công (2005) Kokhenko (1977) cá chình Nhật được kích thích đẻ trứng bằng cách sử dụng Hoormon ở nhiệt độ 23oC trong môi trường nước biển (Yamamoto, 1074) nhưng chúng chỉ sống được 6 ngày và Zhong Lin, (1991) Trung Quốc cũng tiến hành thử nghiệm cho đẻ cá chình vào năm 1973, 1974 và 1975 với lượng cá chình thu được khá lớn trên 100.000 ấu trùng nhưng số ấu trùng này sống sót tối đa được 19 ngày.
Theo http://vi.wikipedia.org và http://www.azgo.vn/Home/nongnghiep/ cả cuộc đời cá chình liên quan mật thiết với dòng nước chảy, cá bố mẹ khi đến tuổi thành thục xuôi dòng di cư ra biển để đẻ trứng Cá bột sau khi biến thái thành ấu trùng hình lá trôi theo dòng hải lưu và thủy triều, sau khi biến thái thành cá bột trắng mới đi vào nước ngọt, ngược lên thượng lưu, cần một ít nước chảy là vượt qua đồng ruộng hay bãi cỏ, thậm chí có vách đứng cá bột cũng có thể vượt qua, khi cá lớn dần thì tập tính trên cũng giảm đi Trong đời sống cá chình phần lớn thời gian sống ở nước ngọt, nhưng khi cá bố mẹ ra biển đẻ trứng thì lại thích ứng với nước biển Khi độ mặnthay đổi mạnh, cá có khả năng điều tiết áp suất thẩm thấu của cơ thể
Tuổi thành thục sinh dục của cá chình từ 10 – 37 năm Một cá cái có thể đẻ từ
7-13 triệu trứng Cá chình là loài cá di cư sinh sản, sau thời gian sinh trưởng và
thành thục, chúng bắt đầu di cư Quá trình di cư từ sông hồ nước ngọt ra biển,
tuyến sinh dục của cá chình bố mẹ phát triển dần dần trong suốt quá trình di cư Mùa vụ sinh sản của cá chình ở khu vực Châu Á bắt đầu vào mùa xuân và kết
Trang 21Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thúc vào giữa hè Hiện nay, người ta đã phát hiện 2 bãi đẻ của cá chình, một ở biển Sargasso Sea (giữa Bắc Đại Tây Dương) và một ở phía Tây quần đảo Mariana (giữa Tây Thái Bình Dương), ở độ sâu 400-500m, nhiệt độ nước 16 -
17oC và độ mặn trên 35‰ ( Nguyễn Tuần, 2007)
Giai đoạn glass-eel của vòng đời cá chình Anguillid (Anguilla spp) tạo ra những
chuyển biến sinh lý quan trọng liên quan đến điều hòa áp suất thẩm thấu từ nước mặn sang nước ngọt Nhân tố chính của sự thích nghi với nước ngọt thành công chính là sự chuyển đổi từ điều hòa áp suất thẩm thấu thấp sang điều hòa áp suất thẩm thấu cao (Wilson, 2004)
Hình 2.1: Vòng đời cá chình Nguồn cung cấp từ (http://www.teara.govt.nz/)
2.5 Ảnh hưởng của độ mặn đến quá trình điều hoà áp suất thẩm thấu
2.5.1 Độ mặn trong nước và những thích nghi của cá
Mai Đình Yên và ctv (1979) cho rằng nước tự nhiên hòa tan các chất vô cơ và
hữu cơ gây ra áp suất thẩm thấu của nước Máu là môi trường trong của cơ thể, là môi trường sống của tế bào Sự thay đổi áp suất thẩm thấu của môi trường ngoài (nước) qua hệ máu có ảnh hưởng lớn đến đời sống của cơ thể Song trong môi trường nước, các loài cá có những thích nghi đặc biệt để tạo ra sự cân bằng cần thiết giữa áp suất thẩm thấu trong cơ thể với môi trường
Các chất vô cơ hòa tan trong máu cá gồm các muối của Na+, K+, Ca++ và Mg++
Trang 22Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Với Cl-, CO3 ,PO4 - ( chủ yếu NaCl) chiếm đến 86- 95% lượng muối trong máu Theo http://vi.wikipedia.org/,
- Áp suất thẩm thấu là áp suất thủy tĩnh được tạo ra bởi 2 môi trường khác nhau
về nồng độ Vì thế cho nên mới gây ra hiện tượng ưu trương, nhược trương và đẳng trương
- Dung dịch đẳng trương là dung dịch mà lượng chất hòa tan bên trong tương đương với các chất tương ứng ở bên ngoài nó
- Ưu trương là môi trường mà nồng độ chất hoà tan lớn hơn so với môi trường nội bào
- Nhược trương là tính chất của một môi trường mà nồng độ chất tan nhỏ hơn so với môi trường nội bào
2.5.2 Sơ lược về điều hòa áp suất thẩm thấu
● Thuần hóa
Theo Đỗ Thị Thanh Hương và Trần Thị Thanh Hiền (2000) thuần hóa là một quá trình liên quan đến những phản ứng về sinh lý và đặc tính của động vật thủy sản đối với những thay đổi của môi trường Thuần hóa sẽ giúp động vật thủy sản thích nghi dần với những thay đổi bên ngoài của môi trường nhất là nhiệt độ và
độ mặn những thay đổi đột ngột sẽ làm rối loạn quá trình sinh lý bên trong cơ thể của động vật thủy sản như quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu hay quá trình hấp thu oxy Nếu không thích ứng kịp với những thay đổi bất thường sẽ dẫn đến tử vong hoặc ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng sau này
● Hiện tượng thẩm thấu và áp suất thẩm thấu
Thẩm thấu là hiện tượng dịch chuyển của dung môi từ dung dịch loãng đến dung dịch có nồng độ cao hơn qua màng bán thấm Áp suất cần thiết để làm ngừng quá trình thẩm thấu được gọi là áp suất thẩm thấu
(http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx)
Theo Heath (2000) quy luật thẩm thấu đề cập đến các tiến trình mà qua đó áp suất thẩm thấu của các dịch lỏng và nước trong cơ thể sinh vật được giữ ở trạng thái cân bằng động Áp suất thẩm thấu trong máu cá chủ yếu là do các muối vô cơ qui định, cá biển có hàm lượng muối trong máu cao hơn cá nước ngọt Mang cá có khả năng trao đổi nước cũng như các khí O2, CO2… với môi trường ngoài Do đó,
có dòng nước thẩm thấu ra khỏi cơ thể cá biển bởi vì hàm lượng muối trong máu
Trang 23Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ít hơn trong nước biển, ngược lại, có dòng nước thẩm thấu từ môi trường ngoài vào trong cơ thể cá nước ngọt bởi vì hàm lượng muối trong máu cá cao hơn so với môi trường bên ngoài
Đối với cá nước ngọt, để điều hoà độ mặntrong máu, cá phải liên tục thải nước ra khỏi cơ thể qua quá trình bài tiết dưới dạng urine loãng Mặt khác do bị mất muối qua mang, da và một lượng nhỏ qua urine, cá phải hấp thu muối tích cực vào trong máu Điều này được thực hiện bởi các tế bào chloride ở trong mang cá, quá trình này có sử dụng năng lượng từ ATP và được xúc tác bởi men Na, K – activated ATPase Các tế bào chloride trong cá nước ngọt vận chuyển Na+ và Cl-một cách độc lập Những ion này trong nước trao đổi với NH4+, H+, HCO3- và do
đó chúng được bài tiết ra ngoài (Payan và Girard, 1984, được trích bởi Heath, 2000) Đối với cá biển, để đạt đến tỉ lệ bài tiết muối cao, cá phải có nhiều tế bào chloride hơn so với cá nước ngọt Đối với cá rộng muối, chúng có thể thay đổi sự vận chuyển tích cực Na+ và Cl- qua mang, hay thay đổi số lượng và thành phần của urine trong vòng vài giờ
Có rất nhiều tác nhân làm thay đổi quy luật thẩm thấu như nhiệt độ, nồng độ muối, các ô nhiễm vô hữu cơ, thậm chí cả việc bắt cá vì sẽ làm cá tiết urea và thay đổi hàm lượng hormon trong cơ thể (Heath, 2000)
Theo Vũ Trung Tạng và ctv (2005) muối NaCl được xem là một ngăn cách sinh
học, chia sinh giới thành 2 nhóm riêng biệt: Sinh vật nước ngọt và sinh vật nước mặn Muối NaCl còn tham gia vào hoạt động thẩm thấu của thủy sinh vật Trong dịch cơ thể (dịch thể xoang, dịch tế bào) của các loài đều có chứa một lượng muối xác định (ngưỡng muối sinh lý), thường vào khoảng 5 - 8‰ Đối với sinh vật sống trong nước ngọt với độ muối thấp hơn 0,5‰ thì đây là giới hạn dưới Do vậy sống trong bất kỳ môi trường nào, cá cũng như các loài thủy sinh vật phải có
cơ chế điều hòa thẩm thấu theo hướng duy trì sự ổn định ngưỡng muối sinh lý của
cơ thể Cá có cơ quan điều hòa thẩm thấu riêng gọi là tế bào Key-Wilmer Những loài di cư sông biển hay biển sông có khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu 2 chiều Trước khi tiến hành di cư, cá thường tập trung ở vùng cứa sông để thay đổi lại cơ chế điều hòa áp suất thẩm thấu
Cùng với điều hòa thẩm thấu, các loài thủy sinh vật nói chung hay cá nói riêng còn phải điều hòa ion, bởi vì các ion trong nước, nhất là các cation đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của chúng Các ion thường có tính đối kháng nhau trên cùng một chức năng sinh lý Những ion có tác động đối nghịch nhau là những ion đối kháng phân cực Ví dụ, Ca2+ làm giảm độ thấm của màng tế bào,
Trang 24Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trong khi đó Na+ có tác động ngược lại, làm tăng Các cation có tác động giống nhau, nhưng lại khử nhau là những ion đối kháng không phân cực, chẳng hạn, các cation Ca2+ và K+ Trong nước có một phức hợp ion hóa trị 1 (Monoequivalent)
và hóa trị 2 (Diequivalent) thường tạo nên tỷ lệ M/D khá ổn định Trong cơ thể sinh vật sống ở môi trường đó cũng có tỷ lệ M/D ổn định tương ứng, đảm bảo cho sinh vật hoạt động bình thường Nếu tỷ lệ M/D của môi trường thay đổi thì M/D trong cơ thể sinh vật cũng thay đổi một cách phù hợp Chẳng hạn, ở nước đại dương M/D = 49, ở nước có độ muối 3,6‰ thì M/D = 27,8, ở nước ngọt (S‰
‹0,5) thì M/D rất thấp do Na+, K+ được thay bằng Ca2+ và Mg2+,những nhóm cation đặc trưng cho nước ngọt Do vậy, trong điều chế nước biển nhân tạo, thành phần các ion càng gần với thành phần ion của nước biển thì đời sống của sinh vật càng thuận lợi hơn
Muối Nước Muối Nước
Lấy muối Uống nước
qua thức ăn qua thức ăn
Lấy muối Thải nước tiểu Thải muối Nước tiểu mặn
qua mang nhạt qua thận qua mang qua thận
hòa áp suất thẩ thấu của tôm gân (Penaeus latisulcatus kishinouye, 1896) được
xác định khi nuôi ở độ mặn 10, 22, 34 và 46‰ sau 60 ngày và khả năng điều hòa
áp suất thẩm thấu của tôm nuôi ở các nồng độ mặn 10, 22, 34 và 46‰ Kết quả nghiên cứu trên chỉ ra rằng tôm dùng ít năng lượng để điều hòa áp suất thẩm thấu
Trang 25Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
khi nuôi ở độ mặn 22 và 34‰ hơn khi nuôi ở các độ mặn khác Kết quả cho thấy loại tôm này nên được nuôi ở độ mặn từ 22 đến 34‰
Đỗ Thị Thanh Hương và ctv (2004) nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn khác nhau
(0, 1, 3, 6 và 15‰) lên sự thay đổi áp suất thẩm thấu và mức độ tiêu hao oxy của tôm sú (PL15) thấy rằng, áp suất thẩm thấu tăng dần từ môi trường có độ mặn thấp đến môi trường có độ mặn cao
Swnson (1998) nghiên cứu ảnh hưởng của 3 độ mặnkhác nhau (15, 35, 55‰) lên
sự thay đổi áp suất thẩm thấu của cá măng (Chanos chanos) thấy rằng, sau 2 giờ
áp suất thẩm thấu đạt giá trị cao nhất 430mosmololkg-1 ở 55‰ và cao hơn có mức ý nghĩa (p<0,01) so với 2 nghiệm thức còn lại là 372 mosmololkg-1 ở 35‰
và 363 mosmololkg-1 ở 15‰ Tuy nhiên sau 4 giờ thí nghiệm, áp suất thẩm thấu của cá ở nghiệm thức 55‰ giảm có ý nghĩa (p<0,01) so với 2 nghiệm thức còn lại
Saoud và ctv (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của các độ mặn 10, 15, 20, 25, 30,
35, 40, 45 và 50‰ lên khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu của cá Dĩa
(Sisanus rivulatus), kết quả thí nghiệm cho thấy ở nghiệm thức 50‰ áp suất thẩm
thấu của cá đạt giá trị cao nhất 435 mosmol khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với các nghiệm thức còn lại Plaut (1999) nghiên cứu ảnh hưởng của
03 mức độ mặn 36‰, 14‰ và 1‰ đến tỷ lệ sống, điều hòa áp suất thẩm thấu và
tiêu hao oxy của cá (Parablennius sanguinolentus) trải qua 4 tuần nuôi tỷ lệ sống
của cá ở độ mặn 36‰, 14‰ lần lượt là 94,4% và 88,4% cao hơn và khác biệt có ý nghĩa so với cá nuôi ở độ mặn 1‰ (8%) ASTT của cá ở các độ mặn cũng lần lượt
là 413, 346 và 270,9 mosmol Nhìn chung sự khác biệt về khả năng điều hòa ASTT của cá ở các độ mặn là có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Thí nghiệm đối với nhóm cá hồi Bắc cực Arctic charr (150g) sau khi vận chuyển
một cách đột ngột từ nước ngọt sang nước mặn có độ mặn10‰ và 35‰ Trong quá trình thí nghiệm nhiệt độ luôn giữ ở mức 80C và theo dõi các yếu tố: Khả năng bắt mồi, tiêu hoá thức ăn, tăng trưởng và quá trình điều hoà ASTT của cá Sau 30 ngày theo dõi, phân tích và phát hiện khả năng bắt mồi của cá giảm, nồng độ chất điện phân trong huyết tương tăng, độ mặntron cơ thể cá tăng Thí nghiệm đã kết luận rằng sự khác biệt về nồng độ chất điện phân trong huyết tương và nồng độ muối trong cơ thể cá giữa hai nghiệm thức
10‰ và 35‰ là không có ý nghĩa (Arnesen et al., 1993)
Carrón et al (2005) nghiên cứu trên cá Sparus aurata cho thấy sự điều hoà áp
suất thẩm thấu trong huyết tương (nồng độ thẩm thấu, nồng độ ion K+, Cl-) ở độ
Trang 26Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
mặn 12‰ và 38‰ không có sự thay đổi nhưng để thích nghi với môi trường
có độ mặn 6‰ cá có sự tăng cường độ thẩm thấu một cách đáng kể
Hầu hết sản lượng cá chình ở Châu Âu là từ việc nuôi trong hệ thống bể sử dụng nước quay vòng Trong điều kiện nuôi cá chình thâm canh trong bể thì yêu cầu về chọn địa điểm đặt bể không bị khống chế nhưng tốt nhất nên dùng hệ thống nước quay vòng qua lọc sinh học để đảm bảo chất lượng nước (Neumer, 1983; Forteath, 1990) Ương giống cá chình tốt nhất là thực hiện trong bể sau đó mới chuyển ra nuôi thương phẩm trong bể hoặc trong ao Thông thường cá được nuôi thương phẩm trong bể có dung tích 1.000-20.000lít với hệ thống nước chảy quay vòng (Hart and O’Sullivan, 1993) Đặc biệt yêu cầu đối với việc sử dụng nước quay vòng thì nhất thiết phải qua lọc để loại bỏ những yếu tố gây độc cho cá nhằm duy trì chất lượng nước tốt Mật độ nuôi trung bình trong bể là 80kg/m3(Gooley, 1998)
Có thể nuôi thương phẩm cá chình trong ao đất nhưng phải xây dựng ao trên nền đất cứng Người ta còn dùng vôi lát nền đáy ao nhưng chi phí xây dựng ao sẽ cao Kích cỡ ao sử dụng nuôi cá chình là 0,1-0,5 ha, độ sâu của nước từ 1,0-1,5 m Mật độ nuôi có thể đạt 20 tấn/ha (Gooley, 1998; Reeve, 1998) Nếu áp dụng nuôi
cá chình trong ao thì địa điểm chọn nuôi cá cần phải có nguồn nước cung cấp ổn định và không bị ngập lụt
Nghề nuôi cá chình phát triển mạnh trên thế giới hiện có 4 nước là Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc và Hàn Quốc (Usui, 1991)
Trong khi đó theo Lee et al (2003) được trích dẫn bởi Trương Minh Út (2009) thì
chi phí con giống chiếm khoảng 21,3-26,5% tổng chi phí sản xuất tại Đài Loan, Trung Quốc và Nhật Bản
Số liệu thống kê của FAO (2005) sản lượng nuôi cá chình của các nước trên thế
giới được thể hiện qua Bảng 2.3
Trang 27Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bảng 2.3: Sản lượng nuôi cá chình của các nước trên thế giới
Nguyễn Tuần (2007) cho rằng ở nước ta những năm gần đây nghề nuôi cá chình trong ao ở Bạc Liêu, Cà Mau hoặc nuôi trong bè ở Phú Yên, Khánh Hòa, Tiền Giang bước đầu đã thu được kết quả Tuy nhiên, sản lượng không đáng kể, không
có số liệu thống kê từ FAO
Bảng 2.4: Tình hình nuôi cá chình ở một số tỉnh ở nước ta
Nguồn Nguyễn Xuân Đồng và ctv, 2007
Trang 28Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.7.2 Tình hình ương nuôi cá chình tại tỉnh Cà Mau
Theo Trung tâm Khuyến ngư Cà Mau (2008) Cà Mau có diện tích tự nhiên 532.300 ha, với diện tích nuôi trồng thủy sản 279.720 ha, chiếm 52% tổng diện tích, trong đó diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt trên 23.000 ha còn lại là lợ, mặn Cà Mau là tỉnh đồng bằng có 3 mặt giáp biển, cùng với một hệ thống sông ngòi chằng chịt, chịu ảnh hưởng của 2 chế độ triều (nhật triều biển tây và bán nhật triều biển đông), tạo nên 3 vùng sinh thái ngọt, lợ, mặn khác nhau Khí hậu ở
Cà Mau quanh năm với 2 mùa mưa nắng, mùa mưa hàng năm bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 Nguồn nước nuôi trồng thủy sản ở đây chủ yếu là dựa vào nguồn nước biển và nước mưa là chính Qua kết quả điều tra của Trung tâm Khuyến ngư
Trang 29Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
ở thời điểm tháng 9/2007 toàn tỉnh có 741 ha mặt nước nuôi cá chình, sản lượng thu hoạch hàng năm khoảng 2.000 tấn Địa bàn nuôi mở rộng ở 8/9 huyện, thành phố của tỉnh Cũng theo báo cáo tham luận “Mô hình ương cá chình kích cỡ 60 con/kg lên 18 con/kg trong ao nuôi tôm công nghiệp ” TTKN Cà Mau (2009) sau thời gian nuôi được 6 tháng tiến hành thu hoạch kết quả như sau
- Năng suất đạt được 480kg (1.200kg/ha)
- Tỉ lệ sống đạt 90%
- Kích cỡ bình quân 15 con/kg (lớn nhất 8 con/kg, nhỏ nhất 22 con/kg) Trương Văn Út (2009) nghiên cứu dựa trên khảo sát 60 ao nuôi cá chình có độ mặn từ 0‰ đến 5‰ tại Tân Thành Cà Mau về một số đặc điểm kỹ thuật và kinh
tế, dựa trên nhóm kích cỡ giống dưới 40g/con đến dưới 100g/con, sau 12 -14 tháng nuôi thu kết quả 87% tỷ lệ sống, năng suất 4,8 kg/10m2, thức ăn là cá rô phi có số FCR là 12,7
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất, sản lượng nuôi cá chình bông năm 2007
Nguồn TTKN cà Mau, 2008
Huyện, thành phố Diện tích
(ha)
Năng suất bình quân(tấn/ha)
Sản lượng (tấn/ha)
Trang 30Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 07/ 2008 đến tháng 04/ 2009
Địa điểm nghiên cứu
- Phòng thí nghiệm, trại thực nghiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại học Cần Thơ
- Tỉnh Cà Mau
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Tên la tinh: Anguilla marmorata
Tên Việt Nam: Cá Chình Bông, cá Chình Hoa,…
Thức ăn sử dụng trong quá trình nuôi dưỡng chủ yếu là trùng chỉ, tép…, ngày cho ăn 1 lần bằng rổ nhựa đặt gần đáy bể từ 19- 20 giờ với khẩu phần 1 – 2% khối lượng thân Cá bố trí thí nghiệm được chọn kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, không dị hình dị tật
Nguồn nước dùng cho thí nghiệm
- Nước ngọt: Là nước máy sinh hoạt
- Nước mặn: Dùng nước ót xử lý bằng bột chlorine với nồng độ 30 mg/l, sục khí liên tục ít nhất 24 giờ, sau đó kiểm tra và trung hòa hàm lượng clor dư bằng thio-sulfat-natri (nếu có) trước khi bơm qua túi lọc để đưa vào sử dụng
3.4 Các nghiên cứu
Trang 31Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu 1 :Theo dõi khả năng điều hòa áp suất thẩm thấu của cá chình
giống ở các độ mặn khác nhau
Thí nghiệm gồm 7 nghiệm thức lập lại 3 lần, bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên như sau:
- Nghiệm thức đối chứng không thay đổi độ mặn (0‰)
- Nghiệm thức 1: Tăng độ mặn 2‰/ngày (tăng 1 lần)
- Nghiệm thức 2: Tăng độ mặn 4‰/ngày (tăng 2 lần/ngày, mỗi lần tăng 2‰)
- Nghiệm thức 3: Tăng độ mặn 8‰/ngày (tăng 4 lần/ngày, mỗi lần tăng 2‰)
- Nghiệm thức 4: Tăng độ mặn 16‰/ngày (tăng 8 lần/ngày, mỗi lần tăng 2‰)
- Nghiệm thức 5: Tăng độ mặn 1 lần 8‰/ngày
- Nghiệm thức 6: Tăng độ mặn 1 lần 16‰/ngày
Bố trí thí nghiệm
Cá chình có trọng lượng 10-20g/con Cá sau khi nuôi dưỡng cho ổn định sẽ được
bố trí vào 24 bể composite thể tích 100L và có độ mặn bằng với độ mặn ban đầu trong bể nuôi dưỡng của cơ sở (bằng 0‰) Ở mỗi bể có giá thể bằng một số đoạn ống nhựa Φ 40 cỡ 30cm để cá trú ẩn và sục khí liên tục suốt thời gian thí nghiệm Mật độ thả cá là 30 con/bể Sau khi cá được bố trí vào bể tiến hành thuần hóa bằng cách mỗi ngày tăng độ mặn dần dần cho các nghiệm thức tăng 2, 4, 8, 16‰,
và tăng độ mặn một lần lập tức cho các nghiệm thức 8, 16‰ cùng một thời gian thông qua việc cho nước ngọt hay nước ót vào bể với độ mặn từ 0‰ đến khi cá chết
Chăm sóc
Trong thời gian thí nghiệm, các bể được che kín tránh ánh sáng, cá sẽ được cho
ăn bằng thức ăn trùng chỉ, tép,… ngày 1 lần với khẩu phần ăn từ 1 – 2% khối lượng thân vào khoảng 19 – 20 giờ, các bể được siphon để loại phân và thức ăn thừa, nếu thấy thiếu thức ăn thì bổ sung cho khi cho ăn lần sau Các bể được cấp thêm nước hoặc thay nước mới khi cần thiết
Thu mẫu
- Trước thí nghiệm thu ngẫu nhiên 1cá /bể thuần hóa để đo áp suất thẩm thấu
trước thí nghiệm
- Thu mẫu hàng ngày: Mỗi ngày sau khi thuần 60 phút tiến hành thu mỗi bể 1
cá, cá được lấy máu để đo áp suất thẩm thấu, cá lấy máu xong được thả trả lại bể
Trang 32Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Ghi nhận độ mặn, thời gian cá bắt đầu chết, chết 50% và chết hoàn toàn ở từng
- Số liệu sơ cấp được thu bằng phương pháp chọn các nơi ương cá chình tại Cà Mau, qua đó phỏng vấn trực tiếp người nuôi bằng phiếu phỏng vấn về các yếu tố
kỹ thuật, kinh tế, thuận lợi khó khăn,…
Nghiên cứu 3: Theo dõi tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ sống, áp suất thẩm thấu và một số yếu tố môi trường của 3 ao ương thử nghiệm cá chình tại Thành Phố Cà Mau
Chọn ao ương
Chọn ngẫu nhiên 3 ao được xác định từ kết quả điều tra thăm dò, cá có cùng thời gian thả ương ở các ao có độ mặn khác nhau, cá có cùng kích cỡ giống, trong quá trình ương cho ăn cùng loại thức ăn
Cá chình bắt đầu thả ương có kích cỡ ban đầu dao động 8- 15g/con được các hộ dân ương trong các ao từ tháng 10/2008 Cá giống đều có nguồn gốc từ miền trung, sau khi cá được nuôi dưỡng trên bể được bố trí vào các ao ương đã chuẩn
bị sẵn với độ mặn ban đầu tại các ao như sau:Ao 1 độ mặn bằng 3‰ (tại xã Lư Thế Trân Huyện Cái Nước), Ao 2 là 5 ‰ và Ao 3 là 0‰ (tại xã Lý Văn Lâm, phường 8 Thành Phố Cà Mau) Thời gian tính thử nghiệm được bắt đầu từ tháng 2/2009 Nghĩa là được tiến hành khi cá đã ương được 3 tháng
Trang 33Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
- Tốc độ tăng trưởng cá: Theo dõi khả năng tăng trưởng của cá bằng cách định
kỳ 30 ngày thu 10 cá/ao cân để xác định tăng trưởng
- Xác định giá trị áp suất thẩm thấu: 1 tháng tiến hành thu mẫu cá và mẫu nước một lần, thu 3 mẫu cá và 3 mẫu nước/ao/lần để đo áp suất thẩm thấu Riêng cá lấy máu xong không thả trả về ao nuôi
- Các yếu tố môi trường nhiệt độ, pH được đo hàng ngày trong suốt quá trình theo dõi trực tiếp tại ao ương Đạm Nitrite/Nitrate và Amôn được thu và kiểm
tra định kì 1lần/ tuần
- Tỷ lệ sống của cá được ghi nhận khi kết thúc giai đoạn ương
3.5 Phương pháp thu mẫu và phân tích các chỉ tiêu
a) Đối với mẫu máu và mẫu nước
- Mẫu cá khi thu được dùng ống tiêm riêng biệt cho từng mẫu cá, ống chứa máu
1 ml (ependorf tube) đã được chuẩn bị riêng cho từng mẫu cá Lượng máu lấy ở lưng mỗi cá khoảng 0,1 – 0,3 ml sau đó đem mẫu ly tâm lạnh ở 4oC trong vòng
6 phút (6000vòng/phút) Sử dụng huyết tương để đo áp suất thẩm thấu
- Mẫu nước được thu cùng lúc với mẫu cá, tuýp nhựa chứa nước khoảng 0,3 – 0,5
ml để đo áp suất thẩm thấu
b) Phương pháp xác định áp suất thẩm thấu
Áp suất thẩm thấu của máu và nước được đo bằng máy máy đo áp suất thẩm thấu Fiske 1-10 (USA)
f) Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
▪ Nhiệt độ đo bằng máy đo nhiệt độ
Trang 34Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
▪ pH được đo bằng máy đo pH ▪ Độ mặn được đo bằng khúc xạ kế ▪ Xác định NH4+ theo phương pháp test (hãng Sera do Đức sản xuất) ▪ Xác định N02- theo phương pháp test (hãng Sera do Đức sản xuất) ▪ Xác định N03- theo phương pháp test (hãng Sera do Đức sản xuất)
g) Đánh giá hiệu quả kinh tế
▪ Doanh thu
Tổng doanh thu = Tổng khối luợng cá thu được (kg) x đơn giá/kg
▪ Lợi nhuận
Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng chi phí
▪ Tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận (%) = (Lợi nhuận /Tổng chi phí) x 100
3.6 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được thu thập sau đó được tổng hợp xử lý trên phần mềm Microsoft Excel, SPSS, Statisca nhằm đạt mục đích của các nội dung nghiên cứu
Trang 35Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng chịu đựng độ mặn của cá chình theo các phương pháp thuần hoá
4.1.1 Môi trường nước trong quá trình thí nghiệm
Yếu tố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động sống của sinh vật nuôi, khi các yếu tố môi trường thuận lợi thì sinh vật phát triển tốt và ngược lại môi trường bất lợi sinh vật nuôi phát triển kém do đó việc quản lý tốt môi trường
và trên có tấm lợp, do đó khả năng cách nhiệt tốt nên biên độ dao động nhiệt giũa các buổi trong ngày ở cùng một nghiệm thức là không đáng kể
Bảng 4.1 : Biến động nhiệt độ, pH trong các bể thí nghiệm
Kết quả nghiên cứu nuôi cá chình trên bể xi măng của Chu văn Công (2005) nhiệt
độ nước biến động giữa các bể tương đối lớn, chênh lệch cao nhất và thấp nhất là
5oC nhưng không là lý do ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm Nhìn chung các giá trị pH, nhiệt độ ở các nghiệm thức được bố trí trong các bể suốt quá trình nghiên cứu đối chiếu với tiêu chuẩn môi trường nước cho cá chình của Nguyễn Tuần (2007) từ Bảng 2.1 Nhiệt độ nước 20-28oC giá trị pH từ 7-9 Đây là loài cá có phạm vi thích nhiệt rộng Nhiệt độ từ 1-38oC cá đều có thể sống được, nhưng trên
Trang 36Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
12oC cá mới bắt đầu mồi Nhiệt độ sinh trưởng là 13 - 30oC thích hợp nhất là 25 -
27oC (http://www.nongthon.net) Giá trị pH, nhiệt độ đều nằm trong ngưỡng thích
hợp không làm ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm
4.1.2 Sự thay đổi áp suất thẩm thấu của dịch máu cá chình và nước theo độ mặn
Kết quả Bảng 4.2 chỉ ra rằng khi tăng độ mặn theo các phương pháp khác nhau thì khả năng điều hòa ASTT của cá cũng khác nhau và sự khác nhau đó được chứng minh qua giá trị ASTT của dịch máu cá theo các phương pháp tăng
độ mặn khác nhau ASTT của dịch máu cá ở nghiệm thức 1 (tăng 2‰/ngày) luôn đạt giá trị ASTT cao nhất 530 mosmol/kg và chịu đựng được ở độ mặn 64‰,và ASTT máu cá là thấp nhất ở NT6 (tăng sốc 16‰/ngày) có ASTT là 348 mosmol/kg chịu đựng độ mặn chỉ được 32‰ Qua kết quả phân tích cũng cho thấy cùng xuất phát từ một mức độ mặn nhưng khi thuần hóa tăng độ mặn theo các phương pháp khác nhau thì sự điều hòa ASTT thẩm thấu của cá khác nhau và khả năng chịu đựng được độ mặn của cá cũng khác nhau, cao nhất đối với cá được thuần hóa theo phương pháp tăng từ từ 2‰/ngày Kết quả thí nghiệm này cũng tuân qui luật của một số nghiên cứu trước đó như theo Swnon (1998) nghiên cứu ảnh hưởng của 03 mức độ mặn: 15‰; 35‰ và 55‰ lên sự thay
đổi ASTT của cá măng (Chanos chanos) cho thấy sau 02 giờ ASTT của cá đạt
giá trị cao nhất ở độ mặn 50‰ (430mosmol/kg), thấp nhất là 15‰
(363mosmol/kg) và sự khác biệt này là có ý nghĩa (P<0,01) Saoud và ctv (2007)
nghiên cứu ảnh hưởng của các mức độ mặn 10, 15, 20, 25, 30, 35, 40, 45 và 50‰
lên khả năng điều hòa ASTT của cá Dĩa (Sisanus rivulatus) Qua thí nghiệm
cũng cho thấy áp suất thẩm thấu của cá đạt giá trị cao nhất ở độ mặn 50‰, thấp nhất 10‰ và sự sai khác này là có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Bên
cạnh đó Stewart Field còn nghiên cứu trên cá (Pagrus auraru) giai đoạn giống
trong môi trường có độ mặn 30‰ tăng lên 45‰ Qua thí nghiệm tác giả kết luận có sự gia tăng nồng độ thẩm thấu theo sự tăng độ mặn Theo Trần Trường Giang (2009) Sự thay đổi áp suất thẩm thấu của dịch máu cá kèo khi tăng độ mặn
từ 30‰ lên 96‰ theo các phương pháp thuần hóa khác nhau ASTT của dịch máu cá đã thay đổi ASTT của dịch máu cá kèo tăng tương đối chậm theo
sự tăng độ mặn, trong trường hợp này cá điều hòa tình trạng ASTT thấp hơn môi trường
Trang 37
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bảng 4.2: Biến đổi áp suất thẩm thấu của dịch máu cá chình khi tăng độ mặn của các nghiệm thức
độ mặn 16‰ sau khi thuần được 60 phút Điều này có thể được lý giải ở NT6 do
độ mặn được tăng đột ngột 16‰/ lần/ngày nên lượng ion xâm nhập vào cơ thể và
Trang 38Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
lượng nước trong cơ thể mất đi đột ngột hơn, đây là chính nguyên nhân làm giảm hiệu quả ở các cơ quan điều hòa ASTT chuyên biệt nên dẫn đến ASTT dịch máu
cá ở nghiệm thức này tăng cao hơn so với các nghiệm thức khác Ngược lại, ở NT1 tăng 2‰/ngày do thời gian tăng độ mặn kéo dài (24 giờ/lần /2‰) nên khả năng điều chỉnh lượng ion xâm nhập vào cơ thể và lượng nước từ
cơ thể mất đi hiệu quả hơn dẫn đến cá điều hòa tình trạng ASTT tốt hơn cá đạt giá trị ASTT tăng độ mặn từ từ là 259 mosmol/kg ở độ mặn 2‰ sau khi thuần được 60 phút, tuy nhiên giá trị ASTT gia tăng dần ASTT dịch máu cá khi đạt 16‰ là 321 mosmol/kg, giá trị ASTT tại cùng độ mặn theo 2 phương pháp thuần khác nhau khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Thật vậy, qua kết quả của sự biến đổi áp suất thẩm thấu của dịch máu cá chình khi tăng độ mặn bắt đầu từ 0‰ khi đối chiếu với (Wilson, 2004) cho rằng giai
đoạn glass-eel của vòng đời cá chình Anguillid (Anguilla spp) tạo ra những
chuyển biến sinh lý quan trọng liên quan đến điều hòa áp suất thẩm thấu từ nước mặn sang nước ngọt nhân tố chính của sự thích nghi với nước ngọt thành công chính là sự chuyển đổi từ điều hòa áp suất thẩm thấu thấp sang điều hòa áp suất thẩm thấu cao là đúng qui luật điều hòa ASTT của cá đặc biệt là cá rộng muối như cá chình Bên cạnh đó kết quả cũng tuân theo kết luận của Đỗ Thị Thanh
Hương và ctv (2004) khi nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn khác nhau (0, 1, 3, 6
và 15‰) lên sự thay đổi áp suất thẩm thấu và mức độ tiêu hao oxy của ấu trùng tôm sú (PL15) thấy rằng, áp suất thẩm thấu tăng dần từ môi trường có độ mặn thấp đến môi trường có độ mặn cao
Cá chình là loài rộng muối và chúng có khả năng thích ứng rất tốt với sự thay đổi
độ mặn đột ngột bởi tác dụng của cơ quan điều hòa ASTT (Lin, 1991) trích dẫn bởi Chu Văn Công (2005)
Đường biễu diễn ASTT của cá và ASTT của môi trường cắt nhau tại vị trí có độ mặn tương ứng với ASTT của cá và ASTT của nước đó chính là điểm đẳng áp của cá chình trong thí nghiệm này được biểu thị qua Hình 4.1 gồm các nghiệm thức NT1, NT2, NT3, NT4, NT5, và NT6 tương ứng độ mặn với giá trị ASTT lần lượt như sau: 11,77‰ và 296,88 mosmol/kg; 11,42‰ và 287,56 mosmol/kg; 11,45‰ và 296,70 mosmol/kg; 12,46‰ và 297,3 mosmol/kg; 11,05‰ và 285,39 mosmol/kg; và 12,34‰ và 293,53 mosmol/kg Kết quả cho thấy phương pháp thuần độ mặn khác nhau nhưng điểm đẳng áp đều gần bằng nhau, sự chênh lệch không đáng kể
Trang 39Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Cá chình là loài rộng muối có khả năng điều hòa ASTT tốt thích ứng với môi trường Giá trị ASTT trình bày qua hình 4.1 cho thấy khi cá sống trong môi trường nước ngọt có độ mặn thấp 0‰ thì giá trị ASTT cao hơn giá trị ASTT của mội trường nước Điều này có lẽ do thông thường cá nước ngọt và cá biển trong dịch cơ thể của các loài đều chứa 1 lượng muối xác định thường vào khoảng 5- 8‰ (Vũ Trung Tạng, 2005; Hình 2.3) Đối với sinh vật sống nước ngọt thì đây là giới hạn dưới Do đó sống trong môi trường nào cá cũng như các loài thủy sinh vật phải có cơ chế điều hòa ASTT theo hướng duy trì sự ổn định ngưỡng muối sinh lý của cơ thể Cá chình là loài di cư nên có khả năng điều hòa ASTT hai chiều sông - biển; biển – sông Vì vậy khi tăng độ mặn dần đến điểm đẳng áp giá trị ASTT tăng dần và cao hơn giá trị ASTT môi trường nước, khi bắt đầu vừa qua
độ mặn tại điểm đẳng áp được trình bày qua hình 4.1, lúc này cá sống trong môi trường có độ mặn cao hơn ngưỡng muối sinh lý (5 - 8‰), giá trị ASTT của dịch máu cá chình cũng tăng nhưng tăng chậm hơn so với giá trị ASTT của môi trường nước
Kết quả nghiên cứu cho thấy, giá trị ASTT dịch máu cá chình ở độ mặn ở 16‰ và 32‰ của 6 nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Khoảng chênh lệch giữa ASTT của dịch máu và môi trường tại cùng độ mặn 16‰ của NT1, NT2, NT3, NT4, NT5, và NT6 lần lượt là 96, 111, 96, 106, 118, 109 (mosmol/kg), tương tự tại độ mặn 32‰ các giá trị khoảng chênh lệch ASTT của
Điều này cho thấy phương pháp thuần hóa đã ành hưởng đến khả năng điều hòa ASTT của cá, khi thuần hóa từ từ (tăng 2‰/ngày) cá có khả năng điều hòa chênh lệch ASTT giữa máu và môi trường rất cao (1.425 mOsm) tại độ mặn 64‰ trong khi nếu tăng độ mặn đột ngột (tăng 16‰/ngày) cá không có khả năng điều chỉnh ASTT kết quả thể hiện độ chênh lệch chỉ khoảng 610 mOsm là cá chết tại độ mặn 32‰
Trang 40Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
y = 28.176x - 26.156
R 2 = 0.9894 y = 2.6071x + 256.57
R2 = 0.9742
0 200 400 600 800 1000
y = 33.792x - 123.67
0 200 400 600 800 1000 1200
Hình 4.1: Điểm đẳng áp của cá chình theo các phương pháp thuần hóa khác nhau
(11,43;287,56)
(11,46;296,70)
(12,46;297,39)